1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các loại trách nhiệm pháp lý đặt ra do hành vi vi phạm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại của pháp luật Việt Nam. Chọn một trách nhiệm để phân tích làm rõ.

14 269 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 18,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luật kinh tế×Các loại trách nhiệm pháp lý×Buộc thực hiện đúng hợp đồng×Phạt vi phạm hợp đồng×Bồi thường thệt hại×Tạm ngừng thực hiện hợp đồng:× Từ khóa quy luật kinh tếbài giảng luật kinh tế phần 2luật kinh tếbài giảng luật kinh tế phần 1luật kinh tế giảng viên:ths.dương mỹ antài liệu học luật kinh tếtrắc nghiệm luật kinh tếtài liệu về luật kinh tếôn thi luật kinh tếluật kinh tế×Các loại trách nhiệm pháp lý×Buộc thực hiện đúng hợp đồng×Phạt vi phạm hợp đồng×Bồi thường thệt hại×Tạm ngừng thực hiện hợp đồng:× Từ khóa quy luật kinh tếbài giảng luật kinh tế phần 2luật kinh tếbài giảng luật kinh tế phần 1luật kinh tế giảng viên:ths.dương mỹ antài liệu học luật kinh tếtrắc nghiệm luật kinh tếtài liệu về luật kinh tếôn thi luật kinh tế

Trang 1

Đề tài:

Các loại trách nhiệm pháp lý đặt ra do hành vi vi phạm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại của pháp luật Việt Nam Chọn một trách nhiệm để phân tích làm rõ.

Trang 2

Theo quy định tại Điều 292 Luật Thương mại năm 2005 thì có 06 loại trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại Ngoài 06 loại trách nhiệm pháp lý trên đối với các biện pháp khác do các bên thỏa thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế

06 loại trách nhiệm pháp lý đặt ra do hành vi vi phạm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại của luật Việt Nam là:

1/ Buộc thực hiện đúng hợp đồng:

* Khái niệm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là hình thức chế tài, theo đó bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh

* Căn cứ để áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là: có hành vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm

* Các trường hợp phải sử dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là:

- Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm

Trang 3

- Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định tại trên thì bên bị

vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí thực tế hợp lý

- Bên bị vi phạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiền hàng, thù lao dịch vụ, nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định

- Trường hợp bên vi phạm là bên mua thì bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua được quy định trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật

Ví dụ: Nhà thầu phụ thi công chậm tiến độ, nhà thầu chính có quyền yêu cầu nhà thầu phụ phải có các biện pháp tăng ca tăng kíp, bổ sung thêm máy móc, nhân công để lấy lại đúng tiến độ Hoặc nhà thầu chính có quyền lấy lại một phần công việc để tự thực hiện hoặc thuê nhà thầu khác với mọi chi phí do nhà thầu phụ chịu

Ví dụ khác: Nhà thầu phụ cung cấp xi măng giao hàng nhưng xi măng bị ẩm, không đạt tiêu chuẩn thì nhà thầu chính có quyền yêu cầu giao lại hàng, hoặc lấy hàng của nhà cung cấp khác với chi phí chênh lệch do nhà thầu phụ chịu

2/ Phạt vi phạm hợp đồng

* Khái niệm: Phạt vi phạm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là hình thức chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng, theo đó bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có

Trang 4

thỏa thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại điều 294 Luật

Thương mại

* Mục đích của chế tài phạt vi phạm hợp đồng: chủ yếu là trừng phạt, tác động vào

ý thức của các chủ thể hợp đồng nhằm giáo dục ý thức tôn trọng hợp đồng, phòng ngừa vi phạm hợp đồng Với mục đích như vậy, phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng một cách phổ biến đối với các vi phạm hợp đồng

* Căn cứ để áp dụng chế tài phạt vi phạm hợp đồng: Theo Luật Thương mại, chế tài phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng khi có các căn cứ:

- Các bên có thoả thuận về việc áp dụng chế tài này

- Có hành vi vi phạm hợp đồng

- Không rơi vào các trường hợp miễn trách nhiệm

* Mức phạt: Mức tiền phạt vi phạm hợp đồng bị giới hạn bởi pháp luật (các bên có quyền thoả thuận về mức phạt nhưng không được vượt quá mức phạt do pháp luật quy định) Theo Luật Thương mại, mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong kinh doanh, thương mại hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm

Ví dụ: Doanh nghiệp A và B kí kết hợp đồng có giá trị là 5 tỷ A là bên vi phạm Hợp đồng quy định nếu bên nào vi phạm sẽ bị phạt 20% giá trị hợp đồng, tương đương với 1 tỷ đồng Khi tranh chấp xảy ra , bên B chỉ được nhận khoảng tiền phạt

vi phạm tối đa là 8% giá trị của phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm tương đương với 400 triệu đồng

Trang 5

* Trừ những trường hợp sau đây:

- Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định

có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng Mức phạt

do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định

- Trường hợp thương nhân kinh doanh dihj vụ giám định cấp chứng thư giám định

có kết quả sai do lỗi cố ý của mình thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định

3/ Bồi thường thệt hại: (Làm rõ sau)

4/ Tạm ngừng thực hiện hợp đồng:

* Khái niệm: Tạm ngừng thực hiện hợp đồng trong kinh doanh, thương mại: Đây

là một chế tài mới quy định tại Luật Thương mại, theo đó một bên tạm thời không thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng kinh doanh, thương mại

* Căn cứ áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng:

- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để tạm ngừng thực hiện hợp đồng;

Ví dụ: Công ty A và công ty B ký hợp đồng mua bán 50 chiếc ô tô hiệu Toshiba, Trong hợp đồng hai bên có thỏa thuận rõ ràng là 50 ô tô trên phải được sản xuất 100% theo công nghệ Nhật Bản và công ty A sẽ giao số ô tô trên làm hai đợt, công

ty B sẽ thanh toán toàn bộ tiền hàng vào đợt giao hàng thứ nhất, nếu một trong hai bên vi phạm thì bên kia có thể tạm ngừng thực hiện hợp đồng Tuy nhiên sau khi công ty A hoàn thành đợt giao hàng thứ nhất, công ty B vẫn chưa tiến hành thanh toán số tiền trên

Trang 6

Do đó, công ty A đã tạm ngừng việc giao đợt hai với lý do hành vi chậm thanh toán của bên công ty B đã vi phạm thỏa thuận của hai bên

- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng đó vẫn còn hiệu lực Trong khi đó bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bòi thường thiệt hại theo quy định của Luật Thương mại

Ví dụ: Các bên thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng nhưng người bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu, giao sai hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng Như vậy, nếu người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng

* Về hậu quả pháp lý của việc tạm ngừng thực hiện hợp đồng: Khi hợp đồng trong kinh doanh, thương mại bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệu lực, bên

bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

5/ Đình chỉ thực hiện hợp đồng:

* Khái niệm: Đình chỉ thực hiện hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng trong kinh doanh, thương mại Khi hợp đồng trong kinh doanh, thương mại bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ Các

bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng

* Căn cứ áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng:

- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để đình chỉ hợp đồng Trường hợp này, các bên dự liệu và thỏa thuận rõ trong hợp đồng những

Trang 7

hành vi vi phạm nào xảy ra thì bên bị vi phạm được quyền áp dụng biện pháp đình chỉ hợp đồng để bảo vệ lợi ích của mình

- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng

* Về thủ tục: Khi áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng, bên bị vi phạm (bên

bị áp dụng chế tài) phải thông báo việc tạm đình chỉ cho bên kia Nếu không thông báo, dẫn đến thiệt hại cho bên kia thì phải bồi thường cho họ

* Về hậu quả pháp lý của việc đình chỉ hợp đồng:

