Sáng kiến kinh nghiệm trung học phổ thông này quý thầy cô sẽ có nguồn tài liệu tham khảo hay, củng cố xây dựng phương pháp dạy hiệu quả, qua đó giúp các em học sinh tiếp thu bài tốt, nắm vững kiến thức phát triển tư duy trí tuệ. Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tập hợp các đề tài đa dạng mang tính ứng dụng cao như ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học
Trang 1MỤC LỤC
I Mở đầu……… … Trang 11.1 Lý do chọn đề tài……… …Trang 1
1 2 Mục đích nghiên cứu……….……… ….Trang 11.3 Đối tượng nghiên cứu……… ….Trang 21.4 Phương pháp nghiên cứu……… …Trang 2 1.4.1 Nhóm nghiên cứu lí thuyết……… …… Trang 21.4.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn……….…… Trang 2
II Nội dung sáng kiến kinh nghiệm ……….……Trang 22.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm……….….Trang 22.1.1 Bản chất của phương pháp dạy học trực quan……… Trang 22.1.2 Mục đích của phương pháp dạy học trực quan……….… … Trang 32.1.3 Quy trình thực hiện phương pháp dạy học trực quan……….…….Trang 32.1.4 Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học trực quan……….… Trang 32.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm………… ……Trang 42.3 Sử dụng phương pháp trực quan……….Trang 52.3.1 Các nguyên tắc cơ bản……….Trang 52.3.2 Áp dụng phương pháp dạy học trực quan……….…….…… Trang 132.4 Những kết quả ban đầu……….…… Trang 18III Kết luận, kiến nghị……… Trang 193.1 Kết luận……… ….……Trang 193.2 Kiến nghị……… ………….…… Trang 20
Trang 2
I Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
Câu nói của một triết gia nổi tiếng “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừutượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn khoa học” đã như ánh sáng soi đườngcho nhân loại để đạt được những thành tựu như ngày hôm nay Nên phương tiệnhết sức cần thiết để đi đến nhận thức là dụng cụ trực quan
Tích cực hóa hoạt động của học sinh là hướng dạy học hiện nay, giáo viêncần tạo điều kiện để học sinh tự tìm tòi, khai thác kiến thức, biết điều khiển kiếnthức của mình bằng các đồ dùng trực quan, nên đồ dùng trực quan trở thành yếu tốquan trọng trong quá trình dạy học Vừa là phương tiện giúp học sinh khai tháckiến thức, vừa là nguồn tri thức đa dạng phong phú giúp học sinh dễ dàng tiếpnhận kiến thức
Công nghệ là một môn học ứng dụng không chỉ cung cấp thông tin kiếnthức mà còn là môi trường tốt để các em khám phá, tìm tòi những mảng kiến thứcthực tế thú vị Đồng thời ở đó các em sẽ tìm thấy sở thích của bản thân giúp chocông tác định hướng nghề nghiệp sau này Nên việc giáo viên bộ môn biết tìm tòisáng tạo và có những phương pháp giảng dạy linh hoạt thì vẫn đem lại hiệu quảcao và gây nhiều hứng thú cho học sinh
Từ những nội dung trên tôi đã lựa chọn đề tài “ Sử dụng tốt phương pháp trực quan nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh qua bài : Động cơ đốt trong dùng cho xe máy – Công nghệ 11”.
Trang 31.3 Đối tượng nghiên cứu.
Đề xuất phương pháp trực quan vào dạy bài: Động cơ đốt trong dùng cho xe máy– Công nghệ 11
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
1.4.1 Nhóm nghiên cứu lí thuyết.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê, phân loại
1.4.2 Nhóm nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm
II Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Ở lứa tuổi THPT các em luôn muốn khám phá những điều mới lạ, muốn tựmình tìm ra những điều mình còn thắc mắc trong quá trình nhận thức Các em cókhả năng điều chỉnh các hoạt động của mình trong đó có hoạt động học tập, sẵnsàng tham gia các hoạt động khác nhau nhưng cần phải có sự hướng dẫn, điềuchỉnh một cách khoa học và nghệ thuật của mỗi một giáo viên chúng ta
Sử dụng phương pháp trực quan giúp cho học sinh quan sát, chiếm lĩnh các kiếnthức từ đó hình thành và phát triển tư duy tích cực, độc lập sáng tạo cho học sinh
2.1.1 Bản chất của phương pháp dạy học trực quan:
Là cách thức hệ thống các cách sử dụng các phương tiện trực quan để học sinhtrực tiếp cảm giác, tri giác chúng, trên cơ sở đó phát hiện, khai thác và lĩnh hộikiến thức
Các phương tiện trực quan rất đa dạng và phong phú:
- Vật thật, sản phẩm mẫu gọi chung là vật phẩm kĩ thuật
- Mô hình, hình vẽ sơ đồ (tĩnh hoặc động) gọi chung là vật tượng hình
- Các thí nghiệm biểu diễn hoặc chứng minh
- Các hành động, thao tác hoặc kĩ thuật
- Các động hình mô phỏng bằng máy tính
Trang 4Với mỗi loại phương tiện trực quan cần có cách thức sử dụng khác nhau để họcsinh có thể tiếp nhận và lĩnh hội được kiến thức tiềm ẩn trong đó.
