Tuy nhiên, hiện nay hoạt động định giá công nghệ còn sơ khai, đơn lẻ và chưa hình thành được mạng lưới cho hoạt động này, các doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen thuê tư vấn định giá
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGUYỄN QUỲNH NGA
GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC
ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM
Ngành: Quản lý khoa học và công nghệ
Mã số: 834 04 12
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH MINH TÂM
HÀ NỘI, 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Giải pháp thúc đẩy phát triển các tổ
chức định giá công nghệ tại Việt Nam” này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân tôi cùng với sự hướng dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn khoa học TS.Trịnh Minh Tâm Các tư liệu sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng, không sao chép của người khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình./
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC TỔ CHỨC ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.2 Thực tiễn về các tổ chức định giá công nghệ tại một số nước trên thế giới 27 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC TỔ CHỨC ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 38
2.1 Thực trạng hoạt động định giá công nghệ trong thị trường KH&CN Việt Nam 38
2.2 Thực trạng về hoạt động của các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam 46 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN CÁC TỔ CHỨC ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 51
3.1 Phân tích những nét tương đồng và khác biệt trong chính sách của Việt Nam và một số nước về phát triển các tổ chức định giá công nghệ 51
3.2 Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam 57
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 72
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tên viết tắt Tên tiếng Anh Nghĩa tiếng Việt
KH&CN Science and Technology Khoa học và công nghệ CGCN Technology Transfer Chuyển giao công nghệ KT-XH Socio- economic Kinh tế - xã hội
SHTT Intellectual Property Sở hữu trí tuệ
ĐGCN Technology Valuation Định giá công nghệ
KQNC Research Results Kết quả nghiên cứu
SXKD Business and Production Sản xuất kinh doanh
VBPL Legal documents Văn bản pháp lý
R&D Research and development Nghiên cứu và phát triển
Trang 5DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Những bất cập giữa năng lực của các viện nghiên cứu và triển khai
với cầu về công nghệ của các doanh nghiệp 42
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 2.1: Tỷ lệ phần trăm về mức độ chia sẻ thông tin 47
Hình 2.2: Tỷ lệ phần trăm nhân lực trong các tổ chức trung gian 48
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với vai trò là thước đo sức cạnh tranh và khả năng phát triển của nền kinh tế nói chung, doanh nghiệp nói riêng trong tương lai, công nghệ trở thành một trong những dòng tài sản vô hình được trao đổi, thương mại hóa trên thị trường công nghệ Yếu tố đầu vào cơ bản cho việc trao đổi, thương mại hóa này chính là việc biết được giá trị của công nghệ - kết quả của quá trình định giá công nghệ
Luật sở hữu trí tuệ và Luật chuyển giao công nghệ đã được ban hành, trong đó có một vấn đề đang nổi cộm là trong quá trình chuyển giao công nghệ hoặc cổ phần hóa, liên doanh, … đối với các doanh nghiệp thì tài sản công nghệ sẽ được định giá như thế nào? Những gì thị trường cần là giá trị của công nghệ như là một sản phẩm được giao dịch trên thị trường, và điều này đòi hỏi một giá trị công bằng và khách quan mà không chịu ảnh hưởng bởi các công ty cụ thể sở hữu nó Bởi vậy, sự xuất hiện của các tổ chức định giá công nghệ là một xu thế tất yếu trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Tại Việt Nam, công tác định giá công nghệ đã được Bộ Khoa học và Công nghệ quan tâm và chỉ đạo nhiều năm nay Tuy nhiên, hiện nay hoạt động định giá công nghệ còn sơ khai, đơn lẻ và chưa hình thành được mạng lưới cho hoạt động này, các doanh nghiệp Việt Nam chưa có thói quen thuê tư vấn định giá công nghệ trong các khâu của quy trình chuyển giao công nghệ,
đa phần chỉ là mua máy móc thiết bị, đội ngũ thực hiện hoạt động định giá công nghệ chưa được đào tạo một cách chuyên nghiệp,…
Chính vì vậy, việc xem xét một cách bài bản về các tổ chức định giá công nghệ sẽ mang lại lợi ích lớn cho việc ban hành các chính sách nhằm quản lý, hỗ trợ việc hình thành, hoạt động cũng như thúc đẩy sự phát triển của
Trang 7các tổ chức này Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp, giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi trong quá trình đổi mới công nghệ, phát triển thị trường công nghệ và tạo điều kiện thuận lợi góp phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Nước ngoài
Thị trường KH&CN cũng chứa đựng các thành tố cơ bản như các loại thị trường khác, bao gồm: sản phẩm và dịch vụ KH&CN; chủ thể tham gia thị trường như người cung (người bán), người cầu (người mua) sản phẩm và dịch
vụ KH&CN và đặc biệt cũng có các tổ chức trung gian tư vấn, cung cấp các dịch vụ (bao gồm định giá công nghệ)
Tại Hàn Quốc, hoạt động định giá công nghệ cũng đã trở nên mạnh
mẽ với sự ra đời của Luật Xúc tiến chuyển giao công nghệ vào năm 2000 Đạo luật này đã khuyến khích các trường đại học và các viện nghiên cứu công thành lập các Văn phòng cấp phép công nghệ (TLO) cùng với các tổ chức tương ứng của họ, đồng thời tập trung vào việc xúc tiến chuyển giao và thương mại hoá kết quả nghiên cứu Bởi vậy, Hàn Quốc đã xuất hiện nhiều tổ chức dịch vụ xúc tiến chuyển giao công nghệ như: Trung tâm đổi mới công nghệ vùng, công viên công nghệ, các doanh nghiệp nhân rộng kết quả nghiên cứu, các trung tâm chuyển giao công nghệ thuộc các trường đại học… Tiêu biểu phải kể đến là Trung tâm chuyển giao công nghệ Hàn Quốc (Korea Technology Transefer Center – KTTC) – một tổ chức xúc tiến chuyển giao công nghệ hàng đầu tại Hàn Quốc KTTC có nhiệm vụ kết nối thương mại và công nghệ với việc thúc đẩy cạnh tranh trong các lĩnh vực chuyển giao công nghệ, đánh giá, định giá và đầu tư Các dịch vụ của KTTC bao gồm:
- Dịch vụ xúc tiến chuyển giao công nghệ: Để tìm kiếm đối tác, KTTC xem xét các công nghệ sẽ bán, ước tính giá trị thương mại (định giá), khả năng tồn tại của thị trường, các xu hướng công nghiệp và xác định tiềm năng,
Trang 8đối tác chuyển giao quyền sử dụng KTTC hỗ trợ việc chào bán công nghệ thông qua việc tạo ra sự khác biệt với hệ thống đại diện pháp lý có chuyên môn cao, giỏi trong đàm phán và thỏa thuận trên nhiều lĩnh vực công nghệ khác nhau
- Dịch vụ đánh giá công nghệ: KTTC nghiên cứu tính khả thi của công nghệ trong giai đoạn đầu thông qua phân tích về kinh tế, kỹ thuật, tiếp thị, thực hiện kinh doanh và đánh giá công nghệ
- Dịch vụ hợp nhất và mua lại: KTTC thúc đẩy việc hợp nhất và mua lại công nghệ có sức hấp dẫn của công ty, phòng thí nghiệm, các kết quả nghiên cứu được đầu tư mạo hiểm… để tìm đối tác tốt nhất cho việc ký kết hợp đồng Cung cấp các chiến lược cơ cấu lại doanh nghiệp (bao gồm việc mua, bán, tách và sát nhập doanh nghiệp); cung cấp thông tin liên quan đến chuyển dịch
cơ cấu sở hữu; các dịch vụ pháp lý, thuế, kế toán hoặc các dịch vụ trọn gói
Tại Trung Quốc, Luật thúc đẩy chuyển hoá thành tựu KH&CN của Trung Quốc được ban hành năm 1996 Luật này quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của Chính phủ, chủ sở hữu kết quả KH&CN, doanh nghiệp, các tổ chức trung gian tham gia kinh doanh, môi giới và các tổ chức đầu tư tài chính trong kết nối với việc thương mại hoá công nghệ Điều 18 Luật này quy định:
“Cơ quan môi giới làm dịch vụ đại lý hoặc trung gian cho hai bên trong giao dịch công nghệ phải xin phép kinh doanh theo quy định liên quan của Nhà nước; cán bộ quản lý nghiệp vụ trong cơ quan này phải xin giấy chứng nhận
tư cách hành nghề theo quy định liên quan của Nhà nước” Điều 11 của Điều
lệ Quản lý thị trường công nghệ Bắc Kinh quy định: “Cơ quan trung gian công nghệ và người kinh doanh công nghệ dùng thông tin công nghệ để phục
vụ theo yêu cầu của hai bên đương sự phải đề nghị Văn phòng Quản lý thị trường công nghệ thành phố Bắc Kinh thẩm định tư cách nghề nghiệp; Văn phòng này tiến hành thẩm định và cấp giấy chứng nhận tư cách, đồng thời đề nghị Bộ, ngành quản lý hành chính công thương nghiệp cho đăng ký” Có thể
Trang 9nhận thấy một đặc điểm chung ở Trung Quốc là nhà nước quản lý hoạt động
tư vấn (định giá công nghệ) khá chặt chẽ Các cá nhân, tổ chức hoạt động, tư vấn chuyển giao công nghệ thường phải được cấp giấy phép Và đồng thời, Trung Quốc cũng có những chính sách khuyến khích phát triển hoạt động tư vấn công nghệ (định giá công nghệ) như: Nghị quyết của Trung ương Đảng cộng sản và Chính phủ Trung Quốc về tăng cường sáng tạo công nghệ, phát triển KH&CN cao, thực thi ngành nghề hóa vào tháng 8/1999 khẳng định
“Đối với thu nhập từ tư vấn công nghệ, dịch vụ công nghệ trong chuyển giao công nghệ, triển khai công nghệ được miễn thuế doanh nghiệp”
2.2 Trong nước
Thị trường KH&CN là một bộ phận của nền kinh tế thị trường có vai trò to lớn cho việc phát triển kinh tế xã hội đất nước Do đó, phát triển thị trường KH&CN là một trong những nội dung trọng tâm của chiến lược phát triển KH&CN ở Việt Nam từ nay đến năm 2020
Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban chấp hành TW Đảng khoá XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Một trong những nhiệm vụ và giải pháp Phát triển thị trường KH&CN là “Phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ kỹ thuật khoa học và công nghệ, môi giới, chuyển giao, tư vấn, đánh giá và định giá công nghệ Đầu tư xây dựng các sàn giao dịch công nghệ quốc gia tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng liên thông với hệ thống các trung tâm ứng dụng và chuyển giao công nghệ của các tỉnh, thành phố, kết nối với các sàn giao dịch công nghệ khu vực và thế giới”
Quyết định số 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ: “Nhà nước đầu tư xây dựng một số trung tâm dịch vụ khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ làm nòng cốt cho hệ thống tổ chức dịch vụ môi
Trang 10giới, chuyển giao, tư vấn, đánh giá, định giá, thẩm định, giám định công nghệ”
Cũng giống như các loại thị trường khác, khi thị trường KH&CN mới hình thành và còn ở mức sơ khai thì hoạt động mua bán, trao đổi sản phẩm KH&CN thường trực tiếp diễn ra giữa cung (người bán) và cầu (người mua) Lúc này vai trò của các tổ chức trung gian như các tổ chức định giá sản phẩm công nghệ còn rất mờ nhạt Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thị trường ngày càng mở rộng thì mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia thị trường sẽ ngày càng phức tạp hơn Người cung sản phẩm KHCN cần có một cách nhanh nhất các thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường, bảo đảm giao dịch mua – bán phù hợp với luật lệ và khi cần có thể giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ đối với sản phẩm KH&CN Ngược lại, người có nhu cầu đối với sản phẩm KHCN không thể biết hết được thông tin về các loại hình sản phẩm KHCN hết sức phong phú đang có mặt trên thị trường nên cần sự giúp đỡ chọn lựa để mua sản phẩm KHCN phù hợp với giá rẻ nhất Tới lúc này, các tổ chức trung gian như các tổ chức định giá sản phẩm công nghệ mới thực sự phát triển nhanh chóng Nói cách khác, thị trường nói chung và thị trường KHCN nói riêng càng phát triển thì càng cần đến hoạt động tư vấn và dịch vụ KHCN
Về chính sách quản lý và phát triển hoạt động định giá trong thời gian qua, hiện có ít các quy định riêng cho các hoạt động này Chủ yếu vẫn là các quy định chung điều chỉnh những hoạt động mà định giá công nghệ là một loại hình trong đó Trong Luật chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 được ban hành ngày 19/6/2017, tại Chương IV, mục 3, Điều 45 có quy định chi tiết
về các loại hình dịch vụ chuyển giao công nghệ (bao gồm môi giới, tư vấn chuyển giao công nghệ; đánh giá, thẩm định giá, giám định công nghệ; xúc tiến chuyển giao công nghệ) và hướng dẫn thi hành các quy định chung về dịch vụ chuyển giao công nghệ Trong Bộ luật dân sự, quy định tại Mục 7 là
Trang 11về hoạt động dịch vụ nói chung Trong Thông tư 06/2014/TT-BTC của Bộ tài chính ban hành ngày 07/01/2014 quy định rõ về tiêu chuẩn thẩm định giá số
13 Các quy định tại Nghị định số 87/2002/NĐ-CP về cung cấp các dịch vụ tư vấn là chung cho nhiều hoạt động tư vấn – trừ tư vấn pháp luật Các quy định
về tư vấn pháp luật chuyển giao công nghệ trong Luật Dân sự được quy định chung cho các hoạt động hành nghề luật sư Chính vì vậy, rất cần có những quy định cụ thể hơn, trực tiếp hơn vào các đặc thù của loại hình hoạt động này Về hoạt động định giá công nghệ, Bộ KH&CN đã có Thông tư số 31/2011/TT-BKHCN ngày 15/11/2011 hướng dẫn nội dung và phương thức hoạt động của các tổ chức định giá công nghệ Thông tư đã quy định hành lang pháp lý hướng dẫn cho hoạt động của các tổ chức định giá công nghệ Tuy nhiên, Thông tư chưa cụ thể hoá các điều kiện và tiêu chuẩn của tổ chức định giá cũng như chuyên gia định giá công nghệ vì đây phải được coi là một nghiệp vụ và hoạt động có điều kiện cần được quản lý và cấp phép hoạt động theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới Hơn nữa, so với kinh nghiệm của nhiều nước, bên cạnh các quy định đã có, chúng ta còn thiếu vắng một số chính sách quan trọng, đặc biệt là những biện pháp hỗ trợ của nhà nước nhằm thúc đẩy hoạt động của tổ chức định giá công nghệ
Về tình hình nghiên cứu phát triển mạng lưới hoạt động tư vấn: Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu và chính sách như:
- Đề tài cấp cơ sở: “Nghiên cứu một số loại hình tổ chức chuyển giao công nghệ trong viện nghiên cứu và phát triển và trường đại học” - Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN - Bộ KH&CN (năm 2006), Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Lan Anh
- Đề án: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động định giá công nghệ, đề xuất nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động định giá công nghệ tại Việt Nam” - Vụ Đánh giá Thẩm định và Giám định công nghệ -
Bộ KH&CN (năm 2010), Chủ nhiệm đề án: Ngô Thị Vân
Trang 12- Đề tài cấp Bộ: “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế chính sách về quản lý, hỗ trợ hình thành và hoạt động của các tổ chức định giá, đánh giá công nghệ, môi giới chuyển giao công nghệ” – Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ - Bộ KH&CN (năm 2014), Chủ nhiệm đề tài: Trịnh Minh Tâm
