Sáng kiến kinh nghiệm trung học phổ thông này quý thầy cô sẽ có nguồn tài liệu tham khảo hay, củng cố xây dựng phương pháp dạy hiệu quả, qua đó giúp các em học sinh tiếp thu bài tốt, nắm vững kiến thức phát triển tư duy trí tuệ. Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tập hợp các đề tài đa dạng mang tính ứng dụng cao như ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học
Trang 1MỤC LỤC
Trang
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.1 Đối tượng nghiên cứu 2
4.1 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 2
5.2 Phương pháp toán học thống kê 2
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GDĐĐ HỌC SINH THPT TRƯỜNG THPT QUAN SƠN 2, TỈNH THANH HÓA 3
1 Khái niệm về đạo đức 3
2 Giáo dục đạo đức 3
3 Giáo dục đạo đức trong trường trung học phổ thông 4
3.1 Đặc điểm của học sinh THPT 4
3.1 Mục tiêu giáo dục đạo đức 5
3.2 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức 5
4 Các yếu tố chi phối đên giáo dục đạo đức trong trường trung học phổ thông 6
4.1 Yếu tố giáo dục nhà trường 6
4.2 Yếu tố giáo dục gia đình 6
4.3 Yếu tố giáo dục xã hội 6
4.3 Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh 6
II THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT QUAN SƠN 2, TỈNH THANH HOÁ 7
1 Đặc điểm và quy mô phát triển lớp, số học sinh và CSVC 7
Trang 22 Thực trạng về đạo đức học sinh trường THPT Quan Sơn 2 7
3 Đánh giá thực trạng 9
III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT QUAN SƠN 2, TỈNH THANH HOÁ 10
1 Yêu cầu đối với việc đề xuất các giải pháp 10
2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Quan Sơn 2 10
2.1 Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thân thiện để giáo dục đạo đức học sinh 10
2.2 Nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục trong nhà trường. .11
2.3 Tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức 12
2.4 Xây dựng tập thể học sinh tự quản 12
2.5 Lựa chọn và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm 13
2.6 Thành lập Ban Nề nếp và Đội Cờ đỏ 14
2.7 Chú trọng việc giáo dục kỷ năng sốn 14
2.8 Đa dạng hoá hoạt động ngoài giờ lên lớp 15
2.9 Tăng cường phối hợp giữa nhà trường với gia đình và xã hội 15
3 Kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 16
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 18
1 Kết luận 18
2 Kiến nghị 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3CHỮ VIẾT TẮT
1 ANTT : An ninh trật tự
2 ATXH : An toàn xã hội
3 ATGT : An toàn giao thông
16 GVBM : Giáo viên bộ môn
17 HĐNGLL : Hoạt động ngoài giờ lên lớp
27 UBND : Uỷ ban nhân dân
28 XHHGD : Xã hội hóa giáo dục
29 XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 4PHẦN: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào xu thế toàn cầu hóa mạnh mẽ, là thời đại mà cácquốc gia muốn tồn tại và phát triển phải mở cửa đón nhận nền văn minh, giaothoa văn hóa, kinh tế, chính trị với các nước khác Quá trình này tác độngmạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội đất nước Trong đó, một trongnhững lĩnh vực quan trọng nhất là văn hóa Qúa trình toàn cầu hóa đã làm chovăn hóa Việt Nam trở nên hiện đại, có thể hòa nhịp cùng thế giới Tuy nhiên, nócũng sẽ tạo ra một số hậu quả nghiêm trọng Một trong những biểu hiện quantrọng là sự thay đổi giá trị và suy thoái đạo đức mạnh mẽ của một bộ phận thế hệtrẻ hiện nay
Để khắc phục tình trạng này, đảm bảo cho thế hệ trẻ vừa tiếp thu nhữnggiá trị văn minh vừa gìn giữ được những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp cần
có sự chung tay giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội Trong đó, giáo dụcnhà trường có vai trò nòng cốt, vô cùng quan trọng GDĐĐ được xem là nềntảng, gốc rễ tạo ra nội lực tiềm tàng cho giáo dục toàn diện của nhà trường
“Cũng như sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức,không có đạo đức thì dù có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.Trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minhkính yêu đã để lại cho nhân dân ta, đất nước ta không chỉ một nền độc lập bềnvững, một cuộc sống tự do, hạnh phúc mà còn cả những tư tưởng vĩ đại, mộttấm gương đạo đức cách mạng trong sáng Người đặc biệt quan tâm đến giáodục đạo đức cho thế hệ trẻ Tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ 2(07/02/1958), Người đã từng nói: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang Vìvậy, phải tự giác, tự nguyện cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm
vụ của mình Tức là thanh niên phải có đức, có tài Có tài mà không có đứcgiống như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thìchẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội mà còn có hại cho xã hộinữa…” Đến khi viết Di chúc, Người vẫn dành một phần quan trọng để bàn vềvấn đề GDĐĐ cho thanh niên và yêu cầu: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạođức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủnghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau
là một việc rất quan trọng và rất cần thiết
Đánh giá thực trạng đạo đức đồng thời cũng nêu lên những định hướngcho giải pháp, Nghị quyết Trung ương lần thứ Hai của Đảng khóa VIII nhấnmạnh: “Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạngsuy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoàibão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Trong nhữngnăm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêunước, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh thamgia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầugiáo dục toàn diện”
Trang 5Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của BCH Trung ương Đảng(khoá XII) “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suythoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”,“tựchuyển hóa” trong nội bộ", tình trạng tham nhũng và suy thoái về tư tưởng chínhtrị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang cản trởviệc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây bất bình và giảmniềm tin trong nhân dân” Nền kinh tế thị trường có ảnh hưởng không nhỏ đếnđời sống xã hội nói chung và các giá trị về đạo đức nói riêng Điều đáng lo ngại
là các tệ nạn xã hội đã và đang xâm nhập vào học đường làm cho một bộ phận
HS chậm tiến bộ, khó giáo dục, thậm chí hư hỏng, phạm pháp Trước tình hình
đó, việc tăng cường GD đạo đức cho học sinh càng trở nên cấp thiết
Trường THPT Quan Sơn 2, tỉnh Thanh Hóa, tuy mới được thành lập vàđứng chân trên vùng cao biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệtkhó khăn, trình độ dân trí thấp mang nặng những hủ tục tập quán Học sinh củanhà trường còn một bộ phận có kết rèn luyện đạo đức yếu kém, từ đó đòi hỏi nhàtrường phải có các biện pháp hiệu quả trong quản lý GD đạo đức cho học sinh
Với những lý do trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Quan Sơn 2, tỉnh Thanh Hoá”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề GDĐĐ học sinh trườngTHPT Quan Sơn 2, tỉnh Thanh Hoá Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao chất lượng GDĐĐ học sinh đạt hiệu quả cao
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng GD đạo đứchọc sinh THPT
- Đánh giá thực trạng GD đạo đức học sinh ở trường THPT Quan Sơn 2,tỉnh Thanh Hóa
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đứccho học sinh trường THPT Quan Sơn 2, tỉnh Thanh Hoá
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng: Một số giải pháp nâng cao chất lượng GD đạo đức học
sinh ở trường THPT huyện Quan Sơn 2, tỉnh Thanh Hoá
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Học sinh trường THPT Quan Sơn 2, tỉnh
Thanh Hoá
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu, văn
bản, chỉ thị, nghị quyết, sách báo có nội dung liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp quan sát; điều tra,
đánh giá; tổng kết kinh nghiệm; thống kê toán học
Trang 6PHẦN: NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUAN SƠN 2, TỈNH THANH HOÁ
1 Khái niệm về đạo đức
Một cách hoàn chỉnh, có thể định nghĩa đạo đức “là một hình thái ý thức
xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cáchứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên tronghiện tại hoặc quá khứ cũng như tương lai Chúng được thực hiện bởi niềm tin cánhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”
Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là một mặt của đời sống
xã hội con người và là một hình thái chuyên biệt của quan hệ xã hội, thực hiệnchức năng xã hội quan trọng là điều chỉnh hành vi của con người trong mọi lĩnhvực của đời sống
2 Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổchức của nhà giáo dục nhằm trang bị cho học sinh ý thức, niềm tin, tình cảm đạođức phù hợp với các chuẩn mực của xã hội
Giáo dục đạo đức là một nội dung quan trọng trong giáo dục nhân cáchcon người phát triển toàn diện Mỗi giai đoạn lịch sử có mục tiêu, nội dung,chương trình, phương pháp, hình thức giáo dục cụ thể nhằm xây dựng nhân cáchtoàn diện cho thế hệ trẻ, đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi phát triển của xã hội
GDĐĐ với chức năng trội là làm cho học sinh có nhận thức đúng đắn vềcác yêu cầu, chuẩn mực xã hội và có hành vi, thói quen, hành động tương ứng
Nó là một trong những kết quả, mục đích quan trọng nhất của HĐ dạy học trongnhà trường Nhà văn, nhà GD J.J Rutxo đã khẳng định: “Trẻ em không phải làngười lớn thu nhỏ lại”
GDĐĐ về bản chất là quá trình biến hệ thống các chuẩn mực đạo đức,những đòi hỏi từ bên ngoài của xã hội đối với cá nhân thành những đòi hỏi bêntrong của cá nhân, thành niềm tin, nhu cầu, thói quen của đối tượng giáo dục.GDĐĐ hình thành cho con người những quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực đạođức cơ bản của XH Nhờ đó, con người có khả năng lựa chọn, đánh giá đúngđắn các hiện tượng đạo đức và tự đánh giá hành vi của bản thân GDĐĐ gópphần hình thành và phát triển nhân cách con người mới phù hợp với từng giaiđoạn phát triển GDĐĐ là quá trình tác động tới người học để hình thành cho họ
ý thức, tình cảm và niềm tin, đích cuối cùng quan trọng nhất là tạo lập đượcnhững thói quen hành vi đạo đức
GDĐĐ trong nhà trường THPT là một bộ phận của quá trình GD tổng thể,
có quan hệ biện chứng với các quá trình khác như GD tri thức, GD thẩm mỹ,
GD thể chất, GD hướng nghiệp … Quá trình GDĐĐ bao gồm các tác động củanhiều nhân tố nên nhà sư phạm phải biết tổ chức và đưa ra các biện pháp tổ chứccác hoạt động giáo dục một cách có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu giáo dục
3 Giáo dục đạo đức trong trường trung học phổ thông
Trang 73.1 Đặc điểm của học sinh trung học phổ thông
3.1.1 Đặc điểm phát triển trí tuệ:
Ở học sinh THPT, tính chủ định phát triển mạnh ở các quá trình nhậnthức, tri giác có mục đích đã đạt tới mức cao, quá trình quan sát chịu sự điềukhiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngônngữ, ghi nhớ có chủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ Đồng thời,vai trò của ghi nhớ logic, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng nên khả năng ghi nhớcủa các em rất tốt
Học sinh THPT đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng mộtcách độc lập, sáng tạo Quá trình tư duy của các em chặt chẽ hơn Tuy nhiên,hoạt động tư duy của nhiều em còn thiếu tính độc lập Các em chưa chú ý pháthuy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảmtính hoặc thiên về tái hiện tư tưởng của người khác Vì vậy, nhà trường cần đổimới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập sáng tạocủa học sinh để các em bộc lộ hết khả năng tư duy của mình
3.1.2 Đặc điểm hoạt động học tập:
Hoạt động học tập ở học sinh THPT đòi hỏi tính chủ động, sáng tạo, tíchcực do khối lượng kiến thức mà các em phải tiếp thu nhiều hơn, đa dạng hơn.Hoạt động học tập ở lứa tuổi này có sự phân hoá rõ rệt, thể hiện ở việc lựa chọncác môn học theo sở thích hay theo định hướng chọ nghề nghiệp sau này
- Các em có khả năng đánh giá sâu sắc những phẩm chất, mặt mạnh, mặtyếu của những người cùng sống và chính mình Đồng thời, các em cũng cókhuynh hướng độc lập trong việc phân tích, đánh giá bản thân Song việc tựđánh giá bản thân nhiều khi chưa khách quan, có thể sai lầm nên cần giúp đỡ đểcác em hình thành một biểu tượng khách quan về nhân cách của mình
- Học sinh THPT có nhu cầu tự giáo dục mạnh mẽ, các em đã tự ý thức,khao khát những giá trị mà mình cho là hữu ích với cuộc sống
3.1.4 Đời sống tình cảm:
Đời sống tình cảm của HS THPT rất phong phú, đặc biệt là tình bạn Các
em có nhu cầu lớn về tình bạn và đặt ra những nhu cầu cao trong tình bạn như sựchân thành, tin tưởng, đồng cảm, giúp đỡ lẫn nhau Tình bạn của các em mangtính xúc cảm cao, thường được lý tưởng hoá Mối quan hệ nam - nữ ở lứa tuổinày có sự phân hoá rõ rệt Do vậy, nhu cầu về tình bạn khác giới tăng Ở một số
em, xuất hiện những dấu hiệu của một tình cảm mới: tình yêu Tình yêu ở HSTHPT thường trong sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc và khá chân thành Vì vậy,
Trang 8nhà trường cần phải giáo dục cho HS một tình yêu chân chính dựa trên cơ sởthông cảm, hiểu biết, tôn trọng và cùng có một mục đích, lý tưởng chung.
Trong quá trình GDĐĐ cho HS THPT cần chú ý xây dựng mối quan hệtốt đẹp với các em trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau Chúng ta cần tintưởng, tạo điều kiện để các em phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo độclập, giúp các em nâng cao tinh thần trách nhiệm của bản thân để tạo điều kiệnthuân lợi cho sự phát triển nhân cách HS
Trong điều kiện ngày nay, cần tạo điều kiện giúp đỡ các em trong việcnhìn nhận, đánh giá các hiện tượng xã hội, biết phân biệt đúng – sai, ủng hộ cáitốt, ngăn chặn cái xấu…
3.2 Mục tiêu của giáo dục đạo đức
Luật giáo dục 2005 nhấn mạnh mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp họcsinh “Phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bảnnhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”
Để thực hiện mục tiêu đó, nhà trường cần trang bị cho HS những tri thứccần thiết về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống đúng đắn, kiến thức pháp luật,văn hoá xã hội để: “Nâng cao nhận thức chính trị, hiểu rõ các yêu cầu của sựnghiệp CNH, HĐH đất nước Nắm vững những quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện, gắn liềnvới sự nghiệp đổi mới của nước nhà, có nhân sinh quan trong sáng, có quanđiểm rõ ràng về lối sống, thích ứng với những yêu cầu của giai đoạn mới”
Hình thành cho học sinh thói quen, hành vi đạo đức đúng đắn trong cácmối quan hệ Rèn luyện ý thức tự giác thực hiện những chuẩn mực đạo đức xãhội, chấp hành nghiêm pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật, yêu lao động, yêu khoahọc và những giá trị văn hoá tiến bộ của nhân loại và phát huy những truyềnthống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Đồng thời, giáo dục cho học sinh tình yêu
tổ quốc, gắn với tinh thần quốc tế vô sản
3.3 Nhiệm vụ của giáo dục đạo đức
Giáo dục cho học sinh tư tưởng, phẩm đạo đức Hồ Chí Minh Từ đó, HShiểu biết, học hỏi và làm theo trong quá trình hoàn thiện nhân cách của mình
Giáo dục niềm tin và lý tưởng sống, lối sống cho học sinh để các em biếtxác định đúng đắn động cơ học tập và rèn luyện
Giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, biết sống và làm việc theopháp luật, có kỉ cương nền nếp, có văn hoá trong các mối quan hệ giữa conngười với con người và con người với tự nhiên
Trang 9Nhận thức ngày càng sâu sắc những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực vàcác giá trị đạo đức xã hội chủ nghĩa Từ đó, biến các giá trị thành ý thức tìnhcảm hành vi, thói quen và cách ứng xử trong đời sống hàng ngày.