2.1.2 Mục đích của phương pháp dạy học trực quan:
Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học giúp học sinh quan sát với các mụcđích sau:
- Tiếp thu các kiến thức mới thông qua các hình ảnh và mô hình mà giáo viênđưa ra
- Vận dụng các kiến thức đã học cũng như kiến thức vừa tiếp thu để thực hànhlắp đặt tạo nên các mạch điện hoàn chỉnh
- Quan sát để khắc sâu kiến thức
2.1.3 Quy trình thực hiện phương pháp dạy học trực quan:
Có thể tóm tắt quy trình thực hiện PPDH trực quan như sau:
- Giáo viên giới thiệu phương tiện trực quan (tên phương tiện, cấu tạo/ phươngpháp thể hiện các hiện tượng, sự vật )
- Giáo viên nêu yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần khai thác, cần có được từphương tiện trực quan đó
- Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, sử dụng và khai thác kiến thức từphương tiện trực quan thông qua các câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề
- Học sinh quan sát, nhận xét, rút ra kết luận về hiện tượng, sự vật qua phươngtiện trực quan đã quan sát (tùy điều kiện, có thể làm việc cá nhân hoặcnhóm)
- Giáo viên tổng hợp và chốt kiến thức, kỹ năng cần thiết
2.1.4 Ưu điểm và hạn chế của nhóm phương pháp dạy học trực quan.
Các phương pháp dạy học trực quan nếu được sử dụng khéo léo sẽ làm chocác phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạy học tạo nên nguồn tri thức.Chức năng đó của chúng chủ yếu gắn liền với sự khái quát những hiện tượng, sựkiện với phương pháp nhận thức quy nạp Chúng cũng là phương tiện minh hoạ đểkhẳng định những kết luận có tính suy diễn và còn là phương tiện tạo nên nhữngtình huống vấn đề và giải quyết vấn đề Vì vậy phuơng pháp dạy học trực quan gópphần phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh
Trang 5Với phương pháp dạy học trực quan sẽ giúp học sinh huy động sự tham giacủa nhiều giác quan kết hợp với lời nói sẽ tạo điều kiện dễ hiểu, dễ nhớ và nhớ lâu,làm phát triển năng lực chú ý, năng lực quan sát, óc tò mò khoa học của họ.
Tuy vậy, nếu không ý thức rõ phương tiện trực quan chỉ là một phương tiệnnhận thức mà lạm dụng chúng thì dễ làm cho học sinh phân tán chú ý, thiếu tậptrung vào những dấu hiệu bản chất, thậm chí còn làm hạn chế sự phát triển nănglực tư duy trừu tượng của học sinh
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Theo quan niệm giáo dục trước đây dụng cụ trực quan là phương tiện đềgiáo viên truyền thị kiến thức mới, minh họa cho kiến thức đã truyền đạt, còn vớihọc sinh chỉ có tác dụng chấp nhận và ghi nhớ Theo quan niệm này thì đồ dùngtrực quan chưa phát huy được hết vai trò của mình
Trong những năm gần đây, bộ môn công nghệ đã được quan tâm hơn trước
Có phòng học bộ môn, cung cấp thêm các trang thiết bị và tài liệu tham khảo chomôn học
Tuy nhiên vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong đó khó khăn nhất là việcdạy học tích cực hóa hoạt động của học sinh trong việc quan sát, sử dụng đồ dùngtrực quan, tuy đã triển khai nhưng hiệu quả đạt được không cao Vấn đề này đượcgiải thích ở một số nguyên nhân sau đây:
Trước tiên là do quan niệm cho rằng môn công nghệ là môn học phụ, nênviệc quan tâm tới môn này không cao Thời gian đầu tư cho việc dạy và học còn ít,tâm lí không thấy quan trọng nên chỉ học mang tính chất đối phó
Thứ hai là do cơ sở vật chất tuy đã có đầu tư nhưng vẫn còn thiếu so với yêucầu giáo dục Ít khi các em được tham quan thực tế, như nhà xưởng, các chi tiếtmáy móc thiết bị nên kiến thức tiếp nhận của các em chủ yếu là qua sách vở
Thứ ba là ở một số trường chưa có giáo viên đúng chuyên ngành giảng dạy,một số giáo viên dạy Vật lí kết hợp cả công nghệ, tuy nhiên sẽ có phần hạn chế
Thứ tư do môn Công nghệ chưa tổ chức kì thi các cấp nên việc để phát huytính tích cực của người học gặp nhiều khó khăn Những năm gần đây, có tổ chức
Trang 6cuộc thi khoa học kỹ thuật cho nhiều ngành, lĩnh vực tuy nhiên còn khó với họcsinh, các đề tài còn có sự tham gia của giáo viên nhiều.
Thứ năm là do ý thức, trách nhiệm của mỗi giáo viên, khi họ có chuyên mônvững, yêu nghề, có phương pháp giảng dạy tốt, luôn biết làm mới bài giảng củamình thì học sinh trên lớp sẽ hào hứng, thú vị với môn học Và đồ dùng trực quan
