Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học này quý thầy cô sẽ có nguồn tài liệu tham khảo hay, củng cố xây dựng phương pháp dạy hiệu quả, qua đó giúp các em học sinh tiếp thu bài tốt, nắm vững kiến thức phát triển tư duy trí tuệ. Sáng kiến kinh nghiệm tiểu học tập hợp các đề tài đa dạng mang tính ứng dụng cao như ứng dụng công nghệ thông tin trong trường học
Trang 11 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn sáng kiến
Đất nước ta đang bước vào thời kì đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế Để đáp ứng yêu cầu phát triển của thời đại mới, thực hiện thắng lợi sự nghiệp
“Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá” đất nước đòi hỏi những con người năng động, sáng tạo, tự chủ, tự tin, có đầy đủ tri thức, dám nghĩ dám làm để làm chủ đất nước Chính vì thế, Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI)
đã đặt ra: "Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế".
Giao tiếp là nhu cầu đặc biệt hằng ngày và rất quan trọng của mỗi con người Dù bạn ở trong hoàn cảnh nào, làm việc gì thì để đạt được mục tiêu của mình đòi hỏi bạn phải có giao tiếp Khả năng giao tiếp của bạn phụ thuộc vào các
kĩ năng sử dụng Tiếng Việt của chính bản thân bạn Ở nước ta, Tiếng Việt là môn học rất quan trọng của bậc Tiểu học, làm nền móng để học tốt các môn học khác
và là tiền đề tạo nên cơ sở vững chắc cho nền giáo dục của nước nhà Nhận thức
rõ tầm quan trọng của môn Tiếng Việt đối với nền giáo dục của nước nhà nên môn học Tiếng Việt Một được đổi mới cho phù hợp với xu thế phát triển của nền giáo dục
Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm trong công tác đổi mới giáo dục Do vậy, kiểu dạy học thầy giảng - trò ghi nhớ trở nên lạc hậu, không còn đáp ứng được nhu cầu của nền sản xuất và sự tiến bộ khoa học công nghệ Giáo dục đứng trước sức ép phải đổi mới, nhiều phương án dạy học đã ra đời, như: dạy học chương trình hóa, nêu vấn đề, dạy học tình huống,… Trong đó, công nghệ dạy học (CNDH) là một chiến lược dạy học đang dần xác định và chiếm ưu thế Dạy học theo chương trình Công nghệ giáo dục là kiểu dạy
mà trẻ em không phải là đối tượng chịu sự tác động của giáo dục một cách thụ động, mà là một chủ thể hoạt động để tự sinh ra mình, trẻ em hoạt động để tự tạo
ra sản phẩm giáo dục, để trở thành cá thể người, một thành viên của xã hội có thể sống và hoạt động có kết quả trong xã hội hiện đại Cũng như các năm học trước, năm học 2018 – 2019, việc dạy Tiếng Việt theo Công nghệ giáo dục được áp dụng trong toàn tỉnh Quảng Bình Thực hiện dạy tốt chương trình TV1 CGD 1 là thực hiện tốt việc đổi mới căn bản và toàn diện Giáo dục- Đào tạo Để góp phần nâng cao chất lượng của việc dạy học TV1 CGD, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu
“Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt 1 CGD”
1.2 Điểm mới của sáng kiến
Trang 2Thực tế có nhiều công trình nghiên cứu về việc học công nghệ Tiếng Việt 1 của Giáo sư Hồ Ngọc Đại Tuy nhiên nó chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu điểm giống nhau và khác nhau giữa chương trình Tiếng Việt hiện hành và chương trình Tiếng Việt Công Nghệ, nghiên cứu ưu thế của việc dạy Tiếng Việt Công Nghệ chứ chưa đưa ra được biện pháp cụ thể để giúp đỡ học sinh
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm đưa ra các giải pháp trong dạy học khơi dậy sự tò mò, sáng tạo, chủ động của học sinh Từ đó giúp các em từng bước tự điều chỉnh chính mình trong việc tự tìm tòi khám phá tri thức chứ không ai có thể làm thay được, khơi dậy lòng yêu thích học Tiếng Việt trong học sinh, giúp các
em mạnh dạn trong học tập và khả năng sáng tạo và học tốt môn CGD 1 Đồng thời sáng kiến cũng đưa ra một số phương pháp giúp GV và HS vận dụng và thực hiện tốt việc dạy và học Tiếng Việt CGD
1.3 Phạm vi áp dụng của sáng kiến
Nghiên cứu sáng kiến, tôi không có nhiều tham vọng mà chỉ nhằm mục đích đóng góp một phần công sức của mình để có những biện pháp hữu hiệu, bài học kinh nghiệm để có thể áp dụng vào thực tiễn dạy học TV1 CGD ở trường nói riêng và giáo dục huyện nhà nói chung Điều này càng có ý nghĩa nếu đề tài thành công, chất lượng dạy học được nâng cao đáp ứng với định hướng đổi mới giáo dục hiện nay
Đề tài này nghiên cứu chương trình và nguyên tắc xây dựng chương trình Tiếng Việt CGD Qua đó đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học TV1 CGD theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh Đây là nội dung mới được đưa vào dạy học trong năm học này nên tôi chỉ mạnh dạn nghiên cứu,
áp dụng tại lớp 1 nơi tôi đang công tác
2 PHẦN NỘI DUNG 2.1 Thực trạng của của dạy học môn Tiếng Việt 1 Công nghệ giáo dục 2.1.1 Thuận lợi
Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Quảng Ninh đã triển khai kịp thời các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện chương trình Tiếng Việt 1 - CGD đến các trường tiểu học trong huyện Đồng thời tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý và giáo viên về phương pháp dạy học Tiếng Việt 1 - CGD
Ban giám hiệu nhà trường đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và giành nhiều thời gian dự giờ, rút kinh nghiệm, giúp giáo viên tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình dạy học
Cơ sở vật chất của nhà trường ngày một khang trang, đội ngũ giáo viên có năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và có tinh thần trách nhiệm cao
Trang 3Học sinh chăm ngoan, lễ phép và có ý thức học tập tốt Đa số phụ huynh luôn quan tâm đến việc học tập của con em và đồng thuận với các hoạt động dạy học của nhà trường
Sau 3 năm khi thực hiện chương trình tôi nhận thấy việc dạy học TV1 CGD giúp học sinh nâng cao kĩ năng đọc, viết; học sinh nắm được luật chính tả, nhận biết và phân tích được cấu tạo của tiếng, từ, giúp học sinh khắc sâu kiến thức ngữ âm Bên cạnh đó chương trình còn tạo được sự chuyển biến khá tích cực đối với giáo viên và học sinh Với học sinh, các em nghe – hiểu được lệnh, hiểu được lời nói của giáo viên, giúp học sinh tự tin hơn trong học tập, nâng cao kĩ năng giao tiếp cho các em Riêng với giáo viên dạy TV1 CGD không phải soạn bài nên có nhiều thời gian để quan tâm đến học sinh hơn, có thời gian nghiên cứu tài liệu để tổ chức thực hiện tốt hơn hoạt động dạy học
2.1.2 Khó khăn
Chương trình Tiếng Việt 1- CGD dạy bản chất ngữ âm tiếng Việt Hệ thống ngữ âm tiếng Việt đa dạng về nội dung nên giáo viên cần nhiều thời gian để nghiên cứu
Chương trình này còn nhiều bỡ ngỡ với học sinh lớp 1 Ngay bài đầu tiên, nhiều học sinh chưa biết chữ cái nhưng đã phải viết chính tả Trong quá trình học, các em còn phải phân biệt được các mẫu bài, dạng bài, biết tiếng có âm đầu, tiếng
có âm chính, tiếng có âm đệm, âm cuối… Trước đây, học hết 8 tuần, các em thuộc bảng chữ cái và có thể ghép vần thành âm, tiếng Nay, hết 6 tuần, học sinh đã phải đọc những bài dài tới 50 tiếng Cụ thể: Khi dạy bài "Âm /tr/ sách Tiếng Việt CGD tập 1 trang 60, 61 học sinh phải đọc tới 50 tiếng chưa kể đọc 7 phụ âm ở cuối trang Bài đầu tiên của phần vần có âm đệm và âm chính sách Tiếng Việt CNGD tập 2 trang 8, 9 học sinh phải đọc tới 65 tiếng Chưa nói đến những bài tập đọc ở phần sau tập 3 quá dài, dài hơn những bài tập đọc lớp 2 chương trình hiện hành….Do đó một số em tiếp thu bài khó, bị đuối sức khi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ học tập
Phương pháp dạy học môn Tiếng Việt 1 - CGD là sự phối hợp giữa phương pháp dạy học hiện đại và truyền thống, tuy nhiên, trong quá trình dạy, đôi khi giáo viên quá tập trung đến việc truyền thụ kiến thức mà quên đi việc tổ chức các hoạt động gây hứng thú, thu hút học sinh
Trình độ phát triển tư duy của học sinh không đồng đều, các em chưa mạnh dạn bày tỏ ý kiến của mình cho người khác nghe, khi trả lời còn lúng túng Bên cạnh đó một số em còn quên chữ cái nên gặp khó khăn trong việc đọc và nghe viết Do ảnh hưởng của chương trình hiện hành nên học sinh còn nhầm lẫn trong cách phát âm, vần như: r/d/gi; uông, ua, iêng; của/quả
Trang 4Các bộ phận của bộ máy phát âm chưa hoàn thiện nên học sinh lớp một thường phát âm sai các âm cơ bản như: p (pờ) phát âm sai là (bờ), ph (phờ) phát
âm sai là (hờ) ; phát âm lẫn lộn giữa các âm: ch- tr, s - x, r - g, v- b,t - c Đặc điểm phương ngữ nên nhiều em phát âm sai giữa tiếng có thanh hỏi và thanh ngã
Do ảnh hưởng của dư luận trái chiều nên một số phụ huynh còn hoang mang, chưa thật sự tin vào chương trình Tiếng Việt 1 – CGD Đa số phụ huynh còn lúng túng trong việc hướng dẫn con em đánh vần, phát âm nên gây khó khăn cho việc học và dạy trên lớp
2.1.3 Nguyên nhân
Từ những nội dung được tìm hiểu trên, ta có thể thấy nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng dạy học TV1 CGD đó là:
- Một số phụ huynh quan tâm rèn thêm cho học sinh ở nhà nhưng không đúng với phương pháp của thiết kế, khiến giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh
- Sự tham gia học tập không chuyên cần của học sinh trong năm đều gặp khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức và theo kịp chương trình
2.2 Các biện pháp dạy học TV1 CNGD
2.2.1 Giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình, phương pháp dạy học Công nghệ giáo dục.
Giáo viên cần nắm được quan điểm, mục tiêu, biện pháp dạy học cơ bản của chương trình Dạy Công nghệ giáo dục, giáo viên không soạn bài nhưng phải dành nhiều thời gian nghiên cứu kĩ thiết kế để nắm được mục tiêu và từng việc cần phải làm trên lớp, hiểu rõ ý đồ sách thiết kế, thực hiện đúng quy trình 4 việc của tiết dạy
Căn cứ vào khung chương trình quy chuẩn về thời gian, dung lượng kiến thức và mục tiêu chung của phân môn TV1 CGD chia làm 37 tuần (10 tiết/tuần), bao gồm:
Phần chuẩn bị: Tuần 0 ( 2 tuần) học cách làm việc
Học kỳ I: Tuần 1 đến tuần 17 (học phần âm và vần)
Học kỳ II: Tuần 18 đến tuần 35 (tiếp tục học vần, nguyên âm đôi và luyện tập tổng hợp)
Phương pháp thực hiện chương trình
Phương pháp Mẫu: Lập mẫu, sử dụng mẫu
Phương pháp Việc làm là phương pháp dạy học hoàn toàn mới, xây dựng trên cơ sở sự hợp tác mới giữa thầy và trò Trong đó, thầy tổ chức việc học của trò thông qua những việc làm cụ thể và những thao tác chuẩn xác do các em tự làm lấy
Trang 5Công nghệ giáo dục cũng dung nạp một số phương pháp truyền thống như: Nêu vấn đề, trực quan, vấn đáp coi đó như những hình thức, thủ pháp dạy học nằm trong hệ thống của mình
Quy trình dạy học gồm 3 loại:
Loại 1 : Tiết Lập mẫu: Gồm 4 việc
Việc 1: Chiếm lĩnh ngữ âm (chiếm lĩnh đối tượng)
Việc 2: Viết
Việc 3: Đọc
Việc 4: Viết chính tả
Loại 2: Tiết Dùng mẫu
Quy trình tiết Dùng mẫu giống quy trình của tiết Lập mẫu Chủ yếu là tổ chức cho học sinh luyện tập với vật liệu khác trên cùng một chất liệu với tiết Lập mẫu Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với giáo viên là phải nắm chắc quy trình tiết Lập mẫu, chủ động, linh hoạt trong quá trình tổ chức tiết học sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh
Loại 3: Tiết Luyện tập tổng hợp
Quy trình 4 việc ở tiết Luyện tập tổng hợp được sắp xếp lại nhằm tập trung vào 2 kĩ năng đọc và viết:
Việc 1: Ngữ âm
Việc 2: Đọc
- Bước 1: Chuẩn bị
+ Đọc nhỏ
+ Đọc bằng mắt
+ Đọc to
- Bước 2: Đọc bài + Đọc mẫu
+ Đọc nối tiếp + Đọc đồng thanh + Đọc hiểu (tìm hiểu bài) Việc 3: Viết
Việc 4: Viết chính tả
Để dạy tốt lớp 1 CGD không có cách nào hơn là phải thuộc Thiết kế và
thành thạo các thao tác, bởi vậy ngay từ đầu, mỗi giáo viên cần phải tranh thủ đọc thiết kế và tập dạy trong nhóm; tập theo từng loại mẫu, quan trọng nhất là phải nhớ đúng quy trình của các mẫu
Ngoài việc tham gia đầy đủ các lớp tập huấn, chuyên đề của nhà trường và cấp trên tổ chức, tôi đã thường xuyên tìm đọc các tài liệu, tham khảo qua mạng Internet để nắm chắc chương trình, cấu trúc ngữ âm và quy trình dạy Tiếng Việt
1 - CGD
Khi tham gia các chuyên đề, tôi đã mạnh dạn chia sẻ để tháo gỡ những khó khăn gặp phải trong quá trình dạy học
2.2.2 Bồi dưỡng vốn kiến thức ngữ âm tiếng Việt
Trang 6Một trong những yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với giáo viên dạy học Tiếng Việt 1 - CGD là hiểu được các khái niệm ngữ âm tiếng Việt và luật chính
tả được thiết kế trong chương trình Đó là cơ sở vững chắc giúp giáo viên làm chủ các hoạt động dạy học Nhận thức rõ yêu cầu đó nên ngay từ khi được phân công dạy lớp 1, tôi đã dành nhiều thời gian tập trung nghiên cứu kĩ kiến thức ngữ
âm tiếng Việt để phục vụ tốt cho việc dạy học của mình
Trong hệ thống kiến thức ngữ âm, tôi đã lưu ý đến cấu tạo về cách phát
âm, đặc điểm, các vị trí của mô hình của âm tiết tiếng Việt Phân loại âm tiết tiếng Việt và sự biến hóa ngữ âm
Nắm chắc hệ thống ngữ âm tiếng Việt: Hệ thống phụ âm đầu, hệ thống
âm đệm; hệ thống âm chính; hệ thống âm cuối; thanh điệu, ngữ điệu
Trong đó mối qua hệ giữa âm và chữ được đặc biệt chú ý Từ âm sang chữ gọi là viết, từ chữ sang âm gọi là đọc Mỗi một chữ chỉ có một âm Nhưng một âm có thể có 1/2/3/4 chữ (cách viết)
- Âm /gờ/ được viết bằng hai cách: g/gh
- Âm /iê/ được viết bằng bốn cách: iê/yê/ia/ya
- Âm /ngờ/ được viết bằng hai cách: ng/ngh
- Âm /uô/ được viết bằng hai cách: uô/ua
- Âm /cờ/ được viết bằng ba cách: c/k/q
- Âm /ươ/ được viết bằng hai cách: ươ/ưa
Luật chính tả là một phần kiến thức cơ bản trong chương Tiếng Việt 1-Công nghệ giáo dục, góp phần xử lí triệt để mối quan hệ giữa âm và chữ Do vậy, tôi đã đi sâu nghiên cứu luật chính chính tả e/ê/i; luật chính tả về âm đệm; luật chính tả về nguyên âm đôi /ia/, /ua/, /ưa/; luật ghi dấu thanh
2.2.3 Vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học
Chương trình Tiếng Việt 1 - CGD là sự kết hợp giữa phương pháp dạy học hiện đại và phương pháp dạy học truyền thống Chương trình đã tiếp cận cao đến yêu cầu tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh chuyển từ thiết kế bài học theo 5 bước lên lớp truyền thống sang 4 việc, dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo
viên, học sinh tự chiếm lĩnh tri thức và hoàn thiện kỹ năng một cách tối đa nhất.
Bởi vậy trong quá trình dạy học, tôi đã vận dụng những ưu điểm của phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới, đồng thời kết hợp với quy trình 4 việc theo các dạng bài Trong các tiết học, tôi thường vận dụng các phương pháp: phương pháp làm mẫu, phương pháp phân tích mẫu, phương pháp hỏi đáp, phương pháp trực quan Đồng thời kết hợp các hình thức dạy học như học theo lớp, theo tổ, theo nhóm, theo cá nhân
Trang 7Câu lệnh của giáo viên cần phải dứt khoát, rõ ràng Học sinh thực hiện theo đúng yêu cầu của giáo viên hoạt động giữa giáo viên - học sinh cần diễn ra nhịp nhàng Các hoạt động của lớp cần phải thực hiện theo “ký hiệu” trên bảng hoặc
ký hiệu bằng tay của giáo viên Giáo viên không phải nói nhiều mà phải ưu tiên các hoạt động cho học sinh Quy trình 4 việc cần phải thực hiện theo trình tự Giáo viên cần phải thuộc các việc cơ bản ở mỗi bài Cần phải nhẹ nhàng, thân thiện và linh hoạt trong tổ chức các hoạt động ở từng việc Quan tâm tới các
em học sinh có nhận thức chậm trong lớp Tác phong lời nói, cử chỉ, điệu bộ của giáo viên cần phải chuẩn mực, thân thiện
Tiết học buổi 2 giáo viên cần phải xác định được nội dung cần ôn tập chú ý
về các kỹ năng cần củng cố phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm giúp các
em nắm được bài tốt hơn Dạy đâu chắc đó, học sinh phải nắm được bài, không để học sinh ngoài lề lớp học
Để giúp học sinh lớp 1 nắm vững được hệ thống âm trong tiếng Việt 1, trước hết giáo viên cần giúp học sinh nắm vững được từng âm, giáo viên cần chú
ý 2 vấn đề then chốt:
- Yêu cầu đối với học sinh thuộc bảng chữ cái một cách thành thạo
- Nắm được kĩ năng về phát âm trong tiếng Việt 1, biết phân biệt nguyên
âm và phụ âm, biết cách lập mẫu và dùng mẫu, phân tích âm, tiếng, đọc được theo các mức độ to - nhỏ - nhẩm - thầm theo lệnh và ký hiệu của giáo viên Biết phân biệt đâu là âm đệm, âm chính và đâu là âm cuối, học về luật chính tả
Tình trạng các em đọc vẹt nhiều, muốn khắc phục những hạn chế này giáo viên nên tận dụng đồ dùng dạy học của chương trình hiện hành, làm thêm đồ dùng dạy học và chủ động sắp xếp thời gian rèn luyện kỹ năng nói, đọc cho học sinh
Để giải quyết được hai vấn đề nêu trên, giáo viên phải nắm vững vị trí, nhiệm vụ, yêu cầu dạy âm trong môn Tiếng Việt 1 Giáo viên phải hiểu rõ khả năng nhận thức cũng như các đặc điểm của quá trình nhận thức của trẻ em Bởi vì khả năng nhận thức của học sinh Tiểu học đang hình thành và phát triển theo từng giai đoạn có quy luật riêng, người giáo viên tiểu học cần phải hiểu trẻ em với đầy đủ nghĩa của nó, mới có thể tiến hành dạy phần âm đạt hiệu quả được
Để đạt được mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh cần có sự vào cuộc, phối hợp của người dạy và chính bản thân người học Bởi vậy trong quá trình dạy học tôi luôn chú ý tăng cường các hình thức tự học, dạy học nhóm, nhằm giúp học sinh trao đổi thảo luận, nêu lên chính kiến của mình luôn kích thích khơi gợi hứng thú học tập cho các em thông qua tất cả các giai đoạn của tiết lên lớp như đặt vấn đề vào bài, tổ chức lĩnh hội tri thức mới, củng cố hướng dẫn hoạt động
Trang 8nối tiếp Ngoài ra tôi thường tổ chức các hoạt động vui chơi lồng ghép trong quá trình dạy học Qua hoạt động vừa chơi vừa học các em biết chia sẻ với nhau kinh nghiệm học tập, các em biết tự mình kiểm tra kết quả học tập của mình và giúp nhau cùng tiến bộ Các em không những ham thích đến trường mà còn dần yêu thích môn học này
Ví dụ: Khi dạy bài: Âm / x/, tôi sử dụng trò chơi “ Chèo thuyền” để giúp
học sinh tìm thêm tiếng mới với các nguyên âm đã học như: xa, xe, xê, xi, xo, xô,
xơ, xu, xư
Học sinh hào hứng khi khởi động tiết học
2.2.4 Xây dựng nề nếp học tập cho học sinh
Chương trình TV1 CGD có thiết kế 2 tuần 0 để giáo viên dạy học sinh làm quen với môi trường học tập mới, hướng dẫn học sinh biết cách nhận lệnh, thực hiện và báo cáo kết quả (sản phẩm) Hai tuần này dù học sinh không được học một chữ nào nhưng được đánh giá là có giá trị định hướng cho mọi việc về sau Làm tốt tuần 0 thì sẽ dễ làm tốt các tiết học về sau Song, không phải giáo viên nào cũng nhận ra vai trò của tuần 0 Trong phần tự nhận xét của mình, nhiều giáo viên thừa nhận chưa thực hiện tốt việc rèn nề nếp học tập cho học sinh Nề nếp học tập không tốt ảnh hưởng không ít đến quá trình tổ chức tiết học (giáo viên mất nhiều thời gian hơn trong điều khiển, tổ chức lớp học; phải nói nhiều vì lặp lại hiệu lệnh; khó kiểm soát kết quả việc làm của học sinh ) và nó gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh Vì thế, xây dựng tốt nề nếp học tập cho học sinh là điều cần phải thực hiện để góp phần nâng cao chất lượng dạy học TV1 CGD
Trong 2 Tuần 0, học sinh được hướng dẫn và thực hành theo các nội dung:
Trang 9Làm quen (giữa giáo viên - học sinh, giữa học sinh - học sinh)
Đồ dùng học tập và cách sử dụng (cách dùng và tư thế sử dụng bảng con, phấn, khăn lau; cách dùng và tư thế sử dụng bút chì, vở; hướng dẫn viết các nét
cơ bản)
Xác định vị trí trên/ dưới; trái/ phải; trước/ sau; trong/ ngoài (kết hợp chấm điểm tọa độ và viết các nét cơ bản), làm quen với kí hiệu, luyện tập - củng cố kĩ năng
Qua “Tiết học chuẩn bị”, học sinh được làm quen và chuẩn bị những điều
cơ bản, cần thiết nhất cho các hoạt động học tập chính thức Với những nội dung trên, việc học sinh chưa qua mẫu giáo hay học sinh vùng khó đều không phải là trở ngại Nhưng khi tổ chức thực hiện các tiết này, đòi hỏi giáo viên phải giao việc
rõ ràng ngay từ đầu để đưa học sinh vào nề nếp, làm nghiêm túc, kỉ luật nghiêm; khuyến khích học sinh nhiệt tình tham gia, rèn luyện tinh thần tập thể Giáo viên phải tuân thủ quy trình làm việc, làm việc nào chắc việc ấy Khen học sinh làm tốt, không chê em làm kém trước lớp
Ngoài những nội dung được hướng dẫn trong thiết kế, giáo viên nên dùng các kí hiệu, tín hiệu để quy ước với học sinh trong hoạt động học tập Những kí hiệu, tín hiệu quy ước sẽ giúp giáo viên hạn chế việc nói nhiều (việc sử dụng câu lệnh hay lời hướng dẫn dài dòng sẽ mất thời gian và dễ gây nhiễu thông tin đối với học sinh, đồng thời nó giúp các hoạt động của lớp học diễn ra nhịp nhàng, trật
tự và nhanh gọn hơn Ví dụ:
- Hiệu lệnh chuẩn bị - hiệu lệnh bắt đầu thực hiện - hiệu lệnh kết thúc:
1 tiếng gõ thước nhẹ - 2 tiếng gõ thước nhẹ - 1 tiếng gõ thước nhẹ hoặc tiếng gõ thứ nhất - tiếng gõ thứ 2 - tiếng gõ thứ 3
- Các kí hiệu sử dụng đồ dùng học tập: S/16 (sách giáo khoa, trang 16); B (bảng con); V (vở trắng - viết chính tả); TV/24 (tập viết, trang 24),… Khi viết các kí hiệu ấy vào một góc riêng trên bảng lớp, học sinh nhìn thấy sẽ tự động thực hiện yêu cầu (lấy sách giáo khoa - mở ra trang 16; chuẩn bị bảng con - phấn - giẻ lau hay lấy vở tập viết - mở ra trang 24,…), khi xóa kí hiệu ấy đi thì học sinh sẽ
tự biết là kết thúc hoạt động và cất những vật dụng đó vào
Giáo viên giữ vai trò chủ chốt trong việc chọn lựa những kí hiệu, hiệu lệnh quy ước với học sinh, sao cho những kí hiệu phải đơn giản, dễ nhận biết Sau khi đã thống nhất, giáo viên dành thời gian tổ chức huấn luyện cho học sinh thực hiện theo những kí hiệu đã được quy ước ấy (kết hợp hướng dẫn thực hiện trong các tiết chuẩn bị của tuần 0)
2.2.5 Rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh
Hướng dẫn học sinh phát âm là việc làm quan trọng hàng đầu, đòi hỏi giáo viên phải có những hiểu biết, kinh nghiệm và cả kĩ năng hướng dẫn tốt Khi
Trang 10hướng dẫn học sinh phát âm, cần dùng lời nói mạch lạc, đơn giản để học sinh dễ hiểu và có thể tự mình phát âm đúng Đối với những âm, vần, tiếng dễ nhầm lẫn, tôi thường so sánh, phân tích cụ thể cách phát âm (môi, răng, lưỡi, đường dẫn hơi, điểm thoát hơi) Với những học sinh vẫn chưa phát âm được, giáo viên đến cần đến gần, phát âm mẫu để các em nhìn thấy được vị trí cụ thể của các bộ phận phát âm Sau đó yêu cầu các em phát âm lại
*Ví dụ: Học sinh sai lẫn ở những âm đầu vần và cuối vần “ac” đọc thành
“at” giáo viên hướng dẫn:
+ ac: mở miệng rộng, hơi thoát ra gần trong chân lưỡi
+ at: môi mở hơi rộng, đưa lưỡi chạm vào lợi trên, hơi ra trên mặt lưỡi Với trường hợp học sinh sai lẫn dấu thanh (gặp ở những học sinh có hệ thống bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh) giáo viên hướng dẫn:
+ Tiếng có thanh hỏi: giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh phát âm trầm, hơi luyến giọng, lên cao, kéo dài hơi Có thể kèm theo động tác ngửa cổ hướng mắt lên trên
+ Tiếng có thanh nặng: phát âm thấp giọng và nặng, dứt khoát (không kéo dài) Khi phát âm có thể làm động tác gật đầu
+ Những tiếng có thanh ngã đọc nhấn giọng, hơi kéo dài, luyến giọng, lên cao giọng
+ Những tiếng có thanh sắc: Đọc nhẹ nhàng hơn tiếng có thanh ngã, hơi ngắn, đọc nhanh, không kéo dài
Bằng cách hướng dẫn như trên học sinh lớp tôi đã có nhiều tiến bộ trong việc phát phát âm chuẩn
Ở lứa tuổi học sinh Tiểu học, các em luôn coi thầy, cô giáo của mình là chuẩn mực Đặc điểm tâm lí của học sinh ở lứa tuổi này là hay bắt chước, hay làm theo Do đó, khi sử dụng phương pháp làm mẫu, đòi hỏi giảo viên phải phát
âm thật chuẩn xác Người giáo viên khi đọc mẫu, không đơn giản chỉ là phát ra
âm tiết mà cần biết phối hợp với thuật “hình môi” nhằm hướng dẫn các em phát
âm chuẩn xác hơn Học sinh nếu chỉ nghe mà không nhìn miệng cô đọc thì việc phát âm sẽ không đạt hiệu quả cao, vì trong môn Tiếng Việt 1 – CGD việc quan sát môi cô phát âm là quan trọng nhất
Tuy nhiên, nếu sử dụng phương pháp làm mẫu không khéo léo, sẽ dẫn đến tình trạng “lạm dụng”, tiết học sẽ trở nêm nhàm chán và không phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh Vì thế, giáo viên chỉ nên sử dụng phương pháp này khi thấy thật sự cần thiết
Để làm tốt việc rèn chữ viết cho học sinh, ngay từ đầu năm học giáo viên phải chú ý đến nhiều khâu quan trọng sau: