1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình phạt tiền trong luật hình sự việt nam và việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện nay

102 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đỗ Ngọc Quang coi hình phạt là: "biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế nhữ

Trang 1

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

trần lệ trinh

Hình phạt tiền trong Luật hình sự Việt Nam

và việc áp dụng hình phạt này ở n-ớc ta hiện nay

luận văn thạc sĩ luật học

Trang 2

đại học quốc gia hà nội

khoa luật

trần lệ trinh

Hình phạt tiền trong Luật hình sự Việt Nam

và việc áp dụng hình phạt này ở n-ớc ta hiện nay

Trang 3

Mục lục

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

1.1.2 Khái niệm, mục đích của hình phạt tiền 21

1.1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của hình phạt tiền 23 1.1.2.3 Phân biệt hình phạt tiền với hình phạt và chế tài pháp luật

1.2.1 Khái quát về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt

Nam thời kỳ phong kiến

29

1.2.2 Khái quát về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt

Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến tr-ớc khi Bộ luật

31

Trang 4

1.2.2.1 Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm

1945 đến tr-ớc năm 1985

31

1.2.2.2 Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 1985 33

Ch-ơng 2: Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 1999 41 2.1 Những quy định mới của hình phạt tiền trong Bộ luật Hình

sự năm 1999

43

2.2.1 Hình phạt tiền khi áp dụng là hình phạt chính 43

2.2.2 Hình phạt tiền khi áp dụng là hình phạt bổ sung 54

2.2.2.2 Mức tiền phạt và cách thức nộp tiền phạt 62 2.2.3 Một số quy định khác trong Phần chung Bộ luật Hình sự

năm 1999 liên quan đến hình phạt tiền

Trang 5

Ch-¬ng 3: Thùc tiÔn ¸p dông h×nh ph¹t tiÒn vµ Mét sè

gi¶I ph¸p nh»m n©ng cao hiÖu qu¶ cña viÖc

¸p dông h×nh ph¹t nµy ë n-íc ta hiÖn nay

Trang 6

Danh môc c¸c b¶ng

Sè hiÖu b¶ng

®Çu n¨m 2008

79

Trang 7

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Là một bộ phận cấu thành cơ bản trong hệ thống hình phạt, hình phạt tiền có một lịch sử lâu dài cũng như vị trí rất quan trọng trong pháp luật hình

sự Việt Nam

Các quy định về hình phạt tiền đã xuất hiện và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử Từ khi các bộ luật đầu tiên của các triều đại phong kiến Việt Nam, hình phạt tiền đã được hình thành và được pháp luật hình sự thừa nhận như một loại hình phạt góp phần quan trọng vào việc bảo vệ Nhà nước, trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân dưới chế độ cũ Trong một thời gian khá dài, nước ta dưới chế độ thực dân nửa phong kiến, mặc dù pháp luật thời kỳ này tồn tại rất nhiều hạn chế nhưng chúng ta thấy được sự ghi nhận của pháp luật hình sự các quy định về hình phạt tiền, các quy định này ít nhiều cũng chứa đựng những nhân tố tích cực, góp phần không nhỏ đến quá trình lập pháp về hình phạt tiền của pháp luật hình sự Việt Nam ở các thời kỳ tiếp sau Cho đến khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, khi mà đất nước chưa có một bộ luật hình sự áp dụng chung, thì các quy định

về hình phạt tiền đã được quy định rải rác trong rất nhiều các văn bản pháp luật đơn hành, từ các Sắc lệnh thời kỳ đầu thành lập như Sắc lệnh số 21 ngày 14/02/1946, Sắc lệnh số 223 ngày 17/11/1946 đến các Sắc luật: Sắc luật số 125/SL ngày 11/7/1950; Sắc luật số 163/SL ngày 17/11/1950; Sắc luật số 202/SL ngày 14/12/1956; Sắc luật số 001/SL ngày 19/4/1957; Sắc luật số 003/SL ngày 18/6/1957

Và từ khi các quy định của luật hình sự được bắt đầu luật hóa cho đến ngày nay chế định về hình phạt tiền vẫn đang được chúng ta tiếp tục phát triển

Trang 8

Cùng với các loại hình phạt khác trong hệ thống pháp luật hình sự, hình phạt tiền tham gia không chỉ vào việc trừng trị người phạm tội mà còn có

ý nghĩa to lớn trong vấn đề cải tạo người phạm tội trở thành người có ích cho

xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa người phạm tội phạm tội mới và đồng thời giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng và chống tội phạm Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế - xã hội nước ta có nhiều chuyển biến mới mẻ như hiện nay thì vai trò của hình phạt tiền ngày càng được phát huy Bởi vậy mà

Bộ luật Hình sự của thời kỳ mới (Bộ luật Hình sự năm 1999) đã có những quy định rất tiến bộ về hình phạt tiền và các quy định này đã, đang và sẽ phát huy ngày càng có hiệu quả hơn trong đời sống xã hội, góp phần tích cực vào việc đấu tranh phòng, chống tội phạm Tuy nhiên, từ khi các quy định về hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 1999 được áp dụng cho đến nay thì hình phạt này vẫn chưa phát huy được hết những vai trò và hiệu quả của nó Bên cạnh

sự hạn chế còn tồn tại trong các quy định của pháp luật thì thực tiễn áp dụng các quy định về hình phạt tiền trong thực tế có những điểm còn chưa đúng, chưa đủ, chưa hợp lý, đòi hỏi các nhà làm luật và thi hành pháp luật phải nhìn nhận và đánh giá một cách toàn diện

Cùng với chế định tội phạm, chế định về hình phạt là một chế định rất

cơ bản và hết sức quan trọng của luật hình sự và bởi vai trò xã hội và hiệu quả của luật hình sự phụ thuộc rất nhiều vào hình phạt nên việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa để làm sáng tỏ về mặt khoa học những vấn đề về hình phạt tiền và việc áp dụng các quy định về hình phạt tiền trong thực tế đời sống

xã hội, đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện để góp phần nâng cao hiệu quả của các quy định đã nêu không những có ý nghĩa lý luận - thực tiễn

và pháp lý quan trọng, mà còn là vấn đề mang tính cấp thiết Đây chính là lý

do luận chứng cho việc chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài "Hình phạt tiền

trong luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện nay" làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình

Trang 9

2 Mục đích của đề tài

Hình phạt tiền là một loại hình phạt có vị trí và vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt của nước ta Khi nghiên cứu hình phạt tiền, luận văn nhằm đạt được các mục đích như sau:

- Đưa ra một nhận thức toàn diện và có hệ thống về hình phạt tiền;

- Đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt tiền qua đó đưa ra những kiến nghị cho việc hoàn thiện hình phạt tiền trong luật hình sự Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt này trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm

3 Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết

Để hoàn thành các mục đích đã đề ra, luận văn tập trung trình bày các nội dung sau:

- Phân tích về khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hình phạt, hệ thống hình phạt và hình phạt tiền trong pháp luật Việt Nam;

- Khái quát về lịch sử lập pháp của hình phạt tiền; phân tích các quy định của hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự hiện hành, từ đó rút ra các quy định tiến bộ của hình phạt tiền trong pháp luật hiện hành so với các quy định trước đó;

- Phân tích nội dung, điều kiện áp dụng hình phạt tiền theo các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng các quy định về hình phạt tiền Từ đó phân tích một số tồn tại xung quanh việc quy định và áp dụng quy định về hình phạt tiền;

- Đưa ra những đề xuất, kiến nghị để hoàn thiện hình phạt tiền trên cơ

sở các nguyên tắc của luật hình sự và chính sách hình sự của Nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình

Trang 10

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin

Các luận chứng của đề tài được đưa ra trên cơ sở của Hiến pháp, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách hình sự, dựa vào các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự và có tham khảo

Bên cạnh đó, các nghiên cứu mang tính cá nhân thể hiện trong đề tài được trình bày trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các tài liệu pháp lý, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các chuyên gia trong và ngoài nước

- Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu truyền thống như: phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch…

