LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận án “Huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu của riêng tôi.. Ngân sách nhà nước N
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Dương Đăng Chinh
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án “Huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam" là công trình nghiên cứu của
riêng tôi Các số liệu, tư liệu sử dụng trong Luận án là trung thực và có nguồn gốc, có xuất xứ rõ ràng và được ghi trong tài liệu tham khảo
NGHIÊN CỨU SINH
TRẦN THẾ LỮ
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu sinh xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Dương Đăng Chinh đã nhiệt tình hướng dẫn để nghiên cứu sinh có thể hoàn thành luận án này Nghiên cứu sinh trân trọng cảm ơn những ý kiến đóng góp chân thành và quý báu của các nhà khoa học, sự hỗ trợ nhiệt tình của các nhà quản lý tại các đơn vị trong quá trình thu thập tài liệu khi thực hiện luận án Nghiên cứu sinh chân thành cảm ơn Ban giám đốc Học viện Tài chính đã tạo mọi điều kiện về vật chất và tinh thần, giúp nghiên cứu sinh hoàn thành luận án
Cuối cùng, nghiên cứu sinh xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè
đã động viên, giúp đỡ nghiên cứu sinh trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận án này
NGHIÊN CỨU SINH
TRẦN THẾ LỮ
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài Luận án 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến Luận án 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 9
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Kết cấu của luận án 12
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP 13
1.1 Giáo dục nghề nghiệp và hệ thống giáo dục nghề nghiệp 1
1.1.1 Khái niệm giáo dục nghề nghiệp 13
1.1.2 Đặc điểm giáo dục nghề nghiệp 14
1.1.3 Vai trò giáo dục nghề nghiệp với phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia 17
1.1.4 Hệ thống Giáo dục nghề nghiệp 20
1.2 Huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 1
1.2.1 Nguồn tài chính và huy động nguồn tài chính 1
1.2.2 Nội dung huy động các nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 1
1.2.3 Các kênh huy động các nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 1
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 1
1.3.1 Các nhân tố khách quan 45
1.3.2 Các nhân tố chủ quan 1
Trang 61.4 Mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mong muốn của sinh
viên được đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp 1
1.5 Kinh nghiệm huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của một số quốc gia và bài học đối với Việt Nam 1
1.5.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia 1
1.5.2 Những bài học cho Việt Nam 1
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 77
Chương 2 THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 79
2.1 Tổng quan về giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam 79
2.1.1 Những kết quả đạt được trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp công lập 79 2.1.2 Hạn chế và nguyên nhân trong lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam 88
2.1.3 Chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 92 2.2 Thực trạng huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 98
2.2.1 Thực trạng huy động nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 98
2.2.2 Thực trạng huy động từ nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước 102
2.2.3 Kết quả mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mong muốn của sinh viên được đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp 113
2.3 Đánh giá chung thực trạng huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 116
2.3.1 Những kết quả đạt được 116
2.3.2 Những hạn chế 118
2.3.3 Một số nguyên nhân 127
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 131
Trang 7Chương 3 GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM 133
3.1 Mục tiêu phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2030 133
3.2 Những quan điểm về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam 134
3.3 Giải pháp huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 139
3.3.1 Đổi mới chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục nghề nghiệp nhằm đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính từ NSNN 139
3.3.2 Giải pháp huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước 148
3.4 Điều kiện thực hiện 163
3.4.1 Rà soát nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp 163
3.4.2 Hoàn thiện cơ chế tự chủ, phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp 168
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 174
KẾT LUẬN 175
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 177
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 178
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
KH&CN Khoa học và công nghệ
KT - XH Kinh tế - xã hội
LĐ-TB-XH Lao động - Thương binh – Xã hội MTEF Khuôn khổ tài chính trung hạn
Trang 9DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Diễn giải các biến trong mô hình nghiên cứu 62 Bảng 2.1 Số lượng giáo viên trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập
năm 2017 82 Bảng 2.2 Chi ngân sách Nhà nước cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp (chủ
yếu là cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập) so với tổng chi ngân sách Nhà nước 98 Bảng 2.3 Cơ cấu hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập năm 2017
phân theo các vùng kinh tế 100 Bảng 2.4 Nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước 103 Bảng 2.5 So sánh nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước và ngoài ngân sách
Nhà nước 105 Bảng 2.6 Thống kê các cơ sở giáo dục nghề nghiệp được khảo sát 114
Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu của Luận án 11
Sơ đồ 1.2 Tác động của các nhân tố khách quan 54
Sơ đồ 1.3 Cơ cấu nguồn nhân lực trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp 55
Sơ đồ 1.4 Các nhân tố chủ quan tác động đến huy động nguồn tài chính tại
các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập 59
Sơ đồ 1.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến cảm nhận
mong muốn theo học nghề của học viên 61
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài Luận án
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao luôn là đòi hỏi của mỗi quốc gia, của mỗi nền kinh tế.Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) là một trong những kênh để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế Mục tiêu của GDNN là tạo bước chuyển biến rõ nét, thực chất về chất lượng, hiệu quả GDNN đáp ứng yêu cầu của người học, thị trường lao động và doanh nghiệp, đặc biệt là những ngành đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao của cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Trong bối cảnh hiện nay, GDNN công lập ở Việt Nam đang đứng trước nhiều thách thức Ngân sách nhà nước (NSNN) tính trên đầu sinh viên đã giảm xuống rất nhanh, một mặt, tạo ra nguy cơ giảm sút chất lượng đào tạo, mặt khác, buộc phải huy động thêm nguồn tài chính ngoài NSNN, thông qua các kênh như tăng học phí, tăng cường liên doanh liên kết, tận dụng cơ hội sử dụng lao động của các tổ chức kinh tế và các doanh nghiệp, tăng sự hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp cho đối tượng là người học, làm giảm khả năng tiếp cận GDNN của nhiều thanh niên, tạo sự chưa công bằng trong GDNN Bên cạnh đó, để tăng thêm nhiều nguồn thu, cơ sở GDNN cần mở thêm nhiều hình thức đào tạo ngắn hạn, dài hạn…, hợp đồng nghiên cứu khoa học, đáp ứng yêu cầu học tập của xã hội
Theo mục tiêu Chiến lược phát triển KT-XH, đến năm 2020 nước ta về
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Để đạt mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước ta đã xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba giải pháp đột phá chiến lược, trong
đó GDNN có vai trò hết sức quan trọng (trong tổng số nhân lực qua đào tạo thì nhu cầu về nhân lực qua GDNN chiếm tới gần 80%) Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Chiến lược phát triển GDNN thời kỳ 2011-2020 với
Trang 11mục tiêu đến năm 2020 GDNN đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN và trên thế giới
Để thực hiện được những nhiệm vụ đó, nhân tố quan trọng được coi là
“huyết mạch” đó là nguồn tài chính phục vụ cho GDNN Trong điều kiện khả năng của NSNN còn hạn chế, song song với đó là việc triển khai về tăng cường tính tự chủ, đặc biệt là tự chủ về tài chính theo Nghị định 16/2015/NĐ-
CP tại các đơn vị sự nghiệp công lập thì việc chỉ trông chờ vào nguồn kinh phí từ Ngân sách Nhà nước là rất hạn chế Chính vì vậy, việc tăng cường huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN ở Việt Nam là hết sức cấp thiết nhằm phát huy tính chủ động và thực hiện mục tiêu phát triển GDNN của các
cơ sở GDNN hiện nay ở Việt Nam.
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã quan tâm nhiều về lĩnh vực GDNN, đặc biệt là ban hành nhiều cơ chế tài chính tạo điều kiện cho các cơ
sở GDNN nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng quy mô đào tạo Các cơ sở GDNN không ngừng tự đổi mới, nâng cao uy tín, danh tiếng, cải tiến nội dung chương trình giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội; không ngừng tìm kiếm các cơ hội liên kết với các đối tác trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng và cung ứng nguồn nhân lực tốt cho xã hội Tuy nhiên, nguồn lực tài chính vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của các cơ sở GDNN và cần phải ngày càng hoàn thiện cơ chế để huy động nguồn tài chính, đặc biệt nguồn tài chính ngoài NSNN
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố trước đây và những vấn đề chưa được làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập, với mong muốn giải quyết các vấn đề còn bỏ ngỏ của các công trình nghiên cứu trước đây, nghiên
Trang 12cứu sinh đã chọn đề tài “Huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam” để làm Luận án tiến sĩ kinh tế
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến Luận án
Cùng với quá trình đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế, các chính sách,
cơ chế tài chính cho GDNN cũng đã và đang từng bước được đổi mới và hoàn thiện nhằm huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội và nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển lĩnh vực này
Những công trình nghiên cứu về đổi mới cơ chế quản lý tài chính cho giáo dục đào tạo nói chung và cho giáo dục nghề nghiệp nói riêng
- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, (2012), “Đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT Việt Nam” Cuốn sách bàn về vai trò, vị trí của dạy nghề trong nền kinh tế thị trường Trong phần II của cuốn sách - “Đổi mới và phát triển dạy nghề ở Việt Nam”, các nhà khoa học, nhà quản lý đã nghiên cứu, phân tích những quan điểm của Đảng, đánh giá những chính sách của Nhà nước về phát triển dạy nghề ở nước ta và đưa ra các luận điểm về vai trò, vị trí của dạy nghề đối với phát triển kinh tế - xã hội, là vấn đề quan trọng hàng đầu trong đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam Trong đó, trọng tâm là đổi mới quản lý nhà nước và hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực phát triển dạy nghề; đẩy mạnh xã hội hóa và mở rộng hợp tác quốc tế; huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước cùng với việc tăng đầu tư từ NSNN để thực hiện đổi mới
và phát triển dạy nghề Bên cạnh đó, công trình đã hệ thống hóa những vấn đề mang tính lý luận về GDNN, các hệ thống GDNN, các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển GDNN
- Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức (GTZ) (2007), “Cấp tài chính cho dạy nghề Việt Nam”, đã tiến hành thực hiện tìm hiểu thực tế nhằm đánh giá thực trạng cấp tài chính cho dạy nghề và đề xuất các hoạt động tiếp theo cần thực hiện để hướng đến một hệ thống cấp tài chính bền vững cho dạy nghề Mặt được của bản báo cáo này là đã trình bày tổng quan về thực trạng cấp tài chính
Trang 13cho Dạy nghề ở Việt Nam ở các cơ sở dạy nghề công lập, các cở sở dạy nghề
tư nhân, các cơ sở dạy nghề thuộc doanh nghiệp; đề cập tới các chính sách phù hợp của Chính phủ đối với đổi mới cơ chế cấp tài chính cho dạy nghề; báo cáo cũng đưa ra một số vấn đề và các giải pháp lựa chọn về tài chính dạy nghề và khẳng định việc tiếp tục xây dựng hệ thống tài chính chỉ là một phần việc trong toàn bộ quá trình đổi mới dạy nghề, và cơ chế tài chính mới sẽ chỉ mang lại tác động mong đợi khi nó được thực thi cùng với việc đổi mới các thành tố khác của hệ thống
- Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2012), Nghiên cứu của các chuyên gia công bố tại Hội nghị khu vực về đào tạo nghề tại Việt Nam Các bài viết nêu tài chính bền vững cho đào tạo nghề
là một yếu tố quan trọng để thực hiện chức năng của các hệ thống đào tạo nghề Đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa việc đảm bảo nguồn lực tài chính đầy đủ cho đội ngũ giáo viên dạy nghề có năng lực, cơ sở vật chất học nghề…
và chất lượng đầu ra được kỳ vọng để thực hiện đào tạo nghề theo các tiêu chuẩn nghề Việc nâng cao chất lượng đầu ra thường hàm ý là việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính Nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho người học phải dựa trên chất lượng của đội ngũ giáo viên, chất lượng của giáo trình
và chương trình giảng dạy, thêm vào đó là cơ sở vật chất phục vụ qúa trình đào tạo
Ở Việt Nam và nhiều nước ASEAN khác, việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính cũng xuất phát từ công tác mở rộng hệ thống đào tạo nghề do gia tăng dân số và nhu cầu đang tăng lên về nhân lực có chất lượng Trước bối cảnh gia tăng cạnh tranh đối với những nguồn lực tài chính công có hạn cũng như các yêu cầu tài chính cho việc mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu khiến việc đảm bảo tài chính bền vững cho đào tạo nghề trở thành một thách thức chính và là vấn đề then chốt của các nỗ lực phát triển đào tạo nghề Về mặt này, việc giải quyết các yêu cầu tài chính đối với đào tạo
Trang 14nghề hướng cầu là một vấn đề rất quan trọng Nó bao gồm thông tin về chi phí thực tế, các nguồn phát sinh chi phí chính và các chi phí giới hạn theo tính khả thi Một vấn đề quan trọng khác đó là huy động các nguồn tài trợ bổ sung cho tài chính công, tập trung chủ yếu vào các khoản đóng góp của các doanh nghiệp và các học viên (từ cha mẹ) với vai trò là các bên tham gia và những người hưởng lợi Vấn đề cốt yếu thứ ba đó là quản lý và phân bổ nguồn vốn, tập trung vào tính minh bạch, trách nhiệm giải trình cũng như hiệu suất và hiệu quả của nguồn vốn thông qua cơ chế phân bổ dựa trên sự thực hiện Báo cáo nêu cũng đưa ra được những vấn đề mang tính lý luận về các nguồn tài chính đầu tư cho dạy nghề, cơ chế quản lý tài chính dạy nghề, các yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế quản lý tài chính dạy nghề; kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về cơ chế quản lý tài chính dạy nghề và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam
- Nguyễn Trường Giang (2012), “Đổi mới cơ chế tài chính gắn với nâng cao chất lượng đào tạo đại học”, kỷ yếu Hội thảo “Đổi mới cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học” do Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội và Bộ Tài chính phối hợp tổ chức Bài viết đã nêu và phân tích yêu cầu và cơ sở pháp lý thực hiện đổi mới; Thực trạng cơ chế tài chính phục vụ yêu cầu đổi mới đối với giáo dục đại học Từ đó thấy được những yêu cầu thực tiễn đòi hỏi đổi mới và
đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế tài chính như: từng bước tính đủ chi phí đào tạo cần thiết trong học phí; đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực từ NSNN; đổi mới cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập; đổi mới cơ chế hỗ trợ chi phí đào tạo đối với người học; có chính sách khuyến khích, gắn kết giữa đào tạo với NCKH…
Các công trình nghiên cứu về cơ chế huy động nguồn tài chính cho giáo dục nghề nghiệp nói riêng và giáo dục đào tạo nói chung
- Bùi Tiến Hanh (2007), “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luận án đã luận giải và khẳng định sự
Trang 15cần thiết khách quan phải thực hiện xã hội hóa giáo dục ở nước ta trong tiến trình tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa Và để thực hiện xã hội hóa giáo dục thành công, thì một trong những đầu vào rất quan trọng cần phải quan tâm hoàn thiện là cơ chế quản lý tài chính Những vấn đề lý luận về cơ chế quản lý tài chính đối với xã hội hóa giáo dục ở nước ta cũng đã được tác giả của bản luận án này luận giải một cách khá đầy đủ và chặt chẽ Từ các vấn đề