Tuy nhiên, các đề tài, đề án trên chỉ nghiên cứu ở một số khía cạnh nhất định mà chưa nghiên cứu toàn diện và đề xuất được những giải pháp và khung pháp lý nhằm hỗ trợ phát triển cho hệ thống các tổ chức này Do vậy, cần có những nghiên cứu xây dựng giải pháp thúc đẩy phát triển các tổ chức định giá công nghệ để từ đó rút ra kiến nghị về một số mô hình và giải pháp đối với việc quản lý, hỗ trợ phát triển hoạt động của các tổ chức định giá công nghệ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Tìm hiểu hoạt động định giá công nghệ; đề xuất giải pháp về nội dung quản lý của nhà nước, hỗ trợ hình thành và hoạt động của các tổ chức định giá công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển các tổ chức này tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng áp dụng: Các tổ chức định giá công nghệ Các cơ quan quản
lý nhà nước, các doanh nghiệp, các nhà quản lý chính sách
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu, tìm hiểu việc định giá công nghệ của một số nước và ở Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp kế thừa, phương pháp điều tra thu thập, phân tích thông tin, dữ liệu, lấy ý kiến chuyên gia trong quá trình đề xuất việc xây dựng giải pháp về quản lý, hỗ trợ phát triển các tổ chức định giá công nghệ ở Việt Nam
- Tiếp cận các tài liệu, văn bản trong nước và quốc tế kết hợp với nghiên cứu thực tế
Trang 136 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Định giá công nghệ là lĩnh vực mới, do vậy cần tăng cường nghiên cứu hoạt động định giá công nghệ; đề xuất giải pháp về nội dung quản lý nhà nước, hỗ trợ hình thành và hoạt động của các tổ chức định giá công nghệ nhằm thúc đẩy phát triển các tổ chức này tại Việt Nam Chính vì vậy, luận văn “Giải pháp thúc đẩy phát triển các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam” là vấn đề cấp thiết phục vụ cho công tác quản lý công nghệ của các cơ quan Nhà nước và kết quả của luận văn có thể là tài liệu tham khảo đối với các ngành quan tâm đến vấn đề này Đặc biệt là đối với các doanh nghiệp, giúp cho các doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi trong quá trình đổi mới công nghệ, phát triển thị trường công nghệ và tạo điều kiện thuận lợi góp
phần đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các tổ chức định giá công nghệ Chương 2: Thực trạng về các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam
Chương 3: Đề xuất giải pháp thúc đẩy phát triển các tổ chức định giá công
nghệ tại Việt Nam
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC TỔ CHỨC ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Cơ sở lý luận về chuyển giao công nghệ
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia 28, công nghệ là sự tạo ra,
sự biến đổi, việc sử dụng kiến thức về các công cụ, máy móc, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, hệ thống, phương pháp tổ chức, nhằm giải quyết một vấn
đề, cải tiến một giải pháp đã tồn tại, đạt một mục đích, hay thực hiện một chức năng cụ thể Công nghệ cũng có thể chỉ là một tập hợp những công cụ, gồm máy móc, những sự sắp xếp hay những quy trình Công nghệ có ảnh hưởng đáng kể lên khả năng kiểm soát và thích nghi của con người vào môi trường tự nhiên của mình Thuật ngữ công nghệ có thể được dùng theo nghĩa chung hay cho những lĩnh vực cụ thể Như vậy, công nghệ ở đây có phạm vi rộng nên chưa thực sự làm rõ được bản chất của khái niệm công nghệ
Để nhấn mạnh tri thức, kiến thức là một trong các hình thức biểu hiện của công nghệ, Trần Ngọc Ca (1998) đã nghiên cứu và tập hợp các quan niệm
về công nghệ của một số học giả trên thế giới, cụ thể:
- Công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất
Trang 15- Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức được áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới
- Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được
và có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để tạo ra các sản phẩm và dịch vụ
- Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp
Để nhấn mạnh công nghệ như một hệ thống và có ứng dụng rộng rãi trong đời sống xã hội, Đặng Nguyên và Thu Hà (2002) đã tập hợp các khái niệm về công nghệ và đưa ra 8P công nghệ:
- Công nghệ là một hệ thống mà xã hội phải hy sinh những nhu cầu và mong muốn của mình
- Công nghệ bao gồm một phạm vi rộng lớn các hoạt động và các chức năng trong doanh nghiệp được ủy thác sản xuất các sản phẩm mới và hoàn thiện cùng những quá trình, vật liệu và các bí quyết đối với công ty
- Công nghệ dựa trên những kiến thức lý thuyết, thực tế và kỹ năng để tạo ra các sản phẩm và các dịch vụ cũng như những hệ thống phân phối và sản xuất
- Công nghệ là một hệ thống chuyển đổi các bí quyết độc quyền thành
sự thương mại hóa sản phẩm Điều này bao gồm cả những hoạt động sản xuất, chất lượng được đảm bảo, con người, quá trình thông tin, hợp thành một thể thống nhất dưới dạng những dự án
- 8P công nghệ bao gồm: Công nghệ là các sản phẩm (P1- Product); Công nghệ là quá trình (P2- Process); Công nghệ là sự sở hữu các bí quyết (P3- Proprietary); Công nghệ là sự triển khai (P4- Processing); Công nghệ là
sự đảm bảo (P5- Promise); Công nghệ là con người (P6- People); Công nghệ
là một dự án (P7- Project); Công nghệ mở đường cho lợi nhuận (P8- Profit)
Trang 16Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, quan niệm về công nghệ cũng được đưa ra bởi các tổ chức quốc tế có uy tín Mỗi một tổ chức lại có cách tiếp cận khác nhau, dựa trên mục tiêu sử dụng khác nhau
- Theo Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO), công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và có phương pháp
- Theo Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP, 1989), công nghệ là kiến thức có hệ thống về quy trình kỹ thuật để chế biến vật liệu và thông tin; công nghệ bao gồm kỹ năng, kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ
- Theo Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD, 1972), công nghệ là đầu vào cần thiết cho sản xuất và như vậy
nó được mua và bán trên thị trường như một hàng hóa được thể hiện ở một trong các dạng sau: tư liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, được mua và bán trên thị trường, đặc biệt là gắn với các quyết định định đầu tư; nhân lực và thông thường là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao và chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng thiết bị và kỹ thuật và làm chủ được bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin; thông tin, dù đó
là thông tin kỹ thuật hay thông tin thương mại, được đưa ra trên thị trường hay được giữ bí mật như một phần của hoạt động độc quyền
- Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1996), công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt một kết quả định trước trong một hoàn cảnh nhất định
- Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 1985), công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: thông tin và
Trang 17phương pháp; phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa; sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao
- Theo cách tiếp cận của một số nhà quản lý công nghiệp Nhật Bản, công nghệ bao gồm năm yếu tố, đó là quản lý, tiền vốn, thị trường, máy móc, nguyên vật liệu
Tại Việt Nam, một số tài liệu được sử dụng trong nghiên cứu và giảng dạy thời gian qua, quan niệm về công nghệ thường đề cập tới các yếu tố cấu thành công nghệ, dựa trên quan điểm của Sharif (1986) và Ramanathan (1995) Theo đó một công nghệ gồm 4 thành phần: (i) Phần kỹ thuật: công nghệ hàm chứa trong các dạng vật thể như máy móc, thiết bị, phương tiện và cấu trúc hạ tầng; (ii) Phần con người: công nghệ hàm chứa trong các kỹ năng công nghệ của con người, nó bao gồm kiến thức, kinh nghiệm do học hỏi và tích lũy được trong quá trình sử dụng công nghệ; (iii) Phần thông tin: công nghệ hàm chứa trong các dạng dữ liệu đã được tư liệu hóa để sử dụng trong các hoạt động của công nghệ; (iv) Phần tổ chức: công nghệ hàm chứa trong khung thể chế để xây dựng lên cấu trúc tổ chức như quy định về quyền hạn, trách nhiệm, sự phối hợp của các cá nhân trong hoạt động công nghệ
Dựa trên các quan điểm về công nghệ ở trên, có bốn khía cạnh cần được bao quát trong định nghĩa về công nghệ (Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, 2010):
- Công nghệ là “máy biến đổi”, đề cập tới khả năng làm ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng và thỏa mãn được yêu cầu kinh tế, xã hội, đây là khác biệt giữa khoa học và công nghệ; công nghệ không tồn tại mãi mãi vì một công nghệ muốn xuất hiện thì phải hiệu quả hơn công nghệ cũ, còn khoa học là những phát minh, khám phá mang tính bền vững, khía cạnh này đã nhấn mạnh không chỉ tầm quan trọng của công nghệ trong việc giải quyết các vấn
đề thực tế, mà còn nhấn mạnh sự phù hợp của mục đích kinh tế trong việc áp dụng công nghệ;
Trang 18- Công nghệ là “công cụ”, đề cập tới công nghệ là sản phẩm của con người, cho nên con người có thể làm chủ được nó;
- Công nghệ là “kiến thức”, đề cập tới công nghệ không nhất thiết phải nhìn thấy được và nhấn mạnh rằng các công nghệ giống nhau thì chưa chắc đã cho kết quả như nhau, vì thế muốn sử dụng công nghệ có hiệu quả thì nhất thiết con người phải được đào tạo về kỹ năng, kiến thức và được cập nhật thông tin;
- Công nghệ là “hàm chứa trong các dạng hiện thân của nó”, đề cập tới công nghệ dù là kiến thức những vẫn được mua, bán, trao đổi trên thị trường
và tuân theo quy luật thị trường
Việc thống nhất khái niệm về công nghệ là cần thiết, bởi vì không thể thực hiện được các hoạt động liên quan tới công nghệ nếu chưa hiểu được chúng là gì Luật Khoa học và công nghệ (2000, sửa đổi 2013) và Luật Chuyển giao công nghệ (2017) của Việt Nam có giải thích “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm” Đây là hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động về công nghệ ở Việt Nam Ngoài ra, một số thuật ngữ gắn với công nghệ cũng được Luật Chuyển giao công nghệ giải thích: “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng
và giá trị gia tăng cao; có khả năng hình thành các ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có Công nghệ mới là công nghệ lần đầu tiên được tạo ra tại Việt Nam Công nghệ tiên tiến là công nghệ hàng đầu, có trình độ công nghệ cao hơn trình độ công nghệ cùng loại hiện có”
Việc phân loại công nghệ mang tính tương đối do tính đa dạng của công nghệ, tùy theo mục đích sử dụng công nghệ có thể được phân loại như sau:
Trang 19Thứ nhất, theo trình độ công nghệ sản xuất:
Trình độ công nghệ sản xuất là mức đạt được của công nghệ sản xuất
và được đánh giá theo bốn mức 16: tiên tiến, trung bình tiên tiến, trung bình
và lạc hậu Trình độ công nghệ tiên tiến: có hệ số đóng góp công nghệ từ 0,65 trở lên và tổng số điểm các thành phần công nghệ bằng hoặc trên 75 điểm Trình độ công nghệ trung bình tiên tiến: có hệ số đóng góp công nghệ từ 0,5 trở lên và tổng số điểm các thành phần công nghệ từ 60 điểm đến dưới 75 điểm Trình độ công nghệ trung bình: có hệ số đóng góp công nghệ từ 0,3 trở lên và tổng số điểm các thành phần công nghệ từ 35 điểm đến dưới 60 điểm Trình độ công nghệ lạc hậu: có hệ số đóng góp công nghệ nhỏ hơn 0,3 hoặc tổng số điểm các thành phần công nghệ nhỏ hơn 35 điểm
Về nguyên tắc đánh giá, công nghệ sản xuất được chia thành bốn nhóm cơ bản: nhóm thiết bị công nghệ thể hiện trong máy móc, công cụ, phương tiện viết tắt là T (Technoware); nhóm nhân lực thể hiện trong năng lực tiếp thu kỹ thuật công nghệ phục vụ sản xuất viết tắt là H (Humanware); nhóm thông tin thể hiện trong các tài liệu, dữ liệu thông tin viết tắt là I (Infoware); nhóm tổ chức, quản lý thể hiện trong công tác tổ chức, quản lý viết tắt là O (Orgaware) Sử dụng thang điểm chung (100 điểm) để đưa về cùng một mặt bằng đánh giá, sau đó căn cứ vào tổng số điểm đạt được của các tiêu chí để phân loại trình độ công nghệ
Thứ hai, theo hệ thống ngành kinh tế:
Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam gồm 5 cấp 9: Ngành cấp 1 gồm 21 ngành được mã hóa theo bảng chữ cái lần lượt từ A đến U; ngành cấp
2 gồm 88 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng hai số theo từng ngành cấp 1 tương ứng; ngành cấp 3 gồm 242 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng ba số theo từng ngành cấp 2 tương ứng; ngành cấp 4 gồm 437 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng bốn số theo từng ngành cấp 3 tương ứng; ngành cấp 5 gồm
Trang 20642 ngành, mỗi ngành được mã hóa bằng năm số theo từng ngành cấp 4 tương ứng
Tùy theo ngành kinh tế ta lại có các loại công nghệ tương ứng Ví dụ theo nhóm ngành kinh tế cấp 1 thì có công nghệ nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, khai khoáng, công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghệ sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hòa không khí,
Thứ ba, theo sản phẩm tạo ra: mỗi một loại sản phẩm tạo ra lại tương ứng với một loại công nghệ Ví dụ: công nghệ xi măng, công nghệ thông tin, công nghệ ô tô, công nghệ bán dẫn
Thứ tư, theo quan điểm môi trường: có các loại công nghệ như công nghệ ô nhiễm, công nghệ xanh, công nghệ thân thiện với môi trường, công nghệ không chất thải, công nghệ sạch và công nghệ sạch hơn,
Thứ năm, theo đặc thù công nghệ: có công nghệ phần cứng và công nghệ phần mềm
Thứ sáu, theo đầu ra công nghệ: có công nghệ sản phẩm và công nghệ quá trình
Ngoài ra, có thể phân chia công nghệ thành: công nghệ khuyến khích chuyển giao, công nghệ hạn chế chuyển giao và công nghệ cấm chuyển giao
Theo UNIDO (Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc) thì chuyển giao công nghệ được hiểu là quá trình truyền bá công nghệ từ nước này qua nước khác ngoài nước sản sinh ra nó hay nói cách khác đó là quá trình chuyển và nhận công nghệ qua biên giới Quá trình này bao gồm những công việc sau đây:
- Chuyển giao những phương pháp nguyên tắc, nguyên lý của công nghệ đó
- Chuyển giao những bí quyết và thông tin có liên quan
- Chuyển giao máy móc trang thiết bị
Trang 21- Chuyển giao những hiểu biết thông qua đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề nắm vững về công nghệ được chuyển giao
- Truyền bá về thị trường nhất là thị trường xuất khẩu
Còn việc chuyển và nhận công nghệ giữa các đơn vị các khu vực kinh
tế và địa lý trong một quốc gia thì được gọi là hỗ trợ công nghệ, giúp đỡ công nghệ hay phát triển công nghệ sở tại
Chuyển giao công nghệ (CGCN) là chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng một phần hoặc toàn bộ công nghệ từ bên có quyền CGCN sang bên nhận công nghệ Còn hoạt động CGCN bao gồm CGCN và dịch vụ CGCN
- Định giá công nghệ: là hoạt động xác định giá công nghệ
- Giám định công nghệ: là hoạt động kiểm tra, xác định các chỉ tiêu của công nghệ đã được chuyển giao so với các chỉ tiêu của công nghệ được quy định trong hợp đồng CGCN
- Xúc tiến CGCN: là hoạt động thúc đẩy, tạo và tìm kiếm cơ hội chuyển giao công nghệ, cung ứng dịch vụ quảng cáo, trưng bày, giới thiệu công nghệ, tổ chức chợ, hội chợ, triển lãm công nghệ, trung tâm giao dịch công nghệ
