Việcgiảng dạy môn Vật lí có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một hệ thống kiếnthức cơ bản ở trình độ phổ thông, bước đầu hình thành cho học sinh những kĩnăng và thói quen làm việc khoa học
Trang 1PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Đối với phương pháp dạy học lấy người thầy làm trung tâm đã dẫn đếnkiểu học thụ động thiên về ghi nhớ, ít chịu suy nghĩ từ đó hạn chế đến chấtlượng và hiệu quả dạy học không đáp ứng được yêu cầu của xã hội Để khắcphục tình trạng đó thì cần phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh thôngqua quá trình dạy học dưới sự chỉ đạo, tổ chức của người giáo viên, người họcphải tích cực, chủ động chính mình chứ không ai có thể làm thay cho mìnhđược
Chương trình đổi mới giáo dục trên phạm vi toàn quốc trong nhữngnăm vừa qua đã và đang được cả xã hội quan tâm sâu sắc Một trong nhữngnhiệm vụ cơ bản của đội ngũ nhà giáo là không ngừng cải tiến phương phápgiảng dạy nhằm giáo dục học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sángtạo Chính vì thế, mà người giáo viên trực tiếp giảng dạy phải biết vận dụngcác phương pháp hoạt động lên lớp một cách hợp lý, cụ thể phù hợp với từngđối tượng học sinh nhằm khơi dậy niềm say mê, sáng tạo và khả năng khámphá thế giới xung quanh
Với môn Vật lí là một bộ môn rất quan trọng ở trong trường trung học
cơ sở Vật lí trang bị và bước đầu hoàn chỉnh những kiến thức khoa học, kiếnthức thực tiễn Học sinh được rèn luyện về phẩm chất đạo đức được bồi dưỡng
về thế giới quan duy vật biện chứng, mê tín dị đoan, tư duy khoa học, mở rộngtầm nhìn hiểu biết khoa học
Môn Vật lí học là một trong những môn khoa học về tự nhiên, nhiệm
vụ chủ yếu của nó là nghiên cứu các hiện tượng vật lí, tìm nguyên nhân, khámphá ra các định luật vật lí phục vụ lợi ích của con người Có vai trò quan trọng
Trang 2trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của hệ thống giáo dục phổ thông Việcgiảng dạy môn Vật lí có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh một hệ thống kiếnthức cơ bản ở trình độ phổ thông, bước đầu hình thành cho học sinh những kĩnăng và thói quen làm việc khoa học, góp phần tạo ra ở các em những nănglực nhận thức, năng lực hành động và các phẩm chất về nhân cách mà mụctiêu giáo dục đã đề ra, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục tham gia lao động sảnxuất, có thể thích ứng với sự phát triển khoa học - kĩ thuật.
Trong quá trình học tập bộ môn Vật lí với học sinh vùng dân tộc thiểu
số phần lớn các em còn gặp khó khăn Nhiều khi học sinh chưa biết gọi tênmột hiện tượng hay mô tả phân tích, giải thích một hiện tượng Vật lí Lý do cơbản là phần lớn các em còn gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, các emcòn nhút nhát, e ngại hoặc quá ỷ lại, nhiều em chưa có kỹ năng giao tiếp, tưduy còn hạn chế, việc vận dụng khoa học còn yếu Do đó việc học tập, nhậnthức của các em cũng còn nhiều hạn chế
Từ những hạn chế trên của học sinh, tôi nghĩ trong quá trình dạy họcphải làm như thế nào để học sinh có thể học tốt được bộ môn Vật lí từ đó pháttriển được năng lực tư duy ngôn ngữ của các em Vậy phải làm gì ? Làm nhưthế nào để học sinh nắm được và phát triển được năng lực tư duy khoa học,khi giảng dạy Vật lí trung học cơ sở Trong những năm qua bản thân tôi đã
không ngừng nghiên cứu tìm tòi và đã rút ra: “Một số kinh nghiệm về đổi
mới phương pháp dạy học môn Vật lí nhằm phát huy tính tích cực của học sinh dân tộc thiểu số’’.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
- Đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số kinh nghiệm về đổi mới phương
pháp dạy học môn Vật lí nhằm phát huy tính tích cực của học sinh dân tộc thiểu số” đặt ra mục đích tìm hiểu và đánh giá tình hình đổi mới phương pháp
Trang 3giảng dạy nói chung và đổi mới phương pháp giảng dạy vật lý nói riêng Phântích mục đích, vai trò và hiệu quả đổi mới phương pháp giảng dạy đối với mônvật lí Qua đó đưa ra một số phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao tinh thầntrách nhiệm của giáo viên và khả năng chủ động, sáng tạo của học sinh, nhằm
đạt được mục tiêu của ngành là chuyển từ lấy “Dạy” làm trung tâm sang lấy
lý ở trường trung học cở có điều kiện đặc thù như hiện nay
III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Tìm hiểu bản chất của các phương pháp dạy học nhằm phát huy tínhtích cực của học sinh dân tộc thiểu số
- Nghiên cứu thực tế việc đổi mới phương pháp trong dạy học Vật línhằm phát huy tính tích cực của học sinh vùng dân tộc thiểu số
- Vận dụng các phương pháp dạy học trong các tình huống cụ thể
- Đề ra những biện pháp để học sinh theo phương pháp này đạt hiệu quảcao
IV CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Với những yêu cầu đặt ra là làm như thế nào để các em học sinh dântộc thiểu số học tập bộ môn một cách tốt nhất, tôi đã nghiên cứu đưa ra một sốgiải pháp minh họa để cụ thể hoá việc đổi mới phương pháp dạy học môn Vật
lí với một số nội dung hoạt động học tập nhằm phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của học sinh Chính vì vậy, tôi lựa chọn một số phương pháp
Trang 4giảng dạy được sử dụng nhiều trong giảng dạy môn Vật lí Dưới đây là một sốphương pháp mà tôi lựa chọn giảng dạy, áp dụng cho bài giảng dạy Vật lí.
+ Phương pháp thảo luận nhóm
+ Phương pháp trực quan
+ Phương pháp giải quyết vấn đề
+ Phương pháp dùng phiếu học tập, bài tập thảo luận
+ Phương pháp vận dụng tri thức liên môn
V ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI ĐỀ TÀI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU :
1 Đối tượng:
- Nội dung của các bài dạy trong chương trình vật lí trung học cơ sở
- Tập trung nghiên cứu việc sử dụng đổi mới phương pháp dạy học Vật
lí nhằm phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trung học cơ sở ở vùngđồng bào dân tộc thiểu số
- Quan điểm đổi mới về phương pháp dạy học Vật lí và quan điểm chỉđạo của ngành giáo dục địa phương
- Học sinh các khối lớp 6, 7, 8, 9 Trường TH-THCS Lê Văn Tám
- Hệ thống SGK, SGV, các tài liệu, sách hướng dẫn, sách tham khảo về
bộ môn Vật lí
2 Phạm vi:
- Trong chương trình giáo dục trung học cơ sở có nhiều phương pháp
dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, nhưngtôi chỉ đi sâu nghiên cứu một số phương pháp dạy học giúp học sinh dân tộcthiểu số học tốt bộ môn Vật lí ở trường THCS
3 Thời gian nghiên cứu:
Trang 5- Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ năm học 2016 - 2017 đến nay.
VI KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
- Đăng kí đề tài: Đầu năm học 2017 - 2018 theo kế hoạch của BGH và
Tổ chuyên môn triển khai
- Tiến hành nghiên cứu:
+ Thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tíchcực của học sinh dân tộc thiểu số, hình thành khung đề tài, tham khảo ý kiến
từ đồng nghiệp, dạy thực nghiệm lần 1: Trong năm học 2016-2017 tại TrườngTH-THCS Lê Văn Tám
+ Tham khảo ý kiến đồng nghiệp, dạy thực nghiệm lần 2: Trong tuầnthứ 4 và tuần thứ 6 của học kì I năm học 2017-2018 tại Trường TH-THCS LêVăn Tám
+ Tổng kết đề tài vào Tháng 5 năm 2018
VII NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ ĐÓNG GÓP ĐỀ TÀI:
- Đề tài đã đề cập đến một số kinh nghiệm về đổi mới phương phápdạy học vật lý nhằm phát huy tính tích cực của học sinh dân tộc thiểu số,
từ đó rút ra được vai trò, tác dụng về việc đổi mới các phương pháp dạy họctrong việc hình thành các kiến thức, kĩ năng, thái độ cơ bản đối với học sinhdân tộc thiểu số
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài đã xây dựng được tính khả thi,
tính đúng đắn của “Một số kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học môn
Vật lí nhằm phát huy tính tích cực của học sinh dân tộc thiểu số” góp phần
vào nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học vật lí ở các trường THCS cóđiều kiện đặc thù hiện nay
PHẦN 2: NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Trang 61 Cơ sở lí luận:
Theo khoản 2, điều 28 của Luật Giáo dục năm 2005 đã ghi rõ “ Phương
pháp giáo dục phổ thông phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/06/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu
“phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”.
Đổi mới phương pháp dạy học các môn học nói chung và môn Vật línói riêng ở trường THCS xuất phát từ các quan niệm sau:
Mục tiêu của ngành giáo dục, trong đó hoạt động cơ bản là dạy học, làhình thành và phát triển nhân cách của học sinh Dạy học không chỉ đơn thuầncung cấp cho học sinh những tri thức và kinh nghiệm xã hội mà loài người đãtích lũy được, mà phải góp phần tích cực vào việc hình thành và phát triểnnhân cách theo mục tiêu đào tạo Học sinh càng được tham gia tích cực, chủđộng vào các hoạt động học tập thì phẩm chất và năng lực của cá nhân càngsớm được hình thành phát triển và hoàn thiện Tính năng động, sáng tạo lànhững phẩm chất rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại, phải được hình thànhngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường
Trang 7Trước đây, trong giảng dạy các môn học, người giáo viên chỉ chú trọngtruyền đạt các tri thức khoa học của bộ môn mà coi nhẹ phương pháp học tập
và nghiên cứu mang tính đặc thù của môn học đó (gọi là phương pháp bộmôn) Ngày nay, cùng với tri thức khoa học của môn học, giáo viên phải làmcho học sinh nắm vững và sử dụng các phương pháp bộ môn Điều đó có ýnghĩa to lớn với nhiệm vụ học tập trước mắt và cả trong tương lai
Việc đổi mới phương pháp dạy học phải góp phần thực hiện sự phânhóa trong dạy học Năng lực của học sinh trong một lớp học không hoàn toàngiống nhau, việc phân hóa tiến tới cá nhân hóa trong dạy học là xu hướng tấtyếu để đảm bảo sự phát triển tối ưu cho mỗi học sinh
Mỗi môn học có các đặc trưng riêng, Vật lí học là môn khoa học thựcnghiệm Đổi mới phương pháp phải xuất phát từ đặc trưng này của bộ môn
Tóm lại, dạy học không chỉ là “dạy chữ” mà phải qua dạy chữ mà “dạyngười” Tất nhiên, hình thành và phát triển nhân cách không chỉ có nhàtrường Trong nhà trường cũng không chỉ có hoạt động dạy học, tuy nhiên dạyhọc là hoạt động chủ yếu
2 Cơ sở thực tiễn:
Trong những năm thực hiện cải cách giáo dục chúng ta có nhiều cốgắng đổi mới và đa dạng hóa cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, đổi mới nộidung giáo dục trong nhà trường Tuy nhiên, về phương pháp giáo dục và dạyhọc thì chưa có sự quan tâm đầy đủ, phương pháp dạy học chưa được đổi mớitương xứng
Những năm gần đây, do nhiều tác động khách quan, phương pháp vàchất lượng dạy học đã có sự phân hóa và đã có không ít giáo viên giỏi, họcsinh giỏi Ở những giáo viên này phương pháp dạy học có nhiều cải tiến theohướng hiện đại Về cơ bản khi giảng dạy bộ môn Vật lí ở trường trung học cơ
Trang 8sở nơi mà đa số học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số như hiện nay thìtrình độ chung của học sinh còn thấp, khả năng tư duy và hiểu biết của họcsinh còn hạn chế, học sinh chưa biết vận dụng linh hoạt các kiến thức đã đượchọc vào cuộc sống hoặc chỉ vận dụng kiến thức một cách đơn giản, máymóc…
II.THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU:
1 Thuận lợi:
Đối với ban giám hiệu nhà trường: luôn chỉ đạo sát đúng về các kếhoạch chuyên môn, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giáoviên thực hiện có hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp dạy và học
Đối với giáo viên: thực hiện nghiêm túc và gương mẫu cuộc vận độngcho nên luôn nhiệt tình, tận tụy, say mê và luôn lo lắng tìm tòi học hỏi, tự bồidưỡng để đáp ứng yêu cầu của công tác giảng dạy theo chương trình mới vàgiải quyết cho bài toán chất lượng hiện nay mà nhà trường quan tâm hàng đầu
đó là nâng cao chất lượng cho đối tượng học sinh yếu kém giảm dần tình trạnghọc sinh ngồi nhầm lớp mà vẫn đảm bảo số lượng cho công tác phổ cập
Bản thân tôi về trường TH&THCS Lê Văn Tám từ năm 2010 đến nay,
là một giáo viên trẻ, tôi luôn được tiếp nhận những vấn đề đổi mới trongphương pháp dạy và học Trong các năm học qua thông qua các buổi sinh hoạtcụm trường, tôi luôn cố gắng tìm tòi, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm từ đồngnghiệp để có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học tích cực nhằmgiúp học sinh ở địa phương nơi mình công tác có thể chiếm lĩnh kiến thức mộtcách chủ động, linh hoạt
Đối với học sinh hưởng ứng tốt cuộc vận động, ham thích, luôn có hứngthú học tập với nội dung và kiến thức của bộ môn
2 Khó khăn:
Trang 9Trường TH&THCS Lê Văn Tám nằm ở địa bàn xã Đăk Pơ Pho nên cókhoảng hơn 70% học sinh dân tộc thiểu số với vốn hiểu biết, khả năng tư duynhận thức còn hạn chế, kỹ năng chưa được tốt lắm, một bộ phận học sinh bịhỏng kiến thức từ cấp học dưới nên không ham học còn thờ ơ với việc học tập.
Do vậy mức độ tiếp nhận cùng một nội dung bài học của các em người kinh
và các em đồng bào có sự chênh lệch rất lớn gây khá nhiều khó khăn khi lựachọn phương pháp dạy học
Là một trường thuộc xã vùng ba nên điều kiện cơ sở vật chất trang thiết
bị vẫn còn hạn hẹp Đa số học sinh nhà xa trường điều kiện giao thông đi lạikhó khăn
Các em đang ở lứa tuổi rất hiếu động nên trong quá trình thực hiện thínghiệm theo nhóm, hoặc hoàn thành bài tập theo nhóm đôi khi không tuân thủtính kỉ luật Bên cạnh đó một số em lại quá nhút nhát, e ngại hoặc quá ỷ lạicũng đã gây không ít khó khăn trong quá trình truyền thụ kiến thức Do điềukiện kinh tế cũng như nhận thức của một bộ phận phụ huynh chưa cao, chưaquan tâm đến việc học tập của con em, chưa đầu tư cho các em học tập còngiao khoán cho nhà trường
Trang 10Với kết quả trên có thể thấy rằng chất lượng bộ môn chưa cao, cần phải
có những phương pháp dạy học phù hợp nhằm thu hút hứng thú học tập, pháthuy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh nâng cao chất lượng củangười học Chính vì vậy tôi đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu và rút ra được
“Một số kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học môn Vật lí nhằm phát huy tính tích cực của học sinh dân tộc thiểu số’’.
III NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỂ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ.
1 Nắm bắt được mục tiêu của mỗi bài học (Lượng hoá kiến thức)
Mục tiêu: Là căn cứ để đánh giá chất lượng của học sinh và hiệu quảbài dạy của giáo viên Người học sinh phải nắm được cái gì sau bài học Mụctiêu cần phải được lượng hoá
Có 3 nhóm mục tiêu:
a Mục tiêu kiến thức :
Yêu cầu học sinh phải lĩnh hội các khái niệm vật lí cơ sở để có thể mô
tả đúng các hiện tượng và quá trình vật lí cần nghiên cứu và giải thích một sốhiện tượng và quá trình vật lí đơn giản Tuy chưa thể định nghĩa chính xáckhái niệm đó, nhưng cũng cần phải giúp học sinh nhận biết được những dấuhiệu cơ bản có thể quan sát, cảm nhận được của các khái niệm đó Sau đó họcsinh vận dụng cho quen trong ngôn ngữ khoa học thay cho ngôn ngữ thôngthường ban đầu
Thí dụ khái niệm ảnh ảo: Thông thường học sinh chỉ biết cái ảnh cụ thể,
có thể nhìn thấy, sờ thấy như ảnh khi các em soi mình trong gương phẳng, ảnh
Trang 11in trên báo ảnh ảo là một khái niệm khác hẳn, tuy là ảnh ảo nhưng vẫn tồntại thật, vẫn xác định được vị trí, độ lớn nhưng lại không hứng được trên màn.Học sinh phân biệt được ảnh ảo ảnh thật.
Chú trọng việc xây dựng kiến thức xuất phát từ những hiểu biết, nhữngkinh nghiệm đã có của học sinh rồi sửa đổi, bổ sung phát triển thành kiến thứckhoa học Tránh việc đưa ra ngay những khái niệm trừu tượng xa lạ với họcsinh, diễn đạt bằng những câu, chữ khó hiểu Thông thường một định luật vật
lý có hai phần: Phần định tính và định lượng Tùy từng định luật giáo viên cóthể đưa cả hai phần hay không?
Thí dụ:
+ Biên độ giao động của vật giao động càng lớn thì âm phát ra càng to.+ Hiệu điện thế giữa hai đầu bóng đèn càng lớn (nhỏ) thì dòng điệnchạy qua bóng đèn có cường độ dòng điện càng lớn (nhỏ)
Những hiểu biết về phương pháp nhận thức khoa học cũng được nângcao thêm một mức Cần hướng dẫn học sinh thường xuyên đưa nhiều dự đoánkhác nhau về cùng một hiện tượng và tự lực đề xuất các phương án làm thínghiệm để kiểm tra dự đoán Có thể học sinh chỉ nêu được sơ bộ về phương
án, kiểm tra, giáo viên cần giúp đỡ họ phát triển hoàn chỉnh phương án để trởthành khả thi hoặc thảo luận để chọn phương án tối ưu Cần hướng dẫn họcsinh thực hiện một số phương pháp suy luận khác như phương pháp tương tự,phương pháp tìm nguyên nhân của hiện tượng Những hiểu biết về phươngpháp nhận thức đó, nhằm rèn luyện cho học sinh thói quen mỗi khi rút ra mộtkết luận không thể dựa vào cảm tính mà phải có căn cứ thực tế và biết cáchsuy luận chặt chẽ
Trang 12b Về kỹ năng và khả năng :
Về kỹ năng quan sát: Bước đầu xây dựng cho học sinh biết quan sátmục đích, có kế hoạch Trong một số trường hợp đơn giản học sinh có thể tựvạch ra kế hoạch quan sát chứ không phải tuỳ tiện ngẫu nhiên, có khi phải tổchức cho học sinh trao đổi kỹ trong nhóm về mục đích cách quan sát rồi mớithực hiện quan sát
Kỹ năng thu thập xử lý thông tin từ quan sát thí nghiệm chú trọng trongviệc ghi chép các thông tin thu thập được, lập thành biểu bảng một cách trungthực Việc xử lý thông tin, dữ liệu thu được phải theo những phương pháp xácđịnh, thực chất phương pháp suy luận là để từ những dữ liệu, số liệu cụ thể rút
ra kết luận chung (quy nạp) hay từ những tính chất quy luật chung suy ranhững biểu hiện cụ thể trong thực tiễn (suy diễn) Chú trọng ngôn ngữ pháttriển, ngôn ngữ vật lí ở học sinh Yêu cầu học sinh phải sử dụng những kháiniệm mới để mô tả và giải thích các hiện tượng, các quá trình, rèn luyện kỹnăng diễn đạt rõ ràng, chính xác ngôn ngữ của vật lí, thông qua việc trình bàycác kết quả quan sát nghiên cứu và trong thảo luận ở nhóm, ở lớp Tạo điềukiện để học sinh nói nhiều hơn ở nhóm, ở lớp
c Về tình cảm, thái độ :
Học sinh bước đầu được làm quen với cách học tập mới, cá nhân độclập suy nghĩ làm việc theo nhóm, tranh luận ở lớp Không khí học sôi nổi, vui
vẻ, thoải mái, hào hứng hơn Song giáo viên vẫn phải uốn nắn đưa vào nề nếp
Yêu cầu học sinh trung thực, tỉ mỉ, cẩn thận trong khi làm việc cá nhân.Khuyến khích học sinh mạnh dạn nêu ý kiến của mình, không dựa dẫm vàobạn Có tinh thần cộng tác phối hợp với các bạn trong hoạt động chung củanhóm Phân công mỗi người một việc, mỗi lần một người trình bày ý kiến của
Trang 13tổ, biết nghe ý kiến của bạn, thảo luận một cách dân chủ Biết kiềm chế mình,trao đổi trong nhóm đủ nghe không gây ồn ào ảnh hưởng đến toàn lớp.
2 Một số phương pháp áp dụng vào dạy học.
a Phương pháp thảo luận nhóm:
Đối với phương pháp này giáo viên phải tổ chức cho học sinh bàn bạc,trao đổi trong nhóm nhỏ, nhằm giúp cho mọi học sinh có thể chia sẻ kiến thức,kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề của nội dung bài học
Học tập hợp tác theo phương pháp này trong giảng dạy môn Vật lí đượcthực hiện khi:
+ Thảo luận để tìm ra nội dung vấn đề và đi đến kết luận
+ Cùng thực hiện một vấn đề hoặc mỗi nhóm thực hiện một vấn đề củamột đơn vị kiến thức mà giáo viên giao cho
Để phát huy tính tích cực hợp tác theo nhóm, cần đảm bảo một số yêucầu:
+ Nội dụng thảo luận nhóm có thể giống nhau hoặc khác nhau
+ Giáo viên nêu chủ đề thảo luận, chia nhóm, giao câu hỏi, yêu cầu thảoluận cho mỗi nhóm, quy định thời gian và phân vị trí chỗ ngồi thảo luận chocác nhóm
+ Phân nhóm trưởng và thư kí
+ Các nhóm tiến hành thảo luận
+ Đại diện các nhóm trình bày kết quả, các nhóm khác chất vấn, traođổi, bổ sung ý kiến
+ Giáo viên tổng kết các ý kiến
Trang 14Phương pháp hoạt động nhóm giúp cho các thành viên trong nhóm chia
sẻ những băn khoăn, kinh nghiệm bản thân, cùng nhau xây dựng kiến thứcmới
b Phương pháp trực quan:
Quan niệm: phương pháp trực quan là phương pháp giáo viên sử dụng
đồ dùng dạy học để minh họa cho kiến thức thức bài giảng
Là việc giáo viên sử dụng các phương tiện dạy học tác động trực tiếpđến cơ quan cảm giác của học sinh nhằm đạt được hiệu quả cao
Lưu ý khi sử dụng phương pháp trực quan
+ Khi nêu ra các tài liệu trực quan cần phải phân tích, giảng giải và rút
ra kết luận một cách chính xác
+ Tránh hình thành ở học sinh phương pháp tư duy máy móc
+ Kết hợp phương pháp trực quan với các phương pháp khác
c Phương pháp giải quyết vấn đề:
Đây là phương pháp xem xét, phân tích những vấn đề đang tồn tại giúphọc sinh vạch ra những cách thức giải quyết vấn đề, tình huống cụ thể gặpphải trong đời sống hàng ngày Đối với phương pháp này nhằm phát triển tưduy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh
Tuy nhiên đối với phương pháp này giáo viên cần lưu ý khi sử dụng:+ Vấn đề, tình huống được lựa chọn phải phù hợp với môn Vật lí, gầngũi với thực tế học sinh, phải kích thích được sự sáng tạo của học sinh
+ Cách giải quyết vấn đề được lựa chọn phải là phương pháp tối ưunhất
Trang 15* Cách tiến hành:
+ Xác định vấn đề cần giải quyết là gì?
+ Nêu lên những chi tiết có liên quan đến vấn đề
+ Nêu lên những câu hỏi giúp cho việc giải quyết vấn đề
+ Vấn đề xảy ra trong điều kiện nào?
+ Vấn đề xảy ra khi nào?
+ Liệt kê tất cả các giải pháp
+ Đánh giá kết quả các giải pháp
+ So sánh kết quả các giải pháp
+ Quyết định chọn giải pháp tốt nhất
* Có bốn mức độ đặt và giải quyết vấn đề:
+ Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề Học sinh
thực hiện cách giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của giáo viên, sau đó giáoviên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
+ Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm cách giải quyết
vấn đề Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viênkhi cần Giáo viên và học sinh cùng đánh giá
+ Mức 3: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học
sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựachọn giải pháp Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề Giáo viên và họcsinh cùng đánh giá
Trang 16+ Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh
của mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết Học sinh giải quyết vấn
đề, tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kếtthúc
Cho nên, dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinhvừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó,phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng vớiđời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
d Sử dụng phiếu học tập, bài tập thảo luận:
Đây là một công việc quan trọng nhằm tạo ra sự hứng thú say mê họctập của học sinh nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng là phát huy tính tích cực,chủ động của học sinh
Các câu hỏi, bài tập, trong phiếu học tập không chỉ giúp học sinh củng
cố, vận dụng, khắc sâu kiến thức mà còn là nguồn tri thức là phương tiện giúphọc sinh lĩnh hội kiến thức mới
Nếu nội dung lệch thì sẽ dẫn đến kết quả học sinh có những đáp ánkhông đúng hoặc lan man khó đưa ra những kiến thức cơ bản trọng tâm, chonên người dạy phải thiết kế phiếu học tập sao cho phù hợp với nội dung bàihọc
e Phương pháp vận dụng tri thức liên môn:
Đó là phương pháp vận dụng các tri thức của các môn học khác vàogiảng dạy môn Vật lí
* Phương pháp vận dụng tri thức liên môn đòi hỏi giáo viên phải:
Trang 17Phải xác định tri thức của bài giảng có liên quan tới tri thức liên mônnào?
Cần tìm hiểu nội dung của một số học thuyết khoa học tự nhiên, khoahọc xã hội
3 Một số lưu ý khi dạy học môn Vật lý cho học sinh dân tộc thiểu số:
Cần coi trọng kiến thức về các phương pháp nhận thức đặc thù của Vật
lí học như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp trực quan, phươngpháp giải quyết vấn đề, phương pháp dùng phiếu học tập, bài tập thảo luận,phương pháp vận dụng tri thức liên môn
Nội dung kiến thức cần được lựa chọn, trình bày một cách tinh giản phùhợp với khả năng tiếp thu của học sinh
Cần coi trọng những yêu cầu đối với việc rèn luyện và phát triển các kĩnăng cho học sinh
4 Ví dụ về cấu trúc của một kế hoạch bài học được thể hiện ở các nội dung sau:
Bài 23: ĐỐI LƯU – BỨC XẠ NHIỆT
I Mục tiêu
1 Kiến thức :
- Nhận biết được hình thức truyền nhiệt bằng đối lưu và lấy được ví dụminh hoạ về sự đối lưu
- Nhận biết được hình thức truyền nhiệt bằng bức xạ nhiệt và lấy được
ví dụ minh hoạ về bức xạ nhiệt
2 Kĩ năng:
- Vận dụng được kiến thức về đối lưu, bức xạ nhiệt để giải thích một sốhiện tượng đơn giản