lý luận đã nêu, luận án đã đi sâu phân tích đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm trước 2006 và chỉ
rõ những điểm mạnh, điểm yếu của chính cơ chế này Trên cơ sở thực trạng
và gắn kết với những yêu cầu, những quan điểm đổi mới cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục những năm tiếp theo kể từ năm 2007, luận án đã đề xuất một hệ thống các giải pháp có tính khả thi cho việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục Việt Nam giai đoạn 2007- 2010 và định hướng đến 2015
- Trương Anh Dũng (2014), “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính thúc đẩy phát triển đào tạo nghề đến năm 2020”, Luận án Tiến sỹ Luận án đưa ra cơ sở
lý luận cơ bản và thực trạng về cơ chế quản lý tài chính cho đào tạo nghề Luận
án cũng đã đánh giá được các nguồn lực cũng như cơ chế quản lý tài chính cho đào tạo nghề trong thời gian qua để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính cho GDNN để phát triển dạy nghề nói chung thời gian tới
mà chưa đề cập sâu đến GDNN chất lượng cao Ngoài ra, hướng tiếp cận của luận án tập trung về cơ chế quản lý tài chính đối với nguồn vốn trong nước (NSNN cấp và thu sự nghiệp) mà chưa đề cập đến nguồn kinh phí cho đào tạo nghề nước ngoài (tài trợ, vay ODA )
- Viện Nghiên cứu Khoa học dạy nghề, Tổng cục giáo dục nghề nghiệp (2014), “Một số giải pháp đầu tư đồng bộ phát triển nghề trọng điểm”, đề tài cấp Bộ Đề tài tập trung nghiên cứu khung phương pháp luận xác định nghề trọng điểm, những vấn đề mang tính lý luận về giải pháp tài chính cho đào tạo
Trang 16nghề chất lượng cao, bao gồm khái niệm và các nội dung chủ yếu của giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao; kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới về giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao và bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam Ngoài ra, công trình đã hệ thống các tiêu chí, chỉ tiêu, quy trình và phương pháp triển khai đầu tư đồng bộ các nghề trọng điểm và đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi về đầu tư đồng bộ phát triển các nghề trọng điểm phù hợp với bối cảnh và điều kiện của Việt Nam
- Khương Thị Nhàn (2016), “Giải pháp tài chính cho đào tạo nghề chất lượng cao”, Luận án Tiến sĩ Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về GDNN và tài chính để đào tạo nghề chất lượng cao, bao gồm khái niệm nội dung, nội hàm và hệ thống các tiêu chí, chỉ tiêu, quy trình và phương pháp triển khai đầu tư đồng bộ để đào tạo nghề chất lượng cao Bức trạnh về thực trạng đầu tư đồng bộ phát triển các nghề chất lượng cao phù hợp với bối cảnh
và điều kiện của Việt Nam đã được công trình khắc họa rõ nét Trên cơ sở đó,
đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi về đầu tư cho đào tạo nghề chất lượng cao ở Việt nam trong những năm tới
Ngoài các công trình nghiên cứu trên đây, còn có một số công trình nghiên cứu về tài chính cho GDNN ở cấp độ Luận án tiến sĩ và các nghiên cứu
ở các địa phương cụ thể Các công trình đã hệ thống hóa cách hệ thống và đầy
đủ về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập ở Việt Nam Tuy nhiên, khai thác nghiên cứu về huy động nguồn tài chính cho GDNN công lập trong những năm gần đây thì chưa có nhiều công trình nghiên cứu Do vậy, NCS đã chọn đề tài “Huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam” để nghiên cứu và làm Luận án tiến sĩ kinh tế với
kỳ vọng là sẽ kế thừa có chọn lọc những nghiên cứu có liên quan; hệ thống hoá
và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về GDNN, nội dung và cơ chế huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập; chỉ ra những ưu điểm, hạn chế
và nguyên nhân của thực trạng, cũng như tổ chức thực hiện huy động nguồn tài
Trang 17chính tại các cơ sở GDNN công lập ở Việt Nam, từ đó đề xuất được giải pháp
có tính khoa học và thực tiễn nhằm hoàn thiện cơ chế huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập Việt Nam thời gian tới
Không có nhiều công trình ở nước ngoài có đối tượng nghiên cứu giống
đề tài nghiên cứu Các nghiên cứu lý thuyết thường tập trung vào khía cạnh làm thế nào để huy động được nguồn tài chính đối với các cơ sở GDNN Các nghiên cứu chủ yếu lý giải sự cần thiết khách quan phải huy động nguồn tài chính cho GDNN, ở các nước xuất phát từ tính ưu việt của Nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cho phù hợp với thị hiếu người dân, hiểu được nhu cầu và sở thích của người dân Các công trình cũng tập trung
đề cập chi phí và lợi ích của Giáo dục, đào tạo nghề, nghiên cứu dưới giác độ kinh tế vĩ mô và vi mô Phương thức cấp phát nguồn tài chính cho các cơ sở đào tạo nghề cũng được các nghiên cứu theo hướng đào tạo theo đơn đặt hàng
và gắn với nhu cầu của doanh nghiệp
Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa giải quyết sâu sự tác động của nguồn tài chính với từng yếu tố tạo nên chất lượng đào tạo nghề, trong điều kiện đào tạo nghề theo đơn đặt hàng thì khâu nào giữ vai trò quan trọng khi huy động nguồn tài chính
Khoảng trống trong nghiên cứu
Qua nghiên cứu nội dung các công trình đã công bố trong nước và nước ngoài, NCS đã tổng hợp một một cách khái quát các vấn đề còn nổi cộm hay
là khoảng trống trong nghiên cứu Các vấn đề đó là:
Một là, do phạm vi nghiên cứu về chủ đề huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN, các công trình nghiên cứu kể trên nhất là Luận án tiến sĩ và các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ mới chỉ tập trung nghiên cứu trên diện rộng ở tầm vĩ mô, chưa có điều kiện nghiên cứu sâu về từng khâu tác động đến chất lượng tại các cơ sở GDNN
Trang 18Hai là, đa phần các công trình nghiên cứu chưa nghiên cứu sâu đến nội dung GDNN theo đơn đặt hàng, mà vẫn nghiên cứu trong điều kiện các cơ sở GDNN đào tạo theo chỉ tiêu của Nhà nước Và đặc biệt, các nghiên cứu chưa
đề cập đến nội dung các cơ sở GDNN khi triển khai cung cấp dịch vụ công và tính đủ chi phí của dịch vụ thì gặp những khó khăn gì
Ba là, Ngoài ra, một vấn đề nổi cộm trong thực tiễn hiện nay chưa được nghiên cứu và giải quyết, đó là cơ chế huy động nguồn tài chính theo các kênh: NSNN, giá dịch vụ, liên doanh liên kết và từ doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước… Ngoài ra, chưa được nghiên cứu định lượng để có mô hình hoặc phiếu khảo sát để minh chứng hiệu quả huy động tài chính cho GDNN Đây có thể là gợi mở mới xuất phát từ quản lý thực tiễn của NCS và sẽ được triển khai nghiên cứu của Luận án
Trên đây là ba vấn đề chưa được các công trình nghiên cứu, dưới dạng Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ hoặc các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
về chủ đề huy động nguồn tài chính đối với GDNN bàn luận nhiều Do đó, ba vấn đề trên có thể coi là những khoảng trống trong các công trình nghiên cứu
đã công bố mà NCS có dịp tiếp cận Những khoảng trống này có thể là những gợi mở cho NCS tiếp tục nghiên cứu khi triển khai thực hiện bản Luận án của mình với vấn đề huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập ở Việt Nam trong thời gian tới
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác lập căn cứ khoa học và thực tiễn và đề xuất các giải pháp huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập ở Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá và làm rõ thêm những vấn đề lý luận về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN
Trang 19- Phân tích và đánh giá thực tiễn huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập ở Việt Nam
- Đổi mới các giải pháp huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề lý luận và thực tiễn về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập ở Việt Nam
tế khó khăn và có thể không tiếp tục học nghề nếu không nhận được hỗ trợ từ phía nhà trường và Nhà nước
Về thời gian: Các tài liệu được thu thập từ 2006 - 2017 và định hướng đến 2025, tầm nhìn đến 2030
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Để thực hiện mục tiêu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài, NCS
sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử trong suốt quá trình nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong qúa trình nghiên cứu, Luận án dựa trên sự kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng luận về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nói chung, và GDNN nói riêng Phương pháp này còn được sử dụng
Trang 20trong phân tích tác động của cơ chế huy động nguồn tài chính đến việc tăng cường công tác quản lý nguồn tài chính đối với các cơ sở GDNN, cũng như các nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan ảnh hưởng đến huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN
Phương pháp định lượng được sử dụng để mô tả kết quả cụ thể của cơ chế huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập, trong từng kênh huy động được sử dụng thông qua kết quả điều tra chọn mẫu tại một số cơ sở GDNN điển hình
Ngoài hai phương pháp trên, tùy thuộc vào từng nội dung nghiên cứu, luận án còn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp tổng hợp, phân tích đánh giá, thống kê, mô hình và điều tra chọn mẫu, phỏng vấn
về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN
Nghiên cứu được thực hiện theo khung nghiên cứu như sau:
Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu của Luận án
Nguồn: Tổng hợp của NCS 5.3 Phương pháp thu thập số liệu
Điều tra qua phiếu khảo sát: Thông qua việc điều tra khảo sát các sinh
viên 10 trường CĐN và 5 trường TCN Đây là nguồn thông tin quan trọng trong việc đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định việc tham gia học tập tại các cơ sở GDNN, thông qua kênh hỗ trợ của Nhà nước dưới hình thức tín dụng của sinh viên
Huy động nguồn
tài chính tại các cơ
sở GDNN
Tổ chức thực hiện tại một số kênh huy động
Những kết quả
và những tác động
Đề xuất đổi mới cơ chế
Trang 216 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Lý luận về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập
Chương 2: Thực trạng huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam
Chương 3: Giải pháp huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam
Trang 22Chương 1
LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ
GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.1 Giáo dục nghề nghiệp và hệ thống giáo dục nghề nghiệp
1.1.1 Khái niệm giáo dục nghề nghiệp
Cho đến nay, vấn đề GDNN, được các nhà quản lý, các nhà khoa học hết sức quan tâm và đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau
Wiliam McGehee (1967) cho rằng GDNN là những quy trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các tiêu chí của công ty Quan niệm GDNN của Wiliam McGehee có phần hơi hẹp chỉ bó khung trong công ty [61]
Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, GDNN là những hình thức đào tạo
để tạo ra công ăn, việc làm thông qua những phương tiện, kỹ thuật, thương nghiệp hay quản lý; qua đó có được kiến thức hay kỹ năng thu được, hay phát triển thêm ở bên trong hay bên ngoài quá trình đào tạo bao gồm cả đào tạo lại Quan niệm của ILO về GDNN là một quan niệm mở nó diễn ra không chỉ là trong quá trình dạy theo những trường lớp nhất định, không chỉ đối với người lao động chưa có nghề nghiệp mà cã những người lao động đã có nghề nghiệp song không còn thích hợp với thị trường lao động [58]
Luật Giáo dục nghề Trung Quốc định nghĩa: GDNN là một phần quan trọng của giáo dục được nhà nước đảm bảo và là một hướng quan trọng để khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội và việc làm Nhà nước phát triển GDNN, thúc đẩy cải cách GDNN, nâng cao chất lượng GDNN, thiết lập và cải thiện hệ thống dạy nghề cùng với phát triển kinh tế thị trường và tiến bộ
xã hội Luật GDNN của Trung quốc nhấn mạnh đến trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động GDNN [57]
Ở Việt Nam, GDNN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc
Trang 23làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình
độ nghề nghiệp Đây là một cách tiếp cận rõ ràng, cụ thể về GDNN.[45]
Có thể hiểu, GDNN là quá trình tác động có mục đích có định hướng của người dạy và người học dựa trên những công cụ, những tri thức về nghề nghiệp để hình thành những tri thức, kỹ năng mềm và phẩm chất tâm lý xã hội cho người lao động theo yêu cầu của thị trường lao động nhằm tạo cho người lao động có thể tìm kiếm được việc làm, hoặc tự tạo ra việc làm bảo đảm đời sống cho mình và góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội
Qua nghiên cứu, tác giả Luận án cho rằng Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình
độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy
và đào tạo thường xuyên
1.1.2 Đặc điểm giáo dục nghề nghiệp
1.1.2.1 Giáo dục nghề nghiệp là loại hình dịch vụ công không thuần túy
và cũng là yếu tố ngoại lai tích cực
Để phân biệt dịch vụ công và dịch vụ tư người ta dựa trên hai đặc tính: (i) đặc tính cạnh tranh; (ii) đặc tính loại trừ Nói chung dịch vụ tư là dịch vụ
có tính cạnh tranh và tính loại trừ, ngược lại về cơ bản dịch vụ công là dịch vụ không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ Tuy nhiên, trong thực tế của nền kinh tế thị trường không phải tất cả các dịch vụ công đều không cạnh tranh hoặc không loại trừ, chẳng hạn như dịch vụ giáo dục là một loại dịch vụ công có thể là loại dịch vụ loại trừ, nghĩa là người trực tiếp thụ hưởng dịch vụ này phải có những điều kiện nhất định Từ thực tế này người ta phân dịch vụ công thành hai loại: dịch vụ công thuần túy (không cạnh tranh, không loại trừ); dịch vụ công không thuần túy (có thể có cạnh tranh hoặc có thể loại trừ) Dịch vụ GDNN tuy không mang tính cạnh tranh giá dịch vụ GDNN không
Trang 24theo quy luật cung cầu của thị trường, song nó có thể loại trừ đối với người hưởng thụ trực tiếp dịch vụ GDNN - họ phải thỏa mãn những điều kiện nhất định mới có thể được thụ hưởng trực tiếp dịch vụ GDNN
Dịch vụ giáo dục nghề nghiệp cũng giống như những dịch vụ trong lĩnh vực đào tạo khác, có “Tác động ngoại biên”
Nghĩa là khi người lao động được hưởng trực tiếp dịch vụ GDNN thì dịch vụ này không những mang lại lợi ích thiết thực cho người lao động đó
mà còn ảnh hưởng làm tăng lợi ích xã hội như năng suất lao động xã hội tăng lên do số người lao động qua đào tạo tăng lên, những tiêu cực của xã hội có thể giảm đi Tuy nhiên, tác động ngọai biên này không phản ánh qua giao dịch trên thị trường GDNN
Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm giữa khu vực nhà nước, khu vực tư nhân trong việc GDNN cho người lao động và nâng cao trách nhiệm của xã hội đối với hoạt động GDNN Đối với loại hình dịch vụ công không thuần túy, Nhà nước không cần bao cấp hoàn toàn, người học phải chia sẻ một phần chi phí cho việc cung cấp dịch vụ này dưới dạng học phí
Đối với yếu tố ngoại lai tích cực, nhà nước tài trợ kinh phí dưới dạng trợ cấp cho nhà cung cấp dịch vụ để họ tăng khối lượng dịch vụ cung cấp cho nền kinh tế
1.1.2.2 Giáo dục nghề nghiệp luôn gắn với yêu cầu của thị trường lao động và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước
Yêu cầu của thị trường lao động kể cả phía cung và phía cầu sức lao động rất đa dạng, không cố định luôn biến động theo sự biến động tình hình kinh tế - xã hội Do đó, GDNN cũng có những thay đổi theo bối cảnh kinh tế