Nhu cầu trao đổi, mua bán công nghệ đã hình thành nên thị trường công nghệ rất sôi động kéo theo đó là sự xuất hiện của các tổ chức hoạt động chuyển giao công nghệ với những dịch vụ CGCN góp phần đưa công nghệ từ
Trang 22bên bán và bên mua được thuận lợi và dễ dàng hơn Những tổ chức này được gọi chung là tổ chức môi giới công nghệ hay tổ chức trung gian CGCN Và trên thế giới đã có rất nhiều tổ chức môi giới công nghệ phát triển và cũng khẳng định được tên tuổi của mình, đồng thời góp phần làm đa dạng hóa thị trường công nghệ thế giới
Nội dung hoạt động của các tổ chức tư vấn chuyển giao công nghệ gồm 17: (1) Tìm kiếm đối tác cung cấp công nghệ và xem xét, đánh giá khả năng thương mại hoá công nghệ (2) Xem xét năng lực tiếp nhận công nghệ của tổ chức, cá nhân có nhu cầu tư vấn chuyển giao công nghệ (3) Tìm kiếm, xem xét và lựa chọn công nghệ được chuyển giao phù hợp với các quy định của pháp luật và các cơ chế chính sách ưu tiên, thúc đẩy, khuyến khích hoạt động chuyển giao công nghệ (4) Xem xét tính phù hợp của sản phẩm do công nghệ tạo ra trên cơ sở: Đánh giá các khả năng, yếu tố về thị trường; Các tiêu chuẩn, chất lượng của sản phẩm; Hiệu quả kinh tế - xã hội và phát triển bền vững (5) Hỗ trợ việc lập, soạn thảo dự án đầu tư công nghệ và thiết bị, phân tích, tính toán quy mô sản xuất, giá thành công nghệ, cung cấp, lắp đặt thiết
bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu và các chi phí liên quan (6) Thay mặt các bên chuyển giao công nghệ chuẩn bị hồ sơ và đăng ký Hợp đồng chuyển giao công nghệ (7) Giám sát, đánh giá quá trình đàm phán, soạn thảo, phương thức, ký kết và hỗ trợ thực hiện hợp đồng chuyển giao công nghệ (8) Các nội dung tư vấn khác về hoạt động chuyển giao công nghệ
1.1.2 Cơ sở lý luận về định giá công nghệ và tổ chức định giá công nghệ
1.1.2.1 Khái niệm về định giá công nghệ
Khi nghiên cứu về định giá công nghệ trên thế giới, các học giả đã đưa
ra nhiều khái niệm khác nhau về định giá công nghệ Theo O Spasic (2013),
chuyên gia của WIPO: “Định giá công nghệ là quá trình xác định và đo lường lợi nhuận tài chính và những rủi ro của công nghệ trong một hoàn cảnh cụ thể” 3 Theo quan điểm này, rủi ro là một trong những yếu tố quan trọng cần
Trang 23xem xét trong định giá, đặc biệt trong giai đoạn hình thành công nghệ nhân tố thời gian và kinh phí đầu tư là nhân tố quyết định, cụ thể: Về thời gian, cần bao nhiêu thời gian để đưa công nghệ ra thị trường (thương mại hóa)? Đôi khi công nghệ đột phá lại là “quá sớm” đối với thị trường Về kinh phí, chúng ta cần đầu tư thêm bao nhiêu nữa? Như vậy, nếu một công nghệ càng cần nhiều thời gian và tiền bạc để đưa ra thị trường (thương mại hóa) thì càng ít giá trị
Theo một nghiên cứu của Yiche Grace Chen, Đại học Yuan –Ze y, Đài
Loan – Trung Quốc thì: “Định giá công nghệ là việc định giá đặc tính kỹ thuật được đánh giá bởi những người mua hoặc những người bán hàng cho giá trị đích thực của nó.” 8 Nhiệm vụ của định giá công nghệ là xác định lợi ích kinh tế tối đa của công nghệ qua việc sử dụng các thông tin hiệu quả cũng như sử dụng các phương pháp định giá phù hợp
Tóm lại, có thể hiểu định giá công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ
Về vị trí, vai trò của Tổ chức định giá công nghệ: Tổ chức định giá công nghệ là tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ có thực hiện hoạt động dịch vụ định giá công nghệ Như vậy, có thể thấy được vai trò rất quan trọng của Tổ chức định giá công nghệ, với vai trò như một tổ chức trung gian trong thị trường khoa học và công nghệ Các tổ chức này góp phần thúc đẩy và đưa công nghệ từ bên bán đến bên mua được thuận lợi hơn
1.1.2.2 Nội dung và phương pháp định giá công nghệ của các tổ chức định giá công nghệ
Nội dung hoạt động của các tổ chức định giá gồm 18: Khi định giá công nghệ, cần xem xét công nghệ theo các nội dung cơ bản sau: (1) Đặc tính
cơ bản của công nghệ (2) Tính ưu việt của công nghệ khi sử dụng (3) Những vấn đề liên quan khác khi sử dụng công nghệ: Phạm vi chuyển giao công nghệ, tính hợp lý khi sử dụng nguyên vật liệu có sẵn trong nước, tại địa phương khi áp dụng công nghệ (4) Khi định giá các công nghệ trong từng
Trang 24ngành hoặc nhóm ngành cụ thể có thể xem xét thêm các nội dung khác phù hợp với đặc thù của ngành hoặc nhóm ngành đó
Về phương pháp định giá công nghệ, việc định giá công nghệ dựa trên
03 cách tiếp cận chủ yếu được áp dụng là: tiếp cận chi phí; tiếp cận thị trường
và tiếp cận thu nhập
Phương pháp thị trường:
Kỹ thuật định giá công nghệ theo phương pháp thị trường như sau:
- Xác định mức giá giao dịch, giá niêm yết hoặc giá chào bán của ít nhất
03 công nghệ so sánh đã được giao dịch thành công hoặc đang được mua, bán trên thị trường vào thời điểm định giá trên cơ sở các thông tin, dữ liệu trong
là âm hoặc nhỏ hơn – có dấu điều chỉnh là dương)
- Điều chỉnh mức giá của các công nghệ so sánh căn cứ vào mức độ chênh lệch của các yếu tố so sánh định lượng hoặc các yếu tố so sánh định tính bằng kỹ thuật lập bảng (Việc điều chỉnh mức giá của các công nghệ so sánh căn cứ vào mức độ chênh lệch của các yếu tố so sánh định tính được thực hiện theo nguyên tắc sau: những yếu tố thuộc công nghệ so sánh kém hơn với công nghệ cần định giá thì điều chỉnh tăng mức giá tính theo đơn vị chuẩn của công nghệ so sánh (cộng); những yếu tố thuộc công nghệ so sánh vượt trội hơn so với công nghệ cần định giá thì điều chỉnh giảm mức giá tính theo đơn vị chuẩn của công nghệ so sánh (trừ); những yếu tố thuộc công nghệ
so sánh giống với công nghệ cần định giá thì giữ nguyên mức giá của công
Trang 25nghệ so sánh (không điều chỉnh) và theo phương thức sau: Điều chỉnh theo số tuyệt đối đối với chênh lệch các yếu tố so sánh định lượng: những yếu tố nào liên quan đến giao dịch có quan hệ nguyên nhân – kết quả thì nhân với nhau; những yếu tố nào cùng ảnh hưởng đến giá trị công nghệ thì cộng với nhau, hoặc điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm đối với chênh lệch các yếu tố so sánh định tính: những yếu tố nào liên quan đến giao dịch có quan hệ nguyên nhân – kết quả thì nhân với nhau; những yếu tố liên quan đến công nghệ có quan hệ tương tác thì cộng với nhau)
- Xác định giá trị thị trường của công nghệ trên cơ sở các mức giá chỉ dẫn: Giá trị thị trường của công nghệ được xác định bằng bình quân các mức giá điều chỉnh của các công nghệ so sánh
Phương pháp chi phí
Kỹ thuật định giá công nghệ theo phương pháp chi phí như sau:
Xác định chi phí tái tạo (CRN) hoặc chi phí thay thế (COR):
Chi phí tái tạo được xác định bằng tổng chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và các chi phí khác Các thông tin, dữ liệu đầu vào phục vụ việc xác định các chi phí nói trên gồm có:
- Các khoản chi phí trực tiếp:
+) Chi phí cho đơn đăng ký công nghệ như chi phí nộp đơn, thẩm định, cấp bằng độc quyền, kể cả chi phí dịch thuật tài liệu, chi phí thuê luật sư, đại diện;
+) Chi phí duy trì hiệu lực bằng độc quyền công nghệ;
+) Chi phí bảo vệ quyền đối với công nghệ;
+) Các chi phí trực tiếp khác liên quan đến công nghệ
- Các khoản chi phí gián tiếp:
+) Chi phí nghiên cứu và triển khai, kể cả chi phí cho nhân lực, nguyên vật liệu đầu vào, thiết bị kiểm tra và thí nghiệm, quá trình thử nghiệm, thông tin, dữ liệu, năng lượng;
Trang 26+) Chi phí sản xuất, tiếp thị, bao gồm chi phí phát triển máy móc, công cụ sản xuất, chi phí sản xuất ban đầu, chi phí phát triển sản xuất, chi phí đào tạo nhân lực, chi phí công bố;