5 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Qua việc nghiên cứu về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam và việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện nay, luận văn đã góp phần làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển và nội dung pháp lý của hình phạt tiền, đưa ra bức tranh khái quát về tình hình áp dụng hình phạt tiền trong thực tiễn ở nước ta hiện nay; đồng thời luận văn đưa ra những điểm chưa hợp lý về hình phạt tiền trong các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999, những hạn chế còn tồn tại trong quá trình áp dụng quy định về hình phạt tiền để đề xuất các phương hướng, kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của hình phạt tiền trong thực tiễn

Bên cạnh đó, ý nghĩa về mặt khoa học của luận văn biểu hiện ở chỗ, đây là một công trình nghiên cứu chuyên khảo tương đối đầy đủ và toàn diện

ở cấp độ một luận văn thạc sĩ đề cập riêng đến hình phạt tiền trong khoa học luật hình sự Việt Nam, vì vậy luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo cần

Trang 11

thiết cho các cán bộ nghiên cứu khoa học, cán bộ giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề về hình phạt và hình phạt tiền

Chương 2: Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 1999

Chương 3: Thực tiễn áp dụng hình phạt tiền và một số giải pháp nhằm

nâng cao hiệu quả của việc áp dụng hình phạt này ở nước ta hiện nay

Trang 12

độ phong kiến, tư bản hay chế độ xã hội chủ nghĩa thì các nhà nước luôn coi hình phạt là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của xã hội và nhà nước

bởi "hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ

mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó" (C.Mác)

Do đó, trong tất cả các biện pháp đấu tranh phòng và chống tội phạm thì hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất, được áp dụng phổ biến và có lịch sử lâu đời nhất

Tuy nhiên, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, trong các quốc gia khác nhau không phải lúc nào cũng có những quan điểm thống nhất về bản chất, nội dung và mục đích của hình phạt Thông thường quan niệm về hình phạt phụ thuộc và tương ứng với quan niệm về tội phạm trong mỗi một hoàn cảnh lịch sử cụ thể Và cũng chính những quan điểm không giống nhau về khái niệm tội phạm mà ở mỗi thời kỳ, ở mỗi nhà nước, hình phạt lại có những tác động khác nhau đến người phạm tội, đến các thành viên khác trong xã hội cũng như đến tình hình tội phạm nói chung

Về cơ bản có hai quan niệm về hình phạt cần được xem xét:

Trang 13

Quan niệm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trả thù người phạm tội,

tức là hình phạt được áp dụng để trừng phạt, trả thù người đã thực hiện hành

vi vi phạm quy định của pháp luật hình sự Theo đó, tính chất trừng trị của các hình phạt theo quan niệm này rất dã man, hà khắc Nhà nước cho phép áp dụng phổ biến và rộng rãi các hình phạt có tính chất nhục hình, đầy đọa thể xác và chà đạp lên phẩm giá của con người Điều này được biểu hiện ở nhiều nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến

Quan niệm thứ hai mang tính chất tiến bộ và nhân đạo hơn khi coi

hình phạt là công cụ đấu tranh để phòng ngừa tội phạm Theo đó, hình phạt được đặt ra không chỉ nhằm trừng trị người thực hiện hành vi phạm tội mà còn nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm Mục đích cuối cùng được đặt ra đối với việc áp dụng hình phạt trong trường hợp này là hạn chế và đi đến triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội Quan điểm này về tội phạm và hình phạt được biểu hiện rất sâu sắc trong các nhà nước dân chủ tiến bộ

Có thể nói, việc quan niệm thế nào về hình phạt phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế - xã hội nói chung và chính sách hình sự nói riêng của mỗi một quốc gia Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay cho thấy chúng ta đã kết hợp hài hòa trong việc kế thừa truyền thống văn hóa nhân đạo chủ nghĩa với việc tiếp thu những tinh hoa văn minh của luật hình sự thế giới, đồng thời

có xét đến thực trạng và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thực tế để xây dựng những vấn đề có liên quan đến hình phạt, mà trước tiên là khái niệm hình phạt Về cơ bản, các nhà khoa học hình sự đã luôn coi hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, nhằm mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm Điều đó biểu hiện trong các quan niệm cụ thể như sau:

Trang 14

TS Uông Chu Lưu, TS Nguyễn Đức Tuấn đưa ra khái niệm: "Hình

phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm" [13]

TSKH PGS Lê Văn Cảm cũng cho rằng: "Hình phạt là biện pháp

cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự" [8]

GS.TS Đỗ Ngọc Quang coi hình phạt là: "biện pháp cưỡng chế rất nghiêm

khắc của Nhà nước được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và mục đích nhất định với mục đích cải tạo giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" [Dẫn theo

6]

PGS TS Võ Khánh Vinh định nghĩa: "Hình phạt là biện pháp cưỡng

chế do Tòa án quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án" [38]

Theo PGS.TS Nguyễn Ngọc Hòa và TS Lê Thị Sơn thì hình phạt "là

biện pháp cưỡng chế nhà nước được luật hình sự quy định và do Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm rse41cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm" [10]

Với những cách diễn đạt khác nhau song nhìn chung nội hàm của các khái niệm trên không có sự khác biệt Chúng ta có thể kết hợp những ưu điểm

từ những khái niệm nêu trên cũng như căn cứ vào bản chất của hình phạt để

đưa ra một khái niệm khoa học về hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp

Trang 15

cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước quy định trong luật hình sự do Tòa án

áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án với mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm

Như vậy, tuy Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985 chưa quy định cụ thể khái niệm về hình phạt song ngay từ trước khi khái niệm về hình phạt chính thức được ghi nhận trong một văn bản pháp lý thì các nhà khoa học luật hình sự nước ta đều đã thống nhất trong việc đánh giá về bản chất, nội dung cũng như mục đích của hình phạt Những quan điểm khoa học đó là một trong những cơ sở lập pháp quan trọng cho sự ra đời của khái niệm hình phạt theo Điều 26 của Bộ luật Hình sự năm

1999 Theo đó:

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội

Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa

án quyết định [22]

Khái niệm trên cho thấy trước hết hình phạt là biện pháp cưỡng chế

nghiêm khắc nhất của Nhà nước Tính nghiêm khắc ở đây thể hiện ở chỗ người bị kết án bị tước đi các quyền và lợi ích thiết thân nhất như quyền tự

do, quyền chính trị, quyền sở hữu, thậm chí cả quyền sống Ví dụ như khi bị kết án ba năm tù giam thì đồng nghĩa với việc họ bị mất quyền tự do trong thời hạn ba năm khi chấp hành án phạt tù, bên cạnh đó các quyền khác của người chấp hành hình phạt cũng bị ảnh hưởng trong thời gian họ thực hiện án phạt giam đó

Mặt khác, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án hậu quả pháp lý là án tích Và trong trường hợp chưa được xóa án tích thì người bị kết

Trang 16

nhiệm pháp luật hình sự Đây là hậu quả để lại mà không có ở bất kỳ một biện pháp cưỡng chế nào khác của Nhà nước Chẳng hạn một người bị kết án phạt

tù có thời hạn năm năm thì năm năm sau khi chấp hành xong hình phạt theo quy định của Điều 64 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người đó vẫn bị coi là đang mang án tích

Mặc dù có thể thấy hình phạt luôn là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của các nhà nước song không phải trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tính chất và mức độ nghiêm khắc của hình phạt do các nhà nước áp dụng là hoàn toàn giống nhau Phù hợp với mỗi một chế độ kinh tế - xã hội, mỗi nhà nước lại đưa ra những hình phạt áp dụng khác nhau với từng tội phạm cụ thể

để tính nghiêm khắc của hình phạt phát huy được hiệu quả cao nhất trong việc đạt được mục đích của hình phạt Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam bên cạnh sự nghiêm khắc của tính cưỡng chế còn mang nội dung giáo dục, cải tạo

và phòng ngừa tội phạm, thể hiện tính ưu việt và tính nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa với tư tưởng trừng trị là cơ sở để giáo dục, cải tạo; giáo dục, cải tạo là sự phát huy tính tích cực của trừng trị

Thứ hai, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi

phạm tội hay nói một cách khác hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm Các dấu hiệu tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính trái pháp luật hình sự gắn liền với tính chịu hình phạt của tội phạm Điều này thể hiện rõ

nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng như nguyên tắc: "Chỉ người nào

phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" đã được ghi nhận tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 1999 Đặc điểm

này của hình phạt được biểu hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau:

- Pháp luật hình sự nước ta chỉ cho phép áp dụng hình phạt đối với những hành vi được quy định trong Bộ luật Hình sự là tội phạm Những hành

vi vi phạm pháp luật nhưng không được quy định trong Bộ luật Hình sự là tội

Trang 17

phạm thì không được áp dụng hình phạt mà chỉ có thể áp dụng các chế tài pháp luật khác như chế tài hành chính, dân sự, kinh tế…

- Không được áp dụng hình phạt nếu hình phạt đó không được quy định trong hệ thống hình phạt hiện hành và trong chế tài của điều luật cụ thể Tòa án chỉ được áp dụng những hình phạt được quy định trong Điều 28 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với người thực hiện hành vi phạm tội và hình phạt được áp dụng đó còn phải được quy định trong chế tài của điều luật quy định

về tội phạm áp dụng đối với người bị kết án

- Hình phạt chỉ được áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội Điều đó có nghĩa là chỉ đặt ra việc áp dụng hình phạt đối với chính người phạm tội vì họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm đạt được những mục đích nhất định, không thể áp dụng hình phạt đối với những thành viên trong gia đình cũng như những người thân thích khác của người phạm tội

và pháp luật hiện hành cũng không cho phép người khác chịu hình phạt thay cho người phạm tội bởi như thế sẽ không thể đạt được mục đích của hình phạt Đây là một nội dung cho thấy sự tiến bộ trong quy định về hình phạt của pháp luật hiện hành so với những quan niệm về hình phạt trong các nước chiếm hữu nô lệ và các quốc gia phong kiến trước kia khi cho phép áp dụng hình phạt đối với cả những người không thực hiện hành vi phạm tội như trường hợp hình phạt chu di tam tộc

Thứ ba, hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự Hiện nay, Bộ

luật Hình sự năm 1999 là văn bản pháp lý duy nhất của Nhà nước quy định đầy đủ và cụ thể về các hình phạt Trong Bộ luật, hình phạt được quy định ở

cả Phần chung và Phần các tội phạm Phần chung quy định về khái niệm, mục đích, hệ thống hình phạt, các nguyên tắc áp dụng hình phạt, miễn hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt… Phần các tội phạm quy định về loại và mức hình phạt áp dụng cho từng tội phạm cụ thể Hình phạt chỉ được quy

Trang 18

định bởi Bộ luật Hình sự, các biện pháp cưỡng chế khác mặc dù về nội dung

và hình thức có thể giống hình phạt nhưng nếu không được Bộ luật Hình sự quy định thì không thể là hình phạt

Đặc điểm thứ tư là hình phạt do Tòa án áp dụng hay nói cách khác,

Tòa án là cơ quan có thẩm quyền duy nhất được áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Chỉ Tòa án mới có quyền tuyên một người là có tội và buộc

họ phải chịu hình phạt theo luật định trên cơ sở nguyên tắc "không ai bị coi là

có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" Việc quyết định hình phạt của Tòa án phải tuân theo những

trình tự, thủ tục nhất định được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự Khi quyết định hình phạt Tòa án cần phải căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình

sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và việc quyết định hình phạt phải tuân thủ đúng nguyên tắc: chỉ được

áp dụng loại và mức hình phạt đã được quy định ở Phần chung và loại, mức hình phạt đó được giới hạn trong điều luật quy định về tội phạm cụ thể đó, trừ

trường hợp đặc biệt nếu luật hình sự cho phép Tòa án được "quyết định hình

phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật"

Với những đặc trưng nêu trên chúng ta có thể phân biệt hình phạt với các biện pháp cưỡng chế khác của Nhà nước (chế tài luật hành chính, chế tài luật dân sự, chế tài luật tố tụng hình sự ) hay các biện pháp tư pháp được quy định trong Bộ luật Hình sự

Trang 19

điểm như thế nào là mục đích của hình phạt không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có vai trò quan trọng trong thực tiễn

Hình phạt tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến những điều kiện và nguyên nhân làm phát sinh tội phạm nhưng với nội dung hạn chế hoặc tước

bỏ những quyền và lợi ích của người phạm tội, hình phạt có tác động nhất định đến người phạm tội cũng như những người khác trong xã hội theo những hướng khác nhau tùy thuộc vào việc quy định và áp dụng hình phạt Và luật hình sự đòi hỏi sự tác động đó của hình phạt phải đạt được những mục đích nhất định Xác định được đúng mục đích của hình phạt là một yêu cầu quan trọng giúp xác định hiệu quả của hình phạt Mục đích đặt ra sẽ chi phối quá trình xây dựng và áp dụng các biện pháp nhằm đạt mục đích đó

Khi xác định mục đích của hình phạt, Điều 20 Bộ luật Hình sự năm

1985 quy định như sau: "Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội

mà còn nhằm cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm" [20]

Điều 27 Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng xác định cụ thể:

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm [22]

Theo quy định của pháp luật hình sự thống nhất từ trước tới nay thì như vậy hình phạt được xác định có ba mục đích chính:

- Mục đích trừng trị và cải tạo, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa

họ phạm tội mới;

Trang 20

- Mục đích ngăn ngừa những người "không vững vàng" trong xã hội

"trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức để thực hiện hình phạt…

trừng trị là nội dung quan trọng nhất của hình phạt Nếu không có nó thì sẽ không có hình phạt Trừng trị là tiền đề quan trọng cho việc đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm" [37], chính vì vậy, mục đích của hình phạt được xác định

là "cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý

thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa" [20]

Ngoài ra còn có quan điểm cho rằng:

cả trừng trị và cải tạo, giáo dục người phạm tội đều không thể là mục đích cuối cùng của hình phạt và mục đích cuối cùng của hình phạt là bảo đảm công bằng xã hội và phòng ngừa tội phạm, còn trừng trị và cải tạo, giáo dục là thuộc tính, là phương thức thực hiện hình phạt, là phương thức để hình phạt đạt được mục đích của mình [12]

ở đây chúng tôi vẫn đồng ý với quan điểm truyền thống về mục đích của hình phạt khi phân chia mục đích của hình phạt bao gồm hai mục đích phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung bởi những biểu hiện cụ thể như sau:

Thứ nhất, mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt có hai nội dung chính:

- Hình phạt với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước có nội dung là sự tước bỏ hoặc hạn chế các quyền, lợi ích nhất định của người bị kết án; thể hiện thái độ phản ứng, sự lên án của Nhà nước đối

Trang 21

với người phạm tội và với tội phạm mà họ thực hiện Nói cách khác đây chính

là mục đích trừng trị của hình phạt Hình phạt được áp dụng nhằm trừng trị những người đi ngược lại lợi ích của Nhà nước, của xã hội bởi hành vi phạm tội của họ đã xâm phạm các điều kiện tồn tại của Nhà nước Mục đích này đặt

ra để người phạm tội hiểu được hình phạt chính là hậu quả pháp lý của hành

vi phạm tội Việc người phạm tội phải chịu sự tước bỏ hay hạn chế các quyền hoặc lợi ích nhất định là hậu quả pháp lý của tội phạm do người bị kết án thực hiện Mức độ của hình phạt được xác định tùy thuộc vào tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, mức độ lỗi, các đặc điểm về nhân thân của người phạm tội và hoàn cảnh phạm tội Về nguyên tắc, tội phạm càng nguy hiểm thì hình phạt càng nghiêm khắc Như vậy, trừng trị là mục đích đầu tiên và có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng lớn tới việc thực hiện các mục đích khác củ hình phạt cũng như hiệu quả đạt được của hình phạt