xã hội kể cả nội dung, phương thức, quy trình GDNN Mặt khác, trong mô hình kinh tế hỗn hợp, có sự kết hợp hài hòa giữa bàn tay vô hình (các quy luật
Trang 25vận động của thị trường) với bàn tay hữu hình của Nhà nước (sự quản lý điều chỉnh của Nhà nước) Do đó, GDNN tuân theo chu kỳ kinh tế và những chiến lược phát triển KT - XH do Nhà nước đặt ra Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chương trình, nội dung, quy trình, phương thức GDNN của các cơ sở GDNN công lập cũng như ngoài công lập
1.1.2.3 Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu và có những yêu cầu đối với giáo dục nghề nghiệp
Với xu hướng hội nhập nền kinh tế, việc di chuyển lao động không chỉ bó khung trong biên giới của một quốc gia mà còn vượt ra ngoài biên giới Do đó, GDNN cũng phải tính đến yếu tố này Trong điều kiện hội nhập, mở cửa nền kinh tế vừa phải chú trọng đến những thông lệ quốc tế trong hoạt động GDNN, đáp ứng yêu cầu của người lao động khi di chuyển ra ngoài biên giới, vừa phải đối mặt với sự cạnh tranh không chỉ các cơ sở GDNN trong nước mà còn đối với cơ sở của nước ngoài khi họ triển khai các hoạt động GDNN tại đất nước nhận đầu tư Đây là đặc điểm của GDNN trong bối cảnh hội nhập, mở cửa ngày càng sâu rộng Nhận rõ đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng nhằm không ngừng đổi mới hoạt động GDNN của các cơ sở GDNN nội địa
1.1.2.4 Giáo dục nghề nghiệp có đối tượng là những người lao động trực tiếp trong các cơ sở sản xuất kinh doanh
Do đó, nội dung, phương thức, quy trình đào tạo khác với các hình thức đào tạo khác Về cơ bản nội dung GDNN hướng vào yêu cầu thực hành là chính không mang nặng tính lý thuyết hàn lâm Phương thức GDNN rất cụ thể theo hướng cầm tay chỉ việc là chính, gắn với yêu cầu cụ thể và đặc điểm của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh
Đặc điểm này, giúp ta phân biệt GDNN với các cấp đào tạo khác, từ đó xây dựng quy hoạch hoạt động GDNN này một cách thích hợp
Trang 261.1.3 Vai trò giáo dục nghề nghiệp với phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia
1.1.3.1 Giáo dục nghề nghiệp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế mới cho rằng công nghệ thay đổi càng nhanh thì càng thúc đẩy kinh tế trong dài hạn, mặt khác công nghệ tăng trưởng nhanh hơn khi lực lượng lao động có trình độ cao hơn Bởi vậy, tích lũy vốn con người, đặc biệt là kiến thức sẽ tạo điều kiện phát triển các công nghệ mới và cũng chính là nguồn duy trì tăng trưởng kinh tế
Thành công của một quốc gia được xem như kết quả của mối quan hệ giữa nội dung và cấu trúc của hệ thống giáo dục với chất lượng của nguồn nhân lực Do đó, sự mất cân bằng của thị trường lao động và tỷ lệ tăng trưởng
đi xuống được quy cho chất lượng hệ thống đào tạo nghề không đủ đáp ứng nhu cầu và sự phối hợp thiếu hiệu quả giữa một bên là nội dung giảng dạy và bằng cấp của hệ thống giáo dục quốc gia với một bên là những yêu cầu về chất lượng và yêu cầu công việc của hệ thống tuyển dụng Nhận thức dù ít hay nhiều về mối quan hệ giữa cấu trúc giáo dục và thành công của nền kinh tế thì các chính sách giáo dục của các nước công nghiệp phát triển thành công trước
đó đã khẳng định vai trò của mình và coi đó như là một trong các giải pháp nhằm giúp giải quyết các vấn đề của đất nước Hầu hết các cuộc tranh luận về
sự cần thiết, tính hợp lý và hiện đại trong cải cách hệ thống giáo dục đều dựa trên cơ sở lý luận kinh tế giáo dục, trong đó đào tạo nghề được coi là một nhân tố có vị trí quan trọng, có khả năng quyết định những vấn đề về phát triển kinh tế, tiến bộ kỹ thuật và sức cạnh tranh của tất cả các thị trường trên thế giới
Để có được đội ngũ những người lao động giỏi thì phải đầu tư, mà đầu tư cho giáo dục nói chung và GDNN nói riêng phải được coi là đầu tư phát triển Việc đánh giá vai trò của GDNN đối với tăng trưởng kinh tế qua yếu tố năng suất lao động được tính bằng cách so sánh sự khác biệt về lượng sản phẩm
Trang 27hay thu nhập mà người lao động làm ra trong cùng một đơn vị thời gian trước
và sau khi họ tham gia một khóa đào tạo với chi phí nhất định cho khóa đào tạo đó Kết quả này được gọi là tỷ suất lợi nhuận GDNN, các nhà kinh tế giáo dục đã nhận định rằng lợi ích kinh tế thu được từ đầu tư đào tạo nghề vượt xa các loại đầu tư khác
Tăng cường công tác nghiên cứu, dự báo nhu cầu thị trường lao động, đặc biệt gắn với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tăng dần quy mô các chương trình đào tạo chất lượng cao, các chuyên ngành khoa học liên quan đến công nghệ, kỹ thuật và những ngành thị trường có nhu cầu tuyển dụng cao; tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành và phát triển thị trường lao động một cách đầy đủ, mở rộng thị trường xuất khẩu lao động Rà soát mạng lưới các cơ sở GDNN, đổi mới quản lý, giao quyền tự chủ, nâng cao hiệu quả công tác GDNN, tăng cường công tác tư vấn nghề nghiệp, việc làm, và hỗ trợ kiến thức khởi nghiệp cho người dân, đặc biệt là thanh niên
1.1.3.2 Giáo dục nghề nghiệp là nội dung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Thực tế cho thấy, khi khoa học công nghệ và tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là yếu tố quyết định sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, thì vai trò của nguồn nhân lực có chất lượng ngày càng trở nên quan trọng hơn
Kỹ năng nghề nghiệp là yếu tố chủ yếu của chất lượng nguồn nhân lực là kết quả trực tiếp của hoạt động giáo dục đào tạo nói chung và GDNN nói riêng
Do đó, có thể nói GDNN đóng vai trò quyết định tới chất lượng nguồn nhân lực Nhận thức được tầm quan trọng của GDNN, Chính phủ các nước trên thế giới đều rất quan tâm đến vấn đề này, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, khi phát triển kinh tế tri thức đang là xu hướng có tính toàn cầu và cùng với quá trình toàn cầu hóa là quá trình tri thức hóa nền kinh tế
Muốn có một nền kinh tế phát triển, một xã hội văn minh đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực phát triển cả về thể chất lẫn trí tuệ Sản phẩm của giáo
Trang 28dục đào tạo là con người, là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội Kỹ năng của con người có tác động đến năng suất lao động, việc hình thành kỹ năng phải thông qua giáo dục và phải được đào tạo Vì vậy, dù ở góc độ nào GDNN cũng giữ vai trò quan trọng nhất trong sự phát triển tiềm năng của con người Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, GDNN luôn có mối liên quan mật thiết với nhau Giáo dục là nền tảng để phát triển đào tạo, là cơ sở quan trọng nhất để xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Giáo dục cung cấp một vốn học vấn đủ rộng và vững chắc như một giấy thông hành để con người học tập suốt đời, cung cấp một số kỹ năng nghề nghiệp nhất định cùng với khả năng thích ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh, cách thức làm việc trong đội ngũ và sống chung trong cộng đồng, tạo khả năng làm việc có suy nghĩ, chủ động và có trách nhiệm Đào tạo (trong đó có GDNN) là hoạt động tiếp tục của giáo dục, là động lực của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, giúp cho người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau,
có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Việc đổi mới toàn diện hoạt động GDNN nhằm đào tạo và trang bị kỹ năng nghề nghiệp, tay nghề cho người lao động Con người muốn lập nghiệp tất yếu phải có nghề; muốn có nghề thì phải học và phải được đào tạo Tuy nhiên, để đáp ứng được yêu cầu đổi mới, GDNN phải thực sự coi con người
