Khi tổ chức việc tuyển dụng, nếu không thực hiện được tốt sẽ dẫn đến chất lượng đầu vào không đảm bảo tiềm ẩn những nguy cơ mất an toàn trong tuyển dụng như hoạt động quản lý nhân sự gặp
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
NGUYỄN THÀNH NAM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ TẠI UBND HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG(MNS)
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH
NGUYỄN THÀNH NAM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ TẠI UBND HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản trị An ninh phi truyền thống
Mã số: Chương trình thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (MNS)
Hà Nội - 2018
Trang 3CAM KẾT
Tác giả cam kết rằng kết quả nghiên cứu trong luận văn là kết quả lao động của chính tác giả thu được chủ yếu trong thời gian học và nghiên cứu và chưa được công bố trong bất cứ một chương trình nghiên cứu nào của người khác
Những kết quả nghiên cứu và tài liệu của người khác (trích dẫn, bảng, biểu, công thức, đồ thị cùng những tài liệu khác) được sử dụng trong luận văn này đã được các tác giả đồng ý và trích dẫn cụ thể
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, Khoa Quản trị và Kinh doanh và pháp luật về những cam kết nói trên
Hà Nội, ngày … tháng … năm 201…
Tác giả
Nguyễn Thành Nam
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học cao học và làm luận văn tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự hướng dẫn giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Khoa Quản trị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo khoa, các thầy cô đã tận tình dạy bảo trong quá trình theo học Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng Đình Phi đã giúp tôi lĩnh hội những kiến thức quý báu về các môn học Quản trị an ninh phi truyền thống
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Huy Phương đã rất tận tình quan tâm, hướng dẫn và chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Quản trị và Kinh doanh
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo UBND, tập thể cán bộ quản lý, chuyên viên Phòng Nội vụ các huyện: Thanh Oai, Mỹ Đức, Ứng Hòa, Thường Tín, Chương Mỹ, Phú Xuyên đã giúp đỡ, cung cấp thông tin và tạo điều kiện để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Cùng với sự giúp đỡ từ nhiều phía, học viên cũng đã rất nỗ lực để hoàn thành luận văn một cách tốt nhất nhưng do những hạn chế nhất định về kiến thức, thời gian, thông tin nên sản phẩm chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự cảm thông, đóng góp và bổ sung của các thầy cô và bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
CAM KẾT i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 15
1.1 Khái niệm về an ninh, an ninh phi truyền thống và an ninh con người 15
1.1.1 Khái niệm về an ninh 15
1.1.2 Khái niệm về an ninh phi truyền thống 15
1.1.3 Khái niệm chung về an ninh con người 24
1.1.4 Khái niệm về tuyển dụng 25
1.2 Các vấn đề liên quan đến công tác tuyển dụng 26
1.2.1 Đặc điểm tuyển dụng nhân sự trong cơ quan nhà nước: 26
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng đối với một đơn vị 31
1.2.3 Các bước đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ TẠI UBND HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI, GIAI ĐOẠN 2013-2016 39
2.1 Tổng quan về UBND huyện Thanh Oai 39
2.1.1 Địa chỉ liên hệ: 39
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của UBND huyện Thanh Oai 39
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND huyện Thanh Oai 40
2.1.4 Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện (điều 28, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương) 40
2.2 Tổ chức bộ máy làm tham mưu giúp việc công tác tuyển dụng nhân sự 41
2.2.1 Cơ cấu tổ chức 41
Trang 62.2.2 Chức năng, nhiệm vụ 42
2.3 Thực trạng công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai 43
2.3.1 Sơ đồ Quy trình tuyển dụng hiện tại áp dụng tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội 43
2.3.2 Mô tả các bước thực hiện quy trình tuyển dụng theo sơ đồ 43
2.3 Thực trạng đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyệnThanh Oai, thành phố Hà Nội 45
2.3.1 Nhận diện và phân tích các yếu tố gây mất an toàn trong công tác tuyển dụng 51
2.3.2 Kiểm soát các yếu tố gây mất an toàn 59
2.3.3 Giám sát, đánh giá các yếu tố gây mất an toàn 61
2.4 Đánh giá về công tác đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai 61
2.4.1 Công tác phân loại các yếu tố gây mất an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự 61
2.4.2 Phân tích các yếu tố gây mất an toàn 62
2.4.3 Kiểm soát các yếu tố gây mất an toàn 62
2.4.4 Đánh giá, giám sát các yếu tố gây mất an toàn 62
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ TẠI UBND HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 64
3.1 Quan điểm, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội huyện Thanh Oai giai đoạn 2016-2020 và định hướng 2030 64
3.1.1 Về quan điểm phát triển: 64
3.1.2 Về mục tiêu: 64
3.2 Một số giải pháp đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, giai đoạn 2017 - 2020 65
3.2.1 Giải pháp đảm bảo an toàn trong việc lập kế hoạch tuyển dụng: 65
3.2.2 Giải pháp đảm bảo an toàn trong việc xác định nguồn tuyển dụng; 66
3.2.3 Giải pháp đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện việc tuyển dụng: 66
Trang 73.2.4 Giải pháp đảm bảo an toàn trong đánh giá quá trình tuyển dụng; 67
3.2.5 Giải pháp đảm bảo an toàn trong hướng dẫn tập sự, thử việc; 68
3.2.6 Đổi mới nội dung trong công tác thi tuyển đầu vào 69
3.2.7 Hoàn thiện bản mô tả khung năng lực theo danh mục vị trí việc làm 72
3.2.8 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quy trình tuyển dụng 73
3.2.9 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá đối với hoạt động tuyển dụng: 74
3.2.10 Gắn việc đảm bảo an toàn trong tuyển dụng với trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị 75
KẾT LUẬN 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC 80
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ANPTT An ninh phi truyền thống
2 ANTT An ninh truyền thống
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ VÀ BẢNG
Hình 1.1 Mô hình phân tích 4 nhóm năng lực nền tảng cho phát triển bền vững quốc gia 18
Hình 1.2 Sơ đồ phân cấp yếu tố gây mất an toàn 35
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy của UBND huyện Thanh Oai 40
Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức nhân sự của Phòng Nội vụ huyện Thanh Oai 41
Hình 2.3 Sơ đồ quy trình tuyển dụng 43
Bảng 2.1 Kết quả khảo sát 49
Bảng 2.2 Kết quả phỏng vấn về những tồn tại/thực trạng về công tác tuyển dụng 50
Bảng 2.3 Kết quả phỏng vấn về những tồn tại/thực trạng về công tác tuyển dụng 50
Hình 2.4 Mô hình đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng 51
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của mọi tổ chức, có vai trò rất lớn trong việc thành bại của mỗi tổ chức Cán bộ, công chức, viên chức là lực lượng nòng cốt của bộ máy hành chính nhà nước Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là những người thực thi chính sách của nhà nước, là người đại diện cho quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế của đất nước
Trong nền kinh tế của nước ta hiện nay để có thể tồn tại, phát triển và hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thì cần phải có một nguồn nhân lực đủ mạnh được trang bị một lượng kiến thức phong phú, tư duy khoa học để thỏa mãn được yêu cầu của công việc Nguồn nhân lực này bao gồm cả nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp và cơ quan hành chính,
sự nghiệp nhà nước
Để nâng cao hiệu quả công việc của người lao động trong các cơ quan, đơn vị thì cần phải biết phát huy sức mạnh của nguồn lực con người trong cơ quan, đơn vị Việc này không thể chỉ làm tốt ở các khâu đào tạo, phát triển và đãi ngộ những người đang làm việc
mà còn cần phải thực hiện tốt ngay ở khâu tuyển dụng nhân sự Thực tế cho thấy, việc tuyển dụng nhân sự được thực hiện tốt thì sẽ có nguồn nhân lực chất lượng tốt cho việc đào tạo phát triển và nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị
Tuyển dụng tốt cũng góp phần hạn chế những rủi ro trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Nhân lực chất lượng cao đem lại hiệu quả công việc cho các cơ quan, đơn vị
từ đó làm cho cơ quan, đơn vị có uy tín với các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các cá nhân tham gia giao dịch với cơ quan, đơn vị Đặc biệt trong thời đại ngày nay thì nhân lực chất lượng cao luôn rất hiếm do vậy công tác tuyển dụng cần làm tốt để thu hút nhân tài phục
vụ cho cơ quan, đơn vị
Khi tổ chức việc tuyển dụng, nếu không thực hiện được tốt sẽ dẫn đến chất lượng đầu vào không đảm bảo tiềm ẩn những nguy cơ mất an toàn trong tuyển dụng như hoạt động quản lý nhân sự gặp khó khăn, chất lượng công việc không đảm bảo, tốn kém về thời gian, chi phí để đào tạo lại lao động hay trường hợp cá biệt phải tuyển lao động khác cho cơ quan, đơn vị
Việc tuyển dụng nhân sự trong cơ quan, đơn vị cần phải được đảm bảo an toàn, nghĩa là phải đảm bảo tuyển được đủ về số lượng (phù hợp với kế hoạch biên chế theo chỉ tiêu biên chế được giao của đơn vị), đảm bảo chất lượng (về sức khỏe, trình độ, năng lực
Trang 11chuyên môn, tư cách đạo đức,…) và phải thực hiện đúng quy trình quy định của pháp luật
về tuyển dụng Trong quá trình tuyển dụng nhân sự, nếu cơ quan, đơn vị không tuyển dụng được đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng theo từng vị trí việc làm đã được quy định thì
sẽ dẫn đến việc triển khai và thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị đạt hiệu quả thấp, chất lượng, tiến độ công việc không đảm bảo do phải thực hiện thêm nhiệm
vụ kiêm nhiệm và công việc trái với chuyên môn, chuyên ngành được đào tạo Trong quá trình tuyển dụng nhân sự, nếu cơ quan, đơn vị không thực hiện đúng quy trình quy định của pháp luật về tuyển dụng sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật về tuyển dụng, gây ảnh hưởng xấu đến người tham gia tuyển dụng, tạo ra dư luận tiêu cực về công tác tuyển dụng nhân
sự, chất lượng nguồn nhân lực được tuyển dụng không thể đảm bảo, không thu hút được những người có năng lực và có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc mà cơ quan, đơn vị đòi hỏi, … từ đó dẫn đến hiệu quả thấp trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của cơ quan, đơn vị, làm giảm uy tín của cơ quan, đơn vị với các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các cá nhân tham gia giao dịch với cơ quan, đơn vị
Xuất phát từ thực tế đó, cùng với kinh nghiệm của bản thân trong quá trình công tác liên quan đến công tác tuyển dụng nhân sự tại các cơ quan nhà nước mà tôi đã chọn đề tài
“Một số giải pháp đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội”
Từ khóa của đề tài (keywords):
- An toàn (Safe, Secure)
- Tuyển dụng nhân sự
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Do tầm quan trọng của hoạt động tuyển dụng nhân sự là rất lớn nên đã có rất nhiều luận án, luận văn nghiên cứu về vấn đề tuyển dụng nhân sự
Tuy nhiên, lĩnh vực an ninh phi truyền thống là một vấn đề còn khá mới mẻ nên các nghiên cứu trước đây chưa gắn được mối liên hệ giữa hoàn thiện công tác tuyển dụng với việc đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng Thực tế, kết quả các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc nêu lên các quan điểm của tác giả về hoàn thiện công tác tuyển dụng, các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tuyển dụng Các nghiên cứu này chưa đề cập vai trò của công tác tuyển dụng đến việc đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng Chính vì vậy, đề tài tôi lựa chọn sẽ giúp tìm hiểu và đưa ra những lý luận chung và những giải pháp cụ thể
