Sáng kiến kinh nghiệm trung học phổ thông này quý thầy cô sẽ có nguồn tài liệu tham khảo hay, củng cố xây dựng phương pháp dạy hiệu quả, qua đó giúp các em học sinh tiếp thu bài tốt, nắm vững kiến thức phát triển tư duy trí tuệ. Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tập hợp các đề tài đa dạng mang tính ứng dụng cao như ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMVẬN DỤNG TRI THỨC TIẾNG VIỆT TRONG GIỜ ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN “ĐÂY THÔN VĨ DẠ”
Người thực hiện: Lữ Thị Thanh Thủy
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
Trang 21 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 4
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiêm 4
2.1 Cơ sở lí luận của việc vận dụng tri thức tiếng Việt vào giờ đọc hiểu 4
2.2 Thực tế của việc vận dụng tri thức tiếng Việt trong giờ Đọc- hiểu Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông 5
2.3 Vận dụng tri thức tiếng Việt trong giờ đọc hiểu Đây thôn Vĩ Dạ 5
2.3.1 Những tri thức tiếng Việt được vận dụng 6
2.3.1.1 Tri thức về ngữ âm tiếng Việt 6
2.3.1.2 Tri thức về từ vựng tiếng Việt 7
2.3.1.3 Tri thức về các biện pháp tu từ 9
2.3.2 Một số phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh vận dụng tri thức tiếng Việt vào đọc hiểu văn bản Đây thôn Vĩ Dạ 10
2.3.2.1 Phương pháp nêu vấn đề 10
2.3.2.2 Phương pháp phân tích mẫu 11
2.3.2.3 Phương pháp diễn giảng 12
2.3.3 Giáo án thực nghiệm 13
2.4 Hiệu quả của SKKN 20
3 Kết luận, kiến nghị 20 Tài liệu tham khảo
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt và Đọc- hiểu là hai phân môn quan trọng trong chương trìnhNgữ văn Trung học phổ thông Những năm trước đây, hai môn này được dạynhư những môn học độc lập Trong xu thế tích hợp hiện nay, Tiếng Việt vàĐọc- hiểu cùng được đưa vào dạy chung trong chương trình Sách giáo khoa Ngữvăn Quan điểm tích hợp đòi hỏi người dạy và học phải biết vận dụng kiến thức,năng lực Tiếng Việt vào giờ Đọc – hiểu và ngược lại Tuy nhiên, thực tế chothấy việc vận dụng tri thức tiếng Việt vào một giờ Đọc hiểu cụ thể còn hạn chế
và chưa thật nhuần nhuyễn, dẫn tới việc lĩnh hội, đánh giá tác phẩm văn chươngcòn thiếu khách quan, khoa học, mặt khác làm cho năng lực tiếng Việt của họcsinh không được rèn luyện, trau dồi Thực tế trên đòi hỏi trong quá trình dạy họcNgữ văn cần thường xuyên khai thác, vận dụng tri thức tiếng Việt trong một giờđọc hiểu cụ thể
Trong hệ thống các tác phẩm văn chương được đọc – hiểu ở chương trình
Ngữ văn trung học phổ thông, Đây thôn Vĩ Dạ là một tác phẩm hay, được nhiều
thế hệ học sinh yêu thích Sự hấp dẫn của thi phẩm này được tạo nên không chỉ
từ cảm xúc chân thành, trong sáng của nhân vật trữ tình mà còn bởi sự tinh tế,khéo léo trong việc tổ chức ngôn ngữ thơ của người nghệ sĩ Có thể nói, kĩ thuật
sử dụng tiếng Việt điêu luyện của Hàn Mặc Tử là một trong những yếu tố đưabài thơ đạt đến độ toàn bích Tuy nhiên, trong quá trình đọc hiểu tác phẩm này,không ít người dạy- học đã không chú ý đến việc khai thác tìm hiểu sự tinh tếtài hoa trong việc sử dụng ngôn từ tiếng Việt của Hàn Mặc Tử, các tri thức vềtiếng Việt đã không được vận dụng vào quá trình tìm hiểu bài thơ, dẫn tới việccảm thụ tác phẩm còn thiếu khách quan, chưa thấu đáo
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, chúng tôi chọn vấn đề Vận dụng tri thức tiếng Việt trong giờ đọc - hiểu văn bản Đây thôn Vĩ Dạ làm đề tài nghiên
cứu trong khuôn khổ một sáng kiến kinh nghiệm, với hi vọng góp phần giảiquyết vấn đề thuộc phương pháp dạy học một phân môn trong chương trìnhSGK Ngữ văn bậc THPT
1.2 Mục đích nghiên cứu
Khai thác mối quan hệ hữu cơ giữa phân môn Đọc - hiểu và phân mônTiếng Việt, nhất là các vấn đề về tiếng Việt có mặt trong văn bản đọc - hiểu
Đây thôn Vĩ Dạ nhằm góp phần cung cấp cái nhìn khách quan hơn khi đánh giá,
cảm thụ tác phẩm, hiểu sâu sắc hơn tài năng văn chương của Hàn Mặc Tử, đồngthời củng cố các tri thức tiếng Việt được dạy học trong chương trình Ngữ vănTHPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định, đối tượng nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm
này là bài Đọc - hiểu Đây thôn Vĩ Dạ của chương trình Ngữ văn THPT, trong
đó tâm điểm là những vấn đề liên quan đến tri thức của phân môn Tiếng Việt
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 4Sáng kiến kinh nghiệm này sử dụng phối hợp các phương pháp thuộc cảhai nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thựctiễn Cụ thể là: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp môhình hoá, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp thựcnghiệm.
đã thổi hồn vào những con chữ, làm cho chúng sống dậy thành những hìnhtượng nghệ thuật Khám phá tác phẩm văn hoc là khám phá hình tượng văn học.Hình tượng văn học mang tính phi vật thể Chúng ta chỉ có thể tìm hiểu, đánhgiá chúng thông qua việc tìm hiểu, đánh giá chất liệu xây nên chúng là ngôn từ
Trong phần Dẫn luận cuốn Phương pháp giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại, Đái Xuân Ninh viết: “Hình thức chủ yếu của một tác phẩm văn học là ngôn ngữ Vì tất cả cái gì hình thành ra một tác phẩm như đề tài, kết cấu, tình tiết,
… đều được diễn đạt bằng ngôn ngữ…” Do đó “thoát li yếu tố ngôn ngữ thì việc phân tích nội dung chỉ là một sự gượng ép, méo mó, mờ nhạt Có bám lấy ngôn ngữ mới không suy diễn vu vơ, mới nhận thấy cái nhịp đập của trái tim, cái hơi thở của tâm hồn, cái chất sống thực sự của nhà thơ, ” [1, tr.3].
Chính mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngữ và tác phẩm văn chương là cơ
sở xác đáng của quan điểm tích hợp trong dạy và học Ngữ văn Trong cuốn
Phương pháp dạy học Ngữ văn trung học phổ thông - những vấn đề cập nhật, hai tác giả Nguyễn Thanh Hùng và Lê Thị Diệu Hoa nêu quan điểm: “Môn học Ngữ văn thể hiện rất rõ tính liên hệ trực tiếp giữa văn với Tiếng Việt và Làm văn Bản thân mỗi phân môn ấy đều có tính trung gian và có thể chuyển hóa trong hoạt động chung về tư duy, về kiến thức, về kĩ năng, về thế giới tinh thần, tình cảm và thái độ ứng xử văn hóa trong đời sống, chính vì hai tính chất trực tiếp và trung gian này mà môn Ngữ văn không thể chia tách ra được, nên đặt vấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ văn là có cơ sở” [1, tr.104].
Nghiên cứu vấn đề dạy học tiếng Việt trong quá trình dạy Ngữ văn, ĐinhTrọng Lạc quan niệm: trong quá trình dạy đọc - hiểu, giáo viên phải biết vậndụng tri thức tiếng Việt như: ngữ âm, từ vựng, cú pháp, phong cách hay biệnpháp tu từ để giúp học sinh khám phá sâu sắc hơn ý nghĩa của văn bản, đồngthời giúp cho học sinh lưu giữ được những vẻ đẹp, những giá trị nhân văn sâusắc mà văn chương nghệ thuật đem lại cho các em [3.tr.47]
Trong cuốn Chương trình Ngữ văn trong nhà trường trung phổ thông Việt Nam, Đỗ Ngọc Thống dẫn lại quan điểm của Bộ Giáo dục và Đào tạo khi hoạch định chương trình Ngữ văn mới cho bậc THPT: “Ba bộ phận Văn học, Tiếng
Trang 5Việt và Làm văn tuy khác nhau nội dung và kĩ năng, nhưng vẫn có nhiều điểm chung cơ bản: đó là tiếng Việt và sự biểu đạt bằng tiếng Việt, có đối tượng nghiên cứu chung là văn bản tiếng Việt và có mục tiêu chung là rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết” [, tr.256] Có thể nói, mối quan hệ này tạo điều kiện
thuận lợi tối đa cho việc củng cổ tri thức tiếng Việt qua việc dạy đọc - hiểu cũngnhư dạy Làm văn
Mỗi một văn bản đọc - hiểu đều là một sản phẩm ngôn ngữ đầy tính sángtạo, có khi là những mẫu mực trong việc sử dụng tiếng Việt Chính vì thế,Tiếng Việt và Đọc - hiểu có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau Vận dụngnguyên tắc tích hợp vào dạy học đọc - hiểu cũng như dạy học tiếng Việt vừa làđòi hỏi có tính khách quan, lại vừa phản ánh tính liên thông tất yếu giữa haiphân môn
2.2 Thực tế của việc vận dụng tri thức tiếng Việt trong giờ Đọc- hiểu Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông.
Có một thực tế đang diễn ra trong giảng dạy Ngữ văn hiện nay ở nhà trườngphổ thông là vị thế của phân môn Tiếng Việt đang mất dần Mặc dù được đưavào cùng cuốn sách giáo khoa Ngữ văn, nhưng những bài học về Tiếng Việtkhông mấy khi được chú trọng giảng dạy Cả người dạy và người học đếu tậptrung chú trọng vào các bài đọc hiểu Các tiết tiếng Việt không được đầu tư côngphu, thậm chí còn bị bỏ qua, nhường chỗ cho các các tiết đọc hiểu Bản thân họcsinh cũng không thích học tiếng Việt bởi một trong những yếu tố tâm lí trởthành rào cản là “phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” Thực tếtrên đã dẫn tới hệ lụy là lỗ hổng về kiến thức tiếng Việt ở đang lớn dần, là ngườiViệt nhưng không hiểu được bao nhiêu về tiếng mẹ đẻ Niềm hi vọng nâng caonăng lực, tri thức tiếng Việt cho học sinh được đặt vào các giờ đọc- hiểu, trênnguyên tắc tích hợp
Nhưng ngay trong một giờ đọc – hiểu, việc vận dụng, củng cố tri thứctiếng Việt chưa được thực hiện một cách khoa học, nhuần nhuyễn Sự nghèo nàn
về tri thức về tiếng Việt đã dẫn tới việc đánh giá, cảm thụ tác phẩm văn chươngthiếu khách quan Sự khiên cưỡng, gượng ép chắp nối một cách rời rạc tri thứcTiếng Việt với cảm thụ văn học khiến bài đọc hiểu trở nên vụng về, tách rời,cháp vá Đánh giá, cảm thụ tác phẩm văn chương trở thành việc “chém gió” củanhiều học sinh hiện nay Lối cảm thụ tác phẩm văn học sáo rỗng, thiếu căn cứ,
