Lời nói đầu Trong bối cảnh đổi mới công nghệ theo hướng văn minh hiện đại và hội nhập ngày càng sâu với khu vực và thế giới các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải có quan hệ với các đối tác nước ngoài. Để có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác này, thì các doanh nghiệp Việt Nam phải thực hiện trách nhiệm xã hội để phát triển bền vững là nhiệm vụ hàng đầu. Trong đó là việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động tại các nhóm ngành Da Giày – Dệt May, Thuỷ sản, Khai thác mỏ, Xây dựng và Dịch vụ – Thương mại là rất quan trọng, cam kết đảm bảo an toàn và sức khỏe của chủ doanh nghiệp với người lao động là một nội dung không thể thiếu. Đây là chuyên đề rất rộng rãi và mang tính thực tế, em vẫn còn là một sinh viên chưa được tiếp xúc nhiều với công tác an toàn trên thực tế nên không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót. Kính mong thầy giáo góp ý chỉ bảo giúp em để nội dung bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin cảm ơn
Trang 1Lời nói đầuTrong bối cảnh đổi mới công nghệ theo hướng văn minh hiện đại và hội nhập ngày càng sâu với khu vực và thế giới các doanh nghiệp Việt Nam buộc phải có quan hệ với các đối tác nước ngoài Để có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tác này, thì các doanh nghiệp ViệtNamphải thực hiện trách nhiệm xã hội để phát triển bền vững là nhiệm vụ hàng đầu Trong đó là việc thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động tại các nhóm ngành Da Giày – Dệt May, Thuỷ sản, Khai thác mỏ, Xây dựng và Dịch
vụ – Thương mại là rất quan trọng, cam kết đảm bảo an toàn và sức khỏe của chủ doanh nghiệp với người lao động là một nội dung không thể thiếu
Đây là chuyên đề rất rộng rãi và mang tính thực tế, em vẫn còn là một sinh viên chưa được tiếp xúc nhiều với công tác an toàn trên thực tế nên không tránh khỏi những sai lầm,thiếu sót Kính mong thầy giáo góp ý chỉ bảo giúp em để nội dung bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn
Em xin cảm ơn!
Trang 2CHƯƠNG:I NỘI DUNG LÝ THUYẾT VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG VẤN ĐỀ AN TOÀN, SỨC KHỎE LAO ĐỘNG Ở CÁC NHÓM NGÀNH
1.1: Những khái niệm cơ bản về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và an toàn, sức khỏe lao động
1.1.1: Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiêp
Theo Hội đồng Kinh doanh Thế giới về Phát triển bền vững (World Business Council for Sustainable Development) vào năm 1998 định nghĩa “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội.”
Và theo nhóm phát triển kinh tế tư nhân của ngân hàng thế giới (WB) “Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phất triển kinh
tế bền vững, thông qua những việc làm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động
và các thành viên trong gia đình họ; cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho
cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của toàn xã hội.”
- Như vậy, có thể thấy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đề cập đến cách thức ứng xử của doanh nghiệp đối với các đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động kinh doanh gồm mối quan hệ với chính phủ, cổ đông, người lao động, khách hàng cho đến cộng đồng xã hội
- Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể phân loại như sau:
+ Trách nhiệm với thị trường và người tiêu dùng
+ Trách nhiệm bảo vệ môi trường hoặc ít nhất không vì lí do kinh tế mà gây hại môi sinh.+ Trách nhiệm với người lao động hoặc ít nhất với công viên trong phân xưởng của mình (lương bổng, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ)
+ Trách nhiệm chung với cộng đồng gần nhất là địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động
1.1.2: An toàn, sức khỏe lao động
An toàn, sức khỏe lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động.
