Khảo sát cắt ngang mô tả toàn bộ 1141 đối tượng đến tầm soát bệnh mạn tính tại Trung tâm Phòng chống chấn thương và bệnh không lây, thuộc Viện Vệ sinh Y tế công cộng thành phố Hồ Chí Minh từ 01022012 đến 31032012, kết quả như sau: Tỉ lệ hiện mắc tăng huyết áp ở người trưởng thành tầm soát bệnh tại Viện Vệ sinh Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh năm 2012 là 22,2%. Các yếu tố nguy cơ và có liên quan đến tăng huyết áp ở người trưởng thành tầm soát bệnh tại Viện Vệ sinh Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh năm 2012 bao gồm: tuổi (trên 45), giới tính (nam), có tôn giáo, sống ngoài thành phố Hồ Chí Minh, và không đang sống trong quan hệ hôn nhân thực tế, chỉ số BMI ≥ 23, tiền sử tăng huyết áp của người thân trong gia đình, uống rượu, bia mỗi ngày, có tập thể dục, thể thao mỗi ngày, ăn nhạt, và các yếu tố sinh hoá như đường huyết cao, cholesterol máu cao, triglycerid máu cao.
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Mục tiêu nghiên cứu: 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Tổng quan về Tăng huyết áp (THA) 5
1.2 Các nghiên cứu về tỉ lệ mắc bệnh THA tại Việt Nam và trên thế giới 15
1.3 THA và các hành vi nguy cơ có thể tác động được: 18
1.4 THA và các yếu tố ảnh hưởng không tác động được: 25
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Thiết kế nghiên cứu: 29
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 29
2.3 Đối tượng nghiên cứu: 29
2.4 Cỡ mẫu 29
2.5 Tiêu chí chọn mẫu: 29
2.6 Thu thập dữ liệu 30
2.7 Xử lý số liệu 37
2.8 Về y đức: 38
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 39
3.2 Tỉ lệ người trưởng thành mắc bệnh tăng huyết áp (n = 1141) 41
3.3 Các hành vi lối sống và yếu tố nguy cơ 41
3.4 Khảo sát mối liên quan 43
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 52
4.1 Đặc tính dân số - xã hội của dân số nghiên cứu 52
4.2 Tỉ lệ hiện mắc tăng huyết áp 53
4.3 Các yếu tố liên quan với tăng huyết áp 54
4.4 Điểm mạnh, điểm hạn chế của đề tài 58
4.5 Khả năng khái quát và tính ứng dụng 58
KẾT LUẬN 59
ĐỀ XUẤT 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh mạn tính, theo y văn có khoảng 90 - 95% không tìm thấy nguyên nhân, tiến triển “thầm lặng” không có triệu chứng nhưng gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu não, suy tim để lại nhiều di chứng nặng nề dẫn đến tử vong, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và
là gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội, là nguyên nhân gây ra tử vong hàng đầu trên thế giới.
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Viện Tim mạch tại thành phố Hà Nội năm 2001-2002, tỉ lệ THA ở người lớn là 23,2%, tương đương với các nước trên thế giới Tỷ lệ THA trong các nghiên cứu về dịch tễ học luôn vào khoảng từ 20% đến 25% cho thấy tỉ lệ mắc bệnh đang có xu hướng tăng nhanh khi nền kinh tế ngày càng phát triển [14] Năm 1960, tỉ lệ THA khoảng 1%, năm 1992 là 11,2%, năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3% Theo điều tra năm 2008 của Viện Tim mạch Việt Nam tiến hành ở người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) trên toàn quốc cho thấy, tỉ lệ THA đã tăng lên đến 25,1% Với dân số hiện nay của Việt Nam là khoảng 88 triệu dân thì ước tính sẽ có khoảng 11 triệu người bị THA [11].
Trong số những người bị THA có tới 52% không biết mình bị THA; 30% biết bị THA nhưng chưa có một biện pháp điều trị; và 64% (khoảng 2,4 triệu người) THA đã được điều trị nhưng vẫn chưa đưa được huyết áp về số huyết áp mục tiêu Như vậy, hiện nay Việt Nam có khoảng 9,7 triệu người hoặc là không biết bị THA, hoặc là THA nhưng không được điều trị, hoặc có điều trị nhưng chưa đưa được huyết áp về mức bình thường Dự báo trong những năm tới số người THA sẽ còn tăng do các yếu tố liên quan như: hút thuốc lá, lạm dụng rượu - bia, dinh dưỡng bất hợp lý, ít vận động Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khống chế được những yếu tố nguy cơ này có thể làm giảm được 80% bệnh THA [24].
Trang 3Thực trạng việc phát hiện, quản lý và điều trị người có THA tại cộng đồng gặp rất nhiều khó khăn Do đó cần xây dựng một kế hoạch mang tính chất chiến lược trong phòng, chống THA để góp phần hạn chế các biến chứng của THA, giảm
tỷ lệ bệnh nhân THA phải tái nhập viện Vì vậy, công tác tầm soát để sớm phát hiện người mắc có THA tại cộng đồng là cần thiết nhằm kiểm soát có hiệu quả tình trạng THA thông qua việc hướng dẫn người bệnh thay đổi lối sống, thói quen sinh hoạt…bên cạnh việc điều trị bằng thuốc là một trong những vấn đề y tế công cộng.
Tăng huyết áp (THA) là thách thức lớn về y tế công cộng trên toàn thế giới Tínhchung, 26,4% số người trưởng thành trên thế giới bị tăng huyết áp vào năm 2000, tươngđương tổng số 972 triệu người, trong đó khoảng 2/3 số người thuộc các nước đang pháttriển Dự báo đến năm 2025, tỉ lệ hiện mắc tăng huyết áp sẽ lên đến 29,2%, tương đươngtổng số 1,56 tỉ người [25]
THA hiện đang là gánh nặng bệnh tật tại nhiều quốc gia Tăng huyết áp khôngphát hiện và kiểm soát được sẽ dẫn đến các biến chứng trầm trọng, gây tử vong hoặc đểlại di chứng nặng nề, là gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội Tại Mỹ, có khoàng1/3 số người trưởng thành mắc bệnh (khoảng 68 triệu người), gây tử vong cho 347000người (năm 2008), ước tính gây tổn thất 93,5 tỉ đô la Mỹ (năm 2010) vì các chi phí liênquan đến chăm sóc y tế, thuốc men, và ngày làm việc bị mất
Bản thân bệnh THA thường không có bất kỳ dấu hiệu hay triệu chứng nào, nênnhiều người không nhận ra họ đang mắc bệnh tăng huyết áp, và như vậy, người bệnh tănghuyết áp có thể được phát hiện tình cờ, hoặc khi có biến chứng Tăng huyết áp hầu như
có thể dự phòng và kiểm soát được bằng cách thay đổi hành vi, lối sống Vì vậy, việc xácđịnh tỉ lệ THA trong cộng đồng, nguyên nhân và đặc biệt yếu tố nguy cơ là rất quantrọng, giúp cải thiện chiến lược nâng cao nhận thức và dự phòng ở cấp độ quốc gia
Trên cơ sở đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi: Tỉ lệhiện mắc tăng huyết áp trong số những người trưởng thành đến tầm soát bệnh tại Viện Vệsinh – Y tế công cộng TP.Hồ Chí Minh là bao nhiêu? Các yếu tố liên quan đến tăng huyết
áp là gì? Có mối liên quan nào giữa tăng huyết áp và một số yếu tố dân số, hành vi, lối
Trang 4sống, chỉ số sinh hóa? Kết quả nghiên cứu là cơ sở góp phần đề xuất mô hình chăm sóc sức khỏe, tư vấn trong việc theo dõi và kiểm soát tốt tăng huyết áp ở giai đoạn sớm
Câu hỏi nghiên cứu: Tỉ lệ hiện mắc tăng huyết áp của người trưởng thành đến
tầm soát bệnh mạn tính tại Viện Vệ sinh - Y tế công cộng TP Hồ Chí Minh là bao nhiêu?Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh tăng huyết áp là gì?