xã hội học dung tục đang tồn tại ở một bộ phận học sinh có một phần nguyênnhân từ chính việc chưa vận dụng linh hoạt tri thức tiếng Việt vào trong giờ đọchiểu
Thực tế đáng buồn này đặt ra yêu cầu cấp bách phải vận dụng thườngxuyên, linh hoạt các tri thức tiếng Việt vào các giờ đọc hiểu, đồng thời dạy- họccác tiết tiếng Việt trong chương trình phải đầy đủ, nghiêm túc, khoa học hơn
2.3 Vận dụng tri thức tiếng Việt vào giờ đọc – hiểu văn bản Đây thôn
Vĩ Dạ
2.3.1 Những tri thức tiếng Việt được vận dụng
Trang 6Đây thôn Vĩ Dạ là một bài thơ trữ tình Ngôn ngữ thơ trữ tình mang
những đặc trưng cơ bản là: giàu nhạc tính, mang tính hàm súc cao, và rất truyềncảm Tạo nên đặc trưng đó của ngôn ngữ thơ là các yếu tố: nhịp thơ, vần thơ,thanh điệu, từ ngữ cùng các biện pháp tu từ, và khả năng tổ chức ngôn ngữ củatác giả Như vậy, để đọc – hiểu bài thơ này, chúng ta cần vận dụng những trithức tiếng Việt cả về ngữ âm (thanh điệu, phụ âm, vần), từ vựng ( từ và các biệnpháp tu từ), ngữ pháp (cụm từ, câu) để khám phá, lĩnh hội bài thơ
2.3.1.1 Tri thức về ngữ âm Tiếng Việt
Chất liệu cấu tạo của văn học là ngôn từ Ngôn từ là hệ thống tín hiệu, mỗitín hiệu của ngôn từ có hai mặt: Phần nghĩa và phần âm Chính phần âm này,hay nói khác đi, chính những đặc trưng về ngữ âm của chất liệu nghệ thuật ngôn
từ tạo nên tính nhạc cho bài thơ
Biểu hiện:
- Phối thanh: bằng, trắc (thanh bổng – thanh trầm); phù bình thanh – thanh cao(sắc, ngã, ngang), trầm bình thanh – thanh thấp (huyền- nặng- hỏi) Phối thanhtrong bài thơ như phối các nốt trong một bản nhạc
- Ngắt nhịp
- Hiệp vần
Tác dụng: Tăng nhạc tính, tăng tính gợi cảm, sức hấp dẫn của bài thơ Thểhiện một cách mạnh mẽ hơn tư tưởng, tình cảm gửi gắm Tạo hiệu ứng cảm xúcđặc biệt, rung động trái tim người đọc
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ có sự phối thanh bằng trắc ở từng khổ thơ cũng như ở
toàn bài thơ một cách điêu luyện:
Nhạc điệu bằng - trắc theo lối thơ Đường thất ngôn Tất thảy các chữ 2 - 4
- 6 trong câu đều theo kết cấu hài âm bằng trắc của Đường thi, đó là sự hài âmtheo qui ước “ nhị, tứ, lục phân minh”
Khổ thơ mở đầu của Đây thôn Vĩ Dạ: có 17 tiếng mang thanh bằng, và 11
tiếng mang thanh trắc trong đó thượng thanh: 02 (ngã, không có hỏi), khứ thanh:
05 (sắc: 05, không có nặng), nhập thanh: 04 (sắc: 02, nặng: 02) Khổ thơ thứ hai khổ: có 16 tiếng mang thanh bằng, 12 tiếng mang thanhtrắc; và có tới 21 tiếng là thanh cao, trong khi chỉ có 07 tiếng là thanh thấp (ynhư ở khổ mở đầu)
Khổ thơ thứ ba: khổ này có 17 tiếng mang thanh bằng, 11 tiếng mangthanh trắc; và cũng có tới 21 tiếng mang thanh cao, trong khi chỉ có 07 tiếngmang thanh thấp (cũng y như ở khổ thứ hai và khổ mở đầu)
Tổng quan lại, cả bài Đây thôn Vĩ Dạ với 03 khổ thơ, 12 dòng, 84 tiếng, ta
có: 50 tiếng mang thanh bằng, 34 tiếng mang thanh trắc; 63 tiếng là thanh cao,