Trang 12gắn liền với việc đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại cơ quan nhà nước cấp huyện
Một số nghiên cứu liên quan đến an ninh phi truyền thống:
a An ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa (Trần Việt Hà, 2016 Hà Nội: Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam)
Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau về an ninh, an ninh con người, tác giả cũng nêu quan điểm về vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm an ninh con người và việc bảo đảm an ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Về khái niệm an ninh, tác giả Trần Việt Hà cho rằng “an ninh còn được hiểu là không có sự uy hiếp, không có sự lo sợ; là trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân hoặc của toàn xã hội”
Nó được xem là điều kiện quan trọng nhất cho sự tồn tại của con người và xã hội loài người Điều này xuất phát từ quyền được đảm bảo về sự an toàn của con người (John Locke, 2, trang 49) Thực tế, an ninh không chỉ phản ánh môi trường an toàn, mà còn phản ánh trạng thái tâm lý - cảm giác an toàn, nó đối lập với trạng thái tâm lý - cảm giác bất an Bất an là một trạng thái tâm lý bình thường; nó thể hiện sự nhạy cảm của con người trước những rủi ro Tuy nhiên, bất an nếu trở thành trạng thái tâm lý phổ biến thì sẽ là vấn đề đáng lo ngại đối với cộng đồng xã hội vì con người sẽ phải đối mặt với những rủi ro, sự khủng hoảng tâm lý toàn diện và sâu sắc Con người cảm nhận về sự bất an rất khác nhau
vì cảm giác không chỉ đơn thuần là một kích thích mà còn là hệ quả của quá trình nhận thức Theo Trần Việt Hà thì: “an ninh con người được hiểu là việc bảo vệ các quyền cơ bản của con người trước những nguy cơ xâm hại, đe dọa; nhờ việc được bảo vệ như vậy, mỗi
cá nhân (nói riêng) và cộng đồng (nói chung) có được đời sống yên ổn và cơ hội phát triển.” Trong đó, ở phạm vi hẹp thì an ninh con người chính là sự bảo vệ cá nhân khỏi những mối đe dọa bạo lực Trong phạm vi rộng, an ninh con người là sự giải quyết một loạt nhu cầu con người để đảm bảo hạnh phúc của cá nhân, cũng như bảo vệ các cá nhân khỏi những mối đe dọa Thông qua việc đảm bảo an ninh con người, nó sẽ giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có thể nắm bắt các cơ hội cho sự phát triển của mình
Bên cạnh đó tác giả cũng nêu quan điểm của mình về vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm an ninh con người và việc bảo đảm an ninh con người trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay Theo tác giả quan điểm vai trò đảm bảo an ninh con người trước hết thuộc về nhà nước vẫn đúng đắn nhưng không đồng nghĩa với việc “việc ủy thác tuyệt đối
Trang 13và hoàn toàn cho nhà nước trong việc đảm bảo an ninh con người” Thực tế cho thấy, nhiều Nhà nước khi theo đuổi mục tiêu của mình đã bỏ qua hoặc phớt lờ cái mục tiêu tối hậu là an ninh của chính những người dân, cộng đồng đã xây dựng nên Nhà nước đó Ngoài ra, trước những mối đe dọa phi truyền thống mới xuất hiện (nghèo đói, bệnh truyền nhiễm, suy thoái môi trường, tranh chấp tài nguyên thiên nhiên) thì nếu chỉ một mình đơn độc, nhà nước sẽ không có đủ năng lực bảo vệ người dân của mình trước những hiểm họa xuyên biên giới Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, tính tùy thuộc lẫn nhau đang tăng lên không ngừng và các yếu tố gây ảnh hưởng đến an ninh trở nên đa dạng và phức tạp hơn Đó chính là lý do giải thích vì sao một chủ thể đơn độc (cho dù mạnh mẽ như nhà nước) cũng không thể đứng ra ngăn chặn được những hiểm họa mang tính toàn cầu để đem lại an ninh cho bản thân nó và cho người dân Thêm vào đó, bên trong mỗi nhà nước hiện nay cũng tiềm ẩn những yếu tố gây bất ổn và những yếu tố như vậy đang được nuôi dưỡng hoặc kích hoạt bởi toàn cầu hóa Điều đó đã chỉ ra rằng, các giải pháp an ninh đơn lẻ của từng quốc gia có thể dẫn đến hệ quả không mong muốn cho người dân của quốc gia khác Bởi vậy, các giải pháp an ninh cần được xét trong tổng thể và đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
b An ninh con người: Quan niệm Châu Âu- Vấn đề của Đông Nam Á (Bùi Huy Khoát,
2009 Hà Nội: Viện nghiên cứu Châu Âu)
Tác giả Bùi Huy Khoát đã có bài nghiên cứu về “An ninh con người: Quan niệm Châu Âu- Vấn đề của Đông Nam Á” Trong đó, tác giả đã đưa ra những luận điểm về an ninh con người từ khía cạnh lý thuyết, trong đó có “học thuyết” của Liên minh Châu Âu (EU), từ đó xem xét các vấn đề đặt ra trước khu vực Đông Nam Á
Về khái niệm an ninh con người, mặc dù được thúc đẩy mạnh từ sau Chiến tranh lạnh, nhưng an ninh con người không phải là vấn đề hoàn toàn mới mẻ nếu xét theo nội dung mà khái niệm này mang tải cũng như từ khía cạnh chính sách Tuy nhiên, khái niệm
an ninh con người trở nên hoàn chỉnh và chính thức đi vào cuộc sống quan hệ quốc tế sau khi Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP) công bố trong báo cáo phát triển con người năm 1994 Theo UNDP, an ninh con người theo nghĩa rộng hàm ý về một tình trạng người dân không bị những đe dọa kinh niên như đói nghèo, bệnh tật, sự trấn áp (những thứ cần đầu tư phát triển trong dài hạn) và những tai nạn bất ngờ (đòi hỏi sự can thiệp tức thời từ bên ngoài) Quan điểm này được xem là sự phát triển rộng về mặt nội hàm
so với quan điểm theo nghĩa hẹp trước đây, dừng lại ở an ninh lãnh thổ trước sự xâm lược
từ bên ngoài, ở việc bảo vệ lợi ích dân tộc trong chính sách đối ngoại và ở an ninh toàn cầu
Trang 14trước đe dọa hủy diệt hạt nhân Cùng với sự phát triển của nội hàm khái niệm an ninh, quan điểm về an ninh con người của UNDP cũng liệt kê 7 thành tố của an ninh con người, bao gồm: (i) An ninh kinh tế trước mối đe dọa nghèo khổ; (ii) An ninh lương thực trước mối đe dọa đói kém; (iii) An ninh sức khỏe trước mối đe dọa thương tích và bệnh tật; (iv)
An ninh môi trường trước mối đe dọa ô nhiễm, xuống cấp môi trường và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên; (v) An ninh cá nhân trước các hình thức đe dọa bạo hành khác nhau; (vi) An ninh cộng đồng trước các mối đe dọa từ văn hóa; (vii) An ninh chính trị trước sự bị trấn áp về chính trị Bên cạnh quan điểm của UNDP thì còn có rất nhiều các trường phái, học thuyết quan điểm và nghiên cứu khác về an ninh con người Tuy nhiên, theo Bùi Huy Khoát học thuyết về an ninh con người của Liên minh Châu Âu (EU) được cho là đang đi xa nhất Học thuyết về an ninh con người (công bố tháng 9/2004) của Liên minh Châu Âu (EU) xác định 5 mối đe dọa chính, bao gồm: (i) Chủ nghĩa khủng bố; (ii) Việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; (iii) Các cuộc xung đột khu vực; (iv) Các nhà nước suy yếu không làm trọn nhiệm vụ; (v) Tội phạm có tổ chức Theo EU, những đe dọa này gắn kết với nhau tạo ra những tình huống mất an ninh nghiêm trọng và đe dọa toàn cầu chứ không riêng khu vực EU Chính vì vậy, các nhà lập chính sách về an ninh của EU cho rằng trong bối cảnh đó không thể sử dụng các chính sách an ninh truyền thống dựa trên cơ
sở bảo vệ các đường biên quốc gia và ngăn chặn các đe dọa theo quan niệm hẹp về lợi ích quốc gia trước đây Theo EU, chính sách an ninh chung phải xây dựng dựa trên cơ sở an ninh con người chứ không phải an ninh quốc gia Học thuyết an ninh con người của EU được công bố bao gồm 3 thành tố cơ bản:
Thành tố thứ nhất là một bộ 7 nguyên tắc cho các hoạt động trong tình huống mất
an ninh nghiêm trọng Bao gồm: (1) Quyền con người (trước hết là các quyền được sống, được có chỗ ở, được tự do bộc lộ quan điểm ) cần được tôn trọng và bảo vệ ngay cả trong khi đang diễn ra xung đột; (2) Quyền lực chính trị rõ ràng cho phái đoàn quốc tế được đưa đến nơi xảy ra mất an ninh nghiêm trọng; (3) Chủ nghĩa đa phương với 3 khía cạnh cơ bản: cam kết hoạt động với các thiết chế quốc tế, cam kết những cách thức làm việc chung và cam kết phối hợp chứ không cạnh tranh; (4) Cách tiếp cận từ dưới lên như một phương pháp nghiên cứu tại chỗ cần được thực hiện xuyên suốt vì sự bén rễ quá sâu của cách tiếp cận từ trên xuống trong các thiết chế quốc tế Đó cũng là cách làm để tăng cường an ninh cho các cá nhân con người ở khắp mọi nơi; (5) Sự tập trung khu vực với hàm ý các cuộc chiến tranh xung đột bây giờ không có đường biên rõ ràng và phần lớn lan tỏa ở cấp khu
Trang 15vực vì vậy nếu chỉ tập trung chú ý vào địa bàn quốc gia sẽ dễ bỏ qua việc ngăn chặn sự lan tỏa bạo lực; (6) Sử dụng các công cụ pháp luật trong đó tiếp tục áp dụng luật địa phương nhưng không có sự pha trộn hỗn hợp với luật quốc tế; (7) Sử dụng thích hợp sức mạnh ở mức tối thiểu nằm trong sự liên kết thích hợp năng lực dân sự quân sự cho việc thực hiện các hoạt động bảo vệ an ninh con người
Thành tố thứ hai là một lực lượng ứng phó bảo vệ an ninh con người với 15 nghìn
biên chế trong đó 1/3 là dân sự Về thành tố này, EU xác nhận đang phát triển nhanh năng lực quân sự, chiến lược của riêng mình với các nhóm tác chiến và các lực lượng can dự trên cơ sở kinh nghiệm đã tích lũy từ quản lý khủng hoảng ngoài EU
Thành tố thứ ba là một khung khổ luật pháp mới điều chỉnh cả việc quyết định can
thiệp lẫn các hoạt động trên mặt đất Để thực hiện chính sách an ninh dựa trên các nguyên tắc kể trên không thể không xây dựng khung pháp lý- thể chế tạo cơ sở cho cách tiếp cận bắt buộc theo pháp luật đối với các hoạt động can thiệp
Khi nghiên cứu vấn đề an ninh con người tại khu vực Đông Nam Á, tác giả Bùi Huy Khoát cho rằng chỉ đến khi cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997 ở khu vực Châu Á nói chung và Đông Nam Á nói riêng thì người ta mới đặt ra vấn đề xem xét lại bản chất của tư duy an ninh và đối chiếu với thực tiễn để thấy tính tất yếu của việc xúc tiến an ninh con người theo cách tiếp cận khu vực Thực tế, khủng hoảng tài chính tiền tệ năm
1997 đã để lại những hậu quả to lớn Nhìn ở bề nổi, cuộc khủng hoảng đã tạo ra và làm lan tỏa ấn tượng về sự mất an ninh của các nước trong khu vực trên diện rộng: từ chính trị, kinh tế đến văn hóa xã hội với tình cảnh dân chúng trở nên nghèo khổ hơn do giảm thu nhập thực tế, mất ổn định từ di cư, thiếu hụt lương thực thực phẩm, suy giảm sức khỏe, tội phạm gia tăng, giáo dục sa sút và dân chúng mất niềm tin vào các hệ thống chính trị hiện hành Ở tầm sâu hơn khủng hoảng đã làm giảm sức hấp dẫn của các giá trị châu Á truyền thống Trong bối cảnh đó, cách tiếp của Thái Lan từng được xem là mô hình có độ tin cậy nhất định Theo quan điểm của Thái Lan, an ninh con người trước hết là từ nhu cầu của con người
và không hề có sự đối nghịch với các quyền của cá nhân được bảo vệ thông qua hệ thống chính trị khơi dậy được nhân quyền và dân chủ An ninh con người cần ổn định chính trị và phát triển kinh tế, tức có thể đạt được an ninh con người thông qua củng cố dân chủ và dung hòa cả khía cạnh nhu cầu của con người và nhân quyền để có thể bổ sung cho nhau Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất với các quốc gia Asean là quan niệm nghiêm ngặt về chủ quyền quốc gia đã ăn sâu bén rễ ở khu vực với việc nhấn mạnh nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của
Trang 16nhau Vì vậy, dù nội hàm của quan niệm an ninh con người có thể được tiếp cận ở các mức độ khác nhau nhưng khó có thể tìm được sự ủng hộ và đồng thuận thông qua các công cụ như
“can thiệp”, “nhân đạo” để đảm bảo an ninh con người
c An ninh con người và sự bất an trong cuộc sống hôm nay (Vũ Dương Ninh, 2009
Hà Nội: Tạp chí phát triển khoa học và công nghệ)
Sau khi giới thiệu khái niệm an ninh con người trong xã hội hiện đại bài viết đã phân tích một cách toàn diện và sâu sắc những nguy cơ tiềm ẩn về chiến tranh, mâu thuẫn sắc tộc tôn giáo, mất an ninh lương thực, nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và năng lượng ở khu vực Đông Nam Á Đồng thời bài viết cũng phân tích các nguy cơ mất an ninh ô nhiễm môi trường tự nhiên và xã hội ở Việt Nam và đề nghị cần phải hoạch định một chiến lược lâu dài để phát triển bền vững
Về khái niệm an ninh con người, theo tác giả an ninh con người được nhìn nhận từ hai góc độ: (1) sự an toàn của con người trước những nguy cơ lâu dài như đói khát, dịch bệnh, chiến tranh và sự áp bức; (2) sự bảo vệ con người trước những đe doạ bất thường và nguy hại trong khuôn khổ gia đình, nơi làm việc hay cộng đồng Nó không chỉ là không có xung đột bạo lực mà còn phải bảo đảm quyền con người, sự quản lý tốt của nhà nước, cơ hội tiếp cận với các điều kiện thuận lợi về giáo dục, y tế và sự lựa chọn điều kiện phát huy năng lực của mỗi cá nhân Mặc dù còn nhiều quan điểm tranh luận khác nhau, nhưng theo tác giả hầu như các nhà nghiên cứu dễ dàng gặp nhau trong quan niệm về nội hàm của an ninh con người bao gồm 7 lĩnh vực là kinh tế, lương thực, sức khoẻ, môi trường, cá nhân, cộng đồng và chính trị Trong cuộc sống, những điều bất an đối với con người bắt nguồn từ những nhân tố tự nhiên (thiên tai) và nhân tố con người (nhân tai) Hai nhân tố đó tác động lẫn nhau trong mối quan hệ nhân - quả của nhau Điều đáng quan tâm chính là trong thời đại toàn cầu hoá thì các vấn đề an ninh không thu hẹp trong phạm vi nhỏ của địa phương hay từng nước mà nó nhanh chóng trở thành vấn đề của thế giới, của toàn nhân loại Do vậy cuộc đấu tranh gìn giữ an ninh con người, ngăn ngừa những yếu tố bất an, chống các nguy cơ đe doạ phải mang tính toàn cầu, đòi hỏi sự đồng tâm và phối hợp của các quốc gia, các tổ chức khu vực và tổ chức quốc tế
Bên cạnh khái niệm an ninh con người, bài viết còn đề cập đến những phân tích về Đông Nam Á trong thế giới tiềm ẩn nhiều yếu tố bất an, cụ thể:
(1) Với vị thế một khu vực nhạy cảm do tầm quan trọng của vị trí đường biển nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ dương, lại chứa đựng nhiều tiềm năng dầu lửa và khí đốt nên đã là
Trang 17và sẽ là nơi đụng độ lợi ích giữa các quốc gia trong khu vực với các nước láng giềng và các cường quốc khác Thực tế, mặc dù các nước thoả thuận về một giải pháp chung trong
“Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (2002) song điều đó không thể ngăn cản những vụ lấn chiếm nhỏ lẻ và càng khó tránh khỏi xung đột trong những hoàn cảnh nhất định Đây được xem là yếu tố bất an lâu dài, dai dẳng Bên cạnh yếu tố rủi ro địa lý, chính trị các quốc gia Đông Nam Á còn đang phải đương đầu với những nhân tố bất an nằm ngay trong bản thân mỗi quốc gia như các cuộc bạo loạn ly khai, va chạm sắc tộc, mâu thuẫn tôn giáo và những vụ xung đột về biên giới lãnh thổ, lãnh hải giữa các nước láng giềng Chỉ một đốm lửa ở nơi này, nơi khác cũng có thể gây ảnh hưởng đến toàn khu vực và sự bất cẩn trong cách giải quyết tranh chấp có thể dẫn đến nhiều hậu quả ngoài mong đợi
(2) Đông Nam Á do những điều kiện tự nhiên là nơi hứng chịu nhiều thảm hoạ về môi trường Nó đến từ suy thoái môi trường sống, tình trạng nước biển dâng và sự biến đổi khí hậu diễn ra trên phạm vi toàn cầu Thực tế, trong thế kỷ XX, nhiệt độ trung bình của trái đất tăng 0,74 độ C nhưng dự tính trong thế kỷ XXI, nhiệt độ sẽ tăng từ 1,8 đến 4 độ C Trái đất nóng lên sẽ dẫn đến việc băng tan, nước biển dâng, kéo theo những cơn bão đã và đang ảnh hưởng đến tính mạng, sinh kế của hàng triệu người dân trên Thế giới và Đông Nam Á Hằng năm, Philippin đón nhiều trận bão từ Thái Bình Dương tràn về rồi theo hướng tây – tây bắc vào đến bờ biển Việt Nam hoặc Trung Hoa Núi lửa và động đất là những tai hoạ luôn rình rập các quần đảo Inđônêxia, Philippin… Gần đây nhất là vụ sóng thần ở Inđônêxia và ven biển Thái Lan, vụ động đất ở Mianma đã gây nên nỗi kinh hoàng cho cả loài người Thiên tai thường đến bất ngờ, chỉ trong khoảnh khắc đã cướp đi hàng trăm ngàn sinh mạng, tàn phá nhà cửa, tài sản của hàng triệu người, để lại hậu quả vô cùng thảm khốc Và nơi phải gánh chịu tai họa này thường là các nước nghèo vì cuộc sống và điều kiện ăn ở của họ rất thô sơ không chống chọi nổi cuồng phong, bão tố và lũ lụt
(3) Những biến động của môi trường đã tác động mạnh mẽ đến việc sản xuất lương thực và đời sống của con người Về vấn đề lương thực, nạn lũ lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất bạc màu,
sự bất thường của thời tiết luôn là những nhân tố đe doạ kết quả thu hoạch, làm cho người trồng trọt bỗng chốc trở thành “trắng tay”, lâm vào nạn cùng cực, thậm chí chết đói hàng triệu, hàng chục triệu người
(4) Tình trạng cạn kiệt các nguồn tài nguyên cũng đang là vấn đề nan giải Ngay đất và nước, nguồn tài nguyên tưởng như vô tận thì nay cũng có nhiều dấu hiệu báo động Đất trồng trọt
Trang 18ngoài phần bị lấn chiếm cho các mục đích khác, phần còn lại giảm sút độ màu mỡ vì tác hại của việc khai thác cường độ cao, của các loại chất bón hoá học Nguồn nước cũng bị thu hẹp
vì sự khai phá, vì độ ô nhiễm gây nên nguy cơ không đủ về số lượng và chất lượng phục vụ cuộc sống Rừng bị tàn phá làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên, hạn chế khả năng hấp thụ CO2 gây nên hiệu ứng nhà kính, làm trái đất nóng lên, không ngăn được lũ và huỷ hoại nhiều loài động vật quý hiếm, nhiều loài cây lưu niên có giá trị cao
Sau khi phân tích những nguy cơ đe dọa đến đời sống và gây mất an ninh con người đang nổi lên tại khu vực Đông Nam, tác giả đã phân tích các nguy cơ mất an ninh ô nhiễm môi trường tự nhiên và xã hội ở Việt Nam và đề nghị cần phải hoạch định một chiến lược lâu dài để phát triển bền vững Theo tác giả, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức về an ninh con người bắt nguồn từ hai phía do sự ô nhiễm của môi trường thiên nhiên và
sự ô nhiễm của môi trường xã hội Mối lo lớn nhất về sự bất an của thiên nhiên chính là vấn đề trái đất nóng lên làm nước biển dâng cao Các nhà khoa học quốc tế cảnh báo Việt Nam và Bangladesh sẽ là 2 trong số nhiều nước chịu hậu quả nặng nề nhất Việt Nam có trên 3000 km
bờ biển, nếu mực nước biển dâng cao 1m thì có thể sẽ mất đi 16% diện tích lãnh thổ do chìm ngập trong nước biển Phần lớn diện tích đó thuộc vùng đồng bằng phì nhiêu, những vựa lúa của đất nước Khoảng thời gian của tai hoạ này không còn xa nữa, chỉ trong thế kỷ này thôi Đang là nước xuất khẩu gạo, Việt Nam cũng không thể bình tâm trước cuộc khủng hoảng lương thực trên thế giới Bởi vì diện tích đất trồng lúa và các loại lương thực ở nước ta đang bị thu hẹp dần do việc mở rộng các khu công nghiệp, khu đô thị Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chỉ trong vòng 5 năm gần đây, cả nước đã mất đi 300 ngàn hecta đất trồng trọt GS.TS.Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp hàng đầu của Việt Nam đã lên tiếng: “Sự phát triển nóng công nghiệp chính đã đốt cháy nông dân” và đề xuất nên xây dựng các khu công nghiệp ở những vùng đất ít thuận lợi cho trồng trọt tuy rằng lúc đầu có khó khăn về giao thông và các phương tiện sinh hoạt
Bên cạnh mối lo sự bất an của môi trường thiên nhiên, trong bài viết tác giả cũng đề cập đến mối lo đến từ sự ô nhiễm của môi trường xã hội Tại Việt Nam, công cuộc công nghiệp hoá khi không được giải quyết toàn diện sẽ để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nông dân như mất đất, thất nghiệp, trình độ văn hoá thấp kém, dễ rơi vào tình trạng hư hỏng Các cơ quan Nhà nước, các nhà doanh nghiệp phải có trách nhiệm giải quyết công ăn việc làm, ổn định đời sống cho hàng chục triệu nông dân Chính sự “ô nhiễm môi trường xã hội” của một số người trong giới công quyền và doanh nhân đã dẫn đến việc bỏ mặc nông
Trang 19dân sau khi đã mua được đất của họ Cũng phải nói đến mặt khác là không ít thanh niên nông dân không chịu học hành, không đáp ứng được yêu cầu của nền sản xuất công nghiệp nên trở thành những người lao động giản đơn, thậm chí vô công rồi nghề Đó chính là nỗi bất an lớn nhất đối với thành phần cư dân đông đảo trong xã hội ta ngày nay Ngoài ra, nguy cơ lớn nhất của tình trạng ô nhiễm môi trường xã hội chính là nạn tham nhũng, tệ quan liêu, sự thờ ơ, bệnh vô cảm trước bao nỗi bất an của người dân Con số khoảng 30 người chết vì tai nạn giao thông mỗi ngày được thông báo trên các phương tiện thông tin
đã quá quen thuộc đến mức, nhiều người không mảy may xúc động Do vậy, theo tác giả Việt Nam cần phải hoạch định một chiến lược phát triển lâu dài, nếu không làm trong sạch
hệ thống quyền lực các cấp để từ đó trong sạch hoá môi trường xã hội và môi trường tự nhiên với sự nỗ lực và khả năng cho phép Có làm kiên quyết và kiên trì như vậy mới đạt được mục tiêu phát triển bền vững, chẳng những có độ tăng trưởng cao về kinh tế mà còn phát huy được sự bảo đảm chắc chắn về an ninh xã hội, an ninh con người
d Tập bài giảng quản trị an ninh phi truyền thống (Hoàng Đình Phi, 2017 Hà Nội: Khoa Quản trị & Kinh doanh- Đại học Quốc gia Hà Nội)
Trong nghiên cứu của mình, PGS.TS Hoàng Đình Phi đã chỉ ra những lý luận cơ
bản về khái niệm an ninh con người Theo tác giả, an ninh con người được hiểu là trạng
thái đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người trước các mối đe dọa trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu Trong đó,
07 yếu tố cấu thành, tác động đến an ninh con người từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau, tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng người, từng cộng đồng người nhất định, cụ thể:
- An ninh kinh tế: bảo đảm cho con người về mặt an sinh xã hội, việc làm, nhất là thu nhập của người lao động, tạo điều kiện cơ sở vật chất thực hiện, bảo đảm cuộc sống, bảo đảm quyền sống và phát triển;
- An ninh lương thực: bảo đảm cho con người không bị đói, cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho con người, bảo đảm mọi người đều có cơ hội và khả năng cung ứng lương thực;
- An ninh sức khỏe: bảo đảm an toàn cho con người trước mọi nguy cơ đe dọa về mặt sức khỏe thể chất (thể lực) và sức khỏe tinh thần (trí lực);
- An ninh môi trường: bảo đảm môi trường sống cho con người;
- An ninh cá nhân: bảo đảm cho mỗi cá nhân trước nguy cơ đe dọa từ hành vi bạo lực;
- An ninh cộng đồng: bảo đảm cho từng công dân sinh sống trong một cộng đồng
an toàn;
Trang 20- An ninh chính trị: bảo đảm sự ổn định chính trị- xã hội, là tiền đề để bảo đảm, thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể chất và tinh thần
Về cơ bản, khái niệm an ninh con người của tác giả đã có sự kế thừa và phát triển sáng tạo từ quan điểm về an ninh con người của UNDP công bố trong báo cáo phát triển con người năm 1994 và học thuyết an ninh con người của Liên minh Châu Âu (EU) Ngoài
ra, trong kết quả nghiên cứu của mình tác giả cũng đã làm rõ khái niệm, nội hàm, bối cảnh
ra đời, các mối đe dọa và các công cụ chính góp phần đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp hiện nay Theo tác giả, an ninh con người trong doanh nghiệp được hiểu là
an ninh con người trong doanh nghiệp được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người hay nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Đây là khái niệm hoàn toàn
mới được ra đời trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh và biến đổi toàn cầu, trong đó:
- Mục tiêu chính của việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp là phát triển, sử dụng an toàn và hiệu quả nguồn nhân lực để cạnh tranh bền vững;
- Tác giả xác định các mối đe dọa đến việc đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp: (1) Mất an toàn lao động; (2) Mâu thuẫn, xung đột, đình công và phá hoại; (3) Đối thủ câu nhân tài; (4) Nội gián;
- Các công cụ chính tác giả đề xuất đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp: (1) Chiến lược phát triển nguồn nhân lực; (2) Quy trình quản trị nguồn nhân lực; (3) Quy trình giám sát nhân lực
Các nghiên cứu về lĩnh vực tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng có thể kể đến như:
e Nguyễn Đắc Linh (2017), Một số giải pháp đảm bảo an ninh con người thông qua hoạt động đào tạo tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, phòng giao dịch Trần Quốc Toản (Luận văn Thạc sỹ tại Khoa Quản trị và Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội)
Hướng nghiên cứu chính : Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luâ ̣n cơ bản về đ ảm
bảo an ninh con người và các chương trình đào tạo phù hợp góp phần đảm bảo an ninh con người Đồng thời luận văn cũng đánh giá đư ợc thực trạng về hoạt động đào tạo và công tác đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp Từ đó, tác giả đề xuất các quan điểm và kiến nghi ̣ các giải pháp có tính khả thi nhằm đ ảm bảo an ninh con người và các chương trình đào tạo phù hợp góp phần đảm bảo an ninh con người gắn với công tác đào tạo tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, phòng giao dịch Trần Quốc Toản
Kết luận: Đề tài đã luận giải và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về an
ninh con người và đảm bảo an ninh con người tại các ngân hàng thương mại Xây dựng
Trang 21phương hướng đảm bảo an ninh con người gắn với công tác đào tạo Đề xuất hai nhóm giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện công tác đào tạo gắn với đảm bảo an ninh con người tại ACB Trần Quốc Toản, gồm: (1) Hoàn thiện các nội dung đào tạo còn thiếu gắn với đảm bảo an ninh con người; (2) Nâng cao chất lượng triển khai công tác đào tạo tại ACB Trần Quốc Toản; và Một số kiến nghị với ACB Hội sở
f Nguyễn Văn Đức (2014), Hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân sự ở Phòng Nội vụ huyện Sóc Sơn (Luận văn Thạc sỹ tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội)
Hướng nghiên cứu chính : Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luâ ̣n cơ bản về công
tác tuyển dụng nhân sự trong một đơn vị hành chính sự nghiệp Đồng thời cũng đánh giá thực tra ̣ng công tác tuy ển dụng Từ đó, tác giả đề xuất các quan điểm và kiến nghị các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thi ện công tác tuyển dụng nhân sự ở Phòng Nội vụ huyện Sóc Sơn
Kết luận: Đề tài đã luận giải và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
hoạt động tuyển dụng trong một cơ quan hành chính Đề tài đã chỉ rõ hạn chế về hoạt động tuyển dụng tại Phòng Nội vụ huyện Sóc Sơn Đề xuất hai nhóm giải pháp cơ bản cho việc hoàn thiện công tác tuyển dụng nhân sự Nhóm giải pháp trực tiếp nhằm hoàn thiện quy trình tuyển chọn nhân lực, nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng và hoàn thiện bộ máy làm công tác tuyển dụng Nhóm giải pháp gián tiếp nhằm hoàn thiện kế hoạch hóa nguồn nhân lực, phân tích công việc và thực hiện việc đánh giá sau tuyển dụng
Nếu các nhóm giải pháp này được thực hiện, hoạt động tuyển dụng của các cơ quan hành chính sẽ được hoàn thiện một cách đáng kể
g Nguyễn Thị Thu Hà (2015), Tuyển dụng nhân lực tại công ty TNHH cáp điện ô tô Sumiden Việt Nam (Luận văn Thạc sỹ tại Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội)
Hướng nghiên cứu chính : Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luâ ̣n cơ bản về tuy ển
dụng nhân lực và vai trò của tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp, các nội dung của hoạt động tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp Đồng thời luận văn cũng đánh giá được thực trạng về hoạt động tuyển dụng nhân lực trong doanh nghiệp Từ đó, tác giả đề xuất các quan điểm và kiến nghi ̣ các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao ch ất lượng tuyển dụng nhân lực tại công ty dây cáp điện ô tô Sumiden Việt Nam
Kết luận: Đề tài đã luận giải và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về
hoạt động tuyển dụng trong doanh nghiệp, đã đánh giá được ưu và nhược điểm trong hoạt động tuyển dụng của công ty.Xây dựng phương hướng phát triển của công ty Đề xuất sáu
Trang 22nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng tuyển dụng nhân lực tại công ty, gồm: (1) Nâng cao chất lượng cán bộ tuyển dụng, (2) Khai thác tối đa nguồn tuyển dụng bên ngoài, (3) Hoàn thiện công tác đánh giá hiệu quả tuyển dụng, (4) Hoàn thiện bản thông báo tuyển dụng, (5) Hoàn thiện quy trình tuyển dụng, (6) Xây dựng Chính sách “Marketing trong tuyển dụng nhân sự” nhằm thu hút nhân tài
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về an toàn và đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự trong cơ quan nhà nước dựa trên các nguyên tắc, đối tượng và hình thức tuyển dụng
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tuyển dụng công chức, viên chức tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, trên cơ sở đó so sánh với lý luận thực tiễn và chỉ ra những bất cập tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân
sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, từ đó có thể thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá và thực hiện công tác tuyển dụng nhân sự một cách có hiệu quả
4 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
5 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích hoạt động tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội để từ đó đánh giá công tác đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự trong giai đoạn 2013 – 2016 và đề xuất giải pháp áp dụng trong giai đoạn 2017 – 2020
Không gian nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu trên phạm vi UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng về đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm
2013 – 2016 Số liệu thu thập từ Phòng Nội vụ huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Trang 236 Phương pháp nghiên cứu:
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp để xử lý các dữ liệu thứ cấp cũng như các kết quả điều tra, phỏng vấn với chuyên viên Phòng Nội vụ huyện về các hoạt động tuyển dụng tại UBND huyện cũng như phỏng vấn chuyên sâu các cán bộ quản lý Phòng Nội vụ, Lãnh đạo UBND Để thực hiện hoạt động nghiên cứu, tác giả dự kiến kế hoạch lấy mẫu cụ thể như sau:
- Đối tượng mẫu: Tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn điều tra tất cả các chuyên viên đang làm việc tại Phòng Nội vụ huyện Thanh Oai, huyện Thường Tín, huyện Ứng Hòa, huyện
Mỹ Đức, huyện Chương Mỹ, huyện Phú Xuyên và phỏng vấn chuyên sâu các cán bộ quản
lý Phòng Nội vụ, Lãnh đạo UBND huyện tại các đơn vị trên
- Số lượng mẫu: 68 mẫu phiếu khảo sát trong đó 35 phiếu khảo sát đối với các chuyên viên các Phòng Nội vụ, 21 mẫu phiếu phỏng vấn chuyên sâu với các cán bộ quản lý tại các Phòng Nội vụ, 12mẫu phiếu phỏng vấn chuyên sâu Lãnh đạo UBND huyện của các đơn vị trên
- Công cụ phỏng vấn: Tác giả sử dụng phiếu khảo sát để tiến hành điều tra, phỏng vấn (phụ lục 02) và mẫu phỏng vấn chuyên sâu (phụ lục 03, phụ lục 04), Phiếu đánh giá tập sự,thử việc (phụ lục 05);
- Thời gian tiến hành: Từ tháng 02/2017 đến tháng 08/2017
7 Dự kiến kết cấu luận văn
Ngoài phần lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, hình vẽ, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng trong các
cơ quan nhà nước
Chương 2 Thực trạng đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, giai đoạn từ năm 2013 – 2015
Chương 3 Một số giải pháp nhằm đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng nhân
sự tại UBND huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Trang 24CHƯƠNG1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN TRONG CÔNG TÁC
TUYỂN DỤNG NHÂN SỰ TRONG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm về an ninh, an ninh phi truyền thống và an ninh con người
1.1.1 Khái niệm về an ninh
An ninh trong tiếng anh được hiểu là mức độ an toàn cao nhất cho chủ thể Trong nhiều nền văn hóa và ngôn ngữ khác thì an ninh và an toàn được dùng chung một từ an
toàn, bình an, ngược lại với nguy Như vậy, có thể hiểu an ninh là sự tồn tại, an toàn, bình
an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự cố hay tổn thất về người và của Ngược lại với an
ninh là mất an ninh là những rủi ro, nguy hiểm, tổn thất Theo Bellamy, an ninh là sự tự do tương đối không lo có chiến tranh kết hợp với mong đợi tương đối cao là không bị đánh bại bởi bất kỳ cuộc chiến tranh nào có thể xảy ra Theo Ayoob, an ninh- mất an ninh được định nghĩa trong mối quan hệ với các tình huống bị tổn thương, cả bên trong lẫn bên ngoài,
mà nó đe dọa hay có khả năng phá hủy hay làm suy yếu cấu trúc nhà nước, cả về mặt lãnh
thổ, thể chế và chế độ cai trị Lịch sử đã chứng minh rằng con người không thể có cuộc
sống ổn định và phát triển bền vững nếu như không có an ninh và một quốc gia cũng không thể phát triển bền vững nếu không đảm bảo được an ninh cho con người và doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực đời sống, sản xuất và kinh doanh
Cùng với tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, bên cạnh khái niệm an ninh đã hình thành nên khái niệm an ninh truyền thống (ANTT) Đây là khái niệm có nội hàm là an ninh quốc gia theo cách tiếp cận lấy quốc gia hay nhà nước làm trung tâm Theo Luciani,
an ninh quốc gia có thể được định nghĩa là khả năng chống lại sự xâm lược của nước ngoài Còn theo Luật an ninh quốc gia của Việt Nam (2014) thì an ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ Xã hội chủ nghĩa và NN Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc Như vậy, có thể hiểu an ninh truyền thống theo quan điểm truyền thống là sự tồn tại
và phát triển ổn định của một quốc gia trên các lĩnh vực: an ninh chính trị, an ninh quân
sự, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tư tưởng
1.1.2 Khái niệm về an ninh phi truyền thống
An ninh phi truyền thống là mối quan tâm lớn của các quốc gia dân tộc trên thế giới, là một trong những chủ đề quan trọng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, được bàn luận trên nhiều diễn đàn quốc tế, cũng như trong nhiều nội dung của các quan hệ song phương và đa phương
Trang 25An ninh phi truyền thống được hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu
a Trong Tập bài giảng quản trị an ninh phi truyền thống, 2015 Hà Nội của PGS.TS Hoàng Đình Phi: Chủ nhiệm Khoa Quản trị & Kinh doanh - Đại học Quốc gia Hà Nội; Thượng tướng, TS Nguyễn Văn Hưởng: Nguyên Thứ trưởng Bộ Công an)
Trong nghiên cứu của mình, các tác giả đã chỉ ra những lý luận cơ bản về khái
niệm an ninh phi truyền thống Theo tác giả, An ninh phi truyền thống được hiểu là sự tồn
tại và phát triển bền vững cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu Các
mối đe dọa từ an ninh phi truyền thống được hiểu là các vấn đề an ninh xuất hiện và có khả năng tác động tiêu cực tới sự an toàn, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của cá nhân, con người, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu
Tác giả nhấn mạnh khi nghiên cứu các vấn đề an ninh phi truyền thống, an ninh phi truyền thống được hiểu là các vấn đề an ninh mới xuất hiện và có tác động trực tiếp tới sự
an toàn, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của cá nhân, con người, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài người trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu
An ninh phi truyền thống được nghiên cứu và chia thành các cấp