là một công cụ hỗ trợ hiệu quả cho việc dạy học đó
Thực trạng sử dụng đồ dùng trực quan đối với dạy học trước đây
2.3 Sử dụng phương pháp trực quan vào việc dạy bài: Động cơ đốt trong dùng cho xe máy – Công nghệ 11.
2.3.1 Các nguyên tắc cơ bản khi sử dụng phương pháp trực quan.
- Lựa chọn thận trọng các phương tiện trực quan, phương tiện kỹ thuật dạyhọc sao cho phù hợp với mục đích, yêu cầu của tiết học
- Giải thích rõ mục đích trình bày những phương tiện trực quan, phương tiện
kỹ thuật dạy học theo một trình tự nhất định tuỳ theo nội dung bài giảng
- Các phương tiện đó cần chuẩn bị tỉ mỉ, chu đáo, cần giải thích rõ ràngnhững hiện tượng, diễn biến quá trình và kết quả của chúng, hướng dẫn học sinhquan sát để phát hiện nhanh những dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng
- Cần chuẩn bị đủ hoặc thừa số lượng phương tiện trực quan, phương tiện kỹthuật dạy học phù hợp với nội dung của tiết học và số lượng học sinh Không lạmdụng quá nhiều phương tiện gây sự phân tán trong quá trình học của học sinh
- Để học sinh quan sát có hiệu quả cần xác định mục đích, yêu cầu, nhiệm
vụ quan sát, hướng dẫn quan sát, cách ghi chép những điều quan sát được Từ đóhọc sinh có thể rút ra những kết luận đúng đắn, có tính khái quát và biểu đạt nhữngkết luận đó dưới dạng văn nói hoặc văn viết một cách rõ ràng, chính xác
- Bảo đảm cho tất cả học sinh quan sát sự vật, hiện tượng rõ ràng, đầy đủ,nếu có thể thì phân phát các vật thật cho họ Để các đồ dùng trực quan dễ quan sátcần dùng các thiết bị có kích thước đủ lớn, bố trí thiết bị ở nơi cao, chú ý tới ánhsáng, tới những quy luật cảm giác, tri giác
- Chỉ sử dụng những phương tiện dạy học khi cần thiết Sau khi sử dụngxong nên cất ngay đi để tránh làm mất sự tập trung chú ý của học sinh
Trang 7- Đảm bảo phát triển năng lực quan sát chính xác của học sinh.
- Đảm bảo phối hợp lời nói với việc trình bày các phương tiện trực quan vàphương tiện kỹ thuật dạy học Có bốn hình thức phối hợp như sau:
+ Hình thức thứ nhất: Dưới sự chỉ đạo bằng lời của giáo viên, học sinh quansát trực tiếp các sự kiện, hiện tượng Từ đó, chính họ rút ra những thuộc tính,những mối quan hệ của chúng, những kết luận không cần suy luận
+ Hình thức thứ hai: Trên cơ sở quan sát các đối tượng và dựa vào tri thức
đã học của học sinh, giáo viên dẫn dắt họ biện luận, nêu ra các mối liên hệ giữanhững hiện tượng bằng các biện pháp quy nạp, từ đó rút ra kết luận
+ Hình thức phối hợp thứ ba là biện pháp minh hoạ đối với những hiệntượng đơn giản Bằng lời nói giáo viên thông báo trước những hiện tượng, sự kiện,kết luận rồi sau đó trình bày phương tiện trực quan nhằm minh hoạ điều đã trìnhbày Hình thức này ngược với trường hợp thứ nhất
+ Hình thức thứ tư là hình thức có tính chất suy diễn Với nội dung phảinghiên cứu phức tạp thì giáo viên bằng lời nói mô tả diễn biến của hiện tượng, kíchthích học sinh tái hiện những tri thức đã học có liên quan đến hiện tượng để giảithích hiện tượng đó Tiếp đó, giáo viên trình bày phương tiện trực quan để minhhoạ nhằm khẳng định những điều đã trình bày của mình Hình thức phối hợp nàyngược với hình thức thứ hai
Hai hình thức phối hợp đầu đòi hỏi học sinh phải tiến hành hoạt động nhậnthức tích cực hơn hai hình thức phối hợp sau Song phải căn cứ vào tính chất nộidung, trình độ tri thức và trình độ phát triển của học sinh mà lựa chọn hình thứcnào cho thích hợp
Việc soạn giáo án là một yếu tố có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của giờdạy và có tính chất bắt buộc đối với mọi giáo viên trước lúc thực hiện giờ lên lớp
Đó là điều hiển nhiên mà ai cũng biết thế nhưng vấn đề này vẫn đang còn phải traođổi thêm Hiện nay trên trang giáo án điện tử của mạng Internet của tất cả các mônhọc đều có các giáo án sẵn và thế là một bộ phận giáo viên đã tải về sử dụng,không dành nhiều thời gian nghiên cứu, không trăn trở nhiều cho việc chuẩn bịphương án giảng dạy vì thế hiệu quả của giờ dạy còn nhiều hạn chế Mặc dùchúng ta có trình độ Đại học nhưng điều đó không có nghĩa là việc hiểu và giảngdạy chương trình phổ thông là một việc quá dễ dàng Chúng ta đã từng chứng kiến