là nhân tố trung tâm; là hạt nhân trong quá trình đào tạo; phải biến tri thức trở thành kỹ năng, trí tuệ thành trí lực…Tri thức của con người, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức… là những yếu tố của kiến thức và cần được xem xét khi nói đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Trang 291.1.3.3 Giáo dục nghề nghiệp tạo cơ hội việc làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và góp phần xây dựng xã hội công bằng, bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư
GDNN là con đường cơ bản để giúp cho con người lĩnh hội, hình thành
và phát triển tri thức, các kỹ năng chuyên môn… như vậy mới có thể có được việc làm tốt, có thu nhập cao, đảm bảo cuộc sống Người lao động có trình độ đào tạo nghề càng cao thì khả năng có việc làm và mức thu nhập càng cao Phát triển GDNN là biện pháp để xóa đói giảm nghèo trên cơ sở phát huy năng lực nội sinh của mỗi con người để họ tham gia vào quá trình sản xuất xã hội, tạo ra thu nhập đảm bảo cuộc sống của chính bản thân và gia đình họ Như vậy có thể khẳng định rằng phát triển GDNN là biện pháp tích cực và bền vững nhất trong việc giải quyết vấn đề xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân
1.1.4 Hệ thống Giáo dục nghề nghiệp
Nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp, lao động sản xuất và dịch vụ
có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe để tạo điều kiện cho người lao động, có khả năng tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Hệ thống giáo dục nghề nghiệp bao gồm:
- Trình độ sơ cấp;
- Trình độ trung cấp;
- Trình độ cao đẳng
Theo đó, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp bao gồm:
- Trung tâm giáo dục nghề nghiệp (là sự thống nhất của trung tâm kỹ thuật, tổng hợp, hướng nghiệp và trung tâm dạy nghề);
Trang 30- Trường trung cấp (là sự thống nhất của trường trung cấp chuyên nghiệp và trường trung cấp nghề);
- Trường cao đẳng (là sự thống nhất của cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề) Thực chất là đưa trình độ cao đẳng tách khỏi giáo dục đại học Giáo dục đại học chỉ còn các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ
1.2 Huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập
1.2.1 Nguồn tài chính và huy động nguồn tài chính
- Tài chính là tổng hợp các quan hệ kinh tế, hình thành trong quá trình thành lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định của Nhà nước, để thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước Đây là cách tiếp cận trừu tượng về tài chính, xuất phát từ bản chất bên trong của tài chính – vốn là các quan hệ phân phối của tài chính là phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân - kết quả của các hoạt động kinh tế Với cách tiếp cận này thì có thể hiểu nguồn tài chính là tổng sản xã hội và thu nhập quốc dân
- Với quan niệm về nguồn tài chính như vậy, có thể coi giá trị của cải trong các cơ sở GDNN công lập chính là nguồn tài chính của các cơ sở đó Giá trị của cải trong các cơ sở công lập có được một phần chủ yếu do đầu tư của
Trang 31Nhà nước, sự tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, một phần
do công sức lao động, tài nguyên trí tuệ của đội ngũ giảng viên cán bộ, viên chức trong đơn vị tạo ra Giá trị của cải trong các cơ sở GDNN công lập bao gồm: cơ sở vật chất, trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng, phòng thí nghiệm, các giảng đường và sức lao động của đội ngũ người lao động trong đơn vị Khi sức lao động kết hợp một cách có hiệu quả với cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, phòng thí nghiệm, giảng đường sẽ tạo ra nguồn giá trị tài sản của cơ sở GDNN công lập và được thể hiện ra bên ngoài là khối lượng tiền tệ chi dùng cho hoạt động chuyên môn của các cơ sở GDNN công lập Từ đó, có thể khẳng định các quỹ tiền tệ được hình thành, phân bổ sử dụng trong các cơ sở GDNN công lập là kết quả khai thác, phân bổ, sử dụng có hiệu quả giá trị của cải trong các cơ sở GDNN công lập
Trên thực tế, nguồn tài chính được nói đến dưới nhiều tên gọi khác nhau như: tiền vốn, vốn tiền tệ, vốn bằng tiền, vốn kinh doanh, vốn tín dụng, vốn ngân sách, vốn trong dân Ở đây tiền tệ đại diện cho một lượng giá trị, một thế năng về sức mua nhất định, tức là nguồn tài chính luôn thể hiện một khả năng về sức mua nhất định
Trong nền kinh tế thị trường, mỗi chủ thể trong xã hội khi đã nắm trong tay những nguồn tài chính nhất định, tức là đã có trong tay một sức mua để có thể có được những nguồn vật lực hay sử dụng được những nguồn nhân lực nhất định cho mục đích tích lũy hay tiêu dùng của mình Từ đó, có thể khái niệm rằng, nguồn tài chính là khả năng về sức mua mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình
Trên cách nhìn tổng quát, nguồn tài chính của một quốc gia trong một thời kỳ nào đó là biểu hiện về mặt giá trị toàn bộ của cải xã hội của quốc gia
mà xã hội có thể chi phối và sử dụng trong thời kỳ tương ứng
Xét về mặt hình thức, nguồn tài chính có thể tồn tại dưới dạng hữu hình hoặc vô hình Nguồn tài chính hữu hình là nguồn tài chính được biểu hiện
Trang 32dưới hình thái giá trị và hình thái hiện vật, dưới hình thái giá trị, nguồn tài chính có thể tồn tại dưới hình thức tiền nội tệ, tiền lịch sử - vàng Nguồn tài chính tồn tại dưới dạng tiền tệ đang vận động trên thực tế theo chu trình tuần hoàn của nền kinh tế, nên được gọi là nguồn tài chính thực tế Nhờ có sự vận động thực tế này mà các quỹ tiền tệ khác nhau được tạo lập hoặc được sử dụng cho các mục đích khác nhau đã định trước Nguồn tài chính dưới dạng hiện vật như bất động sản, tài nguyên, công sản, đất đai được gọi là nguồn tài chính tiềm năng, bởi chúng được coi như một khả năng tài chính
Nguồn tài chính được hiểu theo nhiều cách Chúng ta có thể hiểu nguồn tài chính là lượng vốn thực tế dưới dạng tiền tệ và quy đổi ra tiền tệ đã và đang được huy động để phục vụ cho sự phát triển KT-XH của một quốc gia Đồng thời, cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng, nguồn tài chính là sự phân bổ các mối quan hệ kinh tế nảy sinh từ các nguồn tài chính ấy hoặc theo nghĩa hẹp, nói tới nguồn tài chính là nói tới các nguồn vốn Những nguồn vốn ấy đến từ ngân sách nhà nước, tư nhân, đầu tư nước ngoài, quỹ đầu tư, các quỹ tín thác
Nguồn tài chính được quan niệm như vậy giúp chúng ta tìm ra các biện pháp thích hợp nhằm khai thác, huy động phân phối và sử dụng nguồn tài chính một cách có hiệu quả, phục vụ cho phát triển kinh tế, đặc biệt là trong quá trình hội nhập KTQT Theo đó, các chủ thể phân phối được hình thành, trước hết phải kể đến chủ thể là Nhà nước (các tổ chức, cơ quan Nhà nước), tiếp đến là các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các hộ gia đình hay cá nhân dân cư Các chủ thể này xuất hiện theo các tư cách như sau:
- Chủ thể có quyền sở hữu các nguồn tài chính, đây là chủ thể có quyền phân phối và sử dụng nguồn tài chính theo mục đích của họ, bởi họ là chủ đích thực
- Chủ thể có quyền sử dụng các nguồn tài chính, trong trường hợp này chủ thể là những người không có quyền sở hữu vốn tiền tệ, nhưng họ được trao
Trang 33quyền sử dụng vốn tiền tệ Hay còn gọi họ là những người đi vay và có quyền phân phối và sử dụng vốn vay đó theo mục đích của họ
- Chủ thể có quyền lực chính trị, đây chính là Nhà nước Nhà nước với quyền lực chính trị theo hiến pháp và pháp luật, được thu về trong tay mình một lượng của cải vật chất nhất định từ các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
và cá nhân trong xã hội để thực hiện chức năng của Nhà nước
- Chủ thể tổ chức quan hệ của các nhóm thành viên xã hội, bao gồm các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị xã hội, các hội nghiệp đoàn Các tổ chức này không phải là chủ thể sở hữu hay sử dụng nguồn tài chính, nhưng họ thực hiện với tư cách phân phối khi họ nhận được các khoản đóng góp hội phí của các thành viên, các khoản ủng hộ, đóng góp tự nguyện