21 tiếng là thanh thấp Cái tỷ lệ ấy tự nó đã nói lên vì sao Đây thôn Vĩ Dạ đẹp
mà buồn, buồn như nhạc cổ điển nghe trong chiều mưa, những âm hưởng nền dudương êm ả của các thanh bằng và trên cái nền đó là những âm sắc cao, trongtrẻo, thiết tha
Ngoài ra, tính nhạc còn thể hiện ở các yếu tố khác:
Trang 7Nhịp: Nhịp 4/3 của những câu thơ như “Nhìn nắng hàng cau/nắng mới lên” “Gió theo lối gió/mây đường mây”, “Mơ khách đường xa/khách đường xa”
tạo nên những tiết tấu du dương, đồng thời cũng tạo nên liên kết về mặt ngữ âmgiữa các khổ thơ, khiến cả bài thơ trở nên hài hòa, da diết
Vần “ay” (Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay/ Có chở trăng về kịp tối nay?)lắng xuống, tạo thành những dư âm, những cơn sóng ngầm lặng vào trong Vần “a”(Mơ khách đường xa, khách đường xa Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ai biết tình ai có đậm đà) âm vang, làm cảm xúc ngân dài ngân dài
trong những vang vọng dội vào tâm hồn độc giả
2.3.1.2 Tri thức về từ vựng tiếng Việt.
Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất của hình thức chất liệu ngôn từ.Bởi vì mọi nội dung cần thể hiện của tác phẩm văn học không thể có cách nàokhác là nhờ vào hệ thống từ ngữ ấy Các phương tiện như dấu câu, nhịp điệu,ngữ âm đã nêu ở trên chỉ thực sự có ý nghĩa khi nằm trong một văn bản mà từngữ là nền tảng Nhà thơ muốn mô tả, tái hiện hiện thực phải thông qua từ ngữ.Muốn đánh giá được nhà thơ viết về những điều đó như thế nào, lại cũng phảithông qua chữ nghĩa trong văn bản Đó là cơ sở để người ta khẳng định “văn học
là nghệ thuật của ngôn từ”
Vinôgrađôp cho rằng, “Một từ trong tác phẩm nghệ thuật không thểđược coi ngang bằng như từ của ngôn ngữ thực hành, vì trong văn bản nghệthuật, từ thi ca (từ nghệ thuật) có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩa củamình, có mối tương quan đồng thời với cả những từ của ngôn ngữ văn hóachung, cả với những yếu tố của cấu trúc ngôn từ của văn bản nghệ thuật”
[Dẫn theo Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học tiếng Việt,
tr.146]
Một trong những yếu tính của ngôn ngữ thơ là cô đọng, súc tích Ngônngữ thơ biểu đạt nội dung nhiều hơn những gì được nói Vì vậy, việc lựa chọn từngữ trở nên hết sức quan trọng Nó phải đảm bảo được yêu cầu “nói ít hiểunhiều” của thơ Mặt khác, với thơ, ngôn ngữ vừa là phương tiện vừa là cứucánh, với nhà thơ, mọi lớp ngôn từ đều bình đẳng Qua việc anh ta lựa chọnnhững lớp ngôn từ nào và sử dụng chúng ra sao trong tác phẩm của mình mànhững nét riêng về phong cách của anh ta được biểu lộ
Trên bình diện ngữ nghĩa, sự độc đáo của ngôn ngữ thơ còn được xác lập