Trang 8có những giáo viên gần về hưu nhưng một số điều trình bày trong sách giáo khoahiểu vẫn khôngthấu đáo Dù sự giao lưu trao đổi giáo án giữa những người làmcông tác giảng dạy hiện nay rất thuận lợi thì việc mỗi người tự mình trăn trở xâydựng phương án giảng dạy cho riêng mình là điều cực kì quan trọng không ai thaythế được Tuy nhiên để có một giáo án có chất lượng cũng không phải là điều dễdàng.Sau đây tôi xin được trao đổi thêm về vấn đề này.Tiến trình của việc soạngiáo ánđược thực hiện theo các bước sau:
- Bước 1: đọc kĩ sách giáo khoa, tóm tắt cuối bài, câu hỏi và bài tập mà sách giáokhoa đưa ra: Tóm tắt chính là những kiến thức cốt lõi, câu hỏi và bài tập là nhữngyêu cầu về kiến thức và kỹ năng của bài cần đạt được
- Bước 2: xác định mục tiêu, kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi của bài: Cóngười cho rằng, các kiến thức có trong bài cứ khai thác cho hết, thế là đạt mục tiêubài học Đó chỉ là quan niệm có tính chất đơn giản Thực tế đây là điều rất quantrọng quyết định hướng đi của tiết dạy Nếu xác định đúng bài giảng sẽ trở nênngắn gọn, tinh giản, vững chắc, đạt được mục tiêu, nếu xác định không đúng bàigiảng sẽ trở nên ôm đồm, dàn trãi, các kiến thức trọng tâm, kiến thức cốt lõi khắchoạ không rõ nét, phân bố hợp lý, mất nhiều thời gian vào các kiến thức khôngtrọng tâm, không hoàn thành được khối lượng kiến thức và kỹ năng, không đạtđược mục tiêu bài học Vậy làm thế nào để xác định đúng mục tiêu, kiến thức trọngtâm, kiến thức cốt lõi của bài Điều nàyđòi hỏi phải đọc kĩ nội dung sách giáo khoa
và xác định vị trí của bài trong hệ thống kiến thức của chương, của giáo trình.Trong đó tóm tắt sách giáo khoa, câu hỏi và bài tập cuối bài là gợi ý tốt về kiếnthức trọng tâm, kiến thức cốt lõi mà học sinh phải nắm được sau khi học
- Bước 3: Đọc tài liệu tham khảo về các nội dung liên quan đến bài giảng thời giankhông Sách giáo khoa viết rất cô đọng và súc tích Nếu không dành thời gian thíchđáng cho việc đọc tài liệu tham khảo thì những điều chúng ta trình bày sẽ rất đơn
sơ, ít có sức thuyết phục và dễ mắc phải lỗi về mặt kiến thức, điều này thể hiện rõtrong các trường hợp thầy giáo giảng giãi các kiến thức, vận dụng kiến thức vàothực tế Việc đọc các tài liệu tham khảo về nội dung liên quan đến bài giảng giúpchúng ta hiểu sâu, hiểu thấu đáo các kiến thức, điều đó làm cho việc trình bày bàigiảng được thực hiện một cách tự tin, chính xác, sâu sắc.Tuy nhiên, trong giờ giảngchỉ trình bày ở một mức độ nhất định phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của bài,của cấp học Có giáo viên để thể hiện bài giảng sâu bằng cách đưa vào bài giảngquá nhiều ví dụ, nhiều kiến thức phức tạp, thậm chí dùng cả kiến thức đại học.Điều đó chỉ làm cho bài giảng trở nên ôm đồm gây rối trí mất thời gian vô ích củahọc sinh và đương nhiên không đạt được mục tiêu của bài học Bài giảng sâu đượcthể hiện ở chỗ là người thầy làm cho học sinh hiểu rõ, hiểu đúng, nắm được bản
Trang 9chất của kiến thức và vận dụng được các kiến thức của bài học để trả lời các tìnhhuống lý thuyết, bài tập và thực tiễn đặt ra Khi soạn bài phải lưu ý đến tính thựctiễn, xác định xem những kiến thức nào của bài cần có những ví dụ minh hoạ hoặcvận dụng để giải quyết các tình huống lý thuyết, tình huống thực tiễn và bài tậpđặt ra Điều này vừa là yêu cầu của bài giảng vừa làm tăng tính sinh động của giờdạy Tuy nhiên các dẫn chứng đưa ra chỉ cần vừa đủ, thật sự điển hình, tránh đưaquá nhiều làm cho bài giảng ôm đồm, mất thời gian không cần thiết.
- Bước 4: Lựa chọn phương pháp giảng dạy.Phương pháp giảng dạy cần được vậndụng linh hoạt tuỳ từng nội dung cụ thể của bài Dù dùng phương pháp nào đềuphải thể hiện được phương châm: lấy học sinh làm trung tâm, rèn luyện khả năng
tự học, tự nghiên cứu của học sinh Rèn luyện qua việc đọc thông tin, nghiên cứuhình vẽ, đồ thị, biểu đồ, thí nghiệm trong sách giáo khoa từ đó rút ra các kết luậncần thiết phục vụ nội dung bài dạy Quan sát các hiện tượng trong tự nhiên và xãhội để rút ra các kết luận về mặt kiến thức hoặc để giải thích nó Những điều nàychính là điểm mới trong phương pháp dạy học hiện nay
Trong quá trình soạn giáo án nên cố gắng tìm cách chuyển đổi nội dung bàidạy thành các tình huống có vấn đề để dẫn dắt học sinh khám phá kiến thức Điềunày vừa là yêu cầu của phương pháp dạy học vừa làm tăng tính sinh động của giờdạy Trong thực tiễn chúng ta thấy rằng, có những bài, những nội dung kiến thứckhó chuyển thành các tình huống có vấn đề, quả đúng như vậy Tuy nhiên trongtrường hợp đó đòi hỏi người thầy phải dành nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi,cân nhắc sẽ giúp chúng ta thu được nhiều cơ hội thành công Sự tâm huyết, làmviệc có trách nhiệm, kiên trì quán triệt tinh thần nêu trên chúng ta sẽ dần dần cókhả năng chuyển đổi các nội dung phức tạp thành các tình huống có vấn đề ngàycàng dễ dàng Tuy nhiên các câu hỏi đặt ra phải hợp lý, có tính định hướng, có tácdụng phát huy trí lực học sinh, tránh sử dụng các câu hỏi vụn vặt, quá đơn giản ít
có ý nghĩa làm tốn thời gian và vô ích
- Khi soạn giáo án không quá lệ thuộc vào cách trình bày trong sách giáo khoa: Nóichung các bài giảng được trình bày theo cấu trúc của sách giáo khoa, tuy nhiên ởmột số bài có thể được trình bày theo cấu trúc khác tùy vào phương án giảng dạycủa giáo viên, thể hiện ở các điểm như: sắp xếp lại trình tự các phần, thêm hoặc bớtmột số mục, một số kiến thức cần thiết Nghiên cứu kĩ lưỡng để có thể đưa ra cáchtrình bày các kiến thức phức tạp trong sách giáo khoa một cách tương đối đơngiảnlàm giảm bớt sự căng thẳng, nặng nề, khó khăn cho học sinh trong quá trìnhtiếp thu kiến thức Giờ giảng phải thể hiện được các yêu cầu đã nêu trong giáo án,sinh động, phân bố thời gian hợp lý, đảm bảo tinh giản vững chắc, phát huy đượctính tích cực của học sinh
Trang 10- Lời nói, trình bày của người thầy phải sinh động: Việc tạo cho giờ dạy có tínhsinh động có ý nghĩa cực kì quan trọng, chúng ta đã từng chứng kiến cùng một bàidạy được trình bày với cung cách và ngôn ngữ giống nhau song do sự khác nhautrong trạng thái tâm lí mà có lớp giờ giảng rất sinh động, học sinh tiếp thu hàohứng, đưa lại hiệu quả cao, người ta thường gọi đó là bài giảng có hồn Có lớp giờgiảng diễn ra một cách nhạt nhẽo, buồn tẻ, nặng nề, mặc dù hoàn thành nhưng hiệuquả rất thấp, những dấu ấn của bài giảng để lại trong trí não học sinh rất mờ nhạt,
đó là những bài giảng không có hồn Sự sinh động trong tiết học liên quan đến rấtnhiều yếu tố: chuẩn bị bài kĩ lưỡng, nắm chắc, hiểu sâu, biết rộng những điều trìnhbày, lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm đối với học sinh Thầy giáo phải luôn cótâm thế hào hứng đón chờ giờ dạy, thả hồn vào giờ dạy, có lòng bao dung, xử límột cách mềm dẻo, có chừng mực đối với các tình huống không bình thường màhọc sinh có thể bộc lộ trong giờ dạy Sự hào hứng trong lời giảng của thầy sẽ khơidậy, lôi cuốn sự hào hứng tiếp thu và xây dựng bài của học sinh
- Phân bố thời gian hợp lý với yêu cầu từng phần, từng đơn vị kiến thức làm chobài giảng hài hòa cân đối
- Tinh giản thể hiện ở chỗ: các nội dung kiến thức được trình bày ngắn gọn, vừa
đủ, không đưa vào các vấn đề phức tạp không cần thiết, không phù hợp với yêucầu bài dạy và trình độ học sinh Các ví dụ và hình ảnh minh họa cho bài giảngphải thật điển hình số lượng vừa đủ, nếu đưa vào quá nhiều giờ giảng sẽ trở nên
ôm đồm nặng nề, tốn phí thời gian không cần thiết, đồng thời hạn chế thời giandiễn giải kiến thức Có giáo viên tưởng rằng đưa được nhiều tranh ảnh, ví dụ sẽlàm cho sự thành công của bài giảng tăng lên Thật là nhầm lẫn, giờ dạy tinh giảncòn thể hiện ở chỗ là dành nhiều thời gian cho kiến thức trọng tâm, kiến thức cốtlõi còn kiến thức không phải trọng tâm không cần dành nhiều thời gian để giảnggiải, khai thác,thậm chí có thể cho học sinh tự học, tự đọc Lưu ý rằng có nhiềukiến thức bài dạy không phải trọng tâm lại dễ trình bày, dễ nêu vấn đề, có nhiều ví
dụ và hình ảnh minh họa đã làm cho một số giáo viên tập trung nhiều thời gian vào
đó làm cho nội dung trọng tâm phân bổ ít thời gian vì thế khắc họa một cách mờnhạt hoặc không hoàn thành bài giảng Kết thúc giờ dạy thầy giáo và học sinh phải
có cảm giác thoải mái, nhẹ nhõm mới thực sự thành công Nếu thầy giáo và họcsinh phải làm việc cật lực, vội vã thì dù những điều thầy trình bày được chuẩn bịrất công phu thì hiệu quả giờ dạy vẫn thấp
- Vững chắc thể hiện: dạy đủ, đúng, sâu các kiến thức trọng tâm, học sinh hiểu vàvận dụng được các kiến thức giải quyết được các tình huống lý thuyết, bài tập vàthực tiễn đặt ra
Trang 11- Trình bày bảng hợp lý: đảm bảo hài hoà giữa trả lời của học sinh với lời giảng vàviệc ghi bảng của thầy Điều này tưởng như đơn giản nhưng thực tế không ít giáoviên thực hiện không thành công Lỗi thường mắc phải trong trường hợp này là:thầy giáo nêu câu hỏi, học sinh trả lời, thầy giảng giải, phân tích xong và cuối cùng
là ghi bảng Cung cách này tạo ra sự khập khểnh, không hài hoà, không ăn khớpgiữa hoạt động của thầy và trò, tốn thời gian và làm cho giờ giảng giảm bớt tínhsinh động
Sau khi tiến hành giờ dạy cần rút kinh nghiệm bổ sung bên cạnh giáo án đểcác giờ dạy sau kế thừa được ưu điểm và tránh được các nhược điểm của giờ dạymình đã trãi qua Nói chung nếu để tâm, sau một giờ dạy chúng ta đều nhận rađược những điểm thành công và chưa thành công Tuy nhiên do nhiều lý do màchúng ta không ghi lại, qua thời gian dần dần quên đi, năm sau khi trở lại các tiết
đó lại phải làm từ đầu, những nhược điểm của năm trước chúng ta tiếp tục mắcphải, chất lượng giờ dạy của năm sau so với năm trước không khác nhau baonhiêu Qua thời gian trình độ chuyên môn nghiệp vụ sẽ không thay đổi là mấy.Rút kinh nghiệm cần lưu ý các điểm sau:
- Phân bố thời gian ở các phần
- Tính hợp lý của hệ thống câu hỏi dẫn dắt
- Tính rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, chính xác trong những lời diễn giảng của
thầy.-Sự tinh giản và vững chắc của giờ dạy
- Sự hợp lý, hài hòa giữa câu hỏi của thầy, trả lời của học sinh, lời giảng và ghibảng của thầy
- Khả năng hiểu bài của học sinh và tính sinh động của giờ dạy Từng nội dung đóphải chỉ ra được ưu, nhược điểm Đặc biệt là nhược điểm phải đưa ra phương ánkhắc phục Là những người trực tiếp làm công tác giảng dạy, chúng ta biết rằng, để
có một giờ dạy tốt quả không dễ chút nào Dù là người có năng lực giỏi, tận tụy vàtâm huyết với nghề nghiệp vẫn không dám nói rằng, tất cả các giờ dạy đều thànhcông Tuy nhiên với lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm, làm việc có phươngpháp, luôn có chí tiến thủ chúng ta sẽ ngày càng có nhiều giờ dạy có hiệu quả cao
Phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập là một nguyên lí dạy họcđược đặt ra từ rất lâu vì tính ưu việt của nó Việc chuyển đổi nội dung kiến thức bàihọc thành một hệ thống các tình huống có vấn đề đã khơi dậy sự tò mò tìm hiểu thếgiới tự nhiên và xã hội, từ đó học sinh chủ động khám phá kiến thức dưới sựhướng dẫn của thầy giáo, giờ dạy trở nên hào hứng, sinh động, học sinh thực sự trởthành chủ thể của quá trình nhận thức, chất lượng, hiệu quả giờ dạy tăng lên rất
Trang 12nhiều Việc dạy học theo phương pháp nêu vấn đề mặc dù là yêu cầu bức thiếtđược đặt ra từ rất lâu song đến nay vẫn có tính chất thời sự và là một câu chuyệndài Bởi vì để thực hiện nó hiệu quả không phải đơn giản mà liên quan đến nhiềuyếu tố: tâm huyết người thầy, ý thức học tập của học trò, sự quan tâm của các cấplãnh đạo, đời sống của người thầy Hệ thống câu hỏi trong dạy học có ý nghĩa cực
kì quan trọng trong việc làm cho bài giảng thực sự tạo được tình huống có vấn đề
từ đó phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập Để xây dựng được một hệthống câu hỏi đạt yêu cầu đòi hỏi người thầy phải dành nhiều thời gian, công sứcnghiên cứu, tìm tòi, cân chỉnh, rút kinh nghiệm qua soạn bài, qua sự thể hiện ở cácgiờ lên lớp, qua nhiều năm công tác Mỗi tiết dạy đưa ra nhiều hay ít câu hỏi, còntùy thuộc vào từng bài và đối tượng học sinh Điều quan trọng nhất là đưa ra đượccác câu hỏi cần thiết vừa đủ, có chất lượng, có tác dụng thiết thực tạo được các tìnhhuống có vấn đề, kích thích tư duy của học sinh khám phá kiếnhức Có bài hầu nhưchỉ phù hợp với phương pháp thuyết trình, tuy nhiên nếu chịu khó tìm tòi, cân nhắcchúng ta vẫn có cơ hội đưa ra được một số câu hỏi tạo tình huống có vấn đề làmtăng hiệu quả giờ dạy Sau đây tôi xin đưa ra một số ý kiến về những câu hỏi nên
Trang 13căng, học sinh mệt mỏi, tốn nhiều thời gian, các kiến thức cốt lõi ít được giảng giảiphân tích Các câu hỏi quá đơn giản không có giá trị phát huy trí lực học sinh, cáccâu hỏi vụn vặt với những trả lời như: có, không, đúng ạ loại câu hỏi này đưa ravừa làm mất thời gian vừa làm cho giờ dạy đơn điệu nhạt nhẽo.
Một trong những đổi mới trong phương pháp dạy học hiện nay đó là rènluyện khả năng tự học, tự nghiên cứu của học sinh Sách giáo khoa trở thành mộtphương tiện dùng cho mục đích này và sử dụng trong các trường hợp sau: Nghiêncứu SGK để rút ra các kết luận về mặt lí thuyết hoặc so sánh các kiến thức các nộidung liên quan Từ vốn kiến thức SGK để giải thích các tình huống lí thuyết hoặcthực tiễn đặt ra (ví dụ trả lời các lệnh trong SGK) Từ các hình ảnh, biểu đồ họcsinh phân tích so sánh và rút ra các kết luận cần thiết theo yêu cầu của bài học.Hình ảnh, biểu đồ được sử dụng minh họa giúp học sinh hiểu thêm những điều màthầy giáo trình bày Một số nội dung được nêu trong sách giáo khoa không phải làkiến thức cốt lõi và đơn giản học sinh có thể tự đọc để hiểu Hiện trạng đáng lưu ýhiện nay đó là một bộ phận giáo viên lạm dụng SGK trong quá trình giảng dạy thểhiện câu hỏi đưa ra mà nội dung trả lời có sẵn trong SGK, học sinh không cần phảiđộng não, không cần ghi nhớ, chỉ cần đọc đúng là trả lời được vấn đề mà thầy giáonêu lên Giáo viên phát phiếu học tập, câu hỏi nêu lên trong phiếu học sinh chỉ cầndựa vào sách giáo khoa chép lại nguyên xi là đạt yêu cầu Việc sử dụng SGK theocung cách nêu trên sẽ dần dần hình thành tật xấu cho học sinh đó là cứ mỗi khigiáo viên đưa ra câu hỏi học sinh không động não, không tư duy mà nhanh chóngnhìn vào SGK để tìm câu trả lời Với cách làm này giờ dạy diễn ra có vẻ trôi chảynhẹ nhàng và hình như một bộ phận đáng kể giáo viên và nhiều em học sinh cũngthích cung cách này vì việc học tập diễn ra thật dễ dàng khỏe khoắn, thầy giáothậm chí không cần đọc sách giáo khoa và soạn bài trước mà đến lớp cùng học tròđọc luôn thể Tuy nhiên hiệu quả giờ dạy rất thấp, dấu ấn các kiến thức được khắchọa trong trí não học sinh rất mờ nhạt, không đạt được các yêu cầu và mục tiêu củaviệc dạy học Các câu hỏi mà giáo viên đưa ra không những không phát huy tínhtích cực mà trái lại làm cho học sinh có thói quen trông chờ ỷ lại, ít cố gắng, lườibiếng Người thầy cũng thấy việc dạy học thật nhẹ nhàng, không mất nhiều côngsức cho việc soạn bài, không cần phải nghiên cứu học hỏi gì nhiều và cảm thấy rồimọi việc cũng ổn Thật là tai hại, thời gian cứ trôi đi còn người thầy “sống lâu màkhông lên được lão làng”
2.3.2 Áp dụng phương pháp dạy học trực quan vào bài: Động cơ đốt trong dùng cho xe máy – Công nghệ 11.
a Các đồ dùng dạy học trực quan sử dụng trong bài dạy.
- Hình ảnh về lịch sử động cơ đốt trong trên xe máy
Trang 14- Hình ảnh về động cơ trên xe, hình ảnh về xe máy đời đầu và hiện tại củacác hãng xe.
- Hình ảnh về một số xe 2 kỳ, xe 4 kỳ, số xi lanh trên xe
- Hình ảnh về dung dịch làm mát cho động cơ trên xe máy
- Hình ảnh về cách phân bố trí động cơ trên xe
- Hình ảnh về xích, dây curoa trên xe
- Video mô phỏng và video cận cảnh về hoạt động hộp số trên xe tay ga
- Video hoạt động của động cơ trên xe honda
- Sơ đồ hệ thống truyền lực trên xe máy và sơ đồ khối về hệ thống truyền lựctrên xe
b Phương pháp dạy học trực quan sử dụng trong bài: Động cơ đốt trong dùng cho xe máy – Công nghệ 11.
I MỤC TIÊU
Sau bài học học sinh đạt được:
1 Kiến thức
- Đặc điểm và cách bố trí của ĐCĐT dùng cho xe máy
- Đặc điểm hệ thống truyền lực dùng trên xe máy
2 Kỹ năng
- Nhận biết được vị trí các bộ phận của ĐCĐT dùng cho xe máy
3 Thái độ
- Yêu thích môn học, linh hoạt, ham tìm hiểu
- Ý thức bảo vệ môi trường
4 Định hướng phát triển năng lực:
- Năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng đồ dùng trựcquan
II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
1 Chuẩn bị của giáo viên
- Thiết bị dạy học: Giáo án, thước dài, tranh ảnh, video, một số chi tiết động cơ
trên xe máy
- Học liệu:
Trang 15+ Sách giáo khoa Công nghệ 11 - Nhà xuất bản giáo dục.
+ Sách giáo viên Công nghệ 11 – Nhà xuất bản giáo dục
+ Giáo trình động cơ đốt trong – Trường Đại học Công nghiệp TPHCM
2.Chuẩn bị của học sinh
- Chuẩn bị về kiến thức: Đọc trước bài mới.
- Chuẩn bị tài liệu học tập, thí nghiệm thực hành, dụng cụ học tập: SGK, vở ghi,bút, thước
III TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1 Ổn định tổ chức (1’) Kiểm tra sĩ số, nhắc nhở học sinh
- Sĩ số vắng
2 Kiểm tra bài cũ (5 phút)
Câu hỏi: Nêu nhiệm vụ truyền lực các đăng, truyền lực chính và bộ vi sai của ôtô?
- HS:………
3 Tiến trình bài học
a Mở đầu bài dạy:
Lịch sử ra đời của xe máy phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu, quanhiều thời gian đã cải tiến về mẫu mã, công suất, vận tốc của xe Vậy động
cơ đốt trong được ứng dụng như thế nào trên xe máy, chúng ta cùng tìm hiểubài 34
b Bài dạy:
HOẠT ĐỘNG 1
Tìm hiểu đặc điểm của động cơ đốt trong dùng cho xe máy (10 phút)
(1) Phương pháp/Kĩ thuật dạy học: Trực quan, thuyết trình + Vấn đáp.
Trang 16- Động cơ lắp trên xe máy là động cơ gì?
- Đông cơ đốt trong dùng cho
xe máy thường là loại mấy kì ?
Vì sao lại sử dụng loại đó?
- Đông cơ đốt trong dùng cho
xe máy thường làm mát bằng gì?vì sao?
- Giáo viên nêu các loại xe làm mát bằng nước hiện nay.
- Giáo viên giới thiệu hình ảnh
về số xi lanh trên xe và hỏi học sinh: Số lượng xilanh?
- Hệ thống truyền lực bố trí như thế nào?
Giáo viên: Kết luận
HOẠT ĐỘNG 2 Tìm hiểu về các cách bố trí động cơ trên xe máy (10 phút)
(1) Phương pháp/Kĩ thuật dạy học: Thuyết trình + Vấn đáp + Trực quan
(2) Hình thức tổ chức hoạt động: Cả lớp
Nội dung Hoạt động của giáo viên và học sinh
2 Bố trí động cơ trên xe máy
a Động cơ đặt ở giữa xe
- Liên hệ thực tế em hãy cho biết động
cơ xe máy thường được đặt ở đâu?
Trang 17- Ưu điểm: + Phân bố đều khối lượng trên xe.
+ ĐC được làm mát tốt
- Nhược điểm: +Truyền moomen từ động cơ
đến bánh sau xa nên hệ thống truyền lực phức
tạp
+ Nhiệt thải từ động cơ ảnh hưởng đến người
lái
b Động cơ đặt lệch về phía đuôi xe
Ưu nhược điểm ngược lại so vơi các bố trí
động cơ ở giữa xe
- Giáo viên giới thiệu hình ảnh về phân bố động cơ trên xe.
Giáo viên kết luận:
Học sinh ghi kết luận
- Phát phiếu học tập cho hs tìm hiểu sau đó lên trình bày.
- Nhóm trình bày, các nhóm còn lại suy nghĩ đặt câu hỏi Câu trả lời đúng, câu hỏi hay các nhóm đều được cộng thêm điểm.
- Nhận xét, đánh giá
HOẠT ĐỘNG 3 Tìm hiểu đặc điểm của hệ thống truyền lực (10 phút)
(1) Phương pháp/Kĩ thuật dạy học: Trực quan, thuyết trình + Vấn đáp.
1 Sơ đồ hệ thống truyền lực trên xe máy
2 Đặc điểm hệ thống truyền lực trên xe máy
- Động cơ, li hợp, hộp số bố trí trong một vỏ
chung
- Li hợp được điều khiển bằng tay hoặc tự động
- Có hộp số cơ khí và hộp số tự động, có 3,4,5 cấp
- Giáo viên giới thiệu hình ảnh về
sơ đồ hệ thống truyền lực trên xemáy, video hoạt động của động cơtrên xe
- Yêu cầu học sinh quan sát sơ đồ
và video hoạt động của hệ thốngtruyền lực trên xe máy
- Yêu cầu học sinh đọc SGK nộidung đặc điểm của hệ thốngtruyền lực, trả lời nhanh các câuhỏi trắc nghiệm (Gấp SGK)
Trang 18tốc độ, không có số lùi, thay đổi được lực kéo và
tốc độ của xe
- Động cơ đặt giữa xe truyền lực đến bánh sau
bằng xích
- Động cơ đặt lệch về phía đuôi xe truyền lực đến
bánh sau bằng trục các đăng hoặc dây curoa
- Học sinh thảo luận trả lời phiếu
- Giáo viên nhận xét các phiếu trả lời, đưa ra kết luận
- Giáo viên tổng hợp đưa ra các đặc điểm trên hệ thống truyền lực trên xe máy
HOẠT ĐỘNG 4
Phiếu học tập (5 phút)
Câu hỏi: Chọn đáp án đúng.
Câu 1 Động cơ đốt trong dùng cho xe
máy là:
a.Động cơ 2 kì b.Động cơ 4 kì
c.Động cơ 5 kì d.Cả a và b
Câu 2 Động cơ trên xe máy thường
làm mát bằng gì?
a.Bằng nước b.Bằng không khí và nước
c.Bằng không khí d.bằng hơi nước
Câu 3 Có mấy cách bố trí động cơ
trên xe máy?
a 1 cách b 2 cách
c 3 cách d 4 cách
Câu 4 Động cơ đặt ở giữa xe truyền
lực đến bánh sau xe là:
a Xích và các đăng b Xích
c Các đăng d Đai Câu 5 Li hợp, hộp số được bố trí như thế nào? a.Một vỏ chung b.Riêng biệt
c.Cả a và b d.Cùng một nơi Đáp án Câu 1:
Câu 2:
Câu 3:
Câu 4:
Câu 5:
IV TỔNG KẾT VÀ HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
1 Tổng kết (2 phút)