- Trường hợp chấm dứt từ thời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng

- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đồng thời với việc áp dụng chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng

6/ Hủy hợp đồng:

* Khái niệm: Huỷ bỏ hợp đồng trong kinh doanh, thương mại là sự kiện pháp lý

mà hậu quả của nó làm cho nội dung hợp đồng bị hủy bỏ không có hiệu lực từ thời điểm giao kết hay nói một cách khác hủy hợp đồng là việc bãi bỏ việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng

* Có hai trường hợp hủy bỏ hợp đồng, đó là:

Trang 8

- Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa

vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng.Khi một hợp đồng trong kinh doanh, thương mại bị huỷ bỏ toàn bộ, hợp đồng được coi là không có hiệu lực từ thời điểm giao kết Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa

vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của

họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền

- Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực

* Về căn cứ áp dụng: chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng khi xảy ra vi phạm hợp đồng thuộc một trong các trường hợp:

- Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy bỏ hợp đồng

- Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng

Ví dụ: Trong hợp đồng mua bán tài sản, bên mua có quyền hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu bên bán giao ít hơn số lượng đã thoả thuận, hoặc vật được giao không đồng bộ làm cho mục đích sử dụng của vật không đạt được, hoặc vật được giao không đúng chủng loại Đây là trường hợp hủy bỏ hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của pháp luật

* Hậu quả pháp lý sau khi hủy bỏ hợp đồng:

Trang 9

- Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền

và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ hợp đồng và về giải quyết tranh chấp

- Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng Nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải được thực hiện hợp đồng Trường hợp không thể hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền

- Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đồng thời với việc áp dụng chế tài hủy bỏ hợp đồng

Bồi thường thiệt hại:( Trách nhiệm pháp lý chọn để làm rõ )

* Khái niệm: Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất

do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm

* Mục đích: Khác với phạt vi phạm hợp đồng, bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài được áp dụng nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật chất bị mất của bên bị

vi phạm hợp đồng trong kinh doanh, thương mại Với mục đích này, bồi thường thiệt hại chỉ được áp dụng khi có thiệt hại xảy ra

* Căn cứ để áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại: Theo Luật Thương mại, để áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải có các căn cứ:

Một là, có hành vi vi phạm:

Thế nào là có hành vi vi phạm? Hành vi vi phạm là hành vi của một bên đã xử sự không đúng với nội dung mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật

Trang 10

Do đó, những hành vi được coi là vi phạm hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ là những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng, nó được thể hiện dưới các hình thức sau:

- Từ chối thực hiện nghĩa vụ: ví dụ, từ chối giao hàng, từ chối thanh toán tiền, từ chối làm một công việc đã hứa

- Chậm thực hiện nghĩa vụ: ví dụ, bên nhận vận chuyển hàng có nghĩa vụ giao hàng ngày X nhưng đã giao hàng chậm vào ngay Y

- Thực hiện một phần nghĩa vụ: ví dụ, bên bán có nghĩa vụ giao 1000 chiếc xe đạp hiệu X vào ngày 10/04/2018 nhưng vào ngày này, bên bán chỉ giao 500 chiếc xe

- Thực hiện không đúng nghĩa vụ: thường là liên quan đến chất lượng sản phẩm hoặc công việc là đối tượng của nghĩa vụ, chẳng hạn, trong số 100 xe đạp hiệu X giao cho bên mua, có nhiều chiếc không sử dụng được

Đây là điều kiện tiên quyết để có thể áp dụng trách nhiệm pháp lý trong kinh doanh, thương mại trong hợp đồng (cho dù đó là chế tài buộc thực hiện hợp đồng, hủy, đình chỉ hợp đồng hay phạt hợp đồng)

Hai là, có thiệt hại thực tế xảy ra:

