1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(báo cáo thực tập)CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II - AN VIÊN, ỨNG HOÀ, HÀ NỘI

21 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách chính sách xã hội với người cao tuổi tại trung tâm bảo trợ xã hội

Trang 1

Contents

Lý do chọn đề tài: 2

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP HÀNG THÁNG CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II – VIÊN AN - ỨNG HÒA – HÀ NỘI 3

1.1 KHÁI NIỆM 3

1.1.1 Khái niệm trợ giúp xã hội 3

1.1.2 khái niệm người cao tuổi (NCT) 5

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II- VIÊN AN - ỨNG HÒA – HÀ NỘI 6

2.1 THỰC TRẠNG NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II- VIÊN AN - ỨNG HÒA – HÀ NỘI6 2.1.1 Tình hình người cao tuổi tại trung tâm bảo trợ xã hội II- viên an - ứng hòa – hà nội 6

2.1.2 Nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi 9

2.2 QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI CHO NGƯỜI CAO TUỔI 9

2.2.1 Nội dung pháp lý về trợ cấp xã hội cho người cao tuổi 10

2.2.2 Thực trạng trợ cấp xã hội cho người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội II 11

2.2.3 Công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại trung tâm bảo trợ xã hội II 15

2.2.4 Công tác chúc thọ, mừng thọ cho người cao tuổi tại trung tâm bảo trợ xã hội II 16

Kết luận 18

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20

Trang 2

TIỂU LUẬN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TÊN ĐỀ TÀI: Chính sách trợ giúp xã hội với người cao tuổi tại trung tâm bảo

trợ xã hội II – Viên An - Ứng Hòa – Hà Nội

Lý do chọn đề tài:

Già hóa dân số đã và đang là vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới, do giảm sinh và tăng tuổi thọ ngày càng có nhiều nước dân số bị già hóa nhanh Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên Theo dự báo, đến năm 2050 dân số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sẽ là 1/5, nghĩa là cứ 5 người thì có một người cao tuổi Người cao tuổi ở những nước đang phát triển phải đối mặt với nhiều khó khăn để đảm bảo cuộc sống Họ gặp khó khăn trước hết bởi sự suy giảm thể chất do quá trình lão hóa Bên cạnh đó, các loại bệnh tật phổ biến, bệnh hiểm nghèo, bệnh mới và việc

di dân cũng như xu hướng đô thị hóa đã tác động tiêu cực đến đời sống của người cao tuổi Do đó, họ chính là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất

Theo dự báo của Tổng cục Dân số, để chuyển từ già hóa dân số sang dân số già ở nước ta chỉ mất khoảng 20 năm, chỉ khoảng 17 đến 18 năm (trong khi đó Philippin mất khoảng 40 năm, Malaysia khoảng 26 năm) Theo dự báo, đến năm

2035 trong cơ cấu dân số nước ta, tỷ lệ trẻ em (dưới 15 tuổi) và người già (từ 60 tuổi trở lên) là 1/1, nghĩa là cứ có 1 trẻ em thì có 1 người già và đến năm 2049, tỷ

lệ này là 1/1,41, nghĩa là cứ có 1 trẻ em thì có 1,41 người già, đến năm 2030, tỷ trọng người cao tuổi Việt Nam chiếm 18% và năm 2050 là 26% Nếu như các nền kinh tế phát triển mất vài thập kỷ, thậm chí hàng thế kỷ để chuyển từ giai đoạn già

Trang 3

hóa dân số sang giai đoạn dân số già thì với tốc độ già hóa như hiện nay, Việt Nam chỉ mất 15 năm

Điều này, đặt ra cho chúng ta những thách thức lớn trong hoạt động chăm sóc người cao tuổi Việc chăm sóc, phụng dưỡng người cao tuổi không chỉ được hiểu đơn thuần là trách nhiệm trong chăm lo về sức khỏe thể chất cho người cao tuổi mà

nó còn bao hàm cả sự chăm sóc về nhu cầu tình thần, duy trì, củng cố các mối quan

hệ tâm lý, tình cảm, giao tiếp trong gia đình và xã hội đối với người cao tuổi

Để thực hiện tốt công tác chăm sóc và nuôi dưỡng người cao tuổi, nhà nước cần thực hiện tốt công tác trợ giúp xã hội để đảm bảo cho người cao tuổi nhận được những chính sách trợ giúp người cao tuổi Nhận thấy việc thực hiện chính sách trợ giúp xã hội cho người cao tuổi rất cần thiết và cần được thực hiện tốt nên em đã

chọn đề tài: “ Chính sách trợ giúp xã hội với người cao tuổi tại trung tâm bảo trợ

xã hội II – Viên An - Ứng Hòa – Hà Nội ” Trên cơ sở tìm hiểu hoạt động triển khai

chính sách trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, từ đó đưa ra nhận xét và đề xuất một

số giải pháp để trung tâm thực hiện tốt hơn việc thực hiện công tác trợ giúp xã hội cho người cao tuổi

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHÍNH SÁCH TRỢ CẤP HÀNG THÁNG CHO NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II – VIÊN

AN - ỨNG HÒA – HÀ NỘI

1.1 KHÁI NIỆM

1.1.1 Khái niệm trợ giúp xã hội

Trợ giúp xã hội - Một bộ phận cấu thành của hệ thống an sinh xã hội Trợ giúp xã hội là một bộ phận cấu thành của hệ thống an sinh xã hội Thành ngữ an sinh xã hội ra đời từ những năm 30 của thế kỷ trước, khi đạo luật đầu tiên trên thế giới về an sinh xã hội được ban hành tại Mỹ năm 1935 Đến nay, khái niệm an sinh xã hội được sử dụng phổ biến tại nhiều nước Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), an sinh xã hội là một sự bảo vệ của xã

Trang 4

hội đối với các thành viên của mình thông qua một số biện pháp công cộng nhằm chống lại với những khó khăn về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm thu nhập, gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết Đồng thời đảm bảo chăm sóc y tế và trợ giúp cho các gia đình có đông con Như vậy, an sinh xã hội là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người

bị thiên tai địch họa,…

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính chất khẩn thiết, “cấp cứu” ở mức độ cần thiết cho những người bị lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày của bản thân và gia đình, là sự giúp thêm bằng tiền mặt hoặc điều kiện và phương tiện sinh sống thích hợp để đối tượng được giúp đỡ

và có thể phát huy khả năng, tự lo liệu cuộc sống của mình và gia đình, sớm hoà nhập với cộng đồng” Theo đó, trợ giúp xã hội là sự đảm bảo và giúp

đỡ của Nhà nước, sự hỗ trợ của nhân dân và cộng đồng về thu nhập và các điều kiện sinh sống bằng các hình thức và biện pháp khác nhau đối với các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế, không đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Nếu trợ giúp xã hội đột xuất diễn

ra một lần thì ngược lại trợ giúp xã hội thường xuyên được tiến hành đều đặn hàng tháng kéo dài trong nhiều năm

Chính sách trợ giúp xã hội không phải cố định, mà thường xuyên thay đổi cho phù hợp với điều kiện cụ thể về phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống của xã hội

Như vậy, trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng xã hội cho các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, thiệt thòi, yếu thế, không

Trang 5

đủ khả năng tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Trợ giúp xã hội

có thể bằng tiền, cũng có thể là các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng

có thể phát huy những khả năng tự lo liệu của họ nhằm sớm hòa nhập trở lại với cộng đồng

1.1.2 khái niệm người cao tuổi (NCT)

Có rất nhiều quan niệm về người cao tuổi, đa số các quan niệm đó đều dựa vào tuổi thọ trung bình của con người, theo quan niệm của Hội người cao tuổi Việt Nam thì: “ người cao tuổi là những người từ 52 tuổi trở lên” Theo luật lao động Việt Nam: Người cao tuổi là những người từ 60 tuổi trở lên dối với nam và 55 tuổi trở lên đối với nữ”, Theo luật người cao tuổi Việt Nam ( chương 1 điều 2) có ghi rõ: người cao tuổi được quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên

Như vậy, người cao tuổi hay người già, người cao niên là những người lớn tuổi và có độ tuổi từ khoảng 60 tuổi trở lên, có kinh nghiệm sống rất phong phú, có những trải nghiệm thực tế, chiêm nghiệm, tích lũy những tinh hoa quý báu truyền lại cho thế hệ con cháu Pháp lệnh người cao tuổi Việt Nam ( số 23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28 tháng 4 năm 2000) nhận định : “ Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và có vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội”

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Trước đây người ta thường dung thuật ngữ người già để chỉ những người có tuổi, hiện nay “ người cao tuổi” được sử dụng nhiều hơn Hai thuật ngữ này tuy không khác nhau về mặt khoa học, song về tâm lý, “ người cao tuổi” là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trong Theo quan điểm y học, người cao tuổi là người ở giai đoạn già hóa gắn liền với suy giảm các chức năng của cơ thể Về mặt pháp luật, luật người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định, người cao tuổi là “ Tất cả các công dân Việt Nam

từ 60 tuổi trở lên” Theo WHO người cao tuổi phải từ 70 tuổi trở lên Một số nước

Trang 6

phát triển như Đức, Hoa Kỳ,… lại quy định người cao tuổi là những người từ 65 tuổi trở lên Quy định ở mỗi nước có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già của người dân ở các đó khác nhau Những nước có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì sức khỏe và tuổi thọ của người dân cũng được nâng cao

Do đó các biểu hiện của tuổi già thường đến muộn hơn Vì vậy, quy định về tuổi của các nước đó cũng khác nhau Theo quan điểm của công tác xã hội: Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận về người cao tuổi như sau: Người cao tuổi với những thay đổi về tâm, sinh lý, lao động – thu thập, quan hệ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống Do đó người cao tuổi là một đối tượng yếu thế, đối tượng cần sự trợ giúp của công tác xã hội

Các khái niệm trên đây đều giúp xác định về độ tuổi, bao gồm các mặt về sinh lý, và về pháp luật, giúp đề tài khóa luận về người cao tuổi được hoàn thiện hơn, chặt chẽ hơn

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI II- VIÊN AN

Trang 7

Trong đó:

Trang 8

văn nghệ, thể thao của NCT tại

trung tâm

Nguồn: báo cáo sơ bộ năm 2017- trung tâm bảo trợ xã hội II

Qua 3 năm 2015, 2016, 2017, số người trung tâm có su hướng tăng ở năm

2016 từ 71 người (năm 2015) tăng lên 73 người (năm 2016) sang năm 2017 số lượng người cao tuổi giảm 4 người từ 73 người (2016) xuống 69 người (2017)

Về giới tính: giới tính nữ chiếm tỷ lệ cao trong trung tâm 62 người (2015) trong khi đó Nam chỉ có 9 người (2015) Qua các năm tỷ lệ giới tính cũng không thay đổi giới tính nữ: 60 người (2016), 58 người (2017), giới tính nam: 13 người(2016), 11 người (2017)

Trang 9

2.1.2 Nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi

NCT sống tại trung tâm bảo trợ xã hội II gồm có 69 cụ, chủ yếu là những người già neo đơn, không nới nương tựa, hoặc người thân trong gia đình không có khả năng chăm sác cho họ nên mới được vào trung tâm Người cao tuổi khi vào trung tâm họ không còn được nhận sự quan tâm chăm sóc của họ hàng nữa, họ sống theo quy định của trung tâm, ăn uống sinh hoạt tại trung tâm, họ cũng như những đối tượng khác họ có nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, những vật dụng hàng ngày, được tham gia các hoạt động thể dục thể thao để luôn được thư thái và rèn luyện sức khỏe cho bản thân Nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi cao và rất phong phú Người cao tuổi tại trung tâm sóng chủ yếu dựa vào trợ cấp hàng tháng dành cho người cao tuổi, họ không có khoản thu nhập nào khác, người thân của họ cũng rất ít khi đến thăm

Về tình trạng sức khỏe: NCT tại trung tâm thường mắc các loại bệnh phổ biến như: cao huyết áp, các bệnh thần kinh, hô hấp, tim mạch,… điều này đòi hỏi công tác y tế của trung tâm phải đặc biệt quan tâm đến công tác chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại trung tâm, cần phải theo dõi thường xuyên, thăm khám và cấp phát thuốc cho người cao tuổi đảm bảo về sức khỏe cho NCT

Người cao tuổi khi vào trung tâm, mọi công tác sinh hoạt đều dựa vào trung tâm vì

họ không có thu nhập, không có khả năng tự chăm sóc sức khỏe vì vậy họ tìm đến trung tâm, cũn nhau sinh sống trong mái nhà chung này, để đảm bảo cho các nhu cầu cơ bản của cuốc sống người cao tuổi dựa vào trợ cấp và công tác chăm sóc sức khỏe của trung tâm

2.2 QUY ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI CHO NGƯỜI CAO TUỔI

Trang 10

2.2.1 Nội dung pháp lý về trợ cấp xã hội cho người cao tuổi

Năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 117/CP “Về chăm sóc ngyười cao tuổi và hỗ trợ hoạt động cho Hội người Cao tuổi Việt Nam” Chỉ thị khẳng định: “Kính lão đắc thọ” là truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, Đảng và nhà nước ta coi việc quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi là đao lý của dân tộc, là tình cảo và trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân Tiếp đó, Chính phủ, các bộ ngành, cơ quan Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp Luật về cơ chế chính sách liên quan đến NCT

Nghị định số 30/CP của Chính phủ ban hành năm 2002 “Quy định và hướng

dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh người cao tuổi” Điều 9 nêu rõ: người cao

tuổi được chăm sóc sức khoẻ theo quy định của Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày

11 tháng 8 năm 1989; Người cao tuổi được hưởng dịch vụ ưu tiên khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế theo Nghị định số 23/ HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 24 tháng 01 năm 1991 về Điều lệ khám, chữa bệnh và phục hồi chức năng; Người cao tuổi từ 100 tuổi trở lên được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế

Căn cứ theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật bảo hiểm y tế Số: 46/2014/QH13 ngày 13 tháng 06 năm 2014 của quốc hội về Luật bảo hiểm y tế: Theo quy định tại khoản 2, Điều 12 của Luật quy định đối tượng tham gia bảo hiểm y tế như sau: Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm:

a) Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

b) Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;

Trang 11

Cũng theo luật trên tại khoản 3 điều 12 đối tượng được tham gia bảo hiểm y

tế miễn phí bao gồm: Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng; Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho NCT theo nghị định

78/2014/QĐ-UBND ngày 31 tháng 10 năm 2014 của bộ lao động – thương binh xã hội và bộ tài chính Về việc quy định mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng và tại các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Sở Lao động -

Thương binh và Xã hội Hà Nội

Cùng với chính sách bảo trợ xã hội, thực hiện NĐ 06/2011, Bộ tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 21 ngày 18/2/2011 quy định rất cụ thể về quản lý và

sử dụng kinh phí chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người cao tuổi tại nơi cư trú, chúc thọ, mừng thọ, biểu dương, khen thưởng đối với người cao tuổi

2.2.2 Thực trạng trợ cấp xã hội cho người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội II

Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho NCT theo nghị định 78/2014/QĐ-UBND, Quy định mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng bảo trợ xã hội của thành phố Hà Nội:

Mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng (hệ số 1) được xác định là 350.000 đồng/người/tháng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) trong đó:

+ Đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 06/2011/NĐ-CP:

Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng, không có điều kiện sống ở cộng đồng với hệ số 0,2

+ Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 18 Nghị định 28/2012/NĐ-CP:

Người khuyết tật đặc biệt nặng là người cao tuổi hệ số 0.4

Ngày đăng: 30/11/2018, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w