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu chung: Xác định tỉ lệ hiện mắc bệnh tăng huyết áp và các yếu tố liên
quan ở người trưởng thành tầm soát bệnh mạn tính tại Viện Vệ sinh - Y tế công cộng TP
3/ Xác định mối liên quan giữa tăng huyết áp với các đặc điểm dân số học, hành vi
và các yếu tố khác ở người trưởng thành tầm soát bệnh mạn tính tại Viện Vệ sinh - Y tếcông cộng TP Hồ Chí Minh
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về Tăng huyết áp (THA)
1.1.1 Định nghĩa
Theo thống nhất của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hội Tăng huyết áp quốc tế(ISH) và Liên uỷ ban quốc gia về tăng huyết áp của Hoa Kỳ (JNC), THA được định nghĩanhư sau:
Một người trưởng thành được gọi là THA khi huyết áp (HA) tối đa, HA tâm thu(HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặcđang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA[8]
THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạchmáu não, bệnh mạch vành
1.1.2 Phân loại tăng huyết áp
Phân loại theo Hội Tim mạch học Việt Nam:
Phân độ tăng huyết áp theo WHO/ISH 2003 và JNC-VII [25]
HA tâm thu (mmHg)
HA tâm trương (mmHg) Khái niệm
- Phân độ này dựa trên đo HA tại phòng khám Nếu HATT và HATTr không cùng mộtphân loại thì chọn mức HA cao hơn để xếp loại
- Khi HATT và HATTr ở hai mức độ khác nhau, chọn mức độ cao hơn để xếp loại
- Tăng HATT đơn độc cũng được đánh giá theo mức độ 1, 2 hay 3 theo giá trị của HATTnếu HATTr < 90 mmHg
Trang 7Phân loại THA tại Việt Nam:
Xuất phát từ cách phân độ THA của WHO/ISH và JNC, Hội tim mạch Việt Nam
đã đưa ra cách phân độ như sau: [8]
Phân độ THA tại Việt Nam hiện nay
(mmHg)
HA tâm trương (mmHg)
Tại Việt Nam, qua các cuộc điều tra về dịch tễ học trong những năm gần đây chobiết bệnh THA có chiều hướng gia tăng: tỉ lệ hiện mắc THA trên toàn quốc năm 1992(11,7%); năm 1999, (16,05%), năm 2001 là 16,3% và năm 2005 là 18,3% Tại thành phố
Hà Nội (2002) là 23,2%; tại cộng đồng Miền Bắc (2003) là 16,3%; thành phố Hồ ChíMinh (2004) là 20,5% [14]
1.1.4 Cơ chế bệnh sinh THA
Cơ chế bệnh sinh gồm THA nguyên phát và THA thứ phát [8]
1.1.4.1 THA nguyên phát:
THA nguyên phát chiếm 90% các trường hợp, cơ chế bệnh sinh đến nay chưa rõ
ràng, biểu hiện qua một số yếu tố sau:
- Tăng hoạt động thần kinh giao cảm sẽ làm tim ở trạng thái tăng động do tăng
hoạt động của tim dẫn đến tăng cung lượng và tăng tần số tim Toàn bộ hệ thống động
Trang 8mạch ngoại vi và động mạch thận bị co thắt, làm tăng sức cản ngoại vi để lại hậu quả cuốicùng là THA động mạch.
- Tác dụng co mạch của adrenalin và noradrenalin: hai chất này do tuỷ thượng
thận bài tiết ra, khi hệ giao cảm bị kích thích Adrenalin có tác dụng co mạch dưới danhưng lại làm giãn mạch vành, mạch não, mạch cơ vân nên chỉ làm THA tối đa.Noradrenalin làm co mạch toàn thân nên làm tăng cả HA tối đa và HA tối thiểu
- Vai trò của hệ RAA: Renin - Angiotensin - Aldosteron Renin là enzym được tế
bào của tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ chức khác tiết ra khi có yếu tố kích thích Yếu
tố kích thích tiết Renin là nồng độ muối trong huyết tương và kích thích thụ thể củaadrenecgic Khi Renin được tiết ra sẽ chuyển 2 globulin (được tổng hợp từ gan) gọi làangiotensinogen thành angiotensin I (là peptid có 10 acid amin), theo máu đến tuần hoànphổi được tách khỏi chất vận chuyển và cắt đi 2 acid amin nhờ coverting enzym ở phổicòn lại 8 acid amin được gọi là angiotensin II có rất nhiều tác dụng:
Trên mạch máu: Angiotensin II làm co các tiểu động mạch sát với mao mạch nơi
mà thành tiểu động mạch còn cơ trơn Tác dụng co mạch của của angiotensin II mạnh gấp
30 lần so với noradrenalin
Kích thích lớp cầu của vỏ thượng thận làm tăng bài tiết aldosterol do tác dụng lênenzym 20α hydroxylase, là enzym chuyển cholesterol thành 20α hydroxy cholesterol, gâytăng giữ nước và giữ muối
Kích thích trực tiếp lên ống thận làm tăng tái hấp thu natri
Kích thích vùng postrema (diện sau cùng ở nền não thất IV) là vùng có những tếbào nhạy cảm với tác dụng của angiotensin II, do đó làm tăng trương lực mạch máu vàlàm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến THA
Kích thích các cúc tận cùng thần kinh giao cảm tăng bài tiết noradrenalin và giảm
sự tái nhập noradrenalin trở lại các cúc tận cùng
Làm tăng tính nhạy cảm của noradrenalin đối với mạch máu Từ những hiểu biếttrên ta thấy angiotensin II có tác dụng rộng khắp toàn bộ hệ thống động mạch, làm tăngsức cản noại vi và tăng thể tích dịch lưu hành là cơ sở THA
Trang 9Giảm chất điều hoà HA: prostaglandin E2 và kali krein ở thận có chức năng sinh
lý là điều hoà huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu khi chất này bị ức chế hoặc thiếugây THA
- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA: natri có vai trò trong bệnh
THA cả trên thực nghiệm và trong điều trị Trong điều kiện bình thường các hormon vàthận sẽ hiệp đồng để thải natri làm cho lượng natri trong máu ổn định Hiện tượng ứ natrixảy ra khi lượng natri sẽ tăng giữ nước, hệ thống mạch sẽ tăng nhạy cảm với angiotensin
- THA do dị dạng động mạch thận: có khoảng 75% bệnh nhân hẹp động mạch thận
là do xơ vữa đặc biệt là bệnh nhân lớn tuổi, 25% còn lại do dị dạng xuất phát từ lớp cơ(thường gặp ở đối tượng trẻ tuổi) THA do bệnh mạch thận là do giảm tưới máu nhu môthận, do hẹp nhánh chính hoặc nhánh phụ động mạch thận dẫn đến hoạt hoá hệ R.A.A,angiotensin II được giải phóng gây co mạch trực tiếp
- U tuỷ thượng thận là nguyên nhân hiếm gặp gây THA (chiếm 1 - 2%), là khối u
tế bào ưa crôm sản xuất và phóng thích ra lượng lớn catecholamin (norepinephrine hoặcepinephrin hoặc cả hai)
- Do cường aldosteron và hội chứng cushing: Hậu quả angiotensin II kích thíchlàm tăng aldosteron gây giữ natri bằng cách kích thích sự trao đổi natri và kali ở ốngthận gây giữ nước làm tăng thể tích tuần hoàn gây THA Cường aldosteron có thể do khối
u hoặc quá sản vỏ thượng thận hai bên Cường aldosteron tiên phát chiếm 0,3% tổng sốbệnh nhân THA
- Hẹp eo động mạch chủ: chiếm khoảng 7% bệnh nhân tim bẩm sinh do đườngkính động mạch chủ có thể bị nhỏ hoặc bị thắt ở trên bất kì vị trí nào của động mạch
Trang 10nhưng hay gặp nhất ở đoạn dưới nơi xuất phát của động mạch dưới đòn trái Trong hẹp eođộng mạch chủ gây THA ở chi trên trong khi lại hạ HA ở chi dưới, HA ở chi trên cao hơn
HA trở lại bình thường sau 6 tháng dừng thuốc
- Các nguyên nhân khác: THA kết hợp với tăng kali máu, bệnh to đầu chi, tăngcanxi máu do cường tuyến cận giáp
1.1.5 Biểu hiện của bệnh tăng huyết áp [2]
1.1.5.1 Lâm sàng
Bệnh nhân bị THA đa số đều không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện rabệnh Các biểu hiện phổ biến đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra có thể
có hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt, tê đầu chi , một số các triệu chứng khác tuỳ thuộc vào