+) Chi phí quản trị công nghệ;
+) Các chi phí gián tiếp khác
- Các khoản chi khác:
+) Lợi nhuận;
+) Các khoản thuế, phí phải nộp từ việc sử dụng, khai thác công nghệ theo quy định của pháp luật
Xác định mức hao mòn của công nghệ:
Mức hao mòn của công nghệ vào thời điểm định giá bằng tổng mức hao mòn tự nhiên, mức hao mòn chức năng (nếu có) và mức hao mòn kinh tế (nếu có), trong đó:
- Mức hao mòn tự nhiên (PD) vào thời điểm định giá được xác định căn
cứ vào tuổi đời hiệu quả và tuổi đời kinh tế của công nghệ theo công thức sau:
- Mức hao mòn chức năng (FO) được xác định căn cứ vào chi phí để khắc phục sự lỗi thời công nghệ, như chi phí nghiên cứu đổi mới, cải tiến công nghệ; hoặc chi phí li-xăng chéo; hoặc mức giảm giá nhằm kích cầu đối với sáng chế…
- Mức hao mòn kinh tế (EO) được xác định căn cứ vào mức giảm giá công nghệ do chịu sự tác động trực tiếp của tình hình thị trường (lạm phát, quy định hạn chế của Chính phủ, khả năng thanh toán của xã hội…)
Công thức xác định giá trị của công nghệ:
V = CRN – (PD+FO+EO), hoặc
Trang 27V = COR – (PD+FO+EO)
Trong đó:
V là giá trị của công nghệ
CRN là chi phí tái tạo
COR là chi phí thay thế
PD là mức hao mòn tự nhiên
FO là mức hao mòn chức năng
EO là mức hao mòn kinh tế
Phương pháp thu nhập
Trước hết, cần xác định các điều kiện của quá trình định giá, bao gồm:
- Một công nghệ có giá trị vì có khả năng tạo ra thu nhập cho chủ sở hữu công nghệ Chính vì vậy, giá trị của công nghệ và thu nhập từ công nghệ có mối quan hệ trực tiếp: nếu những yếu tố khác không đổi, thu nhập từ công nghệ càng cao thì giá trị của công nghệ càng lớn;
- Giá trị thị trường của một công nghệ bằng với giá trị hiện tại (giá trị tại thời điểm định giá) của các khoản thu nhập ròng trong tương lai do công nghệ tạo ra;
- Các điều kiện, giả thiết khác căn cứ vào những thông tin, dữ liệu được cung cấp trong Hồ sơ định giá
Áp dụng kỹ thuật dòng tiền chiết khấu để tính toán giá trị của công nghệ như sau:
- Xác định doanh thu (Ri) trực tiếp từ việc sử dụng, khai thác công nghệ trong mỗi giai đoạn (tính theo năm)
Doanh thu trực tiếp từ việc sử dụng, khai thác công nghệ trong mỗi giai đoạn được xác định là lượng doanh thu chỉ có được nhờ sự có mặt của công nghệ trong sản phẩm tiêu thụ Trong trường hợp công nghệ là yếu tố duy nhất quyết định doanh thu của sản phẩm thì Ri chính là toàn bộ doanh thu của sản phẩm Trong trường hợp công nghệ chỉ là một trong các yếu tố quyết định
Trang 28doanh thu của sản phẩm, thì phải tiến hành bóc tách lượng doanh thu từ công nghệ khỏi tổng doanh thu từ tất cả các yếu tố đó Các yếu tố khác quyết định doanh thu của sản phẩm nói trên bao gồm các tài sản vô hình như nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, tên thương mại, uy tín, danh tiếng của doanh nghiệp… Lượng doanh thu trực tiếp Ri từ công nghệ trong trường hợp này được xác định như sau:
Doanh thu trực tiếp từ công nghệ theo từng giai đoạn được xác định bằng mức chênh lệch doanh thu của sản phẩm trước khi có mặt và sau khi có mặt công nghệ trong sản phẩm, chẳng hạn để tính toán doanh thu trực tiếp từ công nghệ của một doanh nghiệp, nếu công nghệ là sự đổi mới (cải tiến) sản phẩm cũ thì mức chênh lệch nói trên bằng hiệu số giữa doanh thu của sản phẩm mới (mang công nghệ) và doanh thu của sản phẩm cũ của doanh nghiệp
đó, hoặc hiệu số giữa doanh thu của sản phẩm chứa công nghệ mới và doanh thu của sản phẩm cùng loại (của doanh nghiệp khác) chứa đựng công nghệ lỗi thời hơn so với công nghệ Doanh thu trực tiếp từ công nghệ cũng có thể được xác định bằng mức phí li-xăng đối với công nghệ hoặc đối với công nghệ so sánh tương đương
Các thông tin, dữ liệu đầu vào phục vụ việc ước tính doanh thu trực tiếp từ công nghệ gồm:
+) Doanh thu ước tính hàng năm của sản phẩm là công nghệ; hoặc đơn giá và số lượng sản phẩm ước tính được tiêu thụ hàng năm (trong trường hợp công nghệ là yếu tố duy nhất quyết định doanh thu của sản phẩm);
+) Doanh thu ước tính hàng năm của sản phẩm chứa công nghệ và doanh thu ước tính cùng kỳ của sản phẩm không chứa công nghệ (trong trường hợp công nghệ chỉ là một trong các yếu tố quyết định doanh thu của sản phẩm);
Trang 29+) Mức phí li-xăng hàng năm theo hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng công nghệ được định giá; hoặc mức phí li-xăng đối với công nghệ so sánh tương đương trên thị trường
Các thông tin, dữ liệu đầu vào nói trên có thể được thu thập từ các nguồn sau:
+) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp (bao gồm số liệu ước tính doanh thu hàng năm của doanh nghiệp);
+) Số liệu điều tra khảo sát thị trường, bao gồm số liệu về công nghệ so sánh tương đương;
+) Dự báo doanh thu của chuyên gia kinh tế;
+) Báo cáo, quyết định … của cơ quan có thẩm quyền
- Xác định chi phí (Ci) cho việc xây dựng, phát triển, sử dụng và khai thác công nghệ trong mỗi giai đoạn (tính theo năm)
Chi phí cho việc xây dựng, phát triển, sử dụng và khai thác công nghệ trong mỗi giai đoạn được ước tính bằng tổng chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, trong đó chi phí trực tiếp gồm có các khoản chi phí cố định cho công nghệ không phụ thuộc vào việc công nghệ có được sử dụng, khai thác hay không, chi phí gián tiếp gồm có các khoản chi phí biến đổi tỷ lệ với mức độ
sử dụng, khai thác công nghệ
Các thông tin, dữ liệu đầu vào phục vụ việc xác định chi phí cho công nghệ gồm:
+) Các khoản chi phí trực tiếp được ước tính hàng năm:
Chi phí cho đơn đăng ký công nghệ (kể cả chi phí nộp đơn, thẩm định, cấp bằng độc quyền, dịch thuật tài liệu, chi phí thuê luật sư, đại diện);
Chi phí duy trì hiệu lực bằng độc quyền công nghệ;
Chi phí bảo vệ quyền đối với công nghệ, kể cả chi phí giám định…
Trang 30 Các chi phí trực tiếp khác như: chi phí quảng cáo, chào hàng, chi phí cơ hội tính theo lãi suất vốn đầu tư, chi phí tiền vay ngân hàng theo mức lãi suất cho vay trung bình của ngân hàng…
+) Các khoản chi phí gián tiếp được ước tính hàng năm:
Chi phí nghiên cứu và phát triển (kể cả chi phí cho nhân lực, nguồn cung cấp đầu vào, thiết bị kiểm tra và thí nghiệm, quá trình thử nghiệm, thông tin, dữ liệu và năng lượng);
Chi phí sản xuất, tiếp thị (kể các chi phí mua sắm máy móc, công cụ sản xuất, chi phí sản xuất ban đầu, chi phí phát triển sản xuất, chi phí đào tạo nhân lực);
Chi phí mua công nghệ theo li-xăng chéo…
Các thông tin, dữ liệu đầu vào nói trên có thể được thu thập từ các nguồn sau: +) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, bao gồm số liệu ước tính chi phí trực tiếp và gián tiếp hàng năm của doanh nghiệp;
+) Số liệu điều tra, khảo sát thị trường bao gồm số liệu về công nghệ so sánh tương đương;
+) Dự báo chi phí của chuyên gia kinh tế;
+) Báo cáo, quyết định… của cơ quan có thẩm quyền
- Xác định thu nhập ròng (dòng tiền) từ tổng doanh thu và tổng chi phí theo công thức sau:
CFi=Ri-Ci
Trong đó:
CFi là thu nhập ròng giai đoạn (năm) thứ i
Ri là doanh thu từ công nghệ giai đoạn (năm) thứ i
Ci là chi phí đầu tư cho công nghệ giai đoạn (năm) thứ i
- Xác định tỷ suất chiết khấu (r) theo một trong các cách sau:
Trang 31Cách 1: tỷ suất chiết khấu được xác định bằng tổng các yếu tố cấu thành sau: tỷ suất phi rủi ro (là tỷ suất lợi nhuận thu được từ các khoản đầu tư không rủi ro, được tính bằng lãi suất trả trước của trái phiếu Chính phủ kỳ hạn từ 10 năm trở nên ở thời điểm gần nhất với thời điểm định giá) + tỷ giá hối đoái+ tỷ
