Như chúng ta đã biết, với mỗi nền kinh tế khác nhau thì thị trường phải tuân theo các quy luật nhất định của nền kinh tế đó. Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật đó là quy luật cung- cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh… Trong đó, nếu quan hệ cung- cầu là cốt vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường. Thật vậy, cạnh tranh có vai trò rất to lớn trong nền kinh tế thị trường. Nó có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường, đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả nhất, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng…Bên cạnh mặt tích cực, cạnh tranh cũng có những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế, thể hiện ở cạnh tranh không lành mạnh. Các hành vi này sẽ khiến các doanh nghiệp tẩy chay nhau, làm mất uy tín của thương hiệu, giảm lòng tin của người tiêu dùng và gây các thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần khác cho các chủ thể kinh doanh và người tiêu dùng. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế như trong hoạt động khuyến mại, bán hàng đa cấp, trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp… và ngày càng xuất hiện nhiều trong lĩnh vực quảng cáo. Quảng cáo là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại được các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất hiện nay. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ số, quảng cáo đóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Việc hàng hóa, dịch vụ có được người tiêu dùng biết đến và sử dụng hay không phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược quảng cáo của doanh nghiệp. Xét dưới góc độ người tiêu dùng, trong thời gian qua, vì nhiều mục đích lợi nhuận khác nhau mà một số doanh nghiệp đã sử dụng các hình thức quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại về cả vật chất lẫn tinh thần cho người tiêu dùng. Trong đó, chúng ta không thể không kể đến những quảng cáo gây nhầm lẫn liên quan đến các loại hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực y tế như thuốc, vắc-xin, thực phẩm chức năng, thiết bị y tế… Do vậy, trong khuôn khổ bài nghiên cứu của nhóm, chúng em xin được trao đổi một số vấn đề pháp lý, thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Hà Nội, 5/2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Sinh viên thực hiện : Thạch Thị Hưởng
Tào Thị Quý Đặng Thị Ngọc Anh Phạm Thị Linh
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: NHẬN THỨC CHUNG VỀ CẠNH TRANH, CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 2
1.1.Khái quát về cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh 2
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh 2
1.1.2 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh 7
1.2 Những vấn đề chung về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 14
1.2.1 Khái niệm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 14
1.2.2 Đặc điểm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 15
1.2.3 Phân loại về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 21
2.1 Thực trạng pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 21
2.1.1 Điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam 21
2.1.2 Thiết chế thi hành pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 25
2.2 Thực tiễn hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh lành mạnh ở Việt Nam hiện nay 28
2.2.1 Tình hình chung 28
2.2.2 số liệu cụ thể 33
2.3 Phân tích một số vụ việc thực tiễn về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 35
2.3.1 Quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn 35
2.3.2 quảng cáo so sánh 38
2.3.3 Quảng cáo bắt chước 40
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT .42 3.1 Nhận xét các quy định pháp luật quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 42
3.1.1 Những điểm đã đạt được 42
3.1.2 Những điểm còn bất cập 43
3.1.3 Nguyên nhân của tình trạng quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 49
3.2 Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh 59
KẾT LUẬN 62
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: So sánh lượng khá giả và thời lượng xem truyền hình và nghe radio 30 Bảng 2.2: Thống kê vụ việc cạnh tranh không lành mạnh (lĩnh vực quảng cáo
nhằm cạnh tranh không lành mạnh) 34 Bảng 3.1 Chi phí quảng cáo 59
Trang 5Quảng cáo là một trong những hoạt động xúc tiến thương mại được các doanhnghiệp sử dụng nhiều nhất hiện nay Đặc biệt, trong thời đại công nghệ số, quảng cáođóng vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp Việc hàng hóa, dịch vụ có đượcngười tiêu dùng biết đến và sử dụng hay không phụ thuộc rất nhiều vào chiến lượcquảng cáo của doanh nghiệp Xét dưới góc độ người tiêu dùng, trong thời gian qua, vìnhiều mục đích lợi nhuận khác nhau mà một số doanh nghiệp đã sử dụng các hình thứcquảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại về cả vật chất lẫn tinh thầncho người tiêu dùng Trong đó, chúng ta không thể không kể đến những quảng cáo gâynhầm lẫn liên quan đến các loại hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực y tế như thuốc, vắc-xin, thực phẩm chức năng, thiết bị y tế… Do vậy, trong khuôn khổ bài nghiên cứu củanhóm, chúng em xin được trao đổi một số vấn đề pháp lý, thực tiễn áp dụng pháp luậtliên quan đến vấn đề quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Trang 6CHƯƠNG I NHẬN THỨC CHUNG VỀ CẠNH TRANH, CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1.Khái quát về cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh.
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh
a Khái niệm
Với tư cách là động lực nội tại thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế chỉ tồn tạitrong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh được xem xét dưới nhiều góc độ khácnhau Do vậy, hiện tại không có một khái niệm nhất quán nào về cạnh tranh mà cónhiều quan điểm khác nhau như sau:
Theo C Mac: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bảnnhằm giành giật nhưng điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thuđược lợi nhuận siêu ngạch”
Theo hai nhà kinh tế học Mỹ là P.A Samuelson và W.D Nordhaus trong cuốnKinh tế học (xuất bản lần thứ 12) thì: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanhnghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường Hai tác giả này chocạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo”
Theo các tác giả trong cuốn “Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnhtranh, kiểm soát độc quyền kinh doanh” thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganhđua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàngnhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêu kinh doanh
cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần”
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam (tập một) thì: “Cạnh tranh trong kinh doanh làhoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, cácnhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung-cầu nhằm giànhcác điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”
Theo Từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì: “Cạnh tranh trong cơchế thị trường là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tàinguyên sản xuất cùng một loại hàng hóa về phía mình”
Trang 7với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng,
có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc
tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó”
Theo báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 tại diễn đàn Liên hợp quốc thìđịnh nghĩa: “Cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đạt được nhữngthành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởngkinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GĐP) tínhtrên đầu người theo thời gian”
b Đặc điểm
Như đã nói ở trên, chúng ta có nhiều định nghĩa không giống nhau về cạnh tranh Tuynhiên, hầu hết các định nghĩa đều mô tả cạnh tranh có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, cạnh tranh là hiện tượng xã hội diễn ra giữa các chủ thể kinh doanh
trong nền kinh tế thị trường
Với tư cách là một hiện tượng xã hội, cạnh tranh chỉ xuất hiện khi tồn tại nhữngtiền đề nhất định sau đây:
+ Có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp khác nhau trong nền kinh tế thị trường
Sở dĩ như vậy vì nếu trong một thị trường nhất định nào đó chỉ có một doanh nghiệptồn tại thì chắc chắn sẽ không có một doanh nghiệp nào mua hay bán các sản phẩmnhư họ, do đó sẽ không có cạnh tranh Ngược lại, nếu trong một thị trường nhất địnhnào đó tồn tại nhiều doanh nghiệp khác nhau thì với những mục tiêu lợi ích, nhữngtính toán khác nhau chắc chắn sẽ xuất hiện cạnh tranh, thúc đẩy các doanh nghiệp kinhdoanh tốt hơn Như vậy, cạnh tranh chỉ thực sự trở thành động lực thúc đẩy thị trườngkhi có sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp khác nhau
+ Cạnh tranh chỉ có thể tồn tại nếu như các chủ thể kinh doanh có quyền tự dohành xử trên thị trường Tự do thỏa thuận và tự chịu trách nhiệm sẽ đảm bảo cho cácdoanh nghiệp có thể chủ động tiến hành các cuộc tranh giành để tìm cơ hội phát triển,tìm cơ hội khẳng định mình trên thị trường Tuy nhiên, sự tự do này phải diễn ra trongkhuôn khổ pháp luật
Thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các
doanh nghiệp Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phương thức giải quyết mâuthuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của ngườitiêu dùng
Trang 8Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trường, là thước đo
sự thành đạt và là mục đích hướng đến của doanh nghiệp Những nguyên lý cơ bản củachủ nghĩa Mac-Lênin đã chỉ ra nguồn gốc của lợi nhuận là giá trị thặng dư mà nhà tưbản tìm kiếm được trong các chu trình sản xuất, chuyển hóa giữa tiền- hàng
Trong chu trình đó, khách hàng và người tiêu dùng có vai trò là đại diện cho thịtrường, quyết định giá trị thặng dư của xã hội sẽ thuộc về ai Ở đó, mức thụ hưởng vềlợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trongviệc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người tiêu dùng trong xã hội
Hình ảnh của cạnh tranh sẽ được minh họa bằng quan hệ tay ba giữa các doanhnghiệp với nhau và với khách hàng Các doanh nghiệp đua nhau lấy lòng khách hàng.Khách hàng là người có quyền lựa chọn người sẽ cung ứng sản phẩm cho mình Quan
hệ này sẽ được mô tả tương tự khi các doanh nghiệp cùng nhau tranh giành một nguồnnguyên liệu
Hiện tượng tranh đua như vậy được kinh tế học gọi là cạnh tranh trong thịtrường Từng cách thức được sử dụng để ganh đua được gọi là hành vi cạnh tranh củadoanh nghiệp Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trường làm cho người chiến thắng
mở rộng được thị phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua cuộc chịu mất khách hàng
và phải rời khỏi thị trường
Thứ ba, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành
thị trường mua hoặc thị trường bán sản phẩm
Mỗi doanh nghiệp tham gia thị trường đều hướng tới các mục tiêu lợi nhuận nhấtđịnh Ở đó, họ luôn mong muốn có thể mua được nguồn nguyên liệu rẻ và bán sảnphẩm ra thị trường với giá cao nhưng phải giành được đông đảo sự lựa chọn của kháchhàng và người tiêu dùng Lúc này, cạnh tranh sẽ xảy ra giữa các doanh nghiệp cóchung lợi ích tiềm năng về nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua) hoặc về thịtrường đầu ra của sản phẩm (cạnh tranh bán) trong quá trình sản xuất Lý thuyết cạnhtranh xác định sự tồn tại của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp theo hướng xác định sựtồn tại của thị trường liên quan đối với các doanh nghiệp Việc họ có cùng một thịtrường liên quan làm cho họ có cùng mục đích và trở thành đối thủ cạnh tranh củanhau Theo kinh nghiệm pháp lý của một số nước và theo Luật cạnh tranh Việt Nam,thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liênquan Việc xác định xác định thị trường liên quan suy cho cùng là xác định khả năng
Trang 9thay thế cho nhau giữa sản phẩm của các doanh nghiệp trên một khu vực địa lý cụ thể.Trong đó, khả năng thay thế của các sản phẩm thường được mô tả bằng tính năng sửdụng, tính chất lý hóa và giá cả tương tự nhau Mọi sự khác biệt của một trong ba dấuhiệu đó sẽ làm phân hóa nhóm khác hàng tiêu thụ và làm cho các sản phẩm không thểthay thế cho nhau.
Nói tóm lại, chúng ta chỉ có thể xác định các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranhcủa nhau khi xác định được các doanh nghiệp đó cùng trên một thị trường liên quan,cùng có chung khách hàng hoặc đối tác để tranh giành, cùng có chung một mục tiêulợi ích để hướng đến
c Phân loại cạnh tranh
Vì chúng ta có rất nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh nên cũng có nhiềucách phân loại khác nhau về cạnh tranh Theo đó:
- Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm hai loại là cạnhtranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành
+ Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trongcùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa hoặc dịch vụ
+ Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cácngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất
- Căn cứ vào tính chất cạnh tranh, cạnh tranh được chia làm ba loại là cạnh tranhhoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và cạnh tranh độc quyền Theo đó:
+ Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó người mua và người bánđều không có khả năng tác động đến giá cả của sản phẩm trên thị trường Trong hìnhthái thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá cả của sản phẩm hoàn toàn do quan hệ cung-cầu, quy luật giá trị quyết định; không có sự tồn tại của bất kỳ khả năng hay quyền lựcnào có thể chi phối các quan hệ trên thị trường Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh,các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệthóa sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh
+ Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong cácngành sản xuất mà ở đó các doanh nghiệp phân phối hoặc sản xuất có sức mạnh và thếlực để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường
+ Cạnh tranh độc quyền là hình thức cạnh tranh mà trên thị trường chỉ có mộthoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, giá cả của sản phẩm hoặc
Trang 10dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định, không phụ thuộc vào quan hệ cung-cầu.
- Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh, cạnh tranh được chia làm hailoại là cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh Theo đó:
+ Cạnh tranh lành mạnh là cạnh tranh đúng pháp luật, phù hợp với các chuẩnmực đạo đức và xã hội và được xã hội thừa nhận; nó thường diễn ra sòng phằng, côngbằng và công khai
+ Cạnh tranh không lành mạnh là cạnh tranh trái với quy định của pháp luật, tráivới các chuẩn mực đạo đức, xã hội và bị xã hội lên án
d Vai trò của cạnh tranh
Như đã nói ở phần mở đầu, trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung-cầu làcốt vật chất, giá cả là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường Cạnh tranh đãđem lại những bước phát triển nhảy vọt của loài người trong nền kinh tế thị trường màcác hình thái kinh tế trước đó chưa từng có Theo đó, cạnh tranh có những vai trò cơbản như sau:
Thứ nhất, cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng.
Trong môi trường cạnh tranh, khi mà các doanh nghiệp ganh đua với nhau vìmục đích lợi nhuận thì hàng hóa sẽ có chất lượng ngày càng tốt hơn, mẫu mã đẹp hơn,các chủng loại đa dạng hơn và giá cả ngày càng hợp lý hơn Vì vậy, người tiêu dùng
có thể thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với sở thích và túitiền của mình Những lợi ích mà họ thu được từ hàng hóa và dịch vụ họ sử dụng ngàycàng được nâng cao, thỏa mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu của họ nhờ các chươngtrình khuyến mại, các dịch vụ kèm theo các sản phẩm mà họ đã và đang tiêu dùng
Thứ hai, cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường.
Với tư cách là một quy luật trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đảm bảo,phân phối thu nhập và các nguồn lực kinh tế tập trung vào tay những doanh nghiệpgiỏi, có khả năng và bản lĩnh kinh doanh Sự tồn tại của cạnh tranh sẽ loại bỏ nhữngkhả năng lạm dụng quyền lực thị trường để bóc lột đối thủ cạnh tranh, bóc lột kháchhàng Kết quả của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thương trường là lấy lại phầnthị trường, lấy lại các yếu tố thị trường như vốn, nguyên vật liệu, lao động… của bênyếu thế và kinh doanh kém hiệu quả hơn để trao cho bên thắng cuộc, bên có khả năng
sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nền kinh tế hơn Và kết quả này lại được sử dụnglàm khởi đầu cho giai đoạn cạnh tranh tiếp theo Cứ như vậy, cạnh tranh buộc các
Trang 11doanh nghiệp thua cuộc phải thu hẹp hoạt động kinh doanh, thậm chí phải rời bỏ thịtrường Có thể nói, cạnh tranh lúc này được mô tả như quy luật đào thải tự nhiên diễn
ra trên thị trường mà không có ngoại lệ
Thứ ba, cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách
hiệu quả nhất
Để sản phẩm của mình có thể cạnh tranh được trên thị trường, các doanh nghiệp
đã nỗ lực để giảm chi phí, từ đó giảm giá thành sản phẩm Họ buộc phải tiết kiệm và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực mà họ có Ngược lại, nếu doanh nghiệp sử dụngmột cách lãng phí các nguồn lực mà họ có thì chắc chắn chi phí sản xuất sẽ tăng cao,giá trị hàng hóa tăng lên không cần thiết cho nên không thể cạnh tranh được với cácdoanh nghiệp khác trên thị trường liên quan, dù cho doanh nghiệp đó lớn thế nào thìđến một khoảng thời gian nhất định sẽ không thể bù đắp được chi phí bỏ ra và tất yếu
sẽ bị đào thải ra khỏi thị trường Do đó, cạnh tranh chính là động lực cơ bản giảm sựlãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên, nhiên, vật liệu được sử dụngtối ưu
Thứ tư, cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ
thuật trong kinh doanh
Trong thị trường, khi cung một hàng hóa nào đó lớn hơn cầu thì làm cho giá cảcủa hàng hóa đó giảm xuống, lợi nhuận thu được của các doanh nghiệp sẽ giảm dần.Điều này buộc các doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải giảm chi phí sản xuất, nâng caonăng xuất lao động bằng cách tích cực ứng dụng đưa khoa học, công nghệ tiên tiến vàotrong quá trình sản xuất Ngược lại, khi cung một loại hàng hóa nào đó nhỏ hơn cầuhàng hóa sẽ dẫn đến sự khan hiếm về hàng hóa, làm cho giá cả hàng hóa tăng cao, lợinhuận của các doanh nghiệp cũng tăng lên Điều này kích thích các doanh nghiệp nângcao năng xuất lao động bằng cách ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến hoặc mởrộng quy mô sản xuất để có được nhiều hàng hóa tung ra thị trường Cứ như vậy, cuộcchạy đua giữa các doanh nghiệp sẽ thúc đẩy sự phát triển không ngừng của khoa học,công nghệ trong đời sống kinh tế và xã hội
1.1.2 Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh.
a Khái niệm
Trong quá trình hội nhập kinh tế, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn rangày một phổ biến và đang trở thành vấn đề đáng quan tâm của tất cả các quốc gia trên
Trang 12thế giới Để những hành vi cạnh tranh không lành mạnh này được hiểu một cách rõràng, chính xác và có những quy chế điều chỉnh thích hợp, nhiều quốc gia trên thế giới
đã đưa ra khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, theo đó:
Điều 10 Bis Công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp quy định: “Bất
cứ hành vi cạnh tranh nào trái với họat động thực tiễn, không trung thực trong lĩnh vựccông nghiệp và thương mại đều bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”
Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Đức (1909), một trong những đạoluật ra đời sớm nhất điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, tại Điều 1 đãkhẳng định: “người nào trong các giao dịch kinh doanh mà thực hiện các hành vi tráivới thuần phong mỹ tục, thì có thể bị yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thườngthiệt hại” Luật cũng đã liệt kê những hành vi cạnh tranh không lành mạnh như: Quảngcáo so sánh, quảng cáo trái với thuần phong mỹ tục, hành vi làm hàng nhái…
Luật chống cạnh tranh của cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: “Cạnh tranhkhông lành mạnh là hoạt động của doanh nghiệp trái với quy định của luật này, gâythiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp khác, làm rối loạn trật tựkinh tế- xã hội…”
Ở Việt Nam, trước khi Luật Cạnh tranh 2004 ra đời đã có một số văn bản quyđịnh về vấn đề cạnh tranh không lành mạnh, tuy nhiên chưa có văn bản nào đưa rađược khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnhtranh đưa ra khái niệm “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanhnghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đứckinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền vàlợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng”
Có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về cạnh tranh nhưng nhìnchung có thể hiểu cạnh tranh không lành mạnh là đi ngược lại với nguyên tắc xãhội, truyền thống kinh doanh Vai trò của cạnh tranh trong việc cân bằng cung cầutrên thị trường, tạo động lực đổi mới và phát triển cũng như bảo vệ quyền lợi củangười tiêu dùng được thừa nhận rộng rãi Tuy nhiên để đạt được những lợi ích nhưvậy thì cạnh tranh phải đi theo một khuôn khổ và tuân theo những nguyên tắc nhấtđịnh Và cạnh tranh không lành mạnh chính là thứ cạnh tranh quá mức và vì thế gâytác dụng ngược
Trang 13b Đặc điểm.
Thứ nhất, Là hành vi của doanh nghiệp nhằm mục đích cạnh tranh.
Đặc điểm này thể hiện đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh Điều 2, LuậtCạnh tranh quy định những đối tượng này bao gồm: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh baogồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệphoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nướcngoài hoạt động ở Việt Nam; các Hiệp hội ngành nghề hoạt động ở Việt Nam Nhữngđối tượng còn lại như các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu dùng, các đơn
vị truyền thông, các tổ chức phi kinh tế,… không là đối tượng áp dụng các quy địnhcủa pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh Điều đó có nghĩa nếu họ vi phạm phápluật về cạnh tranh thì cũng không phải chịu những chế tài xử phạt của Luật Cạnhtranh Mặt khác đặc điểm này cũng khẳng định hành vi cạnh tranh không lành mạnhxảy ra trong kinh doanh ở mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, mọi côngđoạn của quá trình kinh doanh Pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh được
áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế
Thứ hai, hành vi đó có những biểu hiện trái với các chuẩn mực đạo đức kinh
doanh hoặc trái với xã hội
Đặc điểm này là căn cứ lí luận để xác định bản chất không lành mạnh của hành
vi Nếu như dựa vào đặc điểm này thì không thể quy kết một hành vi cụ thể của doanhnghiệp là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Như vậy chỉ có thể xác định các chuẩnmực thông thường về đạo đức kinh doanh dựa vào các căn cứ:
+ Căn cứ luật định là những tiêu chuẩn đã được định lượng hóa bằng pháp luật,một khi hành vi đi trái với các quy định pháp luật sẽ được xem là không lành mạnh.Trong trường hợp này hành vi cạnh tranh không lành mạnh đồng nghĩa với cạnh tranhbất hợp pháp Theo đó hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm điều cấm củapháp luật được xem như trái với chuẩn mực đạo đức kinh doanh
+ Các tập quán kinh doanh thông thường đã được thừa nhận rộng rãi được ápdụng đối với những hành vi chưa được pháp luật dự liệu Các tập quán kinh doanhxuất hiện lâu đời và được nhiều chủ thể kinh doanh thừa nhận và áp dụng nhiều lần thìchắc chắn không đi ngược lại với các chuẩn mực kinh doanh vốn có Đây được xemnhư một biện pháp dự phòng để áp dụng cho những trường hợp pháp luật chưa quyđịnh về một hành vi cụ thể nhưng hành vi này đã xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi
Trang 14ích của doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng và trái với tập quán kinh doanh Căn
cứ này đã mở rộng khả năng điều chỉnh pháp luật đối với những hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh
Thứ ba, hành vi đó gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có đối tượng xâm hại cụ thể là lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêudùng Thiệt hại ở đây có thể là thiệt hại đã xảy ra trên thực tế hay cũng có thể là thiệthại có thể chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai nếu không ngăn chặn hành vi Việc xácđịnh thiệt hại xảy ra giúp phân biệt được hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành
vi hạn chế cạnh tranh Nếu như hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ làm thay đổi một cáchtiêu cực tình trạng cạnh tranh hoặc làm giảm tác dụng của cạnh tranh thì hành vi cạnhtranh không lành mạnh lại bắt buộc phải có hậu quả xảy ra Nó xâm hại đến trật tựquản lý cạnh tranh của Nhà nước mà không cản trở, làm sai lệch hay làm giảm tìnhtrạng cạnh tranh của thị trường
c Tác động của cạnh tranh không lành mạnh tới xã hội.
- Cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm đến các chính sách quản lý cạnh tranhcủa nhà nước
Việc ban hành Luật Cạnh tranh 2004 cùng với các văn bản pháp luật hướng dẫnthi hành như Nghị định 116/2005 NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh , Nghịđịnh 120/2005 NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực cạnh tranh cho thấyNhà nước ta đang cố gắng đưa cạnh tranh phát triển theo một hệ thống, một nguyên tắcchung Cạnh tranh không lành mạnh là hành vi đi ngược lại hay làm không đúng theocác quy định của pháp luật về cạnh tranh và gây khó khăn cho nhà nước trong việcquản ký cũng như kiểm soát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
- Cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm đến quyền và lợi ích của đối thủ cạnhtranh
+ Ngăn cản các đối thủ cạnh tranh được thực hiện chủ yếu thông qua thủ thuậtbán phá giá Ngoài ra còn có những hành vi tẩy chay, thâu tóm khách hàng của đối thủ.Các hành vi này nhằm mục đích lôi kéo khách hàng về phía mình tuy nhiên sự lôi kéo
đó là do thực hiện các hành vi xâm hại đến lợi ích của các doanh nghiệp khác mà ởđây là các đối thủ cạnh tranh trực tiếp
Trang 15+ Dèm pha hoặc bôi nhọ đối thủ: Trong cuộc sống đời thường, việc đưa tin thấtthiệt về người khác là điều không thể loại bỏ triệt để Để vị thế của doanh nghiệp lênmột tầm cao vì thế mà các sản phẩm hàng hóa cũng được biết đến một cách rộng rãitrên thị trường thì việc mà các doanh nghiệp hướng tới là hạ thấp đối thủ cạnh tranh.
Họ có thể đưa ra những thông tin không đúng sự thật về đối thủ cạnh tranh nhằm làmcho người tiêu dùng, các doanh nghiệp khác hợp tác với doanh nghiệp đó mất đi niềmtin và sự tín nhiệm với doanh nghiệp “bị chơi xấu”
+ Bội tín: Trong môi trường cạnh tranh, mọi doanh nghiệp đều có những bí mậtkinh doanh của mình Đây cũng là một trong những phương tiện, công cụ bảo vệ lợiích và sự thành đạt của doanh nghiệp nhưng vì mục tiêu cạnh tranh, đây cũng là đốitượng mà các đối thủ cạnh tranh luôn “tò mò” và muốn chiếm đoạt Vì đây được coi làmột bộ phận thuộc lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp nên được pháp luật bảo vệ
- Cạnh tranh không lành mạnh xâm hại đến lợi ích của người tiêu dùng
+ Can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng
Trong cơ chế thị trường , tự do kinh doanh ắt sẽ kéo theo tự do lựa chọn củakhách hàng Tuy nhiên sự tự do lựa chọn đó luôn có sự can thiệp của các doanh nghiệp
có hàng hóa, sản phẩm người tiêu dùng đang hướng tới Trong số những hành vi nhằmtác động vào sự tự do định đoạt của khách hàng trước hết phải kể đến hành vi lừa dốikhách hàng, gây cho khách hàng không hoàn toàn tự chủ trong khi quyết định tham giaquan hệ mua bán Họ đưa ra những lừa dối đặc biệt về quyền của khách hàng mà cácdoanh nghiệp khác không có để người tiêu dùng đứng về phía mình
Ngoài ra còn có những hành vi nhằm mục đích cưỡng ép khách hàng, là mộthành vi nhà bán hàng xử sự không lành mạnh , họ dồn khách hàng vào thế bí màkhông còn cách nào khác là phải chấp nhận quan hệ mua bán
+ Khuyến mại
Khuyến mại được coi là những biện pháp nhằm thực hiện những sản phẩm hoặcdịch vụ phụ, không mất tiền trên cơ sở có việc mua bán những sản phẩm, dịch vụchính Thực ra đây chỉ là sự ngụy trang cho việc giảm giá Giá thành mà khách hàngtrả cho sản phẩm, dịch vụ chính đã bao gồm cả sản phẩm phụ
+ Quảng cáo sai lệch
Quảng cáo, đưa ra thông tin sai lệch liên quan đến hàng hóa, phương thức và điềukiện thương mại là hành vi cạnh tranh không lành mạnh phổ biến hiện nay Là một
Trang 16hình thức quảng bá sản phẩm của mình tới người tiêu dùng bằng cách đưa ra thông tinsản phẩm thật hấp dẫn và sinh động Nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao, cuộcsống ngày càng bận rộn khiến họ chỉ quan tâm đến những lời mời gọi từ quảng cáo màquên đi những thông tin mà họ đưa ra là những thông tin gian dối nhằm mục đích lừadối khách hàng.
d Phân loại.
Nhằm ngăn chặn những biện pháp cạnh tranh không lành mạnh đang có trên thịtrường xâm phạm đến trật tự kinh doanh và có khả năng gây ra những xáo trộn xã hộinhất định, Luật cạnh tranh quy định những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, baogồm những hành vi sau đây:
- Chỉ dẫn gây nhầm lẫn
Là hành vi sử dụng chỉ dẫn chứa đựng thông tin gây nhầm lẫn về tên thương mại,khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tố kháctheo quy định của Chính phủ để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa,dịch vụ nhằm mục đích cạnh tranh Cấm kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có sử dụng chỉdẫn gây nhầm lẫn đó
- Xâm phạm bí mật kinh doanh
Theo khoản 10 Điều 3 Luật Cạnh tranh, bí mật kinh doanh là thông tin có đủ cácđiều kiện sau đây: Không phải là hiểu biết thông thường; Có khả năng áp dụng trongkinh doanh và khi được sử dụng sẽ tạo cho người nắm giữ thông tin đó có lợi thế hơn
so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng thông tin đó; Được chủ sở hữu bảomật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếpcận được
Doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh sau: + Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại cácbiện pháp bảo mật của người sở hữu hợp pháp bí mật kinh doanh đó;
+ Tiết lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép củachủ sở hữu bí mật kinh doanh;
+ Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa
vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập và làm lộ thông tin thuộc bí mật kinh doanh củachủ sỡ hữu bí mật kinh doanh đó;
+ Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người khác khi người
Trang 17này làm thủ tục theo quy định của pháp luật liên quan đến kinh doanh, làm thủ tục lưuhành sản phẩm hoặc bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan nhà nướchoặc sử dụng những thông tin đó nhằm mục đích kinh doanh, xin cấp phép liêm quanđến kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm.
- Ép buộc trong kinh doanh
Các hành vi ép buộc khách hàng, các đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khácbằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịchvới doanh nghiệp đó được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bị pháp luậtnghiêm cấm
- Gièm pha doanh nghiệp khác
Cấm doanh nghiệp gièm pha doanh nghiệp khác bằng hành vi trực tiếp hoặc giántiếp đưa ra thông tin không trung thực, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tàichính và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó
- Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
Cấm doanh nghiệp gây rối hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệpkhác bằng hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp đó
- Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Để đạt được mục tiêu xúc tiến thương mại ở mức tối ưu, doanh nghệp dễ có thểthực hiện quảng cáo không trung thực về giá trị và chất lượng thật của hàng hóa, sảnphẩm với tính chất cạnh tranh không lành mạnh Theo Điều 45 Luật Cạnh tranh, cácdoanh nghiệp bị cấm thực hiện các hoạt động quảng cáo sau đây:
+ So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loạicủa doanh nghiệp khác;
+ Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác gây nhầm lẫn cho khách hàng;
+ Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong số cácnội dung sau đây: Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì,ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, nơi sản xuất, người gia công, nơigia công; Cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; Các thông tingian dối hoặc gây nhầm lẫn khác
+ Các hoạt động quảng cáo khác mà pháp luật có quy định cấm
- Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh
Trang 18Các doanh nghiệp bị cấm thực hiện các hoạt động khuyến mại sau đây:
+ Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng;
+ Khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch vụ để lừadối khách hàng;
+ Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chứckhuyến mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại;
+ Tặng hàng hóa cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổihàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng đểdùng hàng hóa của mình;
+ Các hoạt động khuyến mại khác mà pháp luật có quy định cấm
- Phân biết đối xử của hiệp hội
Cấm hiệp hội ngành nghề thực hiện các hành vi sau đây:
+ Từ chối doanh nghiệp có đủ đều kiện gia nhật hoặc rút khỏi hiệp hội nếu việc
từ chối đó mang tính phân biệt đối xử và làm cho doanh nghiệp đó bị bất lợi trongcạnh tranh;
+ Hạn chế bất hợp lý hoạt độn kinh doanh hoặc các hoạt động khác có liên quantới mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên
Trang 19hành vi quảng cáo cho sản phẩm mà còn là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, tổchức cá nhân tổ chức hoạt động kinh doanh.
Theo quan niệm của 1 số nước trên thế giới như:
+ Hiệp hội Hoa Kỳ (AMA) đưa ra khái niệm quảng cáo: “Quảng cáo là bất cứloại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hóa, dịch vụ hay tư tưởng hànhđộng mà người ta phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo”;
+Hiệp hội quảng cáo Mỹ định nghĩa: “Quảng cáo là hoạt động truyền bá thôngtin trong đó nói rõ ý đồ của quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ của quảng cáotrên cơ sở thu phí quảng cáo, không trực tiếp nhằm công kích người khác”
Các khái niệm này được đưa ra dựa trên sự phát triển thực tại của nền kinh tế vàhoạt động quảng cáo tại nơi đó
Ở Việt Nam:
+ Khái niệm quảng cáo được đưa ra tại khoản 1, điều 2 của Luật Quảng cáo năm
2012 :” Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúngsản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mụcđích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giớithiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã hội; thông tin cá nhân”
+ Trong quy định luật cạnh tranh 2004 không có quy định nào định nghĩa cụ thểquảng cáo cạnh tranh không lành mạnh nhưng tại Điều 45 có liệt kê những hành vi bịcấm nhằm hạn chế hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh: So sánh trực tiếphàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hàng hóa, dịch vụ doanh nghiệp khác; Bắt chướcmột sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; Đưa thông tin giandối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng
Việc đưa ra nhưng hành vi bị coi là quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh tạo
cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện và kiểm tra hoạt động quảng cáo củadoanh nghiệp
1.2.2 Đặc điểm về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một dạng của quảng cáo vì vậy
nó có các đặc điểm chung của quảng cáo thương mại:
- Chủ thể quảng cáo thương mại
Có nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động quảng cáo thương mại với mục đích,cách thức và mức độ khác nhau Đó có thể là:
Trang 20+ Thương nhân tự thực hiện quảng cáo về hoạt động kinh doanh của mình;
+ Thương nhân thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thực hiện việcquảng cáo thương mại cho mình;
+ Chi nhánh của thương nhân Việt Nam hoặc của thương nhân nước ngoài tạiViệt Nam cũng được quyền như thương nhân;
+ Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp thực hiện hoat độngquảng cáo thương mại Trong trường hợp được thương nhân ủy quyền, Văn phòng đạidiện có quyền ký kết hợp đồng với thương nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo thươngmại để thực hiện quảng cáo cho thương nhân mà mình đại diện;
+ Thương nhân nước ngoài muốn quảng cáo thương mại về hoạt động kinhdoanh của mình tại Việt Nam phải thuê thương nhân thực hiện dịch vụ quảng cáo tạiViệt Nam thực hiện
- Hàng hóa, dịch vụ quảng cáo thương mại
Đối tượng của quảng cáo thương mại là những hàng hóa, dịch vụ đang hoặc sẽđược thương nhân cung ứng trên thị trường Về nguyên tắc, thương nhân được quyềnquảng cáo đối với mọi hàng hóa, dịch vụ mà mình được quyền kinh doanh tuy nhiênnhằm thực hiện chính sách xã hội, pháp luật có quy định cấm hoặc hạn chế đối vớihàng hóa, dịch vụ Do đó hàng hóa, dịch vụ quảng cáo thương mại không thuộc hànghóa,, dịch vụ cấm hoặc hạn chế hinh doanh
Một số hàng hóa, dịch vụ bị cấm quảng cáo : Thuốc lá; Rượu có nồng độ cồn
từ 15 độ trở lên; Sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ dùng cho trẻ dưới 24 tháng tuổi, sảnphẩm dinh dưỡng bổ sung dùng cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, bình bú và vú ngậm nhântạo; Thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn nhưng được cơ quan nhà nước có thẩmquyền khuyến cáo hạn chế sử dụng hoặc sử dụng có sự giám sát của Nhà nước;Súng săn và đạn súng săn, vũ khí thể thao hoặc các sản phẩm, hàng hóa có tính chấtkích động bạo lực;…
- Sản phẩm và phương tiện quảng cáo thương mại
+ Sản phẩm quảng cáo thương mại: sản phẩm quảng cáo thương mại gồm nhữngthông tin bằng hình ảnh, hành động, âm thanh, tiếng nói, chữ viết, biểu tượng, màusắc, ánh sáng chứa đựng nội dung quảng cáo thương mại Tất cả những yếu tố này làmnên sản phẩm quảng cáo nhằm truyền tải đến người tiêu dùng thông tin về hàng hóa,hoạt động kinh doanh của họ Những thông tin này phải đảm bảo tính chính xác, trung
Trang 21thực, rõ rang, không gây thiệt hại cho người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng.+ Phương tiện quảng cáo : Phương tiện quảng cáo là công cụ được sử dụng đểgiới thiệu sản phẩm quảng cáo thương mại Nó quyết định đến sự thành công về chiếnlược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Phương tiên quảng cáo bao gồm tất cả cácphương tiện có khả năng truyền tải thông tin đến công chúng bao gồm: Các phươngtiện thông tin đại chúng; các phương tiện truyền tin, pa-nô, áp phích, vật thể cố định,các phương tiên giao thông hoặc các vật thể di động khác; các phương tiện quảng cáothương mại khác.
Ngoài những đặc điểm của quảng cáo nói chung thì quảng cáo nhằm cạnh tranhkhông lành mạnh còn có những đặc điểm đặc thù sau đây:
+ Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một hành vi cạnh tranh do cácdoanh nghiệp trên thị trường thực hiện nhằm mục đích cạnh tranh
Trên thị trường cạnh tranh, mỗi hành vi kinh doanh của một doanh nghiệp cũngchính là hành vi cạnh tranh trong tương quan với doanh nghiệp khác Để đạt được mụctiêu lợi nhuận, doanh nghiệp buộc phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác nhằmthu hút khách hàng về phía mình Chủ thể thực hiện hành vi quảng cáo cạnh tranhkhông lành mạnh là các doanh nghiệp thực hiện hoặc tham gia hoạt động kinh doanhtrên thị trường là mọi tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh (sau đây gọi chung làdoanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ côngích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước vàdoanh nghiệp nước ngoại hoạt động ở Việt Nam
+ Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi bất hợp pháp, trái vớichuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh
Hành vi bất hợp pháp là các hành vi vi phạm pháp luật Theo đó, doanh nghiệpnào vi phạm sẽ phải chịu các chế tài nhất định do pháp luật cạnh tranh và các pháp luậtchuyên ngành khác quy định
Hành vi trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh có thể đượchiểu là những hành vi trái với các tập quán kinh doanh được các doanh nghiệp thừanhận và áp dụng nhiều lần trong hoạt động kinh doanh
+ Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh gây thiệt hại hoặc có khả nănggây thiệt hại cho đối tượng khác
Với vai trò là một hoạt động xúc tiến thương mại được các doanh nghiệp sử dụng
Trang 22ngày một rộng rãi để giới thiệu sản phẩm của mình tới mọi đối tượng trong xã hội,quảng cáo sẽ có tác động rất lớn đến nền kinh tế Do đó, quảng cáo nhằm cạnh tranhkhông lành mạnh sẽ gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại đến lợi ích củaNhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Ví dụ như ảnh hưởng đến các chính sách kinh tế-xã hội của Nhà nước, làm giảm uytín, thương hiệu của một số doanh nghiệp khác, gây nhầm lẫn cho khách hàng vềchất lượng, công dụng của sản phẩm, ảnh hưởng đến chính sức khỏe, tính mạng củangười tiêu dùng Như vậy, quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vigây thiệt hại nhất định dù thiệt hại này xảy ra hay chưa xảy ra và hành vi này cần đượcngăn chặn
1.2.3 Phân loại về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
Theo Luật cạnh tranh năm 2004, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lànhmạnh bao gồm:
- Quảng cáo so sánh
Quảng cáo so sánh là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh đượcquy định tại khoản 1 Điều 45 Luật cạnh tranh năm 2004: so sánh trực tiếp hàng hóa,dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác
Về nội dung, quảng cáo so sánh bao gồm nhiều nội dung nhưng chủ yếu so sánh
về giá và đặc điểm của hàng hóa, dịch vụ như tính năng, công dụng, chất lượng… đây
là những nội dung mà khách hàng quan tâm khi lựa chọn hàng hóa, dịch vụ Thông tin
so sánh có thể đúng hoặc không đúng Khi xác định một hành vi quảng cáo so sánhcần xác định hai vấn đề sau:
Thứ nhất, sản phẩm được quảng cáo và sản phẩm bị so sánh phải là những sản
phẩm cùng loại Các sản phẩm chỉ có thể được coi là cạnh tranh với nhau khi chúngcùng loại và các thông tin trong quảng cáo khi nói đến hai sản phẩm cùng loại của haidoanh nghiệp khác nhau thì mới là so sánh Ngược lại, một sản phẩm quảng cáo đưa ranhững thông tin nói về hai loại hàng hoá, dịch vụ không cùng loại thì hành vi ấy đượckinh tế học coi là quảng cáo liên kết chứ không phải là so sánh Ví dụ, quảng cáo vềsản phẩm bột giặt ô mô có sử dụng nước xả vải hương Downy… Các sản phẩm cùngloại với nhau khi chúng phục vụ cho cùng một nhu cầu sử dụng Tiếp theo, sản phẩm
bị so sánh phải là sản phẩm do doanh nghiệp khác sản xuất hoặc kinh doanh Nếu nộidung quảng cáo so sánh các sản phẩm cùng lọai do doanh nghiệp thực hiện việc quảng
Trang 23cáo kinh doanh như : so sánh sản phẩm mới và sản phẩm trước đây để cho khách hàngthấy được tính năng của sản phẩm mới thì việc quảng cáo đó không coi là quảng cáo
so sánh
Thứ hai, hành vi quảng cáo so sánh phải là so sánh trực tiếp với sản phẩm cùng
loại của doanh nghiệp khác Các thông tin quảng cáo sẽ là so sánh trực tiếp nếu nhữnghình ảnh, màu sắc, tiếng nói, chữ viết… được sử dụng trong sản phẩm quảng cáo đủ đểngười tiếp nhận thông tin xác định được sản phẩm bị so sánh Với dấu hiệu này, cónhiều khả năng sau đây sẽ xảy ra trong việc so sánh:
+ So sánh trực tiếp có thể là việc doanh nghiệp vi phạm điểm mặt, chỉ tên sảnphẩm và doanh nghiệp cụ thể mà nó muốn so sánh đến
+ Sự so sánh sẽ là trực tiếp nếu như những thông tin đưa ra làm khách hàng cókhả năng xác định được loại sản phẩm, nhóm doanh nghiệp bị so sánh mà không cầnphải gọi tên các doanh nghiệp cụ thể nào
Lý luận cạnh tranh phân chia hành vi quảng cáo so sánh thành nhiều mức độkhác nhau như sau:
+ Quảng cáo so sánh bằng: là hình thức quảng cáo cho rằng sản phẩm của doanhnghiệp mình có chất lượng, có cung cách phục vụ hoặc tính năng giống như sản phẩmcùng loại của doanh nghiệp khác
+ Quảng cáo so sánh hơn: là hình thức quảng cáo cho rằng sản phẩm của doanhnghiệp mình có chất lượng tốt hơn, có cung cách phục vụ hoặc tính năng tốt hơn sảnphẩm của doanh nghiệp khác
+ Quảng cáo so sánh hơn nhất: là hình thức quảng cáo nhằm khẳng định vị trí sốmột của sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường bằng cách cho rằng chất lượng,mẫu mã, phương thức cung ứng… của mình là tốt nhất hoặc khẳng định rằng không cóbất kỳ sản phẩm cùng loại nào trên thị trường có được những tiêu chuẩn nói trên nhưsản phẩm của mình
- Quảng cáo bắt trước:
Quảng cáo bắt trước là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnhđược quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật cạnh tranh năm 2004: “Bắt chước một sảnphẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng”
Lợi ích mà quảng cáo mang lại là rất lớn, vì vậy một số doanh nghiệp có thể bắtchước quảng cáo với nội dung, cách thức thể hiện giống hệt hoặc tương tự để nhằm tạo
Trang 24hiệu quả như sản phẩm, dịch vụ trước đó được quảng cáo Tính chất không lành mạnhcủa quảng cáo bắt chước thể hiện ở việc lợi dụng thành quả đầu tư của người khác đểtạo sự nhầm lẫn không đáng có cho khách hàng Các loại nhầm lẫn mà khách hàngthường gặp là: nhầm lẫn về nguồn gốc, nhầm lẫn về liên hệ,…
- Quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn:
Quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranhkhông lành mạnh được quy định tại khoản 3 Điều 45, Luật cạnh tranh năm 2004 nhưsau: “Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nộidung sau đây: Giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì,ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, ngườigia công, nơi gia công; cách thức sử dụng, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành vàcác thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn khác”
Như chúng ta đã biết, các thông tin về giá, số lượng, chất lượng, công dụng, kiểudáng, thời hạn sử dụng… là những thông tin có ý nghĩa quan trọng, tác động đến sựlựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm quảng cáo Các thông tin bị sai lệch sẽ làmcho sự lựa chọn không chính xác Pháp luật cạnh tranh và pháp luật chuyên ngànhtrong lĩnh vực quảng cáo nghiêm cấm các hành vi gian dối trong quảng cáo bằng cáchlàm sai lệch nhận thức, gây nhầm lẫn trong ý thức lựa chọn của khách hàng
Căn cứ vào khoản 3 Điều 45 Luật cạnh tranh năm 2004, chúng ta có thể chiaquảng cáo gây nhầm lẫn thành hai loại sau:
+ Quảng cáo gian dối: có thể hiểu là đưa ra nhưng thông tin sai lệch với nội dungthực tế khách quan, từ đó lừa dối khách hàng và người tiêu dùng
+ Quảng cáo gây nhầm lẫn: không đưa ra nhưng thông tin sai lệch nhưng nộidung lại không đầy đủ, không rõ ràng hoặc bỏ sót từ đó tạo ra sự hiểu lầm cho kháchhàng và người tiêu dùng
Trang 25CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Trong thời đại công nghệ số, quảng cáo đóng vai trò rất quan trọng đối với cácdoanh nghiệp Việc hàng hóa, dịch vụ có được người tiêu dùng biết đến và sử dụnghay không phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược quảng cáo của từng doanh nghiệp vàđây được xem là công cụ cạnh tranh đắc lực trong kinh doanh Xét dưới góc độ ngườitiêu dùng, quảng cáo giúp họ nắm bắt được sản phẩm, thông tin thị trường, để từ đóđưa ra những quyết định tiêu dùng hợp lý
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội, hoạt độngquảng cáo ở nước ta đã có bước phát triển mạnh với sự gia tăng về số lượng doanhnghiệp kinh doanh dịch vụ quảng cáo, sự mở rộng về hình thức, quy mô và công nghệ.Việc đầu tư kinh phí cho hoạt động quảng cáo hàng hoá, dịch vụ được các doanh nghiệpsản xuất, kinh doanh quan tâm và không khó hiểu khi các mẫu quảng cáo ngày càng đadạng, hấp dẫn và mới mẻ có nội dung thu hút khán, thính giả Do nhu cầu quảng cáongày càng tăng nên nhiều loại hình quảng cáo mới xuất hiện và phát triển mạnh, đặc biệt
là quảng cáo trên các phương tiện điện tử, thiết bị đầu cuối, các thiết bị viễn thông;quảng cáo trên báo điện tử và trang thông tin điện tử; quảng cáo bằng đoàn người
Rất tiếc là trong thời gian qua, vì nhiều động cơ khác nhau, một số quảng cáonhằm cạnh tranh không lành mạnh vẫn được một số đài, báo truyền phát, đăng tải gâythiệt hại đối với người tiêu dùng, ảnh hưởng đến lợi ích, uy tín của các doanh nghiệp làngười bị hại Nguy hiểm hơn là những loại quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn liênquan đến các loại hàng hóa, dịch vụ trong lĩnh vực y tế như thuốc, mỹ phẩm, vaccine,thiết bị y tế, thực phẩm chức năng và các dịch vụ khám chữa bệnh, giải phẫu thẩm mỹ
2.1 Thực trạng pháp luật về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
2.1.1 Điều chỉnh pháp luật đối với các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam.
- Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh và các văn bản trực tiếp điều chỉnh
Các quy định pháp luật mang tính nguyên tắc cơ bản trên cở sở chủ trương,
Trang 26lành mạnh, bình đẳng, các quy định pháp luật điều chỉnh quảng cáo và hoạt độngquảng cáo đã được cụ thể hoá trong rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau, bao gồm cảcác văn bản pháp luật chuyên ngành và văn bản pháp luật liên quan Việc điều chỉnhhành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thuộc nhóm chế định pháp luậtchống cạnh tranh không lành mạnh.
+ Việc điều chỉnh pháp luật đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh khônglành mạnh trước hết được cụ thể hoá bằng những quy định trong Luật cạnh tranh năm
2005 Chương III của Luật với các quy định từ Điều 39 đến Điều 48, điều chỉnh cáchành vi cạnh tranh không lành mạnh Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lànhmạnh được cụ thể hoá tại Điều 45, với quy định cấm doanh nghiệp thực hiện một sốhoạt đông quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh như: “So sánh trực tiếp hànghóa , dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; Bắtchước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; Đưa thong tingian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về một trong các nội dung sau đây: giá, sốlượng, chất lượng, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, ngày sản xuất, thời hạn sửdụng, xuất xứ hàng hóa, người sản xuất, nơi sản xuất, người gia công, nơi gia công,cách thức sử dung, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành; các thong tin gian dốihoặc gây nhầm lẫn khác”
+ Luật quảng cáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013
để thay thế cho Pháp lệnh quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH10 Luật này quy định
về hoạt động quảng cáo; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt độngquảng cáo; quản lý nhà nước về hoạt động quảng cáo
+ Nghị định số 181/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều trongLuật quảng cáo Nghị định này quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật quảngcáo về nội dung quảng cáo các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt; quảng cáo trêntrang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ quảng cáoxuyên biên giới có phát sinh doanh thu quảng cáo tại Việt Nam; quy hoạch quảng cáongoài trời; văn phòng đại diện của doanh nghiệp quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam
và phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về quảng cáo
+ Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiệnmột số điều của Luật quảng cáo và nghị định số 181/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thihành một số điều trong Luật quảng cáo Thông tư này quy định chi tiết và hướng dẫn
Trang 27thi hành một số điều của Luật quảng cáo và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luậtquảng cáo về tài liệu hợp pháp, tổ chức và hoạt động của Hội đồng thẩm định sảnphẩm quảng cáo và phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về quảng cáo.phẩm
- Dưới góc độ của từng ngành luật cụ thể có liên quan
+ Tại Điều 8 Luật Chất lượng hàng hóa sản phẩm năm 2007 đã quy định nhữnghành vi bị cấm trong quá trình sản xuất, mua bán hàng hóa, trong đó cấm: Mua bánhàng hóa không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, không có nguồn gốc rõ rang,
đã hết hạn sử dụng; thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chấtlượng sản phẩm, hàng hóa, về nguồn gốc và xuất xứ hàng hóa
Theo quy định của luật này thì người bán hàng có các nghĩa vụ tuân thủ các điều
kiện bảo đảm chất lượng đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường và chịu tráchnhiệm về chất lượng hàng hóa, nghĩa vụ kiểm tra nguồn gốc hàng hóa, không cónhững hành vi gian dối , quảng cáo sai sự thật về chất lượng hàng hóa, sản phẩm vìnhững hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng Trên thực
tế, tình trạng chất lượng giữa hàng hóa được mang đi kiểm định và những hàng hóađược lưu thông trên thị trường rất khác nhau và người tiêu dùng thì không thể tự mìnhkiểm định được nên việc họ chỉ quan tâm đến những quảng cáo đối với sản phẩm mànhà sản xuất đưa ra thì rõ ràng những trường hợp mua phải hàng hóa kém chất lượngkhông hề ít Luật cũng quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về sản phẩm, hàng hóathuộc về Chính phủ; Bộ Khoa học và Công nghệ; các Bộ; Ủy ban nhân dân các cấptrong phạm vi, quyền hạn của mình và đưa ra các chế tài xử phạt đối với các hành vi viphạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của các cá nhân, tổ chức: họ có thểphải bồi thường thiệt hại hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự
+ Khoản 1 Điều 10 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thì “Cấm
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ lừa dối hoặc gây nhầm lẫn chongười tiêu dùng thông qua hoạt động quảng cáo hoặc che giấu, cung cấp thông tinkhong đầy đủ, sai lệch, không chính xác về một trong các nội dung về: Hàng hóa,dịch vụ mà tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp; uy tín, khảnăng kinh doanh, khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung, đặc điểm giữa người tiêu dùng với tổ chức, cánhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ…”
Trang 28Do tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng mà người tiêu dùng khó có thể có cơhội được tự do, bình đẳng vì họ luôn buộc phải tham gia vào mối quan hệ với đặc tínhtruyền kiếp là “thông tin bất cân xứng” Bên cạnh sự bất cân xứng về thông tin, ngườitiêu dùng còn có thể rơi vào tình trạng mất khả năng mặc cả khi họ buộc phải sử dụnghàng hóa, dịch vụ của nhà cung cấp độc quyền Những thông tin gian dối, sai sự thật
mà chủ thể quảng cáo thể hiện thông qua quảng cáo sẽ làm cho người tiêu dùng khó cóthể tránh khỏi sự lầm tưởng về số lượng, chất lượng công dụng cũng như các đặc điểmkhác của hàng hóa được quảng cáo Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lànhmạnh không chỉ xâm hại trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh mà còn xâm hại đến quyền vàlợi ích hợp pháp của người tiêu dùng Khi có mặt trên cùng một thị trường liên quan,các thương nhân có chung mục tiêu là “khách hàng”, chính vì vậy, mọi thủ pháp cạnhtranh mà doanh nghiệp áp dụng đều tác động đến người tiêu dùng, nếu cạnh tranhđúng luật họ sẽ được lợi, còn ngược lại sẽ trở thành “nạn nhân” của các hành vi cạnhtranh không lành mạnh và các hành vi hạn chế cạnh tranh
+ Trong lĩnh vực dược phẩm, khoản 5 Điều 9 Luật dược năm 2005 cũng có quyđịnh “Nghiêm cấm hành vi thông tin, quảng cáo thuốc sai sự thật, gây nhầm lẫn chongười tiêu dùng”
Cùng với sự phát triển của xã hội, lợi dụng nhu cầu sử dụng thuốc của nhân dân
và lợi nhuận cao nên nhiều đối tượng cố tình sản xuất, buôn bán thuốc giả, thuốc kémchất lượng, có những hành vi quảng cáo thuốc sai sự thật gây ảnh hưởng đến sức khỏecủa người tiêu dùng và sự phát triển của ngành dược Nếu như trước đây, thuốc giả xuấthiện ở những vùng sâu, vùng xa thì nay thuốc giả lại tập trung ở những nơi đông dân cư
và có sức tiêu thụ lớn Ở mặt hàng này, người tiêu dùng cũng không thể phát hiệnđược đâu là thuốc giả, đâu là thuốc thật, chỉ cần biết rằng, loại thuốc nào đang cần chosức khỏe của mình thì sẽ mua loại thuốc đó Chính điều này bị những đối tượng làmthuốc giả, thuốc kém chất lượng lợi dụng, họ quảng cáo những sản phẩm này với rấtnhiều những công dụng có thể chữa khỏi bệnh Nhưng thực hư thế nào thì sau khi sửdụng người tiêu dùng mới phát hiện được hay may mắn hơn thì được những cơ quan cóthẩm quyền phát hiện ra trước Thực tế này không chỉ khiến các cơ quan chức năng gặpkhó khăn trong việc phát hiện mà nguy hiểm hơn còn đe dọa sức khỏe, làm thiệt hạikinh tế của người tiêu dùng Nhiều người bệnh chỉ vì sử dụng phải thuốc giả, thuốc kémchất lượng đã bị nhờn thuốc, thậm chí bệnh không khỏi mà còn tiền mất tật mang
Trang 29+ Bên cạnh đó, Điều 26 Nghị định 37/2006/NĐ-CP cũng quy định “Trong hoạtđộng quảng cáo thương mại đối với hàng hoá thuộc diện phải áp dụng tiêu chuẩn, quyđịnh kỹ thuật về chất lượng hàng hoá, thì doanh nghiệp chỉ được phép quảng cáo đốivới hàng hoá loại này sau khi hàng hoá đó được cấp giấy chứng nhận phù hợp tiêuchuẩn hoặc quy định kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền hoặc đượccông bố tiêu chuẩn chất lượng”.
Quy định này đưa ra nhằm quản lý sát sao đối với những hàng hóa thuộc diệnphải áp dụng tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật về chất lượng hàng hóa Những hàng hóanày muốn được xuất hiện trong các quảng cáo thương mại cần phải có giấy chứngnhận phù hợp tiêu chuẩn hoặc quy định kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước Đây làmột quy định cần thiết vì những hàng hóa thuộc trường hợp này ảnh hưởng trực tiếpđến sức khỏe và quyền lợi của người tiêu dùng như: sữa, bột ngũ cốc, đường, các loạimứt, kẹo có đường,… Nhà đài phải có trách nhiệm liên đới cùng với các cơ quan chứcnăng có thẩm quyền trong việc kiểm tra cũng như xem xét những hàng hóa này có phùhợp để đưa lên các chương trình quảng cáo hay không
2.1.2 Thiết chế thi hành pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về kiểm soát hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
a Cục Quản lý cạnh tranh
Theo quy định của Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn, Cục Quản lý cạnhtranh trực thuộc Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) có chức năng thực hiệnquản lý nhà nước về cạnh tranh, chống bán phá giá, chống trợ cấp, áp dụng các biệnpháp tự vệ đối với hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam; bảo vệ quyền lợi người tiêudùng; phối hợp với các doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng trong việc đối phó với các
vụ kiện trong thương mại quốc tế liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng cácbiện pháp tự vệ Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lýcạnh tranh được quy định tại Nghị định 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày09/01/2006 Như vậy, theo quy định của pháp luật, Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ CôngThương có các nhiệm vụ chính như sau:
+ Kiểm soát quá trình tập trung kinh tế theo quy định của Luật này;
+ Thẩm định hồ sơ đề nghị hưởng miễn trừ; đề xuất ý kiến để Bộ trưởng BộCông Thương quyết định hoặc trình Thủ tướng Chính phủ quyết định;
+ Tổ chức điều tra xử lý các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế
Trang 30cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh;
Hội đồng cạnh tranh có nhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các
vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh theo quy định của Luậtcạnh tranh
Ngày 12/06/2006, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thương mại, Thủ tướng Chínhphủ đã ký Quyết định số 843/QĐ-TTg bổ nhiệm 11 thành viên Hội đồng cạnh tranh.Thành viên Hội đồng cạnh tranh là đại diện của các Bộ: Bộ Thương mại, Bộ Tư Pháp,
Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xây dựng,
Hội đồng cạnh tranh gồm 01 Chủ tịch, giúp việc cho Chủ tịch Hội đồng cạnhtranh sẽ có 02 Phó Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh
Để giúp việc cho Hội đồng, ngày 28/8/2006, Bộ trưởng Bộ Thương mại đã cóQuyết định số 1378/QĐ-BTM thành lập Ban Thư ký Hội đồng cạnh tranh Ban Thư kýHội đồng cạnh tranh gồm từ 7-9 người làm việc chuyên trách
Một thực trạng cho thấy với quá nhiều chưc năng và nhiệm vụ như vậy thìnguồn nhân lực của Cục Quản lý cạnh tranh hiện nay có thể nói là chưa thể đáp ứngđược với yêu cầu về chức năng và nhiệm vụ của mình Bên cạnh đó, để Luật cạnhtranh đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng, điều quan trọng là phải xây dựng đượcmột đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp bảo đảm thực thi có hiệu quả các quy định của Luậtnày Điều này, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, có kiến thức chuyênmôn sâu mới có thể thực hiện được Chúng ta cũng nhận thức rõ ràng là vấn đề này dùsao cũng không thể được giải quyết trong một sớm một chiều, mà phải là một quá trìnhxây dựng và tích tụ từng bước
Cũng chính vì còn nhiều bất cập như vậy nên khi luật Quảng cáo 2012 ra đời đã
bổ sung thêm một số điểm mới quy định chức năng, nhiệm vụ cho một số cơ quankhác nhằm mục đích giảm bớt gánh nặng cho Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồngcạnh tranh, tại Điều 9 đã quy định:
“Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo
Trang 311 Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo là tổ chức tư vấn trực thuộc Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch, giúp Bộ trưởng xem xét và đưa ra kết luận về sự phù hợpcủa sản phẩm quảng cáo với quy định của pháp luật trong trường hợp tổ chức, cá nhânyêu cầu thẩm định sản phẩm quảng cáo.
2 Thành phần của Hội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo bao gồm đại diện BộVăn hóa, Thể thao và Du lịch, đại diện của tổ chức nghề nghiệp về quảng cáo và cácchuyên gia trong lĩnh vực có liên quan
3 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tổ chức và hoạt động củaHội đồng thẩm định sản phẩm quảng cáo.”
Ngoài ra Nghị định số181/2013/NĐ- CP hướng dẫn chi tiết thi hành luật Quảngcáo 2012 cũng đã phân công trách nhiệm quản lí Nhà nước về quảng cáo tại Điều 26,Điều 27, Điều 28 Theo đó trách nhiệm này thuộc về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;các bộ có liên quan như Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn, Bộ Công Thương, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiệnquản lý nhà nước về quảng cáo theo thẩm quyền
Và mới đây nhất Thông tư 10/2013 đã quy định chi tiết hơn thẩm quyền của các
cơ quan có trách nhiệm trong việc quản lý quảng cáo nhằm cạnh tranh không lànhmạnh Theo đó trách nhiệm này thuộc về cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao
và Du lịch; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương; Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện
Có thể thấy việc quy định thêm các cơ quan trong việc kiểm soát và điều tra liênquan đến quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một bước tiến mới cho thấyđây là vấn đề đang được các cơ quan chức năng quan tâm và vào cuộc Nếu như trướckia chỉ quy định thẩm quyền này thuộc về Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnhtranh được cụ thể hóa tại Nghị định số 06/2006/NĐ-CP và Nghị định số 05/2006/NĐ-
CP thì nay, trong Luật Quảng cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định chitiết thẩm quyền này thuộc về nhiều bộ, ban, ngành xuống đến cấp huyện Với một cơcấu quản lý chặt chẽ như vậy, việc tổ chức kiểm tra cũng như phát hiện kịp thời những
vụ vi phạm cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo sẽ trở nên nhanhchóng và hiệu quả hơn, kịp thời khắc phục những hậu quả cho các doanh nghiệp “bịhại” và đặc biệt là tới lợi ích của người tiêu dùng Đây là một thực tế phản ánh đúng
Trang 32thực trạng của cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo hiện nay vìchúng được thực hiện ngày càng nhiều, với những thủ đoạn tinh vi và không dễ gì đốiphó nếu không được ngăn chặn và xử lý kịp thời.
2.2 Thực tiễn hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh lành mạnh ở Việt Nam hiện nay.
2.2.1 Tình hình chung.
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa luôn muốn tự mình quyết định đếnviệc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa- dịch vụ của mình Cạnh tranh trên thị trường đãkhông cho phép họ làm vậy, do đó các doanh nghiệp luôn muốn xóa bỏ cạnh tranh vàđộc quyền Có rất nhiều cách để cạnh tranh, đưa hàng hóa của mình lên một vị trí quantrọng nhưng đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những tình trạng cạnh tranh không lànhmạnh, nó được biểu hiện ở một số hành vi như: lừa dối khách hàng; quảng cáo giandối; sản xuất, buôn bán hàng giả; lưu hành sản phẩm kém chất lượng; kinh doanh tráiphép;…
Quảng cáo làm người tiêu dùng cảm nhận được linh hồn của sản phẩm, đọc rađược thông điệp mà nhãn hiệu muốn gửi gắm đến khách hàng Thực tế ít doanh nghiệplàm được điều đó Họ quảng cáo, lăng xê sản phẩm của mình là đảm bảo chất lượng,đạt tiêu chuẩn, nhiều công dụng nhưng không hoàn toàn là vậy Sự nhầm lẫn về cáckhái niệm, thước đo về tính hiệu quả trong tiếp thị, quảng cáo cũng dẫn đến tình trạngbất đống trong ngôn ngữ kinh doanh Không ít nhân viên bán hàng vô tư nói với kháchhàng “quảng cáo của chúng tôi rất nhiều người đọc nhưng họ lại không trả lời đượcsản phẩm của họ phục vụ đối tượng độc giả chính nào?”
Bằng mọi thủ đoạn, họ luôn muốn sản phẩm của họ được quảng bá rộng rãi nhấtđến người tiêu dùng nhưng đâu đó xuất hiện những đoạn quảng cáo trên những trangthông tin đại chúng lại phản ánh rõ việc hiện thực cạnh tranh không lành mạnh
Các hình thức quảng cáo gian dối, thổi phồng ưu điểm của hàng hóa mình làmgiảm ưu điểm của các hàng hóa khác cùng loại rồi đưa ra mức giá cao hơn so với mứcgiá thực tế của sản phẩm điều này cũng gây thiệt hại cho người tiêu dùng và nhữngdoanh nghiệp sản xuất chân chính Đó là một tình trạng đáng báo động khi những hành
vi cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo không lành mạnh ngày một đa dạng và không
dễ gì kiểm soát Quảng cáo sản phẩm trên truyền hình mang được thông tin nhanhnhạy đến mọi người ở mọi vùng miền nhưng cũng chính vì thế mà nó cũng nhanh
Trang 33chóng làm cho các hành vi quảng cáo nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh lantruyền nhanh chóng đến người xem.
Một số công ty dựa vào thế mạnh kinh tế của mình đã không ngần ngại bỏ ra mộtkhoản tiền để đầu tư cho việc quảng cáo sản phẩm, các công ty này dựa vào thế mạnhcủa mình mà sử dụng các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh để loại trừ đối thủcạnh tranh thao túng thị trường, hiện tượng này nổi lên và có lẽ có thể nhận định rằng
“ Cạnh tranh không lành mạnh- nhiều đại gia chơi xấu”
Thời gian vừa qua, đã có quá nhiều quảng cáo có nội dung không đầy đủ, có thểgây nhầm lẫn cho khách hàng Nhiều trường hợp quảng cáo không trung thực, vi phạmđiều cấm trong quảng cáo, vi phạm nhãn mác, gây ngộ nhận cho người tiêu dùng.Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh có thể biểu hiện dưới dạng so sánh trựctiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệpkhác; bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng hayđưa ra thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng Hoạt động quảng cáochịu sự quản lý của nhiều ngành, nhiều Bộ khác nhau Tuy nhiên, việc quản lý quảngcáo chưa chú trọng đúng mức đến tính chất thương mại của hoạt động quảng cáo hayảnh hưởng của nó đến người tiêu dùng, mà chỉ chủ yếu nhìn nhận dưới góc độ bảo vệthuần phong, mỹ tục Những điểm thiếu sót đó là nguyên nhân, là cơ hội để các mẫuquảng cáo ngày xuất hiện một nhiều nhưng họ chỉ quan tâm đến thuần phong mỹ tục
mà coi nhẹ tính chất thương mại dẫn đến hậu quả là làm cho các doanh nghiệp bị khác
bị chơi xấu, người tiêu dùng cũng vì đó mà mất đi một số lợi ích nhất định vì khôngphải người tiêu dùng nào cũng đủ tỉnh táo để nhận ra rằng đó chỉ là những mẫu quảngcáo nhằm mục đích lợi nhuận mà sẵn sàng đưa ra những thông tin sai lệch, không đúng
sự thật miễn sao hàng hóa, sản phẩm của họ lọt vào tầm ngắm của người tiêu dùng.Như đã phân tích ở trên, rất nhiều các cơ quan chức năng có chức năng, nhiệm vụkiểm soát hoạt động quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh nhưng thực tế chothấy chúng vẫn tồn tại khá nhiều và thậm chí xuất hiện ngay trên những kênh truyềnhình, radio, báo mạng, những kênh thông tin đại chúng vô cùng phổ biến và điều đángnói hơn là chúng xuât hiện đã lâu, tần suất xuất hiện nhiều nhưng không có một cơquan nào đứng ra xử lý
- Các phương tiện cho quảng cáo
+ Quảng cáo trên báo in
Trang 34Báo in là một loại phương tiện thông tin đại chúng dễ dàng tiếp cận với kháchhàng, hiện đại và mang tính liên tục Ưu thế của báo in là với lượng thông tin lớn vànội dung chuyên sâu, có thể tăng số trang theo yêu cầu, lượng phát hành lớn, phạm vitiếp xúc rộng, có thể truyền tay nhau.
Ngoài ra ưu điểm của báo in còn được ghi nhận ở độ linh hoạt và tính thời hiệucao, chi phí thấp, thuận tiện trong việc cất giữ Nếu như quảng cáo trên các phươngtiện nghe nhìn có độ tan biến rất nhanh thì báo in có thể đọc đi đọc lại và lưu trữ thôngtin
Có thể nói đây là hình thức phát triển mạnh nhất ở Việt Nam cùng với đó là một
số lượng lớn đầu báo ra đời với mục đích phục vụ cả nhu cầu thông tin lẫn mục tiêunắm bắt cơ hội kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo Hiện nay cả nước có khoảng hơn
700 đầu báo tuy nhiên số đầu báo được các nhà quảng cáo quan tâm chỉ chiếm một con
số rất khiêm tốn, khoảng 7% (Báo maketing Việt Nam)
+ Quảng cáo trên truyền hình, truyền thanh
Khi đời sống xã hội càng phát triển thì nhu cầu về thông tin, giải trí ngày cànglớn Mặt khác theo số liệu thống kê của công ty Tayor Nelson Sofres Việt Nam, hiệnnay ở 4 thị trường chủ lực là đồng bằng Bắc Bộ, vùng duyên hải miền Trung, vùngNam Trung Bộ và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có khoảng 90% số hộ gia đình sởhữu ít nhất một chiếc tivi Nếu đem so sanh tỉ lệ này với các nước khác trong khu vựcthì có thể nói là khá cao
Trong những năm gần đây, số lượng người nghe đài có xu hướng giảm dần trongkhi số người xem cũng như thời lượng xem có xu hướng tăng lên Theo bản điều trathói quen nghe và xem các chương trình trên đài phát thanh và truyền hình của cáckhán giả 15 tuổi trở lên, số lượng người xem truyền hình cao gấp 12 lần so với lượngngười nghe đài
Bảng 2.1: So sánh lượng khá giả và thời lượng xem truyền hình và nghe radio
Loại hình Số lượng khán giả(%) Thời lượng(%)Truyền hình 14,8 87,5
(Nguồn: Báo Vietnam Economic Times, 2009)
Trong số lượng khán giả xem các chương trình trên đài truyền hình thì tỷ lệ nữgiới luôn chiếm vị trí đa số, khoảng 53-54% trong khi nam giới chiếm 46-47% Nhìnchung nhìn vào tỷ lệ khán giả xem truyền hình, các công ty thuê quảng cáo cũng như