nguyên nhân hoặc biến chứng của THA THA thường xuyên sẽ làm cho thất trái to ra, về
lâu dài, thất trái bị giãn; khi sức co bóp của tim bị giảm nhiều thì sẽ bị suy tim, lúc đầusuy tim trái rồi suy tim phải và trở thành suy tim toàn bộ Về lâm sàng, lúc đầu ngườibệnh mệt mỏi, khó thở khi gắng sức, về sau với gắng sức vừa cũng khó thở và đến giaiđoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ
Vì thế, đo HA là phương pháp có ý nghĩa chẩn đoán xác định., phương phápKorotkoff dùng huyết áp kế thủy ngân hoặc các loại huyết áp kế khác theo định kì 6tháng/lần Số đo HA được đánh giá theo tiêu chuẩn của Hội Tim mạch học Việt Nam nhưsau:
Tại phòng khám: khi bệnh nhân có trị số HA ≥ 140/90mmHg, sau khám lâm sàng
ít nhất 2 hoặc 3 lần khác nhau Mỗi lần khám được đo ít nhất 2 lần
Tại nhà: khi đo nhiều lần đúng phương pháp, THA có trị số HA >135/85 mmHg
Trang 11Các dấu hiệu lâm sàng khác: bệnh nhân có thể béo phì, mặt tròn, cơ chi trên pháttriển hơn cơ chi dưới trong hẹp eo động mạch chủ Tìm các biểu hiện vữa xơ động mạchtrên da (u vàng, u mỡ…)
Khám tim phổi có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu hiệu suy tim trái, sờ vànghe động mạch để phát hiện các trường hợp nghẽn hay tắc động mạch cảnh
Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn, trong hẹp động mạchthận, phồng động mạch chủ hoặc phát hiện thận to, thận đa nang
Khám thần kinh có thể phát hiện các tai biến mạch máu não cũ hoặc nhẹ
1.1.5.2 Cận lâm sàng:
Đánh giá nguy cơ tim mạch, tổn thương thận và tìm nguyên nhân bằng xét nghiệm:- Máu: công thức máu, ure, creatinin, điện giải đồ, cholesterol toàn phần, HDL - C, LDL
- C, glucose, acid uric trong máu
- Nước tiểu: protein, hồng cầu…
- Soi đáy mắt, điện tâm đồ, X quang tim, siêu âm tim…
- Chụp UIV nhanh, thận đồ (đối với THA thứ phát hoặc những trường hợp khó xácđịnh)
- Định lượng catecholamin nước tiểu 24h (đối với trường hợp u tủy thượng thận)
1.1.6 Các yếu tố nguy cơ của bệnh THA
Đái tháo đường type 2: theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới thì tỷ lệ bệnh
nhân ĐTĐ týp 2 có THA kèm theo chiếm khoảng 71%
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều cho thấy tỉ lệ mắc THA ở những bệnh nhânĐTĐ týp 2 gần gấp đôi ở những bệnh nhân không ĐTĐ, mối liên quan này làm gia tăngđáng kể các biến chứng tim mạch (lớn gấp 2 lần so với bệnh nhân THA không có ĐTĐ)
Do vậy khả năng xảy ra các biến chứng về tim mạch trong vòng 10 năm ở bệnh nhânĐTĐ týp 2 kèm theo THA là từ 20%- 30% [17]
Rối loạn chuyển hoá Lipid máu: là nguyên nhân chính dẫn đến vữa xơ động
mạch, đó cũng là nguyên nhân gây THA và các biến chứng của THA
Các nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước về rối loạn chuyển hoá Lipid đềucho biết hàm lượng Cholesterol ở người THA có xơ vữa động mạch tăng nhiều hơn so
Trang 12với ở người có xơ vữa động mạch nhưng không có THA Hàm lượng Cholesterol trungbình ở những người THA có vữa xơ động mạch cũng tăng cao hơn so với người khôngTHA có vữa xơ động mạch…[17] Để hạn chế vữa xơ động mạch cần chống tăngCholesterol máu bằng điều trị dự phòng bằng chế độ ăn giảm mỡ động vật, tập luyện thểdục thường xuyên và dùng các thuốc giảm Cholesterol máu.
Yếu tố di truyền:
- Người da đen có tỉ lệ tăng huyết áp cao và nặng hơn các chủng tộc khác
- Tiền sử gia đình có người thân bị bệnh động mạch vành: nữ < 65 tuổi hoặc nam
< 55 tuổi
- Bố hoặc mẹ bị bệnh này thì trong số con cái cũng có người mắc bệnh Bệnh nhânTHA di truyền lại cho con cái không phải bệnh THA mà chỉ truyền lại một số đặc điểmcủa cơ thể thuận lợi cho bệnh THA như thể tạng, đặc điểm của hoạt động thần kinh cao
cấp…nhưng chỉ khi có tác động của các yếu tố bên ngoài như điều kiện sinh hoạt vật
chất, tinh thần, giáo dục, truyền thống giống nhau ở những người cùng gia đình củabệnh nhân THA mới gây ra THA [16]
Người trên 60 tuổi (nam) và ở tuổi tiền, mãn kinh (nữ):
Bệnh THA thường thấy ở tuổi trung niên trở đi, tuổi càng cao thì tần suất mắc
bệnh càng nhiều Tỉ lệ bệnh nhân lớn tuổi THA trên thế giới ngày càng gia tăng, đặc biệt
ở các nước phát triển và khoảng 65% bệnh nhân lớn tuổi có THA
Nữ giới ở lứa tuổi tiền, mãn kinh thì bị THA nhiều hơn hẳn so với nam giới cùnglứa tuổi Theo thống kê của Viện tim mạch Việt Nam thì tỉ lệ bệnh nhân THA tuổi mãnkinh chiếm 10,12% bệnh nhân THA [16]
1.1.7 Hành vi lối sống với THA
Hút thuốc lá:
Chất Nicotin có trong thuốc lá kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạchngoại vi, làm tăng nồng độ Serotonin, Catecholamin ở não, tuyến thượng thận Thựcnghiệm của Maslova năm 1958 trên súc vật thí nghiệm cho thấy Nicotin trong thuốc lágây THA Theo các nhà nghiên cứu thì hút một điếu thuốc lá, HATT có thể tăng lên tới 11mmHg, HATTr tăng lên tới 9 mmHg và kéo dài 20-30 phút, hút nhiều có thể gây cơn
Trang 13THA kịch phát nguy hiểm Nếu hút thuốc lá trên 10 điếu/ngày, liên tục trong 3 năm thì cónguy cơ THA và mắc các bệnh tim mạch cao hơn so với người bình thường
Hút thuốc lá, cho dù không phải là một nguyên nhân THA nhưng lại là yếu tốnguy cơ quan trọng liên quan đến bệnh, vì nguy cơ mắc bệnh mạch ở người tăng huyết áp
có hút thuốc lá cao hơn 50 - 60% so với người THA không hút lá và 25% các trường hợpthiếu máu cơ tim nguyên nhân từ hút thuốc lá.[25]
Uống rượu:
Rượu được hấp thu nhanh qua đường tiêu hoá, chủ yếu đoạn đầu ruột non và đạthàm lượng trong máu cao nhất sau khi uống từ 30 đến 90 phút Hơn nữa, rượu còn có thểgây rối loạn nhịp tim, rối loạn điều hoà lipoprotein và triglycerid, làm tăng nguy cơ nhồimáu cơ tim và các bệnh lý về mạch máu Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượnglớn, ethanol có tác dụng co mạch trực tiếp Giảm tiêu thụ rượu xuống tới dưới 3 lần uốngtrong ngày (30ml rượu) làm giảm HA ở bệnh nhân có điều trị [26]
Mức độ an toàn trong sử dụng rượu bia được đưa ra theo những nghiên cứu về cácnguy cơ do rượu bia gây ra cho sức khỏe Ở các nước việc tính toán mức độ uống rượubia dựa vào số đơn vị rượu sử dụng hàng ngày Tùy theo mỗi quốc gia, một đơn vị rượuthường có 8-14 gram rượu nguyên chất, thường áp dụng nhất là đơn vị rượu chứa 10gram rượu nguyên chất.[26]
Uống nhiều rượu hay gây THA, càng uống nhiều HA càng cao Vùng nào tiêu thụnhiều rượu, nơi đó nhiều người bị THA Rượu uống nhiều còn làm mất hiệu quả củanhững thuốc chữa THA Qua điều tra dịch tễ học bệnh THA ở Việt Nam trong 4 năm(1989 - 1992) nhận thấy lạm dụng rượu ở người THA cao hơn những người bình thường
Thói quen ăn mặn: các công trình nghiên cứu đều cho thấy là tăng Natri máu do
chế độ ăn mặn gây ra THA, ăn mặn liên quan đến THA là kiến thức có từ lâu và đã đượckhoa học chứng minh, do đó hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trongnhững biện pháp dễ nhất để phòng ngừa THA và cách điều trị mà không phải dùng thuốctốt nhất
Trang 14Stress: ảnh hưởng lớn của yếu tố tinh thần xúc cảm, đối với nội tạng nói riêng và
sức khoẻ nói chung Sự xuất hiện của các stress có tính tiêu cực đối với bệnh nhân THA
sẽ làm cho bệnh nặng lên, dễ xảy ra tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim
Béo phì: béo phì có liên quan đến nhiều bệnh lí về chuyển hoá, tim mạch, là yếu
tố nguy cơ chính của THA, những người cơ địa béo phì dễ bị THA, béo phì và THA liênquan chặt chẽ với nhau Béo phì là hậu quả của tình trạng mất cân bằng năng lượng, trong
đó năng lượng ăn vào vượt quá năng lượng tiêu hao trong một thời gian dài Béo phì ngàycàng phổ biến ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam Ở các nước phát triển tỉ lệ người béophì cũng đang có xu hướng tăng nhanh Béo phì rất có hại cho tim mạch vì hay dẫn đếnTHA và xơ vữa động mạch, cuối cùng dẫn đến rút ngắn tuổi thọ rõ rệt
Nhiều nghiên cứu cho thấy béo phì có tương quan thuận với HA Tỉ lệ THA tăngtheo mức độ béo phì, tỉ lệ THA tăng dần theo mức độ thừa cân ở cả nam và nữ giới.Người béo phì độ II có tỉ lệ THA từ 33% - 39% so với người tiền béo phì tỉ lệ THA chiếm17% - 24% [4] Ở những người béo phì có THA, chỉ cần giảm 5 kg là HA đã giảm nhiều.Các nhà khoa học cho biết, nếu giảm 10 kg thì HA tâm thu có thể giảm từ 5 đến 20mmHg, đồng thời còn có nhiều lợi ích khác như giảm tỉ lệ mắc đái tháo đường, hạ lipidmáu [11]
1.1.8 Biến chứng THA:
THA thường gây ra biến chứng ở các cơ quan sau:
Tim:
- Cấp: Phù phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp
- Mạn: Dày thất trái, suy vành mạn, suy tim
Mạch não:
- Cấp: Xuất huyết não, tắc mạch não, tai biến mạch máu thoáng qua
- Mạn: tai biến mạch máu, tai biến mạch máu thoáng qua
Thận: tiểu ra máu hoặc protein, suy thận
Đáy mắt : phù, xuất huyết, xuất tiết, mạch co nhỏ
Bệnh động mạch ngoại vi
1.1.9 Điều trị THA
Trang 151.1.9.1 Thay đổi hành vi lối sống (điều trị không dùng thuốc)
Là phương pháp điều trị bắt buộc song song với tất cả phương pháp điều trị, baogồm giảm cân ở người quá cân, hoạt động thể lực, giảm lượng rượu uống vào, ăn nhiềutrái cây tươi và rau quả Phương pháp điều chỉnh lối sống là giải pháp làm giảm HA,giảm nhu cầu dùng thuốc, đồng thời giúp phát hiện, phòng ngừa các yếu tố nguy cơ timmạch của bệnh nhân.[7], [16]
Điều chỉnh lối sống làm giảm huyết áp
Trọng lượng Duy trì trọng lượng cơ thể bình
thường (BMI 18,5 – 24,9)
Cân nặng được giảm
5 – 10 mmHg/10 kg
Chế độ dinh dưỡng Ăn nhiều trái cây, rau và các thực phẩm ít
chất béo, giảm mỡ bão hoà và mỡ toàn phần
8 – 14 mmHg
Thói quen ăn mặn Giảm Natri trong khẩu phần ăn
< 100 mEq/l (2,4g Na+ hay 6g NaCl)
2 – 8 mmHg
Hoạt động thể lực Hoạt động thể lực đều đặn như đi bộ nhanh
(ít nhất 30 phút/ngày và hầu hết các ngày trong tuần)
2 - 4mmHg
1.1.9.2 Điều trị bằng thuốc
Thuốc được dùng điều trị THA nhằm can thiệp vào các khâu của huyết động đã bịthay đổi trong quá trình bệnh lý Huyết áp động mạch phụ thuộc vào 2 yếu tố đó là: Cunglượng tim và sức cản ngoại vi Tăng huyết áp xảy ra khi có tăng cung lượng tim hoặc tăngsức cản ngoại vi, hoặc tăng cả 2 yếu tố huyết động đó Điều trị bằng thuốc phải có sự chỉđịnh của bác sĩ; liều dung bắt đầu từ từ và tăng dần để đạt mức huyết áp tối ưu
Trang 161.2 Các nghiên cứu về tỉ lệ mắc bệnh THA tại Việt Nam và trên thế giới
1.2.1 Các nghiên cứu tại Việt Nam:
- Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự, năm 2003, điều tra tại 4 tỉnh phíaBắc phát hiện 818/5.012 người mắc THA (16,3%), trong số mắc THA chỉ có 94/818người (11,5%) dùng thuốc điều trị và tỉ lệ huyết áp được khống chế tốt là 19,1% [14]
- Nghiên cứu của Vũ Bảo Ngọc, năm 2004, khảo sát 2.366 người từ 18 tuổi trở lêntại quận 4, TP Hồ Chí Minh, cho biết tỉ lệ hiện mắc THA là 21,9%; tỉ lệ THA tăng theotuổi, BMI và giảm khi trình độ học vấn tăng lên.[17]
- Nghiên cứu của Trần Hòa, Trương Phi Hùng và cộng sự, năm 2004 tại huyện MỏCày, Bến Tre, cho biết tỉ lệ mắc bệnh THA ở người lớn ≥40 tuổi là 43%, nam có xuhướng nhiều hơn nữ, tỉ lệ nhận biết THA là 83,3%, tuy nhiên chỉ có 14,2% được điều trịthường xuyên [9]
- Nghiên cứu của Tô Văn Hải, năm 2005, khảo sát 400 bệnh nhân ĐTĐ cho biết có54,5% (218/400) bệnh nhân có kèm theo THA và tỉ lệ bệnh nhân THA có tăngCholesterol máu là 61,9% [6]
- Nghiên cứu của Cao Mỹ Phương và cộng sự, năm 2005, cho biết tỉ lệ bệnh nhânĐTĐ có THA kèm theo chiếm 55,6% [20]
- Nghiên cứu của Mã Bửu Cầm, năm 2006 tại Bệnh viện Nguyễn Trãi TP.Hồ ChíMinh về thực hành ăn kiêng và kiểm soát cân nặng ở bệnh nhân THA tuổi 40 trở lên, chobiết bệnh nhân nhận biết 3 yếu tố nguy cơ của THA là ăn mặn (83%), béo phì (65,6%),uống rượu (60,7%) [3]
- Nghiên cứu của Trần Thiện Thuần, năm 2007, cho biết hành vi và những yếu tốliên quan đến THA ở người lớn tại TP Hồ chí Minh [25]
- Nghiên cứu của Viên Văn Đoan và cộng sự, năm 2007, theo dõi và điều trị cho5.840 bệnh nhân THA trong vòng 5 năm cho biết có 90,8% bệnh nhân THA được quản lýtốt; 9,2% bệnh nhân chưa được quản lý tốt, trong số bệnh nhân được quản lý tốt có 71,5%bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu và 28,5% bệnh nhân THA chưa đạt được HA mụctiêu [15]
Trang 17- Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng, Bệnh viện đa khoa Tân Thạnh – Long An,năm 2007, khảo sát 1.134 bệnh nhân THA cho biết tỉ lệ các yếu tố nguy cơ tim mạch vàtổn thương cơ quan đích ở BN THA cao tuổi là khá cao: tiền sử gia đình 1,5%, hút thuốc
lá 23,4%, béo phì 13,49%, đái tháo đường 13,23%, tăng cholesterol 50,4%, tăngTriglycerit 51,2%, tăng LDL 54,8%, giảm HDL 14,3%, suy thận mạn là 10,6% [10]
- Nghiên cứu của Trần Cao Minh và Phùng Đức Nhật, năm 2008, truyền thông, giáodục người bệnh là vấn đề then chốt trong kiểm soát THA lâu dài Nên truyền thông quamạng lưới y tế cộng đồng và các phương tiện thông tin đại chúng (truyền hình, phátthanh, báo chí, tờ rơi…) Điều quan trọng để điều trị và kiểm soát THA thành công là lôikéo người bệnh tham gia và tạo mối quan hệ tốt giữa thầy thuốc với bệnh nhân
- Nghiên cứu của Trịnh Quang Trí (2008) tại TP Buôn Ma Thuột, tỉnh DakLak chobiết tỉ lệ THA ở người Ê Đê trưởng thành là 21%, trong đó các yếu tố nguy cơ là tuổi cao,giới tính nam, chỉ số BMI tăng [21]
- Nghiên cứu của Trần Minh Giao, năm 2009, khảo sát 1213 bệnh nhân nội trú tại
Bệnh viện Nhân dân Gia Định, cho biết THA chiếm 13%, do biến chứng của THA là
60,7%, bệnh nhân có tiền căn THA chiếm 97,8%, Các bệnh lý đi kèm gồm đái tháo
đường 2 chiếm 25,8%; bệnh lý mạch vành chiếm 64,4%; rối loạn lipid máu chiếm 61,3%[4]
- Nghiên cứu của Hồ Văn Hải, năm 2009, khảo sát 300 bệnh nhân từ 18 tuổi trởlên đến khám và điều trị tại Trung tâm y tế huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu,cho biết tỉ lệ bệnh nhân THA có các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp được ghi nhận nhưsau: ăn mặn là 81%, không hoạt động thể lực 60%, có uống rượu/bia 55%, hút thuốc lá35%, ăn nhiều dầu mỡ 15% [5].-
1.2.2 Các nghiên cứu trên thế giới:
Nghiên cứu của Lorna Aucott, Amdha Poobalan, W Cairns S Smith và cộng sự,năm 2004, khảo sát hiệu quả giảm cân ở người béo phì mắc bệnh THA tại Anh, cho biếtnếu giảm trung bình 10 kg thể trọng thì sẽ giảm được 4,6 mmHg đối với huyết áp tâm thu(HATT) và 6,0 mmHg đối với huyết áp tâm trương (HATTr) [27]
Trang 18Nghiên cứu của tác giả Janghorbani, Mohsen, Amini và cộng sự, năm 2005, điềutra tỉ lệ THA và các yếu tố nguy cơ liên quan đối với 35.048 nam và 34.576 nữ lứa tuổi từ25-65 tại Iran cho biết tỉ lệ tiền THA là 59,6% ở nam giới, 44,5% ở nữ giới và tỉ lệ THA
là 19,8% ở nam giới và 26,9% ở nữ giới Phân tích đa biến cho thấy béo phì có liên quanvới THA ở cả 2 giới [29]
Nghiên cứu của Lawrence J Beilin và Ian B Puddey, năm 2006, nghiên cứu cắtngang ở Trung Quốc cho biết có mối liên quan giữa uống rượu và nguy cơ THA, ngườiuống nhiều rượu ( 30 lần/tuần) có nguy cơ gấp 2 lần so với người không uống rượu[29]
Nghiên cứu của Midgley J.P, thì những người > 45 tuổi bị THA, trị số huyết áp sẽgiảm 6,3/2,2 mmHg nếu giảm lượng muối Natri 9mmol/ngày [24]
Nghiên cứu của Katz.A., Rosenthal T., Maoz C tại Israel về hiệu quả của chế độmuối khoáng tác động lên HA 24 giờ ở người lớn tuổi THA: Chế độ ăn muối hàng ngàyđược điều chỉnh cho ít Na và tăng K, Mg trong 6 tháng [24]
Khảo sát của WHO năm 2005 cho biết, tại Brazil tỉ lệ béo phì ở nữ là 61%, TrungQuốc 30%, Ấn Độ 22%, Pakistan 31%, Nga 69%, Anh 68% và tỉ lệ béo phì ở nữ nhiềuhơn ở nam Cũng theo WHO (2006), ít nhất 1/6 dân số thế giới bị thừa cân, hơn 300 triệungười lớn béo phì (BMI ≥ 30), 22 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị thừa cân, béo phì [29]
Theo WHO (2007), tại Canada tỉ lệ người lớn hút thuốc là 16,2%, trong đó nam20,3% và nữ 12,8%; tại Mỹ tỉ lệ hút thuốc ở nam là 23,9% và nữ là 18,1%, tỉ lệ người hútthuốc nhiều nhất ở nhóm có trình độ học vấn thấp [29]
1.3 THA và các hành vi nguy cơ có thể tác động được:
1.3.1 THA và BMI
Các yếu tố của THA bao gồm tuổi cao, giới nam, chỉ số khối cơ thể tăng, béobụng, chỉ số vòng bụng/vòng mông tăng, rối loạn đường máu, rối loạn mỡ máu, uốngnhiều rượu, tiền sử gia đình huyết thống có người THA Yếu tố liên quan mạnh nhất đếnTHA là mức độ béo phì THA và các yếu tố nguy cơ , nhất là yếu tố nguy cơ liên quanđến lối sống đã trở thành vấn đề cần giải quyết không chỉ điều trị bằng thuốc để kiểm soát
HA, đồng thời cần phải có hàng loạt các biện pháp trong y tế dự phòng, trong đó truyền
Trang 19thông GDSK nhằm vào các yếu tố nguy cơ về lối sống theo hướng tích cực cho ngườibệnh THA (14)
Chỉ số BMI tăng là một trong những yếu tố nguy cơ tăng bệnh mạch vành vàTHA Nhiều kết quả cho thấy chỉ số BMI có liên quan đến THA ở cả hai giới [4,3,38].Theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự, cùng các nghiên cứu khác cũng khẳngđịnh yếu tố liên quan mạnh đến THA là chỉ số BMI cao [4,9,36]
Tỷ lệ người có BMI ≥25 ở Canada (2007) là 43%, trong đó BMI ≥30 là 11,4%,
tỷ lệ người thừa cân, béo phì ở những người có trình độ học vấn cao, nhiều hơn ở nhữngngười có trình độ học vấn thấp, theo WHO tỷ lệ béo phì ở nữ nhiều hơn ở nam, tỷ lệ béophì ở nữ tại Brazil năm 2005 là 61%, Trung Quốc là 30%, Ấn độ là 22%, pakistan 31%,Nga 69%, Anh 68% [28]
1.3.2 THA và hút thuốc lá
Chất Nicotin có trong thuốc lá tác dụng chính là làm co mạch ngoại biên, tăngnồng độ các chất Serotonin, Catecholamin tại não và tuyến thượng thận Năm 1950,Maslova thực nghiệm trên súc vật thí nghiệm cho thấy Nicotin trong thuốc lá gây THA
Và nghiên cứu trên công nhân ở nhà máy thuốc lá, nơi công nhân phải chịu đựng khói bụi
và khói thuốc lá nhiều cũng nhận thấy tỷ lệ huyết áp tăng cao rõ rệt Cho dù các tác giảvẫn chưa thống nhất chung hút thuốc lá gây THA như thế nào, nhưng tất cả đều cho rằngnhững người đã THA nếu hút thuốc lá chỉ có hại, chỉ số HA tăng lên rõ rệt làm tang nguy
cơ các biến chứng THA
Dù cho hút thuốc lá không là nguyên nhân chính gây THA, nhưng lại là yếu tốnguy cơ quan trọng liên quan đến THA, do nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở người THA
có hút thuốc lá cao hơn so với người THA không hút thuốc lá là 50-60%, trong nhữngtrường hợp thiếu máu cơ tim nguyên nhân từ hút thuốc lá là 25% [25]
Hút thuốc lá gây nên gánh nặng bệnh tật toàn cầu 4,1% và chỉ đứng sau THA(4,5%) Theo WHO (2002), trên toàn thế giới có hơn 1,25 tỉ người hút thuốc lá, trong đónam giới chiếm khoảng 1 tỉ người, riêng Trung Quốc có hơn 300 triệu người hút và nữgiới vào khỏang 250 người Tỷ lệ hút thuốc lá ở các nước đang phát triển khoảng 50% vàcác nước phát triển là 35%
Trang 20Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nam giới hút thuốc lá cao Theo điềutra y tế quốc gia năm 2001- 2002 , tỷ lệ hút thuốc lá nam giới ở nông thôn và thành thịxấp xỉ nhau khoảng 56,1%, tỷ lệ nữ giới hút thuốc lá khoảng 1,8% Nam giới hút thuốc lácao nhất ở nhóm người nghèo và giảm dần khi tăng mức sống [29]
Theo WHO (2007), Canada tỷ lệ người lớn hút thuốc lá 16,2% trong đó nam giới20,3% và nữ 12,8%; tại Mỹ nam 23,9% và nữ 18,1%, tỷ lệ hút thuốc lá nhiều nhất ởnhóm có trình độ học vấn thấp Và theo WHO (2008) tính chung trên toàn thế giới có22% người lớn hút thuốc lá, trong đó tỷ lệ ở nam giới là 36% và nữ là 8%, có khoảng 1/3
số người lớn ở Trung và Tây Âu hiện đang hút thuốc lá [30]
Tỷ lệ hút thuốc lá ở các nước Đông nam Á và các nước thuộc Nam và Bắc Âucũng chiếm tỷ lệ cao Tuy nhiên, gần 2/3 số người hút thuốc lá tập trung ở 10 quốc gia:Banglades, Brazil, Trung Quốc, Đức, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ vàMỹ(31)
1.3.3 THA và uống rượu
Các thực nghiệm cho thấy rằng với khối lượng lớn, rượu có tác dụng co mạch trựctiếp Giảm tiêu thụ rượu xuống dưới 30ml trong ngày, làm giảm HA ở bệnh nhân có điềutrị [4] Mức độ an toàn trong sử dụng rượu bia được đề ra theo những nghiên cứu về cácnguy cơ do rượu bia gây ra cho sức khỏe Ở các nước trên thế giới việc tính toán mức độuống rượu bia dựa vào số đơn vị rượu sử dụng hàng ngày Tùy theo quốc gia, một đơn vịrượu thường có 8-14 gram rượu nguyên chất, hay áp dụng nhất là 1 đơn vị rượu chứa 10gram rượu nguyên chất [31]
Theo WHO (2004 ), ước tính trên toàn thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người đanguống rượu bia, 76,3 triệu người có những rối loạn liên quan đến rượu bia, có mối liênquan giữa uống rượu và 60 loại bệnh tật khác nhau và hằng năm 1,8 triệu người chết dorượu bia Lạm dụng rượu bia gây nên 4% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, chỉ sau sử dụngthuốc lá (4,1%) và THA (4,5%) [31]
Uống rượu bia nhiều là uống quá 3 đơn vị rượu một ngày đối với nam và quá 2đơn vị một ngày đối với nữ hay số lượng mỗi lần uổng là 6 đơn vị trở lên và ít nhất tuần
Trang 21nào cũng uống một lần, kiểu uống rượu này có thể ảnh hưởng cấp tính và mạn tính đốivới người uống [26].