1.1.3: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động
Trang 3Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động là trách nhiệm doanhnghiệp thực hiện đối với người lao động của mình, bảo vệ lợi ích của người lao động được thể hiện trên các nội dung:
Trách nhiệm thực hiện các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh lao động
Trách nhiệm của doanh nghiệp bảo đảm sức khỏe của người lao động
Trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn và bệnh nghề nghiệp
1.2: Vai trò của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động
1.2.1: Đối với người sử dụng lao động
-Điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động cũng là cam kết đạo đức của giới kinh doanh về sự đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội bằng cách bảo đảm an toàn, nâng cao đời sống của lực lượng lao động và gia đình họ
-Nâng cao chất lượng, giá trị thương hiệu và uy tín của doanh nghiệp
Trong thời buổi mà thương hiệu mạnh được nhìn nhận như một công cụ cạnh tranh đặc thù của doanh nghiệp, thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động nhằm thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao, chất lượng tốt, tăng khả năng cạnh tranh xây dựng thương hiệu trên thị trường cho doanh nghiệp, ngoài ra tạo ra lòng trung thành, cam kết của người lao động đối với doanh nghiệp, góp phần phát triển bền vững cho doanh nghiệp
- Tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động sẽ tạo dựng được lòng tin trong người lao động về doanh nghiệp, qua đó kích thích sự sáng tạo,
họ an tâm làm việc nâng cao năng suất lao động toàn doanh nghiệp, tạo ra nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp
-Nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm
Vấn đề an toàn, sức khỏe lao động ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng, hiệu quả Thực tế cho thấy, khi tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp xảy ra, người lao động và thân nhân của họ không những bị mất mát về con người, suy giảm sức khỏe mà khả năng làm việc, thu nhập cũng bị giảm sút, dẫn đến đói nghèo và những đau đớn về thể xác, tinh
Trang 4thần Đối với người sử dụng lao động, khi tai nạn lao động xảy ra sẽ gây thiệt hại về chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà xưởng; chi phí về y tế, giám định thương tật, bệnh nghề nghiệp và bồi thường, trợ cấp cho người bị tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thân nhân của họ Uy tín của doanh nghiệp bị ảnh hưởng Hoạt động sản xuất bị gián đoạn do phải ngừng việc để khắc phục hậu quả, điều tra nguyên nhân gây tai nạn, gây tâm lý lo lắng Việc thực hiện trách nhiệm về an toàn, sức khỏe lao động, từng bước cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo an toàn, sức khỏe lao động là nâng cao năng suất lao động, khi vấn đề an toàn tại nơi làm việc được cải thiện, sự thiệt hại về nguyên vật liệu vàcác sự cố cũng như tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp giảm xuống thì khối lượng sản phẩm tăng lên và chất lượng sản phẩm cũng được nâng cao.
-Thu hút nguồn lao động:
Lao động có năng lực là yếu tố quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm ở các nước đang phát triển, số lượng lao động lớn nhưng đội ngũ lao động đạt chất lượng cao lại không nhiều; do vậy việc thu hút và giữ được nhân viên có chuyên môn tốt và có sự cam kết cao là một thách thức đối với các doanh nghiệp Những doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động tốt sẽ có khả năng thu hút và giữ được nhân viên tốt
1.2.2: Đối với người lao động