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế mà mọi quan hệ kinh tế xã hội cơ bản được giải quyết thông qua thị trường Sản xuất và trao đổi hàng hóa trên thị trường chịu sự tác động chủ yếu của quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ Do sự hoạt động của các quy luật này mà kinh tế thị trường có được không gian rộng lớn để tự do sản xuất kinh doanh và kích thích áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát triển Trên cơ sở đó, đòi hỏi các chủ thể kinh tế - xã hội phải có tính năng động và khả năng thích nghi nhanh chóng, khả năng tự điều chỉnh cao, thông qua tự xác định nhu cầu, khối lượng sản phẩm cần thiết nhờ cơ chế giá và hệ thống thông tin Chính sự tác động của nguồn tài chính thông qua việc khai thác, phân phối sử dụng chúng nhằm thỏa mãn các lợi ích của từng chủ thể Điều đó chứng tỏ, nhân tố thị trường quyết định đến sự phân bổ nguồn tài chính từ xu hướng, cách thức đến mục đích vận động của các nguồn tài chính trong xã hội
Các nguồn tài chính được khai thác, huy động cho hoạt động GDNN có thể có nguồn gốc từ trong nước và nước ngoài, từ các chủ thể khác trong xã hội (Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân ) nhưng xét theo đặc điểm sở
Trang 34hữu các nguồn tài chính khác nhau có thể chia thành: nguồn tài chính từ NSNN và các nguồn tài chính ngoài NSNN
1.2.1.2 Huy động nguồn tài chính
Khi nói đến huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN công lập bao gồm khía cạnh động viên giá trị của cải của Nhà nước, các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào cơ sở GDNN công lập và khía cạnh khai thác giá trị của cải hiện có của cơ sở GDNN công lập Như vậy, nói đến huy động nguồn tài chính tại các cơ sở GDNN bao gồm cả hai khía canh: khai thác và động viên Hai khía cạnh này có quan hệ hữu cơ với nhau, có khai thác tốt giá tri của cải hiện có, mới có thể tạo thuận lợi cho hoạt động động viên và ngược lại nếu động viên tốt sẽ tạo điều kiện cho khai thác tốt Trong điều kiện hiện nay, đối với các cơ sở GDNN công lập, viêc khai thác tốt giá trị của cải hiện có là điều kiện, tiền đề có tính quyết định đến việc động viên các nguồn tài chính khác Để khai thác tốt giá trị của cải hiện có, các cơ sở GDNN công lập cần xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển cung cấp các dịch vụ đào tạo và nghiên cứu khoa hoc và các dịch vụ hỗ trợ khác đáp ứng yêu cầu của người học, yêu cầu của cơ sở sử dụng lao động theo từng giai đọan phát triển của đất nước, phù hợp với yêu cầu của hội nhâp kinh tế khu vực và thế giới Trên cơ sở chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các dịch vụ đào tao, nghiên cứu khoa hoc và các dịch vụ hỗ trợ khác, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phân bổ, sử dụng giá trị của cải hiện
có, từ đó tạo ra nguồn tài chính mới, dồi dào cho cơ sở GDNN công lập Đây
là yếu tố quyết định để các cơ sở GDNN động viên nguồn tài chính của Nhà nước, của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiêp trong và ngoài nước Đương nhiên, việc khai thác tốt giá trị của cải hiện có chỉ mới là tiền đề, điều kiện thuận lợi, để có thể động viên được nguồn tài chính bên ngoài đòi hỏi cơ sở GDNN công lập phải có quá trình tích cực vận động thông qua nhiều biện pháp như liên doanh, liên kết, quảng bá thương hiệu
Trang 35Như trình bày ở phần trên, nguồn tài chính là nguồn vốn tài chính Việc huy động vốn tài chính tùy theo từng mục đích và được thực hiện theo những cách khác nhau Huy động vốn tài chính cho phát triển là động viên từ các nguồn vốn trong xã hội phục vụ cho đầu tư phát triển nói chung và huy động vốn tại các cơ sở GDNN cũng là động viên, khai thác các nguồn vốn phục vụ cho quá trình đào tạo trong lĩnh vực GDNN nhằm mở rộng quy mô đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo Vốn tài chính được huy động có thể
là tiền hoặc cũng có thể là các thiết bị, nhà xưởng, đất đai được phía đầu
tư trang bị và được định giá theo giá trị tiền mặt
Huy động nguồn tài chính có thể giúp thu hút được nguồn vốn từ trong nước hoặc ngoài nước, từ cá nhân hoặc tập thể, từ doanh nghiệp hoặc các quỹ đầu tư tín thác, các quỹ phát triển Nguồn tài chính cần được định hướng khả năng huy động, phân chia theo giai đoạn để thực hiện có hiệu quả Nếu những định hướng và phân chia giai đoạn cho huy động vốn tài chính không được làm tốt thì việc huy động vốn sẽ không hiệu quả dẫn tới việc khó thúc đẩy được mục tiêu sử dụng hoặc sử dụng không phù hợp so với nguồn huy động được Trong lĩnh vực GDNN, huy động vốn mở rộng quy mô đào tạo phải chú ý đến xây dựng cơ sở vật chất, huy động vốn để năng cao chất lượng đào tạo phải chú ý đến đội ngũ giáo viên và cơ sở hạ tầng vụ phục công tác giảng dạy
Phương hướng chung của huy động nguồn tài chính là phải huy động tối
đa mọi nguồn vốn để phục vụ phát triển kinh tế nói chung và phát triển GDNN nói riêng Các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển tạo ra những chính sách ưu tiên để các nguồn vốn tài chính có thể phục
vụ tốt cho các mục tiêu phát triển nói chung và GDNN nói riêng như cải cách các thủ tục đầu tư, rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư, cải cách thể chế và hệ thống tài chính quốc gia, giữ vững tỉ giá hối đoái, giữ vững mức lãi suất tiền
Trang 36gửi, lãi suất liên ngân hàng, mua bán trái phiếu chính phủ được niêm yết trên thị trường chứng khoán, xây dựng thị trường tiền tệ minh bạch Việt Nam cũng thực hiện những chính sách như trên thông qua sự ra đời của nhiều Luật NS NN, Ngân hàng nhà nước, Luật GDNN góp phần ổn định kinh tế
và phát triển GDNN
1.2.2 Nội dung huy động các nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập
Đối với mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn cụ thể, đổi mới và phát triển
hệ thống giáo dục nghề nghiệp đang là yêu cầu cấp thiết và cần nhiều nguồn lực bao gồm các nguồn lực trong nước và các nguồn lực từ nước ngoài, tăng cường sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp trong việc
tổ chức thực hiện đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách, đa dạng hóa nguồn
lực đào tạo nhân lực có tay nghề cao; chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế
Đối với các cơ sở GDNN, nguồn tài chính tự có là nguồn tài chính chủ
sở hữu có từ ban đầu hoặc nguồn vốn góp ban đầu Trong lĩnh vực GDNN thì nguồn tài chính tự có đến từ NSNN, được hình thành từ nguồn đầu tư công, thông qua các khoản thu nhập công (Quỹ ngân sách của Chính phủ) Khi Nhà nước đầu tư cho GDNN thông qua các quỹ công, nó được cho rằng trách nhiệm chủ yếu về đào tạo nguồn nhân lực để phát triển quốc gia là việc của Nhà nước Chính phủ cũng can thiệp trong việc phân phối sản phẩm giáo dục nghề nghiệp để đảm bảo công bằng xã hội cho người nghèo ở khu vực nông thôn và nhóm phi chính thức ở thành thị Đầu tư công cho GDNN cung cấp các cơ hội cho những người bị khó khăn hơn trong việc tìm cơ hội thoát khỏi khu vực túng quẫn, khó khăn của xã hội Hầu hết các khoản đầu tư ngân sách của Chính phủ được thực hiện ở các trường đào tạo trước khi tham gia thị trường lao động Một số các cơ sở đào tạo nhận được nguồn tài trợ từ ngân sách chính phủ thông qua các khoản tài trợ, các khoản ngân sách được phân
Trang 37bổ, các khoản hỗ trợ về thuế, đầu tư từ các chương trình mục tiêu với những khoản tài trợ đặc biệt, đầu tư từ các dự án phát triển…
Vai trò của NSNN không chỉ đơn thuần là cung cấp tiềm lực tài chính để duy trì củng cố các hoạt động GDNN mà còn có tác dụng định hướng hoạt động GDNN phát triển