Hình thành và phát triển nhu cầu tự rèn luyện đạo đức bản thân theo cácchuẩn mực đạo đức xã hội và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại
4 Các yếu tố chi phối đến giáo dục đạo đức cho học sinh THPT
4.1 Yếu tố giáo dục nhà trường
GD nhà trường là hoạt động GD thuộc hệ thống GD quốc dân theo mụcđích, nội dung, phương pháp có chọn lọc trên cơ sở khoa học và thực tiễn GDnhà trường được tiến hành có tổ chức, tác động trực tiếp, có hệ thống đến sựhình thành và phát triển của nhân cách Thông qua GD nhà trường, mỗi cá nhânđược bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, kiến thức khoa học, kĩ năng thực hành, đápứng yêu cầu trình độ phát triển của xã hội trong từng giai đoạn
Nhà trường là một hệ thống GD được tổ chức quản lý chặt chẽ, là yếu tốquan trọng nhất trong quá trình GDĐĐ cho HS Với hệ thống chương trình khoahọc, các tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo phong phú, các phương tiện hỗtrợ GD ngày càng hiện đại, đặc biệt là với một đội ngũ cán bộ giáo viên đượcđào tạo cơ bản có đủ phẩm chất và năng lực để GD học sinh
4.2 Yếu tố giáo dục gia đình
Gia đình là cơ sở đầu tiên, có vị trí quan trọng và ý nghĩa lớn đối với quátrình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người Vì vậy, mỗi người luônhướng về gia đình để tìm sự bao bọc, chia sẻ
Trong gia đình, cha mẹ là những người đầu tiên dạy dỗ, truyền đạt chocon cái những phẩm chất nhân cách cơ bản, tạo nền tảng cho quá trình phát triểntoàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể lực, thẩm mĩ…đáp ứng yêu cầu phát triển của
xã hội GD trong gia đình giúp trẻ rèn luyện đạo đức, thói quen lao động chântay và trí óc, phù hợp với khả năng của mình
Giáo dục gia đình chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện kinh tế, tiện nghi, nếpsống, nghề nghiệp của cha mẹ…đặc biệt là mối quan hệ gắn bó, gần gũi giữacha mẹ và con cái Vì vậy, cha mẹ cần có biện pháp GD phù hợp tạo sự thuận lợicho việc hình thành và phát triển những phẩm chất nhân cách tốt đẹp của trẻ
4.3 Yếu tố giáo dục xã hội
Địa bàn dân cư nơi học sinh cư trú ảnh hưởng lớn đến việc GDĐĐ cho
HS Môi trường XH trong sạch, lành mạnh, văn minh là điều kiện thuận lợi chohình thành nhân cách HS Vì vậy, cần phải có sự phối hợp, thống nhất giữa nhàtrường, GĐ và XH Sự phối hợp này tạo ra môi trường thuận lợi, sức mạnh tổnghợp để GDĐĐ học sinh có hiệu quả
4.4 Yếu tố tự giáo dục của bản thân học sinh
Tự giáo dục là một bộ phận của quá trình giáo dục, là hoạt động có ý thức,mục đích của mỗi cá nhân để tự hoàn thiện những phẩm chất nhân cách bản thântheo định hướng giá trị xác định Nhu cầu ducjgiaos dục nảy sinh theo từng giaiđoạn phát triển của cá nhân ở lứa tuổi hducjgiao trùng học phổ thông, nhu cầu
tự giáo mạnh mẽ, các em đã tự ý thức được những giá trị mà các em cho là hữuích với cuộc sống
Trang 10II THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC HỌC SINH CỦA TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUAN SƠN 2, TỈNH THANH HOÁ
1 Đặc điểm và quy mô phát triển lớp, số học sinh và cơ sở vật chất
Trường THPT Quan Sơn 2 được thành lập theo quyết định số UBND ngày 21 tháng 01 năm 2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh
217/QĐ-Hóa Khu vực tuyển sinh của trường THPT Quan Sơn 2 là 04 xã vùng cao biên
giới (Na Mèo, Mường Mìn, Sơn Điện, Sơn Thủy)
Trong 5 năm qua số lớp THPT dao động từ 10 - 12 lớp và số học sinh daođộng từ 353 - 392 em (Gồm học sinh người Thái, Mường, Mông, Kinh)
Diện tích đất của nhà trường là 25.560m2, cơ sở vật chất của nhà trường hiệnnay được đầu tư xây dựng cơ bản theo hướng kiên cố hoá, chuẩn hoá, tạo nên vẻ mỹquan, khang trang và thuận lợi cho việc học tập, vui chơi và tổ chức các hoạt độngkhác bổ trợ cho công tác dạy và học ngày càng đạt hiệu quả