lệ lạm phát (trượt giá) kỳ vọng dài hạn (hoặc ngắn hạn);
Cách 2: tỷ suất chiết khấu được xác định bằng bình quân gia quyền của các lãi suất từ các nguồn huy động vốn khác nhau đầu tư vào công nghệ (ví dụ: Lãi suất kỳ vọng của nhà đầu tư + lãi suất cho vay của ngân hàng + tỷ suất thu hồi vốn); hoặc bằng chi phí vốn/tổng vốn đầu tư cho công nghệ;
Cách 3: tỷ suất chiết khấu được xác định bằng bình quân các tỷ suất chiết khấu của các công nghệ so sánh tương đương trên thị trường
- Xác định tuổi đời kinh tế của công nghệ (n):
Tuổi đời kinh tế của công nghệ được xác định bằng số năm kỳ vọng mà công nghệ có khả năng tạo ra thu nhập ròng cho chủ sở hữu công nghệ Các thông tin, dữ liệu phục vụ việc xác định tuổi đời kinh tế của công nghệ gồm:
+) Thời hạn bảo hộ công nghệ do pháp luật quy định (hoặc thời hạn hiệu lực của bằng độc quyền công nghệ);
+) Thời hạn thỏa thuận (hợp đồng) li-xăng công nghệ;
+) Số liệu thống kê, điều tra, khảo sát bao gồm số liệu về công nghệ so sánh tương đương;
+) Dự báo của chính chủ sở hữu công nghệ
- Xác định giá trị hiện tại của công nghệ (PV) theo công thức sau:
Trong đó:
PV là giá trị hiện tại của công nghệ
CFt là thu nhập ròng năm thứ t từ công nghệ
Trang 32n là tuổi đời (số năm) kinh tế của công nghệ
r là tỷ suất chiết khấu
1.2 Thực tiễn về các tổ chức định giá công nghệ tại một số nước trên thế giới
1.2.1 Tại Trung Quốc
Từ những năm 80 của thế kỷ trước, để đáp ứng các yêu cầu của cải cách, mở cửa với thế giới bên ngoài và thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá, xã hội, một loạt các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Trung Quốc
đã được ban hành, tạo môi trường pháp lý vững chắc cho xúc tiến định giá công nghệ Trong đó, Luật Thúc đẩy chuyển hoá thành tựu KH&CN của Trung Quốc được ban hành vào năm 1996 Luật này quy định chi tiết quyền
và nghĩa vụ của Chính phủ, chủ sở hữu kết quả KH&CN, doanh nghiệp, cơ quan trung gian tham gia kinh doanh môi giới và các tổ chức đầu tư tài chính trong kết nối với việc thương mại hoá công nghệ Song song với các cơ chế, chính sách hỗ trợ thúc đẩy hoạt động định giá công nghệ đã được hình thành như: Hội chợ công nghệ, chợ công nghệ, sở giao dịch cổ phiếu công nghệ, vườn ươm công nghệ, công viên khoa học công nghệ của các trường đại học, vườn ươm doanh nghiệp, trung tâm xúc tiến sức sản xuất, trung tâm chuyển giao công nghệ… Đây là những tổ chức tích hợp các nguồn lực KH&CN, cung cấp và tham gia vào việc phát triển và phổ biến các thành tựu KH&CN trong nước và thế giới; thúc đẩy và ươm tạo thành tựu KH&CN có tiềm năng thị trường; tận dụng lợi thế của các trường đại học, đồng thời kết hợp với doanh nghiệp cùng tham gia vào định giá công nghệ quốc tế và đồng hoá tối
ưu các công nghệ được giới thiệu, phát triển và đổi mới; cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin về nguồn lực và công nghệ
Trong các mô hình xúc tiến định giá công nghệ xuất sắc của Trung Quốc phải kể đến mô hình các sàn giao dịch công nghệ, tiêu biểu là mô hình
Trang 33sàn giao dịch Thượng Hải (STTE) – mô hình được đánh giá là thành công nhất ở Châu Á trong những năm qua STTE là sàn giao dịch công nghệ đầu tiên và lớn nhất của Trung Quốc, được chính quyền thành phố Thượng Hải và
Bộ KH&CN Trung Quốc thành lập vào năm 1993 Đây là đơn vị công ích, phi lợi nhuận của nhà nước, hoạt động theo mô hình tương tự như một đơn vị
sự nghiệp có thu ở Việt Nam STTE có chức năng cung cấp thông tin về công nghệ Các hoạt động tư vấn, định giá của STTE được thực hiện ở góc độ: Nghiên cứu thị trường; liên kết các đối tác, dịch vụ đầu tư tài chính; theo đuổi các mục đích đầu tư Các hoạt động trên được thực hiện bởi một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có trình độ cao, các nhà môi giới công nghệ chuyên nghiệp và các chuyên gia
Một số kết quả nổi bật mà STTE đã cung cấp cho các khách hàng trong
và ngoài nước thời gian qua phải kể đến là: hệ thống định vị tàu thuyền tự động cho KTTC; công nghệ viễn thông cho Công ty GISsoft của Hàn Quốc;
hệ thống chẩn đoán trong ống nghiệm cho TAKES của Phần Lan; công nghệ
bể chứa xoay tròn, công nghệ bạc nano…
Tại Trung Quốc, cá nhân, tổ chức hoạt động định giá công nghệ thường phải được cấp giấy phép Điều 18 của Luật Thúc đẩy chuyển hoá thành tựu KH&CN của Trung Quốc quy định: Cơ quan định giá công nghệ khi hoạt động phải xin giấy phép kinh doanh theo quy định liên quan của Nhà nước; cán bộ quản lý nghiệp vụ trong cơ quan này phải xin giấy chứng nhận tư cách hành nghề theo quy định liên quan của Nhà nước
Ngoài ra, tại Trung Quốc còn có những quy định cụ thể về năng lực, phẩm chất mà các cá nhân, tổ chức định giá công nghệ cần đáp ứng như: Tiêu chuẩn cán bộ làm công tác định giá công nghệ là phải tốt nghiệp đại học trở lên và được đào tạo nghề theo ba cấp Các chức danh này sau khi tốt nghiệp được cấp chứng chỉ hành nghề định giá công nghệ
Trang 34Một trong những điểm nổi bật của quản lý hoạt động định giá công nghệ ở các nước là nhấn mạnh đến hợp đồng định giá công nghệ Chính phủ Trung Quốc quy định rõ tiến hành giao dịch công nghệ bắt buộc phải hợp đồng dưới hình thức văn bản (không thể thoả thuận bằng lời) Lý do được nêu
ra trong: “Hướng dẫn một số chính sách cụ thể đối với thị trường công nghệ” của Uỷ ban KH&KT nhà nước là:
- Giao dịch ở đây liên quan đến quyền lợi công nghệ và lợi ích kinh tế của người đương sự, không ít giao dịch công nghệ có liên quan đến nhiều vấn
đề phức tạp như bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phân chia quyền lợi chuyển giao công nghệ, trách nhiệm rủi ro trong nghiên cứu và triển khai, giữ bí mật thông tin công nghệ, trách nhiệm đối với hành vi xâm phạm về quyền lợi trong công nghệ…
- Liên quan đến các chính sách ưu đãi của Nhà nước trên các mặt tài chính, tín dụng, thuế, khen thưởng…
- Công nghệ là hàng hóa mang hình thái tri thức vô hình, hợp đồng công nghệ có nhiều khoản mục, thời hạn thực hiện tương đối lâu dài, cách tính về giá cả, thù lao cũng không giống với hợp đồng thông thường
1.2.2 Tại Hàn Quốc
Trong những năm gần đây, Hàn Quốc đã tập trung khai thác các kết quả nghiên cứu mà chủ yếu tập trung vào các hoạt động định giá công nghệ Các chính sách chính về định giá công nghệ từ nhà nước vào tư nhân chỉ thực
sự bắt đầu vào những năm 1990 vì khi đó chính sách khoa học và công nghệ của Hàn Quốc thực sự tập trung vào phát triển công nghệ (Ví dụ như chương trình Nghiên cứu và phát triển đặc biệt, một trong những chương trình nghiên cứu phát triển cấp quốc gia, đã đầu tư hết 4,7 tỷ USD cho khoảng 19 000 dự
án trong khoảng thời gian từ năm 1982-2000 Tuy thế, chỉ có 4,8% dự án được sử dụng và chỉ có 1% ngân sách Nghiên cứu phát triển được hoàn trả lại cho nhà nước) Đầu những năm 1990, nhận thấy tầm quan trọng của việc
Trang 35triển khai các kết quả nghiên cứu nhà nước, chính phủ Hàn Quốc bắt đầu thực hiện những nỗ lực to lớn để tăng tốc quá trình thương mại hóa công nghệ được phát triển trong các cơ sở nghiên cứu quốc gia bao gồm các viện nghiên cứu và các trường đại học Một chuỗi các chính sách tiền đề cho chuyển giao công nghệ đã cải thiện được cơ sở hạ tầng về chuyển giao và thương mại hóa công nghệ
Trong những năm gần đây, phát triển và khai thác khoa học và công nghệ được xem như là động lực chính cho sự phát triển kinh tế ở Hàn Quốc
Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 1993-1997 đã làm nổi bật vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy hỗ trợ hoạt động định giá công nghệ từ các Viện nghiên cứu nhà nước vào các doanh nghiệp công nghiệp, nhờ đó nâng cao được tính cạnh tranh kinh tế và công nghệ của Hàn Quốc Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính Hàn Quốc năm 1997, khi việc định giá công nghệ bắt đầu, rất nhiều công nghệ thương mại được phát triển bởi các viện nghiên cứu được xem như là giải pháp chính cho việc vực dậy sự phát triển của nền kinh tế Chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (được sửa đổi tháng 1 năm 1995) đã đẩy nhanh việc thành lập các trung tâm ươm tạo công nghệ mà trong đó các viện nghiên cứu nhà nước giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua việc cung cấp các nguồn đầu tư mạo hiểm, chuyên gia quản lý, bí quyết công nghệ Một trong những đặc trưng chính của chương trình này là đẩy mạnh việc mở rộng và phổ biến công nghệ Để cho chương trình này phù hợp với các chính sách trong kế hoạch 5 năm và chương trình hành động năm
1997, chính phủ đã thay đổi một số chính sách nhằm đẩy mạnh hợp tác và liên kết giữa các viện trường và công nghiệp
Trước khi xây dựng nền tảng thể chế và pháp luật ở quy mô quốc gia để đẩy mạnh định giá công nghệ và thương mại hóa công nghệ từ nhà nước vào
tư nhân, mỗi viện nghiên cứu nhà nước phải tự tiến hành các hoạt động định giá công nghệ độc lập Tuy nhiên, một vài viện nghiên cứu đã cho hoạt động
Trang 36các văn phòng ứng dụng công nghệ và một số văn phòng vẫn chưa hoạt động
do hạn chế về nhân lực và không đủ ngân sách Sau khi ban hành chương trình hành động năm 2000, sự phát triển của mạng lưới vùng và quốc gia đối với định giá công nghệ bắt đầu trở nên thực sự rõ nét Trung tâm chuyển giao công nghệ Hàn Quốc KTTC có vai trò như là trung tâm định giá công nghệ quy mô quốc gia và các viện nghiên cứu nhà nước tạo thành liên kết vùng cho các văn phòng ứng dụng công nghệ cấp vùng và mạng lưới đẩy mạnh công nghệ trong công nghiệp trong các trường đại học (UNITEF) để nâng cao năng lực cho chính các viện nghiên cứu nhà nước về định giá công nghệ Các viện nghiên cứu của chính phủ đóng vai trò dẫn đầu trong liên kết văn phòng vùng
mà nhiệm vụ chính của các viện bao gồm nhận dạng các công nghệ tiềm năng
và cung cấp chúng cho các nhà công nghiệp Mặt khác các giáo sư kỹ thuật phụ trách mạng lưới UNITEF trong các hoạt động chính của mình sẽ cung cấp các tư vấn hỗ trợ kỹ thuật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để hiện thực hóa mục tiêu của chương trình hành động năm 2000, Trung tâm chuyển giao công nghệ Hàn Quốc (KTTC) được thành lập tháng 4 năm 2000 như là một chính thể hợp pháp đặc biệt với kinh phí được cấp bởi
cả nhà nước và tư nhân KTTC có nhiều nhiệm vụ cần thực hiện như: xây dựng mạng lưới hỗ trợ trong và ngoài nước về định giá và thương mại hóa công nghệ, nâng cao tính cạnh tranh trong toàn bộ ngành công nghiệp bằng cách khởi động thị trường công nghệ Mạng lưới hỗ trợ bao gồm mạng lưới trong nước, các cơ quan định giá công nghệ, viện nghiên cứu công, các viện nghiên cứu của Chính phủ, các trường đại học, các công ty, cá nhân và cả mạng liên kết vùng (các văn phòng ứng dụng công nghệ với mạng lưới ngoài nước mở rộng khắp châu Á, Thái Bình Dương, Mỹ và Châu Âu) KTTC đóng vai trò môi giới chuyển giao công nghệ giữa người mua và người bán, định giá công nghệ chuyển giao, đầu tư kinh phí cho việc thương mại hóa bao gồm cả việc ươm tạo doanh nghiệp công nghệ (TBI) và Nghiên cứu phát
Trang 37triển & kinh doanh (R&BD) và tích lũy cơ sở dữ liệu liên quan đến công nghệ (Ngân hàng dữ liệu công nghệ quốc gia, dữ liệu về công ty, dữ liệu về các chuyên gia…) Tất cả các kết quả R&D công đều được lưu lại Ngân hàng
dữ liệu quốc gia theo yêu cầu của chương trình hành động 2000
KTTC đang thực hiện 4 chặng của chương trình thương mại hóa công nghệ Các chặng này lần lượt theo thứ tự: cung cấp công nghệ để thương mại hóa, kiểm tra công nghệ để thương mại hóa, thử nghiệm thương mại hóa công nghệ và đầu tư công nghệ để thương mại hóa Chiến lược của KTTC và phương pháp tiếp cận bao gồm: KTTC sử dụng một loạt các phương pháp chuyển giao công nghệ và thương mại hóa khác nhau, từ cấp phép, mua hàng bằng cổ phiếu, trao đổi học thuật và cơ sở dữ liệu nghiên cứu Chiến lược toàn cầu hóa công nghệ của KTTC là tận dụng mọi cơ hội để cải thiện cơ sở
hạ tầng công nghệ của Hàn Quốc và cạnh tranh toàn cầu
Dịch vụ của KTTC :
Chuyển giao công nghệ: Tìm kiếm đối tác, KTTC xem xét những công nghệ để bán và ước tính khả năng thương mại, xác định xu hướng thị trường cho ngành công nghiệp và xác định cấp phép hoặc các đối tác có tiềm năng KTTC cung cấp hỗ trợ các giải đáp về những vấn đề trong hệ thống pháp luật cũng như sự khó khăn trong việc đàm pháp, thỏa thuận hạn chế nguy cơ đổ
vỡ giao dịch công nghệ
Dịch vụ định giá công nghệ: KTTC nghiên cứu tính khả thi về công nghệ ở giai đoạn đầu thông qua thị trường, phân tích kỹ thuật và kinh tế, thực hiện kinh doanh và định giá công nghệ
Dịch vụ sáp nhập & mua lại: KTTC thúc đẩy sát nhập của các công ty
có liên quan dựa trên các yếu tố công nghệ, các dự án phòng thí nghiệm …để tìm kiếm những đối tác thích hợp cho ký kết hợp đồng một cách dễ dàng Định giá công ty được chú trọng nhất trong các yếu tố phi tài chính của công
ty chẳng hạn như khả năng cạnh tranh công nghệ Chỉ số cạnh tranh công
Trang 38nghệ bao gồm khả năng của Giám đốc điều hành và Giám đốc công nghệ, một phần đầu tư R&D của công ty, mức độ nguồn nhân lực công nghệ liên quan đến chất lượng của tài sản trí tuệ và mức độ của các cơ sở nghiên cứu
Tổ chức sức mạnh công nghệ trong công nghiệp các trường đại học (UNITEF), như là một sự hợp tác phi lợi nhuận, được tổ chức bởi 570 giáo sư kỹ thuật từ khắp các trường đại học trên cả nước vào tháng 9 năm
1996 để xây dựng chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong
bộ phận nghiên cứu ở các trường đại học UNITEF trở thành mô hình đầu tiên về sự hợp tác giữa các trường đại học và khối công nghiệp và là hệ thống Brain Pool System hình thành một cách tự nguyện đầu tiên UNITEF đang chủ yếu thực hiện chương trình giúp đỡ các doanh nghiệp nhỏ và vừa giải quyết các vấn đề kỹ thuật vướng mắc UNITEF cũng thực hiện chương trình hỗ trợ định giá công nghệ từ nhà nước sang tư nhân (UPTTS) được tài trợ bởi Bộ Năng lượng, Công nghiệp và Thương mại (MOCIE) và chương trình hỗ trợ định giá công nghệ (TES) Chương trình hỗ trợ định giá công nghệ TES thúc đẩy hợp tác và trao đổi giữa các trường đại học và các doanh nghiệp nhỏ và vừa Chương trình cũng cố gắng
để thiết lập sự tin tưởng giữa hai bên bằng việc giúp đỡ hết mình trong công nghệ, nhân lực và thông tin cho việc nâng cao năng lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Để đạt được mục đích này, chương trình cung cấp và tư vấn miễn phí về kỹ thuật cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian đầu và chỉ đòi hỏi chi phí khi công việc thành công Có khoảng 2000 giáo sư từ 122 trường đại học tham gia vào chương trình này và họ được phân ra thành 8 vùng trên cả nước Chương trình hỗ trợ định giá công nghệ từ nhà nước sang tư nhân (UPTTS), được bắt đầu vào năm 2000, tập trung hỗ trợ các kết quả nghiên cứu xuất sắc từ các trường đại học bằng cách tài trợ để tiếp tục phát triển kết quả nghiên cứu, nhờ đó mà các kết quả nghiên cứu này có thể dễ dàng được thương mại hoá và chuyển giao cho