Nội dung của cơ chế huy động, tạo lập nguồn tài chính GDNN từ NSNN thường được thể hiện trong các quy định pháp luật của các quốc gia như: Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật GDNN, Luật Giáo dục và các văn bản hướng dẫn thi hành với các nội dung cơ bản sau đây:
Quy định trách nhiệm của Nhà nước về đầu tư cho GDNN Có nơi quy định cụ thể tỷ lệ đầu tư cho GDNN trong ngân sách GD-ĐT
Quy định các loại hình nguồn tài chính công đầu tư cho GDNN (từ thu NSNN, huy động khác thuộc NSNN)
Phân công trách nhiệm giữa các cấp ngân sách trong đầu tư cho GDNN Quy định quy trình xây dựng kế hoạch, dự toán nguồn tài chính cho GDNN
Hàng năm, Quốc Hội thông qua một khoản NSNN dành cho hoạt động GDNN hình thành nên quỹ GDNN của Nhà nước và ủy quyền cho cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động GDNN quốc gia quản lý và phân bổ cho hoạt động GDNN Việc quản lý và phân bổ nguồn tài chính từ NSNN dành cho GDNN tùy thuộc vào hệ thống tổ chức GDNN của mỗi nước
Nếu đứng trên góc độ cách thức cấp phát và huy động, thì nguồn tài chính tại các cơ ở GDNN công lập được hình thành từ nguồn ngân sách Nhà nước và nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước
Nguồn ngân sách nhà nước bao gồm các khoản kinh phí được cấp phát
từ ngân sách Nhà nước Do GDNN có tầm quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, nên nguồn tài chính từ NSNN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong
cơ câu nguồn tài chính của các cơ sở GDNN công lập ở 1 số nước và Việt
Trang 38nam hiện nay Tuy nhiên, với chính sách “chia sẻ chi phí” trong giáo dục đại học , với việc huy động sự đóng góp của người học cũng như của mọi tổ chức
cá nhân trong xã hội, tỷ trọng nguồn thu từ ngân sách trong tổng nguồn thu của các cơ sở GDNN công lập nên giảm dần Mặc dù vậy, nguồn tài chính từ NSNN vẫn là một nguồn kinh phí quan trọng của các cơ sở GDNN công lập
Để nâng cao chất lượng GDNN, các cơ ở GDNN rất cần phải có nguồn tài chính từ các nguồn khác như: Nguồn thu từ giá dịch vụ của người học; Nguồn thu từ hoạt động dịch vụ đào tạo; Nguồn đóng góp, hỗ trợ của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân; Huy động nguồn tài chính từ các tổ chức tài chính trung gian; Huy động nguồn vốn ngoài nước Các nguồn kinh phí này được các cơ sở GDNN xác định nhu cầu cần thiết để có cơ chế và cách thức huy động riêng cho từng nguồn vốn Cụ thể:
Đối với nguồn thu từ giá dịch vụ của người học: Hiểu một cách thực
tế, ai hưởng lợi thì người đó phải có trách nhiệm đóng góp kinh phí Đất nước được các trường GDNN cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học
và chuyển giao công nghệ thì cũng phải có trách nhiệm đóng góp kinh phí thông qua việc giao nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu Xã hội có lợi ích từ việc
sử dụng sản phẩm đào tạo, nghiên cứu khoa học phải đóng góp thông qua việc tham gia vào quá trình đào tạo, đặt hàng đào tạo và nghiên cứu Người học có lợi ích là nhờ đào tạo mà gia tăng giá trị của bản thân để thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập và phát triển bản thân thì cũng phải có trách nhiệm đóng góp thông qua giá dịch vụ Giá dịch vụ phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ cung cấp Ba yếu tố quan trọng bảo đảm chất lượng GDNN
là cơ sở vật chất, chương trình đào tạo và đội ngũ cán bộ - tất cả đều phụ thuộc một cách quyết định vào nguồn tài chính Tuy nhiên, hiện nay cả ba nguồn tài chính cho các trường GDNN là đầu tư của Nhà nước, đóng góp của người học và của xã hội đều quá hạn hẹp, không đủ để giữ vững chất
Trang 39lượng đào tạo, chưa nói tới việc nâng cao chất lượng, tiếp cận với những chuẩn mực của khu vực và trên thế giới
Thu từ giá dịch vụ cho phát triển GDNN công lập quan trọng là phải xác định đúng và đủ các chi phí phù hợp với từng cấp độ chất lượng dịch vụ và giá dịch vụ GDNN công lập phải được minh bạch đến từng người sử dụng dịch vụ và cộng đồng dân cư trong xã hội Khi đã xác định được giá dịch vụ GDNN công lập tương ứng với từng cấp độ chất lượng dịch vụ thì không khó khăn gì trong việc giải quyết mối quan hệ chia sẻ chi phí cho GDNN công lập giữa Nhà nước, người học và xã hội
Với nguyên tắc “chia sẻ chi phí”, nguồn đóng góp của người học thông qua giá dịch vụ và các khoản phí khác đang là nguồn thu ngày càng lớn của các cơ sở GDNN ở nhiều nước trên thế giới Đối với các trường GDNN công lập, đóng góp của người học và trợ cấp từ chính phủ là hai nguồn thu chủ yếu
để trang trải cho hoạt động của các trường này Tuy nhiên, do chính sách của từng quốc gia, tỷ lệ đóng góp của người học cho GDNN giữa các nước cũng rất khác nhau Với xu hướng giá dịch vụ ngày càng tăng, trong những năm tới
dự kiến tỷ lệ đóng góp của người học cho GDNN sẽ còn cao hơn nữa
Nguyên tắc chung để xác định mức giá dịch vụ phải thu đối với các cơ
sở GDNN công lập là phải dựa vào khung giá dịch vụ do Nhà nước quy định, đồng thời căn cứ vào chi phí hợp lý thực tế bỏ ra để cung cấp dịch vụ GDNN theo đặc điểm đào tạo từng loại ngành nghề khác nhau
Dựa vào việc cải thiện các kỹ năng có được qua GDNN, sinh viên tốt nghiệp có thể có cơ hội việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn trong tương lai,
do vậy các cá nhân người lao động sẵn sàng đầu tư tài chính của họ cho hoạt động GDNN thông qua việc thanh toán giá dịch vụ hay thanh toán các khoản vay tín dụng để học nghề Giá dịch vụ có thể do các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo công và tư đặt ra Giá dịch vụ thu được nhằm huy động nguồn vốn bổ sung và tạo ra thị trường đào tạo để cải thiện các chương trình và việc làm cho
họ theo nhu cầu
Trang 40Đối với nguồn thu từ hoạt động dịch vụ đào tạo: Liên doanh liên kết đầu
tư theo từng lĩnh vực: là thoả thuận bằng hợp đồng của hai hoặc nhiều bên để cùng thực hiện hoạt động kinh tế, hoạt động này được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh, liên kết Có 3 hình thức liên doanh liên kết chủ yếu gồm: Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh liên kết được đồng kiểm soát (hay còn gọi là hoạt động kinh doanh đồng kiểm soát); Hợp đồng hợp tác kinh doanh dưới hình thức liên doanh liên kết tài sản được đồng kiểm soát (hay còn gọi là tài sản đồng kiểm soát); Hợp đồng liên doanh liên kết dưới hình thức thành lập cơ sở kinh doanh được đồng kiểm soát (hay còn gọi là cơ sở kinh doanh đồng kiểm soát)
Cơ sở GDNN có thể đồng kiểm soát được thành lập bởi các bên góp vốn liên doanh liên kết Cơ sở GDNN có thể đồng kiểm soát là cơ sở GDNN mới được thành lập có hoạt động độc lập giống như hoạt động của một doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn chịu sự kiểm soát của các bên góp vốn liên doanh liên kết theo hợp đồng liên doanh
Vốn góp vào cơ sở GDNN đồng kiểm soát bao gồm tất cả các loại tài sản, vật tư, tiền vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, đơn vị hay cơ sở đào tạo kể cả tiền vay dài hạn dùng vào góp vốn
Liên kết đầu tư là cùng góp vốn đầu tư nhưng tỉ lệ vốn nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp từ 20% đến dưới 50% vốn chủ sở hữu (từ 20% đến dưới 50% quyền biểu quyết) của bên nhận đầu tư mà không có thoả thuận khác
Trong quá trình đào tạo, các cơ sở GDNN thường có những ngành nghề đào tạo khác nhau, năng lực đào tạo của đội ngũ giáo viên cũng khác nhau về
số lượng và chất lượng, thêm vào đó là cơ sở vật chất khác nhau Nhằm nâng cao hiệu quả, tận dụng tiềm năng thế mạnh lẫn nhau, các cơ sở GDNN công lập có thể tiến hành các hoạt động liên doanh, liên kết đối với hoạt động GDNN Lẽ tất yếu khi thực hiện liên doanh, liên kết sẽ tạo ra nguồn tài chính
và được phân chia theo những tỷ lệ nhất định được quy định trong hợp đồng liên doanh, liên kết