Bảng 1: Quy mô HS – CBGV, NV trường THPT Quan Sơn 2
2 Thực trạng đạo đức học sinh Trường THPT Quan Sơn 2
Trong những năm gần đây, sự phát triển Kinh tế - Xã hội đã mang lạikhông ít những thuận lợi cho công tác giáo dục trong nhà trường Sự quan tâmđầu tư của Đảng, Nhà nước cùng với sự hỗ trợ tích cực từ xã hội, cơ sở vật chất,trang thiết bị giáo dục của nhà trường ngày một khang trang, đảm bảo cho việcdạy và học Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặcbiệt là công nghệ thông tin đã hỗ trợ cho giáo viên và phụ huynh trong việc liênlạc, trao đổi, nắm bắt nhanh những thông tin cần thiết trong phối hợp giáo dục;đồng thời hỗ trợ tích cực cho hoạt động giáo dục của giáo viên chủ nhiệm
Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi kể trên, những năm gần đây một bộphận học sinh rơi vào những tệ nạn xã hội, bạo lực học đường; không kính trọngthầy cô, xem thường bạn bè, mọi người xung quanh; không hiếu thảo với ông bàcha mẹ; thiếu tính nhân đạo; các em mê games bỏ học hoặc tự tử vì games Từ
Trang 11đó làm suy thoái những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc Vì vậyviệc đẩy mạnh giáo dục đạo đức trong học sinh THPT là vô cùng quan trọng và
là điều rất cấp thiết để thúc đẩy sự hoàn thiện con người nói riêng và đẩy nhanh
sự phát triển của đất nước nói chung
Mặt khác, nhiều gia đình do quá bận rộn với công việc làm ăn nên thờigian dành cho việc giáo dục con cái không nhiều, gần như phó mặc cho nhàtrường và xã hội Học sinh thiếu thốn tình cảm, thiếu sự quan tâm của gia đình,
dễ bị kẻ xấu lôi cuốn sa ngã Một số em do được chiều chuộng nên nảy sinh tínhích kỉ, ương bướng, khó bảo
Thực tế công tác GDĐĐ chưa có khoá đào tạo chính thức nào về nghiệp
vụ cho cán bộ quản lý và giáo viên Vì vậy, công tác giáo dục đạo đức chủ yếubằng kinh nghiệm của bản thân, cộng với trao đổi học hỏi đồng nghiệp trong nhàtrường Nội dung chương trình giảng dạy còn nặng về kiến thức thuần tuý, sốtiết giành cho giáo dục công dân, giáo dục đạo đức học sinh còn quá ít Hơn nữatuổi học sinh là tuổi có nhiều nhu cầu hiểu biết, tìm tòi, bắt chước, thích giaolưu, đua đòi, thích sự khẳng định mình , trong khi kiến thức về xã hội, gia đình,
sự hiểu biết về pháp luật còn hạn chế, nếu không có phương pháp giáo dục tốtthì chiều hướng học sinh hư, lười học, vi phạm đạo đức ngày càng nhiều
Bên cạnh đó nhiều giáo viên chủ nhiệm tiến hành công việc khá cảm tính,chưa có phương pháp sáng tạo thích hợp Có người quá nghiêm khắc, có ngườiquá dễ dãi Người nghiêm khắc gò ép học sinh theo khuôn khổ một cách máymóc Và như thế, về mặt tâm lí thì cả giáo viên và học sinh đều như bị áp lực
* Một số biểu hiện của học sinh vi phạm đạo đức:
- Bỏ học, bỏ tiết, đi học muộn
- Không mặc đồng phục, không đeo phù hiệu
- Đầu tóc dị hình dị màu
- Luôn có tư tưởng quấy phá, gây mất trật tự trong giờ học
- Không chú ý nghe thầy, cô giảng dạy
- Thiếu văn hóa (nói tục, chửi thề)
- Đùa giỡn, chọc ghẹo, thiếu lễ phép, thích trêu ngươi người khác
- Sách vở không đầy đủ, thường xuyên không chép bài
- Mê chơi game, lôi kéo, rủ rê bè bạn
- Hay cãi lí với bố mẹ và thầy cô; Sẵn sàng bỏ học đi chơi cùng bạn
- Thường nói dối, thậm chí nói láo với người trên …
- Hút thuốc lá, uống rượu, bia
- Chia bè, kéo cánh đánh nhau, xử lý như giang hồ
* Một số nguyên nhân dẫn đến học sinh vi phạm đạo đức:
- Nguyên nhân môi trường xã hội: Sự bùng nỗ CNTT và các hình thức vuichơi giải trí đã ảnh hưởng trực tiếp đến các hành vi đạo đức của học sinh
- Nguyên nhân từ gia đình: Do bố mẹ mãi lo làm ăn, không có điều kiệnquan tâm đến con cái Mặt khác, một số gia đình nuông chiều con cái dẫn đếncon cái chỉ biết bản thân mình, hay đòi hỏi bố mẹ, thiếu bản lĩnh và có thói quen
ỷ lại, dựa dẫm