- Để tránh việc coi hình phạt được đặt ra để nhằm mục đích trả thù người phạm tội thì bên cạnh mục đích trừng trị, hình phạt còn mục đích phòng ngừa riêng, đó là giáo dục, cải tạo người phạm tội thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới Có thể nói đây chính là nội dung chủ yếu của mục đích phòng ngừa riêng bởi pháp luật hình sự rất coi trọng khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội, tác động, thức tỉnh họ, giúp họ nhận ra sai lầm từ đó cố gắng sửa chữa để họ trở lại hòa nhập với cuộc sống xã hội Bên cạnh đó, tính cưỡng chế của một số loại hình phạt làm cách ly hoặc kiểm soát sự tiếp xúc của người phạm tội với những yếu tố tiêu cực là nguyên nhân và điều kiện của tội phạm Tất cả những yếu tố trên là cơ sở nhằm hạn chế và loại trừ khả năng phạm tội mới của người bị áp dụng hình phạt Như vậy, mục đích giáo dục, cải tạo và ngăn ngừa người phạm tội phạm tội mới đã thể hiện rất rõ tính nhân đạo và tiến bộ trong chính sách hình sự của Nhà nước ta

Trang 22

Thứ hai, mục đích phòng ngừa chung của hình phạt thể hiện ở nội

dung hình phạt còn "giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh

phòng ngừa và chống tội phạm" Hình phạt được quy định và áp dụng, ngoài

khả năng tác động trực tiếp lên người bị kết án còn có khả năng tác động đến những thành viên khác trong xã hội nhằm giáo dục, răn đe những người

"không vững vàng", những người dễ bị lôi kéo vào con đường phạm pháp,

những người đã và đang phạm tội hay có ý định phạm tội Hình phạt giúp họ thấy được hậu quả pháp lý của việc phạm tội và để tránh được sự trừng phạt của pháp luật, những người đó chỉ có một cách duy nhất là không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự Bên cạnh đó còn nhằm giáo dục, nâng cao

ý thức cho các thành viên này trong việc tôn trọng và tuân theo pháp luật, từ bỏ ý định phạm tội Hơn hết, hình phạt được đặt ra là để cho người dân tin vào sức mạnh và sự công minh của pháp luật, tin vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, động viên người dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm

Mục đích phòng ngừa riêng và mục đích phòng ngừa chung của hình phạt có mối quan hệ mật thiết với nhau trong pháp luật hình sự, hiệu quả đạt được của hai mục đích này ảnh hưởng quan trọng đến mục đích đạt được của hình phạt nói chung Mục đích phòng ngừa riêng đòi hỏi tính hiệu quả của phòng ngừa riêng, tức là phải có một môi trường xã hội lành mạnh, ổn định,

kỷ cương để người phạm tội có thể được giáo dục, cải tạo tốt giúp hòa nhập với cộng đồng xã hội Mục đích phòng ngừa chung lại yêu cầu hình phạt được

áp dụng phải thật nghiêm minh, công bằng, hợp tình, hợp lý, đảm bảo khả năng trừng trị cũng như khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội, được đông đảo người dân đồng tình ủng hộ Như vậy, nếu mục đích phòng ngừa riêng bị hạn chế thì mục đích phòng ngừa chung sẽ không thể đạt kết quả cao và ngược lại nếu mục đích phòng ngừa chung không đạt được nhiệm vụ đề ra thì mục đích phòng ngừa riêng sẽ không có môi trường thuận lợi để phát huy hiệu quả Việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa mục đích phòng ngừa riêng và

Trang 23

phòng ngừa chung là đòi hỏi tất yếu để đảm bảo mục đích chung của hình phạt nhằm thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta trong công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm

1.1.1.3 Hệ thống hình phạt

Hệ thống hình phạt được định nghĩa "là tổng hợp các biện pháp

cưỡng chế về hình sự nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong pháp luật hình sự, căn cứ vào mức độ nghiêm khắc của mỗi loại được sắp xếp thành một danh mục cụ thể theo trình tự nhất định từ nhẹ đến nặng (hay ngược lại) và chỉ do Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với bị cáo vì

đã thực hiện tội phạm" [8] hay nói một cách chung nhất "Hệ thống hình phạt

là tập hợp các loại hình phạt thành thể thống nhất theo trật tự nhất định"

[36]

Như vậy, có thể thấy mặc dù các hình phạt đều có nội dung, phạm vi đối tượng và điều kiện áp dụng khác nhau song chúng được liên kết với nhau theo một phương thức nhất định và chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong cùng một hệ thống

Và việc quy định các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt phải dựa trên những yếu tố cơ bản như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội cụ thể, truyền thống văn hóa, đạo đức dân tộc, truyền thống lập pháp, sự phát triển của khoa học luật hình sự cũng như yêu cầu và thực tiễn của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và chính sách của nhà nước trong từng thời kỳ Bên cạnh đó, để xây dựng được một hệ thống hình phạt khả thi, góp phần đạt được hiệu quả cao trong việc áp dụng các hình phạt trong thực tiễn đòi hỏi các nhà làm luật phải căn cứ vào những tiêu chí chủ yếu như sau:

- Hệ thống hình phạt trong Phần chung Bộ luật Hình sự phải được xây dựng khoa học, cân đối và hợp lý để làm cơ sở cho việc quy định một cách chính xác các chế tài cụ thể đối với các tội phạm tương ứng trong Phần riêng

Trang 24

- Việc quy định trình tự áp dụng của các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt phải tương ứng (phù hợp) với sự phân chia các tội phạm thành các loại (nhóm) nhất định trong Phần chung Bộ luật Hình sự

- Trong hệ thống hình phạt phải thể hiện rõ được tính chất và mức độ nghiêm khắc khác nhau của các loại hình phạt tương ứng với tính chất và mức

độ nguy hiểm cho xã hội của các loại (nhóm) tội phạm được quy định trong

Bộ luật Hình sự

- Trong hệ thống hình phạt phải quy định một cách cụ thể, rõ ràng và chính xác trình tự, các căn cứ và những điều kiện áp dụng của từng loại hình phạt nói chung cũng như các giới hạn tối thiểu và tối đa của các loại hình phạt

có thời hạn riêng

Nghiên cứu hệ thống hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999 và thực tiễn áp dụng hình phạt của các Tòa án ở nước ta trong thời gian qua cho thấy về cơ bản hệ thống hình phạt của nước ta đã đáp ứng được những yêu cầu và tiêu chí của một hình phạt khả thi Điều đó được biểu hiện cụ thể ở những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, về kết cấu của hệ thống, ta thấy Bộ luật Hình sự năm 1999

quy định bao gồm có các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung (Điều 28)

Việc phân chia các hình phạt thành hình phạt chính và hình phạt bổ sung chủ yếu dựa trên khả năng áp dụng độc lập của từng loại hình phạt đối với các trường hợp phạm tội cụ thể Hình phạt chính là hình phạt được tuyên độc lập không phụ thuộc vào hình phạt bổ sung và là bộ phận cơ bản có tính chất quyết định của hệ thống hình phạt Còn hình phạt bổ sung chỉ là bộ phận kèm theo, phụ thuộc hoàn toàn vào hình phạt chính, nhằm tăng cường, củng

cố tác dụng của hình phạt chính Ngoài ra có thể thấy, nếu hình phạt chính được quy định áp dụng cho một loại tội phạm cụ thể, quy định trong các điều luật của Phần các tội phạm thì các hình phạt bổ sung chỉ được quy định áp

Trang 25

dụng đối với những tội phạm nhất định Bộ luật Hình sự quy định rất cụ thể đối với loại tội phạm nào và hình phạt chính gì thì Tòa án được phép áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội Trường hợp Bộ luật Hình sự quy định việc áp dụng hình phạt bổ sung là bắt buộc thì Tòa án phải áp dụng hình phạt đó nếu không có căn cứ để miễn hình phạt (ví dụ: Theo Điều 39 thì tất các công dân Việt Nam bị kết án phạt tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia thì

bị áp dụng hình phạt tước một số quyền công dân), còn trong thực tế, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các đặc điểm nhân thân người phạm tội, mức độ lỗi và các quy định của điều luật cụ thể, Tòa án quyết định việc có áp dụng hình phạt bổ sung với người phạm tội hay không, áp dụng mấy loại và mức hình phạt cụ thể Trong hệ thống hình phạt hiện hành có hai hình phạt được quy định vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung là hình phạt tiền và hình phạt trục xuất, tuy nhiên luật không cho phép áp dụng đồng thời đối với cùng một tội phạm hình phạt đó vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung

Thứ hai, trong 15 điều tại Chương V Phần chung, Bộ luật Hình sự

năm 1999 còn quy định một cách chính xác và chặt chẽ nội dung, phạm vi và điều kiện áp dụng của 12 loại hình phạt (Điều 29 đến Điều 40) có tính chất bắt buộc đối với Tòa án bao gồm:

Trang 26

- Tước một số quyền công dân (Điều 39);

- Tịch thu tài sản (Điều 40);

- Phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính (Điều 41);

- Trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính (Điều 42)

Thứ ba, nghiên cứu về trình tự sắp xếp các hình phạt trong từng loại

hình phạt cho thấy có sự tăng dần về tính nghiêm khắc Cách sắp xếp đó không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà nó còn mang ý nghĩa chính trị và ý nghĩa thiết thực trong thực tiễn áp dụng pháp luật Về mặt chính trị, sự sắp xếp này biểu hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta với tính nhân đạo sâu sắc với phương châm không lấy trừng trị làm mục đích chủ yếu mà kết hợp hài hòa giữa cưỡng chế và giáo dục, cải tạo để đạt mục tiêu cuối cùng của hình phạt là giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm Hơn thế, cách sắp xếp đó tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật vì giúp cho Tòa án đánh giá đúng đắn tính chất, mức độ nặng, nhẹ của từng loại hình phạt

để lựa chọn áp dụng đối với từng trường hợp phạm tội

Thứ tư, về mức độ của các hình phạt trong hệ thống hình phạt cho

thấy mức độ nghiêm khắc của các hình phạt chính cao hơn hẳn các hình phạt

bổ sung Do đó, các hình phạt chính có khả năng tác động mạnh mẽ đến người phạm tội cũng như các thành viên khác trong xã hội Những hình phạt này có vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả của hình phạt và ảnh hưởng đến mục đích đạt được của hình phạt Tuy nhiên, hình phạt bổ sung tuy chỉ được áp dụng kèm theo các hình phạt chính nhưng nó không chỉ có vai trò

Trang 27

hạn chế và loại trừ khả năng phạm tội mới của người bị áp dụng hình phạt và tiếp tục giáo dục, cải tạo họ sau khi họ chấp hành xong hình phạt chính mà nó còn có khả năng trực tiếp tác động vào hoàn cảnh khách quan làm hạn chế hoặc mất đi những điều kiện có thể dẫn tới việc người bị kết án phạm tội mới

Thứ năm, có thể thấy, mặc dù mỗi một loại hình phạt trong hệ thống

hình phạt có một mức độ nghiêm khắc khác nhau song các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung khi được áp dụng với cùng tội phạm cụ thể có tác dụng

hỗ trợ, bổ sung cho nhau làm tăng thêm hiệu quả của hình phạt, nhằm đạt được mục đích chung của hình phạt, tạo điều kiện xử lý tội phạm một cách triệt để, toàn diện trên cơ sở các nguyên tắc của pháp luật hình sự Điều đó cho thấy mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất của các hình phạt trong cùng một

hệ thống đã có vai trò rất quan trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự nói riêng và thực hiện chính sách hình sự nói chung để đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm của nước ta hiện nay

1.1.2 Khái niệm, mục đích của hình phạt tiền

1.1.2.1 Khái niệm hình phạt tiền

Với lịch sử hình thành và phát triển lâu dài cũng như vị trí rất quan trọng, hình phạt tiền có mặt trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự hầu hết các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp quan điểm về hình phạt tiền được đưa ra đều thống nhất và khoa học

Trong pháp luật Việt Nam, cả trong Bộ luật Hình sự năm 1985 và

Bộ luật Hình sự năm 1999 mới chỉ có quy định về phạm vi, điều kiện, nguyên tắc áp dụng hình phạt tiền mà chưa đưa ra một khái niệm cụ thể như thế nào là hình phạt tiền Tuy nhiên, trong các tài liệu khoa học pháp lý hình

sự, các nhà khoa học cũng đã có những quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm hình phạt tiền Theo đó, trong một số trường hợp hình phạt tiền được hiểu như sau:

Trang 28

"Phạt tiền là hình phạt không tước tự do, nhẹ hơn hình phạt cải tạo

không giam giữ, buộc người bị kết án phải nộp sung công quỹ nhà nước một khoản tiền nhất định" [24]

"Phạt tiền là hình phạt tước của người phạm tội một khoản tiền nhất

định sung công quỹ nhà nước" [35]

"Phạt tiền là hình phạt buộc người bị kết án phải nộp một khoản tiền

nhất định sung quỹ nhà nước" [8]

Về cơ bản, các quan điểm nêu trên là thống nhất, tuy nhiên chúng ta

cần phải khẳng định rằng trường hợp dùng thuật ngữ "người phạm tội" để chỉ

đối tượng bị áp dụng hình phạt tiền như ở khái niệm thứ hai là chưa thật chính

xác và hợp lý mà cần phải sử dụng thuật ngữ "người bị kết án" vì đây mới

đúng là thuật ngữ dùng để chỉ những người đã bị áp dụng hình phạt nói chung

và hình phạt tiền nói riêng

Với vai trò vừa là hình phạt chính, vừa là hình phạt bổ sung trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự, hình phạt tiền mang những đặc điểm của hình phạt nói chung đồng thời nó còn có những đặc trưng khác biệt với các hình phạt còn lại trong hệ thống hình phạt

Với tư cách là một chế tài hình sự như các hình phạt khác, hình phạt tiền có những đặc điểm như sau:

- Là một biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước;

- Chỉ áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội;

- Được quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự;

- Do Tòa án áp dụng theo một trình tự đặc biệt

Những đặc trưng của hình phạt tiền được biểu hiện ở những nội dung

cụ thể như sau:

Trang 29

Thứ nhất, nội dung pháp lý của hình phạt tiền chính là sự tước bỏ

khoản tiền nhất định của người bị kết án để sung công quỹ nhà nước Với nội dung này thì hình phạt tiền là loại hình phạt có khả năng tác động một cách trực tiếp và có hiệu quả về mặt kinh tế đối với người phạm một số tội trong một số lĩnh vực mà luật hình sự quy định Khi áp dụng hình phạt tiền, Nhà nước đã tác động đến lợi ích kinh tế của người bị kết án - một trong những lợi ích cơ bản của con người Do đó, hình phạt này phát huy rất hiệu quả trong việc đấu tranh đối với các loại tội có tính chất vụ lợi, các tội dùng tiền làm phương tiện phạm tội, tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế… mà chưa đến mức phải áp dụng các hình phạt có tính chất nghiêm khắc hơn

Thứ hai, về hậu quả pháp lý của việc áp dụng hình phạt tiền thì ngoài

việc bị tước bỏ một khoản tiền nhất định và có án tích như các hình phạt khác, người bị kết án không phải chịu bất cứ một sự ràng buộc hay trách nhiệm nào khác Người bị kết án được giáo dục, cải tạo không cần cách ly khỏi xã hội, được thi hành án trong môi trường sống bình thường là nơi người đó sinh hoạt

và công tác trước khi phạm tội

Từ những đặc trưng cơ bản của hình phạt tiền bên cạnh việc tiếp thu quan điểm của các nhà nghiên cứu luật hình sự về hình phạt tiền, chúng ta có

thể đưa ra một khái niệm khoa học về hình phạt tiền như sau: "Phạt tiền là

hình phạt tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước và được quy định trong Bộ luật Hình sự"

Như vậy, với những đặc điểm của hình phạt nói chung và những đặc điểm riêng về nội dung, hậu quả pháp lý cho thấy có thể phân biệt rõ ràng hình phạt tiền với các chế tài pháp lý khác như hình thức xử phạt vi phạm hành chính bằng phạt tiền, biện pháp phạt tiền trong quan hệ dân sự hay các biện pháp hình sự khác cũng có khả năng tác động về mặt kinh tế đối với người phạm tội như tịch thu tài sản, tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan đến tội phạm Điều đó có ý nghĩa về mặt lý luận cũng như ý nghĩa thực tiễn sâu