Thiệt hại là những gì một bên mất đi và những gì đáng lẽ ra họ nhận được nhưng

do vi phạm hợp đồng của phía bên kia nên họ đã không thể nhận được Thiệt hại bảo gồm thiệt hại thực tế và thiệt hại phát sinh

Thiệt hại ở đây phải là thiệt hại về tài sản, thiệt hại có thực nghĩa là thiệt hại có thể xác định, tính toán được

Trang 11

Trong thực tế, thiệt hại xảy ra do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bao gồm: những chi phí để ngăn chặn, hạn chế khắc phục hậu quả do bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng gây ra, những tổn thất xảy ra do hành vi vi phạm hợp đồng phát sinh làm thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút có thể tính toán được chứ không phải là do suy diễn

mà có

Bên thiệt hại có nghĩa vụ phải chứng minh có tổn thất và mức độ tổn thất (Điều

304 Luật Thương mại)

Về cách tính thiệt hại, nếu các bên không có thỏa thuận, pháp luật Việt Nam quy định khác chi tiết cách tính

Tuy nhiên cũng có trường hợp ngoại lệ là khi có vi phạm hợp đồng, có thiệt hại xảy ra nhưng không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường Đó là việc vi phạm hợp đồng do sự kiện bất khả kháng

Bất khả kháng là sự kiện mà các bên không thể lường trước được, tức là nằm ngoài hoàn toàn khả năng tính toán của các bên Thường có 3 loại sự kiện bất khả kháng:

- Thiên tai: ví dụ: gió, bão, động đất, núi lửa tuôn trào, nên A không thể giao hàng cho B đúng thời hạn như đã thỏa thuận

- Chiến tranh: ví dụ: vì chiến tranh bất ngờ xảy ra ở nước X nên doanh nghiệp A của nước X không thể giao hàng cho doanh nghiệp B của nước X như đã thỏa thuận

- Quyết định chính trị, thay đổi pháp luật: ví dụ: B không thể nhận hàng nhập khẩu vào Việt Nam, vì Nhà nước Việt Nam đã cấm nhập khẩu loại hàng hóa mà khi A

và B thỏa thuận mua bán chưa bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam

Trang 12

Ba là, có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra:

Không phải bất cứ sự vi phạm nghĩa vụ nào cũng đều là cơ sở của trách nhiệm dân

sự và không phải bất cứ sự thiệt hại nào xảy ra trong quan hệ nghĩa vụ cũng đều do bên vi phạm phải gánh chịu Chỉ khi có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại thực tế xảy ra thì mới phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại thực tế xảy ra được xác định khi hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế có mối liên hệ nội tại, tất yếu Hành vi vi phạm nghĩa vụ là nguyên nhân trực tiếp, còn việc phát sinh ra thiệt hại là kết quả khách quan, tất yếu của hành vi vi phạm nghĩa vụ Nguyên nhân và kết quả có mối liên hệ nối tiếp nhau Hành vi vi phạm nghĩa vụ phải có trước khi

có thiệt hại xảy ra Nếu thiệt hại đã xảy ra trước khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ thì thiệt hại đó không phải là kết quả củahành vi vi phạm nghĩa vụ, giữa chúng không có mối quan hệ nhân quả Và vì không có quan hệ nhân quả nên trong trường hợp này bên có quyền không thể căn cứ vào thiệt hại trước đó để yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường Hay nói một cách khác, thiệt hại phát sinh là hậu quả tất nhiên của hành vi vi phạm, nếu không có hành vi vi phạm thì không có thiệt hại xảy ra Chỉ có người vi phạm gây thiệt hại mới phải áp dụng trách nhiệm bồi

thường thiệt hại

Bốn là, người vi phạm nghĩa vụ có lỗi:

Lỗi là thái độ chủ quan và nhận thức lý trí của bên vi phạm nghĩa vụ đối với hành

vi và hậu quả gây ra Từ đó, xác định được mức độ lỗi và hình thức lỗi của người

vi phạm

Ngày đăng: 30/11/2018, 18:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w