ở cách kết hợp và sử dụng từ ngữ có tính chất bất thường Với các thao tác này,ngôn ngữ thơ được đảm bảo một cách tối đa tính hàm súc của nó Bởi một kếthợp phi truyền thống đôi khi có thể thay cho một diễn giãi dài, cần đến mộtlượng ngôn từ khá lớn Với những trường hợp này, từ ngữ đi vào trong thơnhiều khi không còn là chính nó Nghĩa đen, nghĩa gốc không còn được quantâm mà điều dáng chú ý là cái áo ngữ nghĩa mới mà người nghệ sĩ vừa khoáclên mình nó trong những lần sử dụng cụ thể Nó sâu sắc hơn, tinh tế hơn vàquan trọng là chỉ nó (từ ngữ và cách sử dụng đó) mới có đủ sức nặng đểchuyển tải những thông điệp thẩm mĩ mà nhà thơ muốn gửi gắm
Trang 8Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” sử dụng nhiều từ giàu sức gợi tả:
- Từ “mướt” trong câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” “Mướt” là
tính từ gợi tả sự bóng láng và mỡ màng, mềm mại trên bề mặt của thực vật, nhìnthấy thích mắt Chỉ một chữ ấy thôi mà đã gợi nên được vẻ đẹp tinh khôi tràn
đầy sức sống của cảnh vườn “Mướt” kết hợp với “quá” càng làm tăng thêm sắc
thái biểu cảm của từ này
- Từ “buồn thiu” trong câu thơ “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”: gợi lên nét
buồn với vẻ thất vọng, mất hứng thú
- Từ “lay” thể hiện trạng thái chuyển động không ngừng, nhưng ở đây còn
nhuốm sắc buồn từ sự chia li của cảnh vật, còn gợi cái oi ả ảm đạm của một trưavắng
- Từ “kịp” gợi nên nỗi niềm của thi nhân, một dự cảm về tương lai, một lối
sống vội vàng để hưởng thụ được những gì tối thiểu nhất của cuộc đời, từ đó chothấy vẻ đáng thương, tội nghiệp, đau khổ
Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” sử dụng rất nhiều từ phiếm chỉ:
- Từ phiếm chỉ “ai” (“Vườn ai”, “thuyền ai”, “ai biết”,“tình ai”) gắn với các
từ khác có tác dụng làm mờ cảnh vật Đồng thời cho cảm giác như cuộc sống vàtình yêu, những gì thi nhân đang hướng tới đang khao khát như nhòa dần đi, mờdần đi
- Những từ “đó”, “đây” (“Sông trăng đó”,”tối nay”,”ở đây”) gợi diễn tả sự
mơ hồ về không gian “Đó” có thể ám chỉ thế giới ngoài kia, thế giới của sự sống, của những điều tốt đẹp mà nhà thơ bị số phận tước mất “Đây” có thể là
thế giới trong này, thế giới của bóng tối và bệnh tật nơi trại phong Tuy Hòa
“Tối nay” là một sự mơ hồ về thời gian Những từ phiếm chỉ này phủ bài thơ
trong một màn sương mơ hồ của kí ức và tưởng tượng, làm cho tất cả nhòe dần
đi, nhòa dần đi trong một thời gian miên man và một không gian mênh mang vôđịnh
Những từ phiếm chỉ xuất hiện là do cảm xúc của nhà thơ: Bài thơ được lấycảm hứng từ một tâm bưu thiếp từ phương xa gửi tặng, tấm bưu thiếp ấy đã làmtrỗi dẫy nỗi nhớ và cuộc sống mạnh liệt trong lòng thi nhân, từ đó từng hìnhtượng thơ ra đời Tuy vậy những hình tượng này là những hình tượng của trínhớ, do trí nhớ tái tạo, cũng có thể là những hình tượng tưởng tượng, tât cả đềuđược hình thành trong tâm trí thi nhân, tâm trí của một người bị giam cầm trongbóng tối, chịu đựng những nỗi đau tột cùng, chứng kiến cảnh tâm hồn và thể xáctan rã, chính vì vậy mà chúng mơ hồ, mơ hồ do màn sương trí nhớ, mơ hồ donhững nỗi đau
Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” có những kết hợp từ độc đáo, mới lại, gợi cảm.
- “Nắng hàng cau” “Nắng hàng cau” là nắng như thế nào? Là nắng len lỏi
giữa hàng cau, hay hàng cau phủ đầy nắng? Sự kết hợp từ này gợi nên một bứctranh tuyệt đẹp của màu sắc và ánh sáng Sắc vàng của nắng len lỏi giữa sắcxanh của lá Nắng vì thế như xanh hơn, tươi hơn, đầy sức sống hơn Còn lá vìthế trở nên lung linh hơn, huyền ảo hơn
Trang 9- “Bến sông trăng” Thế nào là bến sông trăng? Phải chăng là sông Ngân
trong truyền thuyết với vầng trăng lững lờ? Hay đó thật ra chính là một dòngsông trong kí ức nơi ánh trăng chiếu những vầng sáng bàng bạc trầm mặc của
mình như dát lên mặt sông một lớp bạc kì ảo? Dù thế nào hình ảnh bến sông
trăng cũng mang một vẻ đẹp kì ảo, một vẻ đẹp huyền bí, một vẻ đẹp diễm lễ.
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ chỉ sử dụng duy nhất một từ Hán Việt, đó là từ
“nhân ảnh” trong câu thơ “ở đây sương khói mờ nhân ảnh”, đây là cách sử dụng
từ mang dụng ý nghệ thuật Tác dụng của từ Hán Việt đó là gợi một bầu không
khí trang trọng, bầu không khí cổ xưa Nét trang trọng cổ xưa này mà từ “nhân
ảnh” mang lại khiến cho cõi “sương khói” trong thơ ngoài nét mờ ảo huyễn
hoặc vốn có còn có thêm vẻ trầm mặc u tịch, làm nên sức ám ảnh cho câu thơ
2.3.1.3 Tri thức về các biện pháp tu từ
Văn chương nghệ thuật là phương tiện hữu hiệu để phản ánh đời sống,hiện thực cuộc sống của con người Mỗi tác phẩm văn chương, bên cạnh nhữnghiện thực được phản ánh, nhà văn còn có những hư cấu để thể hiện nội dung tưtưởng cũng như thái độ tính cảm của mình Khi sáng tạo nghệ thuật, mỗi nhàvăn, nhà thơ ít nhiều đều vận dụng các biện pháp tu từ để làm tăng thêm ý nghĩacủa từ ngữ, câu văn, câu thơ Biện pháp tu từ là một bộ phận của tri thức tiếngViệt, khi dạy học văn bản đọc - hiểu, giáo viên không chỉ phân tích được ý nghĩacủa việc sử dụng những biện pháp tu từ ấy mà còn giúp học sinh củng cố thêmtri thức và kĩ năng về các biện pháp tu từ
Trong các văn bản đọc - hiểu, chúng ta thường bắt gặp các biện pháp tu từnhư: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, những biện pháp tu từ ngữ âm, tu từ cúpháp, câu hỏi tu từ, nói giảm nói tránh,… Khi dạy học Đọc - hiểu, giáo viên cóthể giúp học sinh rất nhiều trong việc củng cố tri thức về các biện pháp tu từtrên
Trong Đây thôn Vĩ Dạ, Hàn Mặc Tử đã vận dụng hiệu quả các biện pháp tu
từ để vẽ nên một bức tranh ngoại cảnh tuyệt đẹp và một bức tranh tâm cảnh cảmđộng:
- Câu hỏi tu từ: Sao anh không về chơi thôn Vĩ?/ Có chở trăng về kịp tối nay?/
Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu hỏi mở đầu: Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Vừa là một câu hỏi, vừa là
lời mời gọi thiết tha về thôn Vĩ, vừa như lời trách móc nhẹ nhàng của người congái thôn Vĩ (mà tác giả tưởng tượng ra), vừa là lời tự vấn sao không về thôn Vĩcủa chính nhà thơ
Câu hỏi thứ hai: Có chở trăng về kịp tối nay? Liệu con thuyền tình yêu có
vượt thời gian để kịp cập bến bờ hạnh phúc hay không? Câu hỏi chất chứa baoniềm khắc khoải, sự chờ đợi mỏi mòn tình yêu, hạnh phúc của thi nhân Ẩntrong đó có sự mông lung, hồ nghi, thất vọng
Câu hỏi kết thúc bài thơ: Ai biết tình ai có đậm đà? Đã cực tả nỗi băn khoăn
của chính nhà thơ ( nhà thơ tự hỏi cảnh vật và con người ở đây mờ ảo quá, lunglinh quá, không biết tình yêu của người thiếu nữ ấy có bền chặt hay cũng mờ ảo
Trang 10như khói sương?) Vì vậy, câu thơ cũng đồng thời bộc lộ khát khao được yêuthương nhưng chứa đầy vô vọng của thi nhân.
Có thể thấy sự chuyển đổi trong tâm trạng thi nhân qua ba câu hỏi tu từ này:
từ hi vọng tới dự cảm chia lìa, thất vọng, hồ nghi, cuối cùng là tuyệt vọng
- Biện pháp điệp từ:
+ Điệp từ “nắng”( Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên) nhấn mạnh sự bao
phủ, ôm trùm của nắng ban mai thôn Vĩ, vẽ nên một không gian đầy ánhsáng
+ Điệp từ “gió”, “mây”( Gió theo lối gió, mây đường mây ) kết hợp với cách
ngắt nhịp 4/3 với hai vế tiểu đối gợi tả một không gian gió, mây chia lìa
+ Điệp ngữ “khách đường xa” ( Mơ khách đường xa, khách đường xa) nhấn
mạnh đến sự xa xôi, cách trở của con người trong không gian
- Biện pháp so sánh “xanh như ngọc” (Vườn ai mướt quá xanh như ngọc) :
ngọc vừa có ánh vừa có màu Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc, không chỉ rờirợi sắc xanh, mà dường như còn tỏa vào không gian những ánh xanh Đơn sơ màlộng lẫy Thật thanh tú và cao sang!
- Biện pháp nhân hóa: “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” Nhà thơ đã nhân
hóa con sông thành sinh thể có hồn, có tâm trạng để giãi bày tâm tư của chínhmình
- Biện pháp ẩn dụ: thuyền, bến, trăng (Thuyền ai đậu bến sông trăng đó) Những
biểu tượng về người con trai, con gái và hạnh phúc lứa đôi Thuyền chở trăng làthuyền chở tình yêu, bến trăng là bến bờ hạnh phúc Liệu con thuyền tình yêu cókịp cập bến bờ hạnh phúc? Hình ảnh thơ đa nghĩa, gợi nhiều xúc cảm
Như vậy, trong thi phẩm này, Hàn Mặc Tử sử dụng đa dạng các biện pháp tu
từ, mỗi biện pháp đều đạt được hiệu quả thẩm mĩ đặc sắc Hình ảnh thơ độc đáo,đẹp, gợi cảm, ngôn ngữ thơ trong sáng, đa nghĩa Nhiệm vụ của người dạy vàhọc là phải và có phương pháp dạy, học phù hợp để bật nổi những vẻ đẹp trêncủa bài thơ
2.3.2 Một số phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh vận dụng tri thức
tiếng Việt trong đọc- hiểu bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ
2.3.2.1 Phương pháp nêu vấn đề
Nêu vấn đề là hình thức dạy học dựa vào các tình huống có vấn đề, thôngqua việc tổ chức cho học sinh giải quyết các tình huống đó, một mặt, giúp họcsinh nắm chắc kiến thức, mặt khác, có thể rèn luyện các năng lực, phẩm chất tưduy một cách có hiệu quả Phương pháp nêu vấn đề luôn gắn với các tình huống
có vấn đề Tình huống có vấn đề là tình huống mà học sinh đứng trước mộttrạng thái tâm lí do một số khó khăn đã được chủ thể ý thức Muốn giải quyếtđược những khó khăn đó, cần phải vận dụng những tri thức mới hoặc cách thứcmới Vì vậy,việc vận dụng phương pháp nêu vấn đề vào việc dạy đọc - hiểu đểcủng cố tri thức tiếng Việt là một phương pháp hữu ích đem đến những tri thứcmới, suy nghĩ mới và phương thức hành động mới đồng thời giúp học sinh khắc