Trang 30

sắc giúp cho việc quy định và áp dụng các biện pháp cưỡng chế một cách đúng đắn và hợp lý

1.1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của hình phạt tiền

* Mục đích của hình phạt tiền

Giống như tất cả các hình phạt khác trong hệ thống hình phạt, hình phạt tiền được Nhà nước quy định nhằm đạt được hai mục đích cơ bản ngăn ngừa riêng và ngăn ngừa chung là trừng trị người phạm tội đồng thời giáo dục, cải tạo họ và phòng ngừa tội phạm Những mục đích đó được thể hiện trong các quy định về hình phạt tiền ở những nội dung cụ thể như sau:

Thứ nhất, về mục đích trừng trị, mức độ trừng trị của hình phạt tiền là

tương đối nghiêm khắc với những quy định phạt có thể lên đến hàng trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng cho phép áp dụng đối với nhiều loại tội phạm nghiêm trọng khác nhau

Thứ hai, với mục đích giáo dục người phạm tội khi tước đi một khoản

tiền gắn với lợi ích kinh tế của người bị kết án tương ứng với hành vi phạm tội, Tòa án giúp người bị kết án nhận thức được sai lầm, nhận ra tính tất yếu của hình phạt đối với hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện giúp họ tự giáo dục, cải tạo trở thành người có ích cho xã hội

Thứ ba, việc quy định và áp dụng hình phạt tiền còn có mục đích

phòng ngừa chung Giống như khi áp dụng các hình phạt khác, khi áp dụng hình phạt tiền đối với người phạm tội, Nhà nước muốn tuyên truyền, giáo dục

ý thức pháp luật, nâng cao sự hiểu biết pháp luật cho mọi người dân trong xã hội, để họ tránh được những vi phạm pháp luật và tội phạm Đồng thời việc

áp dụng hình phạt tiền với người phạm tội có căn cứ, đúng pháp luật củng cố lòng tin của người dân vào sự nghiêm minh của pháp luật, làm cho họ thấy rõ hơn tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và sự cần thiết phải ngăn chặn tội phạm, qua đó hình phạt tiền nhằm giáo dục, động viên, tập hợp đông

Trang 31

đảo nhân dân lao động tham gia tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống các vi phạm và tội phạm

Khi nghiên cứu về mục đích của hình phạt tiền cũng phải nhận thức

rõ rằng, mặc dù nội dung của hình phạt này là tước đi một khoản tiền nhất định của người bị kết án để sung công quỹ nhà nước, song việc quy định và

áp dụng hình phạt tiền trên thực tế không phải đặt ra để nhằm mục đích kinh

tế có nghĩa là không phải dùng hình phạt tiền để tăng thu cho ngân sách nhà nước Việc tước đi của người bị kết án một khoản tiền nhất định sung công quỹ nhà nước đương nhiên tạo ra một nguồn thu cho ngân sách nhưng nguồn thu này chỉ là hệ quả của việc áp dụng hình phạt tiền, chứ không phải là mục đích của hình phạt

* ý nghĩa của hình phạt tiền

ý nghĩa của việc quy định và áp dụng hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam được thể hiện ở những khía cạnh như sau:

Thứ nhất, việc quy định hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt góp

phần vào việc đa dạng hóa các hình thức hình phạt, đa dạng hóa các biện pháp

xử lý hình sự trong hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm Hình phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ trong hệ thống hình phạt đã rút ngắn khoảng cách về mức độ nghiêm khắc giữa hình phạt cảnh cáo và hình phạt tù

có thời hạn, giúp Toà án có cơ sở để thực hiện việc xét xử một cách công bằng, bình đẳng

Thứ hai, hình phạt tiền góp phần thực hiện nguyên tắc phân hóa và cá

thể hóa hình phạt với các trường hợp phạm tội khác nhau về tính chất và mức

độ nguy hiểm cho xã hội, góp phần thực hiện chính sách nghiêm trị kết hợp với khoan hồng của pháp luật hình sự Việt Nam Việc quy định hình phạt tiền trong hệ thống hình phạt giúp cho Tòa án có nhiều lựa chọn hơn trong khi

quyết định hình phạt đối với người phạm tội trên cơ sở "căn cứ vào các quy

Trang 32

định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự"

Thứ ba, việc quy định hình phạt tiền thể hiện nguyên tắc nhân đạo của

pháp luật hình sự Hình phạt tiền là một cơ sở quan trọng để Tòa án lựa chọn khi áp dụng các biện pháp khoan hồng trong việc quyết định hình phạt đối với

"người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội,

ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra" và

"người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải" được Tòa án áp dụng

hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù…

Thứ tư, việc áp dụng hình phạt tiền sẽ tăng thu cho ngân sách do số

tiền phạt được sung vào công quỹ và đồng thời lại tiết kiệm được những chi phí xã hội cho việc giáo dục, cải tạo, hạn chế những tiêu cực có thể phát sinh khi áp dụng hình phạt tù (xây dựng nhà tù, hệ thống quản lý…) mà vẫn đạt được mục đích của hình phạt Bên cạnh đó cũng đem lại lợi ích cho xã hội ở một mặt nào đó khi người đã bị kết án vẫn được lao động và làm việc trong điều kiện bình thường để tiếp tục đóng góp cho xã hội

Thứ năm, hình phạt tiền là hình phạt lưỡng tính (vừa là hình phạt chính,

vừa áp dụng là hình phạt bổ sung), tuy không thể áp dụng với cả hai tư cách trong một trường hợp phạm tội cụ thể nhưng chính sự lưỡng tính ấy lại mở ra khả năng đa dạng hóa, tăng cường sự linh hoạt trong áp dụng hình phạt tiền, bổ sung, hỗ trợ cho các hình phạt khác (khi áp dụng là hình phạt bổ sung) nhằm đạt được hiệu quả cao nhất của hình phạt Khi là hình phạt chính, hình phạt tiền có mức độ nghiêm khắc hơn hình phạt cảnh cáo và nhẹ hơn cải tạo không giam giữ nên nó đóng vai trò đảm bảo tính nối tiếp, liên tục theo hướng tăng dần

về mức độ nghiêm khắc, loại bỏ các "khoảng trống" và đảm bảo tính thống

nhất cho hệ thống hình phạt Còn với tư cách là hình phạt bổ sung, hình phạt tiền không chỉ được áp dụng để củng cố, tăng cường hiệu quả của hình phạt

Trang 33

chính mà với khả năng tác động riêng của mình thông qua một cơ chế nhất định nó tạo ra một sức mạnh tổng hợp của hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội

1.1.2.3 Phân biệt hình phạt tiền với hình phạt và chế tài pháp luật tương tự khác

* Phân biệt hình phạt tiền với hình phạt tịch thu tài sản

Tịch thu tài sản là hình phạt bổ sung được quy định tại Điều 40 Bộ luật Hình sự So sánh với hình phạt tiền, trong trường hợp cũng là một hình phạt bổ sung, ta thấy giữa hai hình phạt này có những điểm giống nhau cơ bản như sau:

- Đều được quy định là hình phạt bổ sung, có thể được áp dụng kèm theo hình phạt chính đối với người bị kết án;

- Tiền hoặc tài sản thu được đều được sung vào công quỹ nhà nước Bên cạnh những điểm giống nhau thì hai hình phạt này có những điểm khác nhau như sau:

- Nội dung hình phạt tiền là "tước một khoản tiền nhất định của người

bị kết án" còn trong hình phạt tịch thu tài sản là "tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án" Mặc dù tài sản trong hình phạt tịch

thu tài sản có thể là tiền nhưng ngoài ra nó còn bao gồm cả tài sản dưới dạng hiện vật đang do người bị kết án sử dụng hoặc là tài sản đã cho vay, cho mượn, thuê, gửi, sửa chữa, tài sản cầm cố, thế chấp…

- Đối tượng áp dụng của hình phạt tiền là các tội về tham nhũng, ma túy hoặc những tội phạm khác do Bộ luật Hình sự quy định (khoản 2 Điều 30) còn đối tượng áp dụng hình phạt tịch thu tài sản là những người bị kết án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp Bộ luật Hình sự quy định (Điều 40)

Trang 34

* Phân biệt hình phạt tiền với biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm

Điểm giống nhau giữa hình phạt tiền với biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm thể hiện:

- Đều là các biện pháp cưỡng chế hình sự;

- Tiền hoặc vật, tài sản thu được đều được sung vào công quỹ nhà nước Hình phạt tiền và biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm khác nhau ở những nội dung cơ bản như sau:

- Phạt tiền là một loại hình phạt được quy định trong hệ thống hình phạt của pháp luật hình sự còn tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là một biện pháp tư pháp được quy định trong luật hình sự

- Về đối tượng áp dụng: phạt tiền áp dụng đối với người bị kết án còn tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm áp dụng với người phạm tội nói chung

- Thời điểm áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào khi có căn cứ theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Hình sự, còn phạt tiền chỉ áp dụng sau khi quyết định của Tòa án về hình phạt tiền đối với người bị kết án đã có hiệu lực pháp luật

- Về thẩm quyền áp dụng: phạt tiền do Tòa án quyết định đối với người bị kết án còn đối với biện pháp tư pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm thì ngoài Tòa án, các cơ quan tư pháp hình sự khác cũng

có thẩm quyền áp dụng đối với người phạm tội tùy vào từng trường hợp cụ thể tương ứng

- Hậu quả pháp lý của hình phạt tiền là sẽ để lại án tích cho người bị kết án còn việc áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm không mang lại án tích cho người phạm tội

Trang 35

* Phân biệt hình phạt tiền với biện pháp phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính

Hình phạt tiền và biện pháp phạt tiền trong xử lý vi phạm hành chính

có những đặc điểm giống nhau cơ bản như sau:

- Là các chế tài pháp lý áp dụng đối với người vi phạm quy định của pháp luật

- Đều tịch thu tiền của người vi phạm để sung công quỹ nhà nước Điểm khác nhau giữa hình phạt tiền và biện pháp phạt tiền trong xử lý

vi phạm hành chính thể hiện ở những nội dung sau:

- Phạt tiền là chế tài hình sự được quy định trong Bộ luật Hình sự còn hình thức xử lý vi phạm hành chính bằng phạt tiền là chế tài hành chính được quy định trong các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (Pháp lệnh

Xử lý vi phạm hành chính và các nghị định quy định việc xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực )

- Đối tượng áp dụng: hình phạt tiền được áp dụng đối với người bị kết

án theo quy định của pháp luật hình sự còn đối với xử lý vi phạm hành chính bằng phạt tiền là các tổ chức, cá nhân có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định quản lý nhà nước mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải xử phạt hành chính

- Thẩm quyền áp dụng: đối với hình phạt tiền là Tòa án nhân dân, còn với hình thức phạt tiền khi xử lý vi phạm hành chính do nhiều cơ quan khác nhau áp dụng như ủy ban nhân dân, Thanh tra chuyên ngành, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát

- Mức tiền phạt: mức tiền phạt trong hình phạt tiền bao gồm nhiều mức khác nhau nhưng thấp nhất là một triệu đồng và cao nhất lên đến hàng tỷ đồng, còn mức tiền phạt trong phạt hành chính cũng bao gồm nhiều mức khác

Trang 36

nhau nhưng chỉ nằm trong khoảng từ 10.000 đồng đến 500.000.000 đồng (Điều 14 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi, bổ sung năm 2008)

- Hậu quả của hình phạt tiền là sẽ để lại án tích cho người bị kết án còn việc áp dụng phạt tiền hành chính không để lại án tích cho người bị phạt

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam

1.2.1 Khái quát về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ phong kiến

Thời kỳ phong kiến Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ thứ XI với triều đại nhà Lý và kết thúc vào cuối thế kỷ XIX khi nhà Nguyễn sụp đổ Trong suốt gần 1.000 năm tồn tại, các triều đại phong kiến Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để bảo vệ nền chuyên chế của giai cấp phong kiến thống trị Nhìn chung các quy định của pháp luật phong kiến có nhiều điểm hạn chế song cũng góp phần quan trọng vào việc tạo ra những tiền đề và cơ sở cho sự phát triển của pháp luật Việt Nam những giai đoạn về sau

Nghiên cứu các quy định pháp luật phong kiến Việt Nam, biểu hiện điển hình qua các văn bản pháp luật quy mô và có giá trị cao như bộ Quốc triều hình luật hay Bộ luật Gia Long (Hoàng Việt luật lệ) ta thấy ở giai đoạn này, hình phạt tiền thể hiện những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất, phạt tiền được xem là một loại hình phạt trong hệ thống

hình phạt Trong Quốc triều hình luật, ngoài hệ thống ngũ hình (xuy, trượng,

đồ, lưu, tử) là năm hình phạt có tính chất tiêu biểu cho hệ thống hình phạt thời phong kiến thì hình phạt tiền cũng được quy định trong một điều luật riêng biệt (Điều 26) Bên cạnh quy định chung của Điều 26 thì có rất nhiều điều luật của Quốc triều hình luật quy định cụ thể việc áp dụng hình phạt tiền đối với từng tội phạm khác nhau Còn trong Hoàng Việt luật lệ thì quy định rõ tại

Trang 37

Điều 5, cùng với các hình phạt khác như tử hình, khổ sai chung thân, phát lưu, khổ sai có kỳ hạn, câu cấm, tỷ trí, phạt giam có phạt bạc (phạt tiền) là hình phạt được áp dụng đối với nhiều loại tội

Thứ hai, tùy từng triều đại khác nhau mà trong quy định pháp luật của

mỗi thời kỳ, hình phạt tiền lại giữ những tư cách khác nhau trong hệ thống hình phạt, Nếu như trong Quốc triều hình luật, hình phạt tiền được quy định vừa với tư cách là hình phạt chính, vừa có thể áp dụng là hình phạt đi kèm với các loại hình phạt khác như xuy, trượng thì trong Bộ luật Gia Long lại quy định rõ ràng phạt tiền là hình phạt chính áp dụng đối với những tội danh trừng trị và những tội danh vi cảnh

Thứ ba, phạt tiền được quy định có rất nhiều mức phạt khác nhau tùy

thuộc vào tính chất, mức độ của từng tội phạm Quốc triều hình luật phân phạt

tiền ra thành 3 bậc (3 mức) cụ thể là "bậc nhất từ 300 quan đến 500 quan, bậc

nhì từ 60 quan đến 200 quan, bậc ba từ 5 quan đến 50 quan" Việc quy định

các khung hình phạt như vậy đã giúp cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự

và cá thể hóa hình phạt đối với từng loại tội phạm khác nhau

Như vậy, mặc dù các quy định về hình phạt tiền trong pháp luật hình

sự thời kỳ phong kiến Việt Nam còn nhiều hạn chế như chưa cụ thể, chưa có tính thống nhất cao song nhìn chung đấy là những quy định chứa đựng những hạt nhân hợp lý có tính chất tiền đề cho quy định về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam ở các thời kỳ về sau

1.2.2 Khái quát về hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến trước khi Bộ luật Hình sự năm

1999 có hiệu lực

1.2.2.1 Hình phạt tiền trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm

1945 đến trước năm 1985

Trang 38

Từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công cho đến trước khi Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời, các quan hệ pháp luật hình sự nước ta được điều chỉnh bởi rất nhiều các văn bản khác nhau, chủ yếu là các sắc lệnh và pháp lệnh Và trong nhiều văn bản luật hình sự đã quy định về hình phạt tiền với những nội dung rất cụ thể Thời kỳ đầu giành độc lập, Nhà nước đã ban hành các Sắc lệnh hình sự liên quan đến hình phạt tiền tiêu biểu như Sắc lệnh số 163-SL ngày 17/11/1950, Sắc lệnh số 169-SL ngày 17/11/1950, Sắc lệnh số 170-SL ngày 17/11/1950, Sắc lệnh số 180/SL ngày 20/12/1950 quy định những hình phạt đối với những tội phá hoạt tiền tệ, phá hoại giá trị bạc Việt Nam, Sắc lệnh số 282-SL ngày 14/12/1956, Sắc lệnh số 001/SL ngày 19/4/1957 cấm mọi hành vi đầu cơ kinh tế… Bên cạnh đó, ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đã ban hành nhiều pháp lệnh quan trọng trong lĩnh vực hình sự như: Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/7/1967, Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ngày 21/10/1970, Pháp lệnh Trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970, Pháp lệnh quy định về việc bảo vệ rừng ngày 06/9/1972 Các văn bản pháp luật mới được ban hành thời kỳ này cùng với một số quy định pháp luật ra đời

từ trước đó (Bộ luật hình sự Bắc Kỳ, Bộ luật hình sự Trung Kỳ và Bộ luật hình sự Nam Hỳ) được nhà nước cho phép tiếp tục áp dụng đã góp phần quan trọng vào việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự đương thời Và trong các văn bản pháp luật vừa kể trên, mặc dù hệ thống hình phạt nói chung và hình phạt tiền nói riêng chưa được quy định một cách thống nhất và cụ thể song quy định về hình phạt tiền thời kỳ này cũng đã được thể hiện ở những khía cạnh như sau:

Thứ nhất, hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình

phạt phụ đối với từng tội phạm cụ thể, phần lớn áp dụng đối với các trường hợp phạm tội không nguy hiểm, người phạm tội có nhân thân tốt cần được khoan hồng, ví dụ hình phạt tiền áp dụng với những người làm thịt trâu, bò trái phép (Sắc lệnh 163-SL ngày 17/11/1950), áp dụng với một số trường hợp

Trang 39

đầu cơ kinh tế ở mức độ nhẹ (Sắc luật số 011-SLT ngày 19/4/1957) hay áp dụng với các vi phạm không nghiêm trọng trong hoạt động xuất bản (Sắc luật

số 003-SLT ngày 18/6/1957)…

Thứ hai, hình phạt tiền chủ yếu áp dụng đối với các tội phạm có tính

chất vụ lợi nhằm tước đoạt các món lợi bất chính mà người phạm tội đã thu được, trừng phạt về mặt kinh tế nhằm ngăn ngừa điều kiện để họ phạm tội mới Các tội có tính chất vụ lợi bị áp dụng hình phạt tiền được quy định trong giai đoạn này có thể là các hành vi đầu cơ về kinh tế, buôn lậu thuốc phiện, nấu rượu trái phép hay các hành vi xâm phạm tài sản riêng của công dân…

Thứ ba, mức tiền phạt được quy định bằng một khoản tiền cụ thể với

mức tối thiểu, mức tối đa hoặc số lần giá trị hàng phạm pháp tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tội phạm

Ví dụ:

- Quy định mức phạt tiền từ tối thiểu đến tối đa: khi quy định mức tiền phạt áp dụng đối với hành vi làm thịt trâu bò trái phép, Điều 3 Sắc lệnh số

163-SL quy định: "Những người làm thịt trâu bò trái phép sẽ bị phạt tiền

1.000 đồng đến 10.000 đồng Tái phạm sẽ bị phạt tiền gấp đôi và phạt tù từ 1 đến 6 tháng, hoặc một trong hai hình phạt ấy"

- Quy định mức phạt tối đa: Điều 3 Sắc luật số 001-SLT về tội đầu cơ

kinh tế quy định: "Những người vi phạm luật này và những người đồng phạm,

tùy theo tội nhẹ hay là nặng sẽ bị trừng phạt như sau: - ủy ban hành chính tỉnh hay thành phố cảnh cáo, thu hồi có thời hạn hoặc vĩnh viễn giấy phép đăng ký kinh doanh, phạt tiền đến một triệu đồng"

- Quy định mức phạt theo số lần giá trị hàng phạm pháp: mức phạt tiền quy định tại Điều 3 Sắc lệnh số 61-SL ngày 05/7/1947 về cấm xuất cảng

tư bản như sau: "phạt tiền gấp đôi số tư bản định xuất cảng hay nhập nội"

Trang 40

Bên cạnh các văn bản pháp luật quan trọng, Tòa án nhân dân tối cao cũng ban hành nhiều văn bản cụ thể để hướng dẫn áp dụng hình phạt tiền trong các trường hợp cụ thể, theo đó cách thức thi hành hình phạt tiền giai đoạn này cũng thể hiện ở những đặc điểm như: phạt tiền được áp dụng căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh, khả năng kinh tế cụ thể của người phạm tội; không

áp dụng xử phạt tiền liên đới; không được quy đổi hình phạt tiền thành phạt tù

và ngược lại…

1.2.2.2 Hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 1985

Năm 1985, Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước ta ra đời trên cơ sở tổng kết, kế thừa các quy định pháp luật hình sự qua thực tiễn 40 năm vận dụng, thi hành đã tạo cơ sở pháp lý có hiệu quả cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã đánh dấu bước phát triển cao của pháp luật hình sự nói riêng và của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung thời kỳ này Từ những quy định pháp luật hình sự có tính chất tản mạn, riêng lẻ về từng vấn đề, từng lĩnh vực cụ thể mà tất cả đều là dưới luật đã được các nhà lập pháp Việt Nam pháp điển hóa trong một Bộ luật

- một trong những hình thức lập pháp cao của thế giới Và với Bộ luật Hình

sự năm 1985, các quy định pháp luật hình sự đã được trình bày một cách có

hệ thống và đầy đủ hơn cả, trong đó không thể không kể đến các quy định về hình phạt tiền

Trong Phần chung của Bộ luật năm 1985, phạt tiền được quy định là một loại hình phạt nằm trong hệ thống hình phạt ghi nhận tại Điều 21 Điều 21 quy định hệ thống hình phạt nước ta bao gồm các hình phạt chính và các hình phạt bổ sung Theo khoản 1 Điều 21 thì các hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội; tù có thời hạn; tù chung thân và tử hình Còn các hình phạt bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 21 gồm: cấm cư trú; ; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính

Ngày đăng: 30/11/2018, 09:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2002, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2002
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
5. Lê Cảm (2000), "Hình phạt và biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam", Dân chủ và pháp luật, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt và biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2000
6. Lê Cảm (2001), "Một số vấn đề cơ bản về hình phạt", Công an nhân dân, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về hình phạt
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
7. Lê Cảm (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
8. Lê Văn Cảm (2005), Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Văn Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
9. Nguyễn Ngọc Hòa (1999), "Mục đích của hình phạt", Luật học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mục đích của hình phạt
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa
Năm: 1999
10. Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển pháp luật hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển pháp luật hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
11. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2000), Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 04/8 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung Bộ luật hình sự 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 04/8 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung Bộ luật hình sự 1999
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2000
12. Nguyễn Mạnh Kháng (2000), "Hình phạt - một số vấn đề lý luận", Nhà nước và pháp luật, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt - một số vấn đề lý luận
Tác giả: Nguyễn Mạnh Kháng
Năm: 2000
13. Uông Chu Lưu, Nguyễn Đức Tuấn (1995), Hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam
Tác giả: Uông Chu Lưu, Nguyễn Đức Tuấn
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
14. Đinh Văn Quế (2000), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần chung), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần chung)
Tác giả: Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
20. Quốc hội (1985), Bộ luật Hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1985
22. Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1999
23. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc hội (2003), "Bộ luật Tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2003
24. Lê Thị Sơn, Nguyễn Ngọc Hòa, Phan Thị Liên Châu (2001), Trách nhiệm hình sự và hình phạt, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự và hình phạt
Tác giả: Lê Thị Sơn, Nguyễn Ngọc Hòa, Phan Thị Liên Châu
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2001
25. Tòa án nhân dân tối cao (1999), Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1999, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 1999
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 1999
26. Tòa án nhân dân tối cao (2000), Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2000
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2000
27. Tòa án nhân dân tối cao (2001), Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2001
Tác giả: Tòa án nhân dân tối cao
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w