Trước hết người lao động sẽ được làm việc trong một môi trường an toàn, đảm bảo tái sản xuất sức lao động cho người lao động Giảm thiểu rủi ro về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho người lao động
1.2.3: Đối với xã hội
Nâng cao hình ảnh quốc gia: Trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động là
xu thế tất yếu và mang tính toàn cầu, thực hiện tốt là tăng khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế, hình ảnh kinh doanh an toàn khoa học của quốc gia sẽ được nâng cao, thu hút đầu tư nước ngoài, tạo môi trường liên kết kinh doanh cho doanh nghiệp trong và ngoài nước hiệu quả
Giảm tệ nạn xã hội tăng cường hoạt động từ thiện, góp phần giảm gánh nặng cho
Trang 5SA 8000 là tiêu chuẩn đưa các yêu về quản trị trách nhiệm xã hội do Hội đồng công nhận Quyền ưu tiên Kinh tế được ban hành năm 1997 Đây là một tiêu chuẩn quốc tế được xâydựng nhằm cải thiện điều kiện làm việc trên toàn cầu, tiêu chuẩn này được xây dựng dựa trên các Công ước của Tổ chức lao động Quốc tế, Công ước của Liên Hiệp Quốc về Quyền Trẻ em và Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền Tiêu chuẩn này có thể áp dụng cho các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, có thể áp dụng cho các Công ty lớn vàcác Công ty có quy mô nhỏ
- Tiêu chuẩn SA 8000 được xây dựng dựa trên các công ước và khuyến nghị của ILO, xâydựng nên 8 yêu cầu về: lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, sức khỏe và an toàn, quyền
tự do hiệp hội và thỏa ước tập thể, phân biệt đối xử, kỉ luật, thời gian làm việc, bồi
thường Trong đó nội dung chính về yêu cầu sức khỏe và an toàn là:
+ Công ty phải phổ biến kiến thức về ngành công nghiệp và các mối nguy đặc thù và phảiđảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh, phải có các biện pháp thích hợp
để ngăn ngừa tai nạn và tổn hại đến sức khoẻ liên quan trong quá trình làm việc, bằng cách hạn chế đến mức có thể các nguyên nhân của mối nguy có trong môi trường làm việc
+ Công ty phải chỉ định một thành viên trong ban lãnh đạo có trách nhiệm đảm bảo an toàn và sức khoẻ của mọi thành viên, và chịu trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về sức khoẻ và an toàn của tiêu chuẩn này
+ Công ty phải thiết lập hệ thống để phát hiện, phòng tránh hoặc đối phó với các nguy cơ tiềm ẩn ảnh hưởng tới sức khoẻ và an toàn của các nhân viên
+ Công ty phải cung cấp phòng tắm sạch sẽ, nước sạch cho việc sử dụng của mọi thành viên, và nếu có thể, các thiết bị vệ sinh cho việc lưu trữ thực phẩm
+ Công ty phải đảm bảo rằng, nếu cung cấp chỗ ở cho nhân viên thì Công ty phải đảm bảo nơi đó sạch sẽ, an toàn và đảm bảo các yêu cầu cơ bản của họ
1.3.2: Quy định của Việt nam
Vấn đề về an toàn, sức khỏe lao động được quy định rõ, cụ thể tại Điều 133, tất cả các Khoản Điều 134, Điều 135, Điều 136, Điều 137, Điều 138 Mục 1: Những quy định chung
về an toàn lao động, vệ sinh lao động Bộ Luật lao động (2013)
1.4: Nội dung trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động.Doanh nghiệp phải đảm bảo một môi trường làm việc an toàn và lành mạnh để phòng ngừa những tai nạn và thương tích có hại đến sức khỏe của người lao động
Doanh nghiệp phải đào tạo cán bộ công nhân viên về an toàn lao động trong sản xuất, có những biện pháp và hệ thống quản lý thích hợp đảm ảo an toàn cho cán bộ công nhân viên
Doanh nghiệp phải phổ iến kiến thức về ngành công nghiệp và bất kỳ các mối nguy hiểm nào, phải cung cấp môi trường làm việc an toàn và vệ sinh, phải có các biện pháp thích
Trang 6hợp để ngăn ngừa tai nạn và làm tổn hại đến sức khỏe mà xuất hiện trong lúc có lien quanđến hoặc xảy ra trong khi làm việc bằng cách giảm tối đa, đến khả năng có thể được, nguyên nhân gây ra các mối nguy hiểm vốn có trong môi trường làm việc.
Doanh nghiệp phải chỉ định đại diện lãnh đạo chịu trách nhiệm về sức khỏe và an toàn cho toàn bộ nhân viên và chịu trách nhiệm thực hiện các yếu tố về sức khỏe và an toàn trong tiêu chuẩn
Doanh nghiệp phải đảm bảo rằng tất cả nhân viên đều được huấn luyện về an toàn và sức khỏe thường kỳ( ít nhất một năm một lần), hồ sơ huấn luyện này phải được thiết lập và các huấn luyện đó được lập lại với nhân viên mới vào hoặc chuyển công tác
Doanh nghiệp phải thiết lập hệ thống theo dõi, tránh hoặc xử lý các nguy hiểm tiềm ẩn đối với sức khỏe và an toàn của nhân viên
Doanh nghiệp phải cung cấp cho nhân viên phòng tắm sạch sẽ, đồ nấu nước và nếu có thể
là các trang thiết bị hợp vệ sinh để lưu trữ thức ăn
Nếu có cung cấp chỗ ở cho nhân viên thì doanh nghiệp phải đảm bảo nơi đó sạch sẽ, an toàn và đảm bảo các yêu cầu cơ bản của họ
1.5: Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động.
1.5.1: Nhân tố bên trong.
-Quan điểm của lãnh đạo về CSR
Việc lãnh đạo nhận thức trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về an toàn, sức khỏe lao động là rất quan trọng Bởi khi nhận thức rõ về tầm quan trọng khi thực hiện trách nhiệm
xã hội về an toàn, sức khỏe lao động mang lại cho doanh nghiệp thì sự phối hợp hài hòa giữa các quyết định và chiến lược hoạt động thực hiện CSR của doanh nghiệp sẽ hiệu quả Hơn thế nữa một người lãnh đạo luôn coi trọng, đặt vấn đề thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động lên hàng đầu thì công tác CSR tại doanh nghiệp đó luôn được hoạt động xuyên suốt, hiệu quả
-Nguồn tài chính của Doanh nghiệp
Ta biết rằng để thực hiện có hiệu quả CSR nói chung và CSR về an toàn, sức khỏe lao động nói riêng luôn phải gắn với khoản kinh phí rất lớn Bởi vậy doanh nghiệp mà phát triển, khả năng tài chính lớn thì luôn luôn sẵn sàng cho công tác thực hiện trách nhiệm xãhội về an toàn, sức khỏe lao động Doanh nghiệp khả năng tài chính eo hẹp đồng nghĩa
Trang 7với việc thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động một cách cầm chừng chỉ ở một giới hạn nào đó.
-Nguồn nhân lực của Doanh nghiệp
Số lượng người lao động làm việc tại tổ chức có tác động rất lớn đến thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động Doanh nghiệp có đông nguồn nhân lực đồng nghĩa việc thực hiện trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động sẽ phức tạp hơn doanh nghiệp quy mô lao động ít rất nhiều Bên cạnh đó lực lượng lao động trực tiếp ( công nhân ) mà càng cao thì tỷ lệ xảy ra tai nạn lao động, sức khỏe lao động, bệnh nghề nghiệp càng cao đòi hỏi thực hiện công tác trách nhiệm về an toàn, sức khỏe lao động cũng như hiệu quả của nó
1.5.2: Nhân tố bên ngoài
-Thể chế bắt buộc của nhà nước
Vấn đề trách nhiệm xã hội vầ an toàn, sức khỏe lao động luôn là vấn đề nhận được sự quan tâm lớn của Nhà nước và đã được đề cập khá chi tiết và rõ ràng trong Bộ Luật lao động, Pháp lệnh bảo hộ lao động Có thể khẳng định rằng, các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động là khá chặt chẽ, phần lớn phù hợp với quy định quốc tế điều này đòi hỏi việc thực hiện tại các doing nghiệp là khá khắc khe, càn tuân thủ đúng theo chuẩn đề ra
-Các tiêu chuẩn quốc tế về CRS
Một số bộ quy tắc ứng xử (CoC) quốc tế được áp dụng khá phổ biến ở Việt Nam đã đề cập khá rõ về vấn đề an toàn, sức khỏe lao động như Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA
8000 và WRAP; Hệ thống quản trị môi trường ISO 14000; Hệ thống quản lý an toàn và sức khoẻ OHSAS 18001 v.v…Những quy tắc, tiêu chuẩn này thường rất cao và khó đạt được trọn vẹn vì vậy đây là một khó khăn cho các doanh nghiệp việt nam trong việc thực hiện có hiệu quả trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động
Trang 8CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VỀ VẤN ĐỀ AN TOÀN, SỨC KHỎE LAO ĐỘNG TẠI CÁC NHÓM NGÀNH
2.1 Thực trạng trách nhiệm xã hội về an toàn, sức khỏe lao động tại 5 nhóm ngành
Để làm rõ việc thực hiện trách nhiệm xã hội đối với an toàn, sức khỏe lao động, tôi đã lựachọn 5 nhóm ngành Da Giày – Dệt May, Thuỷ sản, Khai thác mỏ, Xây dựng và Dịch vụ –Thương mại tại Hà Nội
Phần lớn các doanh nghiệp (63,2%) đều đã có cam kết của lãnh đạo thực hiện cácquy định về an toàn, sức khỏe lao động Tỷ lệ này đạt rất cao ở ngành Da Giầy – Dệt May(82,9%), sau đó đến Khai thác mỏ (61,7%) và thấp nhất ở ngành Xây dựng (54,2%) Điềunày khá dễ hiểu bởi phần lớn các doanh nghiệp ngành Da Giầy – Dệt May phải thực hiệncác quy định của SA 8000 hoặc WRAP, trong đó nội dung an toàn, sức khỏe lao động làmột trong những nội dung quan trọng
Tuy nhiên, việc xây dựng chính sách để thực hiện cam kết vẫn còn tồn tại nhiềukhiếm khuyết Tính trung bình chỉ có 54,7% tổng số doanh nghiệp đã có cam kết cóchính sách để thực hiện các cam kết về an toàn, sức khỏe lao động Tỷ lệ này cao nhất ởngành Khai thác mỏ (76,7%), sau đó đến Da Giầy – Dệt May (61%) và thấp nhất ở ngànhDịch vụ – Thương mại (37,3%) Điều này nói lên khoảng cách quá lớn giữa “nói” và
“làm” trong các doanh nghiệp hiện nay
Về bộ máy phụ trách công tác an toàn, sức khỏe lao động, phần lớn các doanhnghiệp quan tâm đến việc thiết lập bộ máy phụ trách công tác an toàn, sức khỏe laođộng cho NLĐ Có 93,2% số ý kiến khẳng định DN có phân công lãnh đạo phụ trách an toàn,sức khỏe lao động Xét theo ngành, ngành có tỷ lệ cao nhất là Khai thác mỏ (97,9%), sau đó đến
Da Giầy – Dệt May (97,6%), Thuỷ sản (96,9%), Xây dựng (91,5%) và thấp nhất là ngành Dịch
vụ – Thương mại (84,3%)
Bảng 1 cũng cho thấy có 95,5% doanh nghiệp có bộ phận làm công tác an toàn, sứckhỏe lao động Ngành có tỷ lệ cao nhất là Da Giầy – Dệt May (100%), thấp nhất là Dịch vụ –Thương mại (89,6%)
Kết quả trên chứng tỏ sự quan tâm của các doanh nghiêp đến việc thiết lập bộ máy làmcông tác an toàn, sức khỏe lao động Với ngành Thương mại – Dịch vụ, sở dĩ tỷ lệ doanh nghiệp
có bộ máy làm công tác này thấp nhất là do có một số doanh nghiệp quy mô nhỏ không cần thiếtlập bộ máy này
Về công tác huấn luyện an toàn – vệ sinh lao động, theo kết quả điều tra, vẫn còn có5% số ý kiến ngành Da Giầy – Dệt May; 3,1% - ngành Thuỷ sản; 6,3% - ngành Xây dựng và3,9% - ngành Dịch vụ – Thương mại khẳng định doanh nghiệp của mình chưa bao giờ huấnluyện AT-VSLĐ cho NLĐ Có một số doanh nghiệp ngành Thuỷ sản và Dịch vụ – Thương mạihuấn luyện hoặc 2 năm, hoặc 3 năm 1 lần
Xét tổng thể, có thể khẳng định ngành Khai thác mỏ là ngành làm rất tốt công tác huấnluyện AT-VSLĐ (100% doanh nghiệp thực hiện huấn luyện từ 6 tháng đến 1 năm 1 lần), kế tiếpđến ngành Thuỷ sản (96,9%) và Da Giầy – Dệt May (95%)
Trang 9Bảng 1: Bộ máy làm công tác an toàn, sức khỏe lao động và huấn luyện AT-VSLĐ [1]
Đơn vị: %
STT Tiêu chí đánh giá
Chung cho 5 ngành
Phân theo ngành
Da Giày – Dệt May
Khai thác mỏ
Thuỷ sản
Xây dựng
Dịch vụ – Thương mại 1.1 Phân công lãnh
Một số doanh nghiệp rất quan tâm đến việc huấn luyện AT-VSLĐ cho NLĐ: huấn luyện theo định kỳ 6 tháng 1 lần Tỷ lệ này cao nhất ở ngành Dịch vụ – Thương mại (45,1%), sau đó đến ngành Xây dựng (29,2%) và thấp nhất ở ngành Thuỷ sản (6,3%) Đây là việc làm rất đáng hoan nghênh
Kết quả phỏng vấn 300 cá nhân (Bảng 2) cho thấy ĐKLĐ trên thực tế vẫn gây ảnhhưởng xấu đến NLĐ Có 46,8% số ý kiến được hỏi cho rằng ở doanh nghiệp của họ có yếu tốĐKLĐ gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cho NLĐ Yếu tố gây ảnh hưởng xấu phổ biến nhất làBụi (70,4%), sau đó đến Vi khí hậu (Nóng bức khó chịu – 53,7%; Độ ẩm cao – 23,1%), Ồn(52,8%), Rung (18,5%), Hơi khí độc (18,5%) Các yếu tố khác chỉ chiếm một tỷ lệ không đáng
Trang 10Bảng 2: Các yếu tố ĐKLĐ gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ của người lao động [2]
Phân theo ngành
Da Giày – D.May
Khai thác mỏ
Thuỷ sản
Xây dựng
Dịch
vụ – TM1.1 ĐKLĐ có
không che chắn
biển báo an toàn
Da Giầy – Dệt May: Chú ý đặc biệt đến các yếu tố Bụi, Ồn, Nóng bức khó chịu
Trang 11Khai thác mỏ: Chú ý đặc biệt đến các yếu tố Bụi, Ồn, Nóng bức khó chịu.
Thuỷ sản: Chú ý đặc biệt đến yếu tố Ồn
Xây dựng: Chú ý đặc biệt đến các yếu tố Bụi, Ồn, Nóng bức khó chịu
Dịch vụ – Thương mại: Chú ý đặc biệt đến các yếu tố Bụi
Bên cạnh các yếu tố ĐKLĐ không thuận lợi, còn một số yếu tố nguy hiểm dễ gây tai nạnlao động trong quá trình làm việc cần được các doanh nghiệp quan tâm để tránh những tìnhhuống xấu có thể xảy ra đối với sức khoẻ của NLĐ Kết quả điều tra cho thấy, chỉ có 31% số ýkiến khẳng định doanh nghiệp của họ có các yếu tố nguy hiểm dễ gây tai nạn lao động, trong đó
tỷ lệ cao nhất là ngành Khai thác mỏ (50%), sau đó đến Thuỷ sản (38,7%), Xây dựng (36,2%),Dịch vụ – Thương mại (18%) Những yếu tố gây nguy hiểm ở tình trạng đáng báo động nhấttrong các doanh nghiệp là:
Vật liệu nổ: Khai thác mỏ (90,9%), Dịch vụ – Thương mại (85,7%)
Xếp hàng quá cao, dễ đổ, dễ gây tai nạn: Da Giầy – Dệt May (100%), Dịch vụ – Thươngmại (57,1%), Thuỷ sản (55,6%) và Xây dựng (36,4%)
Không có biển báo an toàn: Xây dựng (27,3%) và Dịch vụ – Thương mại (28,6%)
Sàn trơn, gồ nghề: Thuỷ sản (33,3%) và Xây dựng (9,1%)
Máy móc không có bộ phận che chắn: Ngành Xây dựng (18,2%)
Kết quả điều tra này, so với một số kết quả điều tra do Viện Khoa học Lao động và Xã hội tiếnhành trước đây cho thấy một tình trạng khả quan hơn của các yếu tố ĐKLĐ và các yếu tố gâynguy hiểm đến NLĐ Nó chứng tỏ trong những năm vừa qua, các doanh nghiệp đã quan tâmchú ý đến việc đầu tư làm giảm thiểu các mối nguy hại đến NLĐ Tuy nhiên, thực trạng trêncũng chứng tỏ trong các doanh nghiệp còn nhiều yếu tố ĐKLĐ gây ảnh hưởng xấu đến sứckhoẻ NLĐ hoặc gây nguy hiểm cho họ Điều này cho phép đánh giá việc thực hiện CSR đã dần
có tính hội nhập cao hơn song mức độ hội nhập vẫn chưa được như mong muốn
Trong tình trạng các yếu tố ĐKLĐ có gây ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ cho nlđkhá nghiêm trọng như vậy, vấn đề cải tiến các yếu tố ĐKLĐ đã được quan tâm đáng kể.Tính trung bình, có 92,1% số ý kiến hỏi khẳng định doanh nghiệp thường xuyên cải tiếnhoặc lôi cuốn mọi người cùng tham gia cải tiến liên tục các yếu tố ĐKLĐ Chỉ có 7,5%
số ý kiến cho rằng việc cải tiến là không thường xuyên và 0,4% cho rằng doanh nghiệpcủa họ không cải tiến
Ngành Khai thác mỏ là ngành quan tâm đến cải tiến các yếu tố ĐKLĐ nhất (100%)
và quan tâm nhất đến việc huy động trí tuệ tập thể cùng tham gia cải tiến liên tục(66,1%) Xếp thứ hai là ngành Thuỷ sản (96,9% - cải tiến thường xuyên song việc huyđộng tập thể cùng tham gia cải tiến lại kém nhất, chỉ 34,4%) Ba ngành còn lại có mức độcải tiến các yếu tố ĐKLĐ gần tương tự nhau, song trội hơn cả vẫn là ngành Da Giầy –Dệt May, sau đó đến Dịch vụ – Thương Mại (đều là 50%) Đáng tiếc rằng ngành Dịch vụ– Thương mại lại có 2% số ý kiến được hỏi khẳng định doanh nghiệp không cải tiến cácyếu tố ĐKLĐ
Nếu như việc cải tiến các yếu tố ĐKLĐ có mục tiêu đảm bảo NLĐ ít chịu các ảnhhưởng xấu của môi trường làm việc thì việc trang bị phương tiện BHLĐ cho họ giúp NLĐ cókhả năng tránh các rủi ro xảy ra trong quá trình lao động Tuy nhiên, kết quả phỏng vấn lại chothấy tỷ lệ các ý kiến được hỏi khẳng định doanh nghiệp trang bị phương tiện BHLĐ ở mức tốt