Về mặt lý thuyết, lý tưởng nhất vẫn là không uống nhiều bia, rượu, nếu đã uốngthì theo WHO nên giữ ở mức không quá 3 đơn vị rượu/ngày đối với nam và không quá 2đơn vị rượu/ngày đối với nữ Đối với người Việt Nam, theo Lê Sĩ Liêm, mức độ an toànđối với nam là không quá 2 đơn vị rượu/ngày (20 gram rượu nguyên chất), đối với nữ làkhông quá 1 đơn vị rượu/ngày (10 gram rượu nguyên chất)
Nghiên cứu của Phạm Gia Khải về THA tại Hà Nội năm 2001 cho thấy rượu cóliên quan chặt chẽ với THA ở cả 2 giới [28] Theo nghiên cứu Phạm Hùng Lực, Lê ThếThự 1999-2000 [13] và một số nghiên cứu cho có liên quan giữa THA và thói quen uốngrượu [26]
Tỷ lệ uống rượu ở mức nguy cơ cao (> 4 đơn vị rượu/ngày) trong quần thể ngườidân các tỉnh Thái Bình, Hà Nội, Nghệ An, Thái Nguyên (2002) ở nam giới là 5,6%, ở nữgiới là 0,07% Tỷ lệ uống rượu chung trong cộng đồng các tỉnh nêu trên là 32,8%, ở namgiới là 73,5%, ở nữ giới là 7,2% Tỷ lệ uống dường như giảm dần theo tuổi ở nam giới vàtăng dần ở nữ giới nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê, uống rượu nhiều chiếm tỷ
lệ cao nhất ở giới tuổi từ 35- 44 (7,8%) Tỷ lệ nam giới uống rượu theo các mức lần là:uống nhiều (5,6%), uống vừa phải (35,6%), uống ít (32,3%) và không (26,5%) [26].Theo kết quả điều tra y tế quốc gia năm 2002, tỷ lệ nam giới từ 15 tuổi trở lên uống rượubia từ 1 lần trở lên trong một tuần là 46% và chỉ 2% đối với nữ; 53% hộ gia đình có ítnhất một người uống bia rượu trong tuần qua; nam giới uống rượu là những người làmcông tác lãnh đạo, quản lý là 69%, nhân viên văn phòng là 67%, người dân tộc thiểu sốuống rượu nhiều hơn người Kinh [26]
Vào năm 2002, 55% người lớn ở Mỹ hiện đang uống bia, rượu, 45% hoàn toànkhông uống rượu, so với những thập kỷ trước, tỷ lệ người lớn uống rượu ngày cànggiảm Theo nghiên cứu INTERSALT thực hiện ở 50 trung tâm trên thế giới, với 4.844nam và 4.837 nữ tuổi từ 20-59, kết luận rằng uống có tác dụng cấp tính và mạn tính đếntình trạng THA và có mối liên giữa THA với những người uống 3-4 đơn vị rượu có mỗi
Trang 22ngày và tình trạng THA do uống rượu không ảnh hưởng bởi các yếu tố như hút thuốc lá,cũng như Na+, K+ trong chế độ ăn và BMI [37].
1.3.4 THA và ăn mặn
Thành phần chính của muối là NaCl, 1 gram muối (NaCl) tương đương với 17,lmmol Na+ (393,4 mg natri) Natri trong chế độ ăn có từ 2 nguồn, đó là nguồn có sẵntrong thực phẩm và nguồn cho thêm vào thức ăn trong quá trình chế biến (phần này phụthuộc vào từng người) Theo một số tác giả, một chế độ ăn không cho thêm muối cũng đãcung cấp 1,6 gram Na+, tương đương 4.1gram muối ăn Natri là ion ngoại bào có chứcnăng cân bằng lượng dịch của cơ thể, sinh lý người bình thường mỗi ngày cần 8-10mmol Na+/ngày (6184 - 230 mg natri) và hầu hết việc thải trừ Na+ qua nước tiểu Cónhiều phương pháp được sử dụng để ước tính lượng muối tiêu thụ hằng ngày như khảosát chế độ ăn, điều tra khẩu phần và định lượng Na+ niệu Trong đó việc định lượng Na+niệu trong 24 giờ được xem là tiêu chuẩn vàng để đo lường lượng Na+ đưa vào cơ thể vìnước tiểu có biểu thị chính xác 85- 90% lượng natri đưa vào cơ thể, cách đo lường này
có điểm thuận lợi là không bị sai lệch bời phỏng vấn hoặc thu thập số liệu qua điều tra,nhưng tốn kém và tương đối khó thực hiện [15].Theo nhóm nghiên cứu về muối(InterSalt Cooperative Research Group) (1988) thu thập nước tiểu trong 24 giờ ở 10.079người thuộc 52 quần thể ở 32 nước khác nhau Kết quả cho thấy hơn 50% nam có mức
sử dụng Na+ từ 150-199 mmol/ngày và hơn 50% nữ có mức tiêu thụ Na+ từ 100- 149mmol/ngày tức là số muối sử dụng hàng ngày ở nam gấp 20 lần nhu cầu thực tế; nữ gấpkhoảng 15 lần nhu cầu thực tế của cơ thể [15] Một nghiên cứu khác ( Stamler và cộng
sự, 2003) ở Trung Quốc, Nhật Bản, Anh và Mỹ cho thấy lượng muối tiêu thụ thông qualượng nước tiểu 24 giờ ở Trung Quốc cao hơn hẳn các nước khác [35]
Một số nghiên cứu DTH và nghiên cứu văn hoá theo chiều ngang, cho thấy có sựkhẳng định mạnh mẽ là lượng muối ăn hàng ngày quá cao là một nguyên nhân gây THAtrong quần thể Theo nghiên cứu INTERSALT cũng cho thấy có sự liên quan tuyến tính
và có ý nghĩa giữa bài tiết muối natri và HATT và nghiên cứu đã kết luận rằng thói quen
ăn mặn là nguy cơ của THA
Trang 23Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn nhiều muối (> 14gram/ngày) sẽ gây THA trongkhi ăn ít muối (dưới lgram/ngày) gây giảm HA động mạch, ảnh hưởng ở việc giảm ở mức
độ trung bình lượng muối trong chế độ ăn từ 5gram đến 2,5 gram/ngày vẫn còn đang bànluận Theo WHO nên ăn dưới 6 gram/ ngày Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày
là một trong những biện pháp để phòng ngừa THA và là cách điều trị mà không phải dùngthuốc Các nhà dịch tễ học tính toán rằng nếu dân số toàn thế giới ăn trung bình 6 grammuối/ngày thì sẽ làm giảm HATT 5mmHg Do đó sẽ giảm 24% đột quỵ, giảm 18% nguy
cơ bệnh mạch vành và hàng năm giảm 2,5 triệu người chết do các bệnh mạch vành và độtquỵ Cho đến nay hơn 50 thử nghiệm lâm sàng trên thế giới đã kết luận rằng giảm lượngmuối đưa vào cơ thể có tác dụng làm giảm huyết áp
Các tác giả cũng đã nghiên cứu các yếu tố đe dọa gây THA và ăn mặn là mộttrong những yếu tố gây bệnh quan trọng [15]
Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy người dân Mỹ ngày càng có xu hướng sử dụng nhiềumuối trong chế độ ăn so với cách đây 20-30 năm, vào 1970 một người trung bình tiêu thụ
6 gram muối/ngày, năm 2002 tiêu thụ 8,5 gram và 2005 tiêu thụ 10,5 gram Một khảo sátdựa vào phiếu điều tra tại Pháp (2000) ở 1.985 đối tượng từ 15 tuổi trở lên cho biết lượngmuối mỗi người tiêu thụ hàng ngày là 9 gram
Người dân Bắc Nhật Bản dùng 25-30 g muối/ngày và 40% dân số ở đây bị THA.Trong khi đó dân miền Nam chỉ ăn 10 g muối, tỷ lệ mắc bệnh là 20% Người Eskimô vàvài bộ lạc châu Phi rất ít bị THA do thói quen ăn nhạt [30]
Những nghiên cứu trong nước cho thấy rằng những vùng ven biển ăn “mặn có tỷ
lệ THA cao rõ hơn ở vùng đồng bằng và miền núi Nghiên cứu của Đỗ Trinh và cộng sự(1989-1992) về dịch tễ học của THA ở Việt Nam; so sánh 1.128 người ăn mặn THA cao
rõ rệt hơn nhóm những người bình thường Vì vậy tác động của chế độ ăn mặn gây ra THA ở nước ta có thể là nguyên nhân có ý nghĩa [20] Nhiều nghiên cứu trong nước khác
cũng chứng minh mối tương quan giữa những người có thói quen ăn mặn và THA [16]
Theo điều tra của Viện Dinh Dưỡng lượng muối ăn trung bình mỗi ngày ở ngườiNghệ An là 14g, ở Thừa Thiên Huế 13gram Tỷ lệ THA ở hai địa phương này là 18% Ở
Hà Nội, người dân ăn mỗi ngày 9 gram muối, tỷ lệ mắc bệnh là 11% [21]
Trang 24Có nhiều nghiên cứu chứng minh sự tương quan giữa ăn mặn và THA; theonghiên cứu INTERSALT cũng như nhiều nghiên cứu khác cho thấy lượng muối tiêu thụtrung bình hàng ngày gấp 5-20 lần nhu cầu thực của cơ thể Do vậy giảm lượng muốitrong chế độ ăn hàng ngày có vai trò quan trọng trong việc phòng chống bệnh tật màkhông cần dùng thuốc Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã đưa ra những khuyến cáo vềlượng muối tiêu thụ hàng ngày Các nước Brasil, Singapo, Australia, NewZealandkhuyến cáo nên ăn <5gram; Canada < 6 gram; Nhật Bản <8 zram Cơ quan tiêu chuẩnthực phẩm Anh (The UK Food Standards Agency) đưa ra kế hoạch giảm lượng muối tiêuthụ trong dân chúng xuống còn 6 ỉxam/ngày vào năm 2010 Luật y tế cộng đồng Pháp(2004) đã phê duyệt mục tiêu giảm lượng muối tiêu thụ xuống còn 8 gram/ngày Theonghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự (2001- 2002) cho thấy việc phỏng vấn thóiquen ăn mặn và định lượng Na+ niệu trong 24 giờ thấy không có sự tương quan Vì vậyviệc hỏi thói quen ăn mặn qua phỏng vấn có thể có nhiều sai lệch [24]
1.3.5 THA và ăn nhiều chất béo:
Chế độ ăn nhiều mỡ động vật là nguy cơ trực tiếp của các bệnh tim Nhiều nghiêncứu quan sát và các thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác động của chất béo bão hòa đến
HA cho thấy sự tương quan này là không rõ [21] Tuy nhiên, nhiều tài liệu khoa học kháckhuyến cáo không nên ăn mỡ động vật và hàm lượng chất béo bão hoà sử dụng hàngngày nên dưới 10% năng lượng nhu cầu của cơ thể Chế độ ăn phụ thuộc nhiều vào điềukiện kinh tế, thu nhập thói quen ăn uống, chưa có nhiều thông tin về tỷ lệ người có thóiquen ăn nhiều mỡ động vật ở những nghiên cứu trước đây tại Việt Nam
1.3.6 THA và vận động thể lực
Theo WHO, hoạt động thể lực bao gồm 4 thành phần: tập thể dục; thể thao; côngviệc chân tay; đi lại bằng phương tiện không có động cơ và một số việc nhà như gánhnước, kiếm củi, cuốc đất, đòi hỏi hoạt động thể lực cao Đối với các nước đang pháttriển, tập thể dục thể thao để duy trì sức khỏe chưa phải quan trọng trong khi đa phần dân
số là người lao động chân tay, nhưng đối với những người có nghề văn phòng, dịch vụ,người trên tuổi lao động thì tập thể dục thể thao trở thành quan trọng để duy trì sức khoẻ
và phòng các bệnh không lây nhiễm Đối với trẻ em và thanh niên, việc bước vào tuổi
Trang 25trưởng thành với các thói quen tốt như tập thể dục đóng góp nhiều vào việc sống lâu vàsống khoẻ Chưa có số liệu chính xác là có bao nhiêu người tập thể dục thể thao thườngxuyên trên thế giới Những nghiên cứu cho thấy người Mỹ có xu hướng ít hoạt động thểlực, 25% người Mỹ trưởng thành (2002) không tham gia bất cứ hoạt động thể lực nàotrong khi rảnh rỗi [31].Theo WHO (2000) Indonesia, Thái Lan thuộc nhóm quốc gia cókhoảng 15% người hoàn toàn không hoạt động thể lực, không hoạt động thể lực ở đâybao gồm những người không tập thể dục thể thao, thuộc những người làm bàn giấy, đi lạibằng phương tiện có động cơ Tỷ lệ này ở Malaysia, Philippine và Việt Nam là 16% Tỷ
lệ không hoạt động thể lực ở nữ giới nhiều hơn ở nam [23] Cũng theo (WHO)(2006)hơn 60% dân số thế giới tĩnh tại ít hoạt động (sedentary) hay hoạt động không đủ đểnâng cao sức khoẻ [32]
Có nhiều định nghĩa khác nhau về mức hoạt động thể lực khi điều tra trong cộngđồng, ví dụ như vận dụng theo cách tính quy đổi từ đi bộ:
- Người hoạt động mạnh: Ngoài các hoạt động bình thường trong ngày bao gồm cáchoạt động thể lực tương đương với đi bộ hơn 5 km/ngày với tốc độ 5-7 km/giờ Ở mộtngười nặng khoảng 70kg, năng lượng tiêu thụ khi hoạt động mạnh là từ 440-590kcal/giờ(những hoạt động thể lực mạnh đi bộ nhanh 5-7km/giờ, tập Aerobic, bơi, chạy bộ, đi xeđạp nhanh giờ; cuốc đất, chặt đốn củi Mức tiêu thụ năng lượng của những mạnh gấp 1,5-
2 lần mức hoạt động thể lực trung bình
- Người hoạt động vừa phải: Ngoài các hoạt động bình thường này, bao gồm cáchoạt động thể lực tương đương với đi bộ 3- bày với tốc độ 5-7 km/giờ mức tiêu thụ nănglượng đối với những hoạt động thể lực trung bình khoảng 80-370 kcal/giờ (những hoạtđộng thể lực trung bình như đi bộ 5km/giờ; đi xe đạp <15km/giờ; làm vườn nhẹ, vũ, chơigolf )
- Hoạt động thể lực ít: bằng các hoạt động trong sinh hoạt binh hàng ngày, tự phục
vụ sinh hoat cá nhân, không làm công việc nhà và di chuyển bằng xe có động cơ [33]
1.4 THA và các yếu tố ảnh hưởng không tác động được:
1.4.1 Yếu tố cơ địa:
+ Tuổi:
Trang 26Tuổi càng cao thì nguy cơ thành mạch xơ cứng ngày càng nhiều Mối liên quangiữa tuổi và THA đã được xác định qua nhiều nghiên cứu cắt ngang, thường thì sau mỗithập niên gia tăng tuổi thì HA tăng khoảng vài mmHg Sự tăng huyết áp này không chỉđơn thuần là do biến đổi sinh lý của mạch mà còn do sự tăng tuổi đi kèm với sự chịu ảnhhưởng của môi trường với thời gian lâu hơn [15] Theo WHO có thể tính khái quát: ởtuổi 35 cứ 10 người có 1 người THA, lứa tuổi 45 thì 7 người có 1 người THA, quá 65 thì
3 người có 1 người THA
Nghiên cứu trên 160.000 người Mỹ (năm 1977) cho thấy những người da đen có
tỷ lệ THA cao hơn người da trắng Theo kết quả nghiên cứu của tác tiả người Mỹ:Andrew Moran, Ana V Diez Roux năm 2007 với cở mẫu 6814 người trên 18 tuổi thìchủng tộc có liên quan đến THA; Châu Á và Châu Phi ti lệ THA thấp hơn Châu Mỹ [37].Một nghiên cứu khác ở Mỹ (2005) của tác giả Robin P Herbs, Alan N Unger ở người trên
20 tuổi : Mỹ da đen THA với tỷ lệ 35,8 - 41,4%, Mỹ da trắng THA 24,3 - 28,1% Cácnghiên cứu của nhiều tác giả trong nước ở các dân tộc thiểu số cũng khác nhau như: ĐàoDuy An (2002 K.om Tum) (12,54%); Cao thị Yến Thanh (2005 Đăk Lăk)(15,96%)Quang Trí (2008 Đăk Lăk)(21,l%)
1.4.2 Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình:
Một số nghiên cứu cho rằng vai trò của di truyền chi phối khoảng 30-40%, vai trò
di truyền thấy rõ hơn khi theo dõi huyết áp của các cặp song sinh cùng trứng so sánh vớihuyết áp của các cặp song sinh khác trứng Tính di truvền được xác định trong THAthông qua các nghiên cứu di truyền quần thể, nghiên cứu trên trẻ sinh đôi cũng như cácphân tích đa hệ [15]
- Tần suất THA cao từ 2 - 7 lần ở người có bố hoặc mẹ bị THA so với quần thể chung
Trang 27- Khả năng THA ở trẻ có bố và mẹ THA sẽ cao hơn trẻ chỉ có bố bị THA.
- Có sự tương quan về THA ở trẻ sinh đôi cùng trứng
- Di truyền có thể do đa yếu tố, có sự tác động của yếu tố môi trường, do một số khuyếttật gen hoặc sự biến đổi gen gây hậu quả THA [15]
1.4.3 THA và các biến chứng có liên quan:
Nguy cơ của THA đã được xác định từ những nghiên cứu dịch tễ học nghiên cứutiền cứu cộng tác (2002) lấy số liệu từ 958.074 người tham gia của 61 nghiên cứu tiềncứu về huyết áp và tỷ lệ tử vong Qua 12 năm, có trường hợp tử vong được quy cho độtquỵ; 32.283 trường hợp được quy cho thiếu máu cơ tim cục bộ; 10.092 được quy chonguyên nhân mạch khác và 60.797 trường hợp tử vong quy cho nguyên nhân không phảimáu Tỷ lệ tử vong ở mỗi thập niên có liên quan với huyết áp ước tính ở đầu thập niên
đó Từ 40 - 69 tuổi cứ huyết áp tăng 20mmHg hay huyết áp tâm trương tăng 10 mmHg
có liên quan tăng gấp đôi tỷ lệ tử vong do bệnh tim thiếu máu cục bộ và tăng hơn gấp đôi
tử vong do đột quỵ [15]
Nghiên cứu từ những thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng về điều trịTHA cho biết giảm huyết áp từ 10-15 mmHg sẽ làm giảm một phần ba các tai biến mạchvành và tử vong do tim mạch qua 5 năm theo dõi Sự giảm bệnh tật và tử vong này có
ảnh huởng rất lớn đến từng cá nhân, nhân viên y tế và toàn xã hội THA thường kết hợp
với bệnh mạch vành, bệnh máu não, suy tim sung huyết và tử vong sớm Ngoài ra, THAcũng kết hợp với suy thận, bệnh mạch máu ngoại biên, phình động mạch chủ, sa sút trítuệ, rung nhĩ và rối loạn cương THA là yếu tố nguy cơ hàng đầu cho đột qụy nguy cơtương đối 7.0 (so với 3,7 cho rung nhĩ và 4,4 cho phì đại thất trái) Ảnh hưởng của THAnhư là nguyên nhân của một số bệnh lý chính được kê ở bảng sau
Trang 28Nghiên cứu Framingham, khảo sát 350.000 đàn ông Hoa Kỳ với nhiều yếu tốnguy cơ bệnh mạch vành cho biết có sự liên kết giữa THA và nguy cơ tử vong do bệnhmạch vành đồng thời có mối liên hệ giữa mức độ huyết áp và nguy cơ mang tính liên tục
và thứ bậc, và HATT có ảnh hưởng hơn là HATTr
Trong các nghiên cứu gần đây cũng cho biết, THA tâm thu và tâm xương đều lànhững yếu tố nguy cơ cho bệnh mạch vành và đột qụy, nguy cơ của HATT lớn hơn so vớiHATTr Ở độ tuổi trên 50, HATT (>140mmHg) là được xem là yếu tố nguy cơ cho bệnhtim mạch lớn hơn HATTr
Ở các nước phương Tây, độ cứng của các động mạch lớn gia tăng theo tuổi, dẫnđến sự giảm độ đàn hồi của mạch máu, là yếu tố duy trì HATTr Từ trung niên trở đi,HATT tiêp tục gia tăng trong khi HATTr lại giảm HATT tăng trong khi HATTr thấp hoặcbình thường được gọi là tăng áp tâm thu đon thuần và đưa đến tăng áp lực mạch (HATTtrừ cho HATTr)
Gần đây người ta nhận thấy THA tâm thu đơn thuần làm tăng nguy cơ hơn chobệnh nhân, đặc biệt là đột qụy Hơn nữa, áp lực mạch tăng là yếu tố dự báo có giá trịnguy cơ bệnh mạch vành Những nguyên nhân có thể có nguy cơ bị THA tâm thu đơnthuần bao gồm gia tăng lực tải, một phần do duy trì một áp lực mạch rộng Các độngmạch đàn hồi cũng có thể có vai trò làm giảm sự tăng áp lực mạch Các động mạch bị xơcứng hơn tạo ra một sóng dội, là sóng làm tăng tải tâm thu của tim [1]
Mối quan hệ giữa nguy cơ và HATTr phức tạp hơn Kết quả nghiên cứu củaFramingham gợi ý rằng HATTr là yếu tố dự báo tốt nhất cho nguy cơ mạch vành ởnhững người dưới 50; Ở độ tuổi 50 - 60 HATT và HATTr dự báo tương đương nhau;Trên 60 tuổi HATT và áp lực mạch có ý nghĩa Do đó, cả huyết áp tâm thu và tâm trươngnên được xem xét cẩn thận khi đánh giá nguy cơ tim mạch trên một bệnh nhân Trong khiTHA tâm thu đơn hay gặp thì ít thấy sự hiện diện của THA tâm trương đơn thuần [15],[17]
Người ta cũng nhận thấy mối liên quan tương tự giữa mức huyết áp và tim mạch ở
8 nước Châu Á Thái Bình Dương Mối liên quan mạnh với đột quỵ và yếu đối với mạchvành so với các nước phương tây [15]
Trang 302.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Tháng 2 và 3 năm 2012 tại Trung tâm phòng chống chấn thương và bệnh không lây của Viện
Vệ sinh – Y tế công cộng TP Hồ Chí Minh
2.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Dân số nghiên cứu: Người trưởng thành (≥18 tuổi) đến tầm soát bệnh mạn tính tạiTrung tâm phòng chống chấn thương và bệnh không lây trong thời gian nghiên cứu
- Dân số chọn mẫu: Toàn bộ người trưởng thành (≥18 tuổi) đến tầm soát bệnh mạn tínhtại Trung tâm phòng chống chấn thương và bệnh không lây trong thời gian nghiên cứu
Người trưởng thành (≥18 tuổi)
Đến khám tầm soát và đồng ý tham gia nghiên cứu
2.5.2 Tiêu chí loại ra: Đối tượng được loại ra khi có một trong những tiêu chí sau đây:
Có dị tật hay tàn tật ảnh hưởng cân đo
Đang sử dụng thuốc có ảnh hưởng đến huyết áp
Đang mang thai
Không đi đứng được, không tiếp xúc như người bình thường (tâm thần, bịTBMMN)
Trang 31Tôn giáo: biến số định danh, có 2 giá trị:
Có: có theo một tôn giáo nào đó
Không: Không theo một tôn giáo nào
Tình trạng học vấn: biến số thứ tự, theo cấp học cao nhất của đối tương nghiên cứu đã
hoàn thành hoặc đang theo học
Cấp 1 trở lại
Cấp 2
Cấp 3 trở lên
Nghề nghiệp: biến số định danh, công việc chính của đối tượng nghiên cứu trong 12
tháng trở lại đây, có 3 giá trị:
- Lao động chân tay:
o Lao động tự do: thợ hồ, phụ việc nhà, phục vụ quán ăn uống, phụ hay buônbán nhỏ lẻ, chăn nuôi gia súc gia cầm, chăn nuôi thủy hải sản
o Công nhân lao động sản xuất tại các nhà máy, xí nghiệp, công trình
o Nông dân làm ruộng , làm rẫy
- Lao động trí óc:
Trang 32o Cán bộ công nhân viên chức nhà nước đang làm việc như nhà giáo, viên chứchành chính, nhân viên y tế ( trừ hộ lý).
o Cán bộ công nhân viên làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp
o Các công nhân lao động làm công tác hành chính
Trị số huyết áp tâm thu: biến số liên tục
Huyết áp tâm thu là trị số huyêt áp đo đưuợc khi nghe tiếng Korokoff đầu tiên với tư thếngồi, cánh tay để ngang tim, các bước chuẩn bị đây đủ theo hướng dẫn Việc đo huyết ápđược thực hiện nhiều lần nên trĩ số huyết áp là số trung bình cộng cả các lần đo
Trị số huyết áp tâm trương: biến số liên tục
Huyết áp tâm trương là trị số huyết áp đo được khi nghe tiếng Korokoff cuối cùng, sau đócác tiếng đập biến mất
Tăng huyết áp (THA) biến số định danh, có 02 giá trị là không và có
Có: HATT ≥ 140 mmHg, và/hoặc HATTr ≥ 90 mmHg
Không: HATT ≤ 140mmHg và HATTr ≤ 90 mmHg
2.6.1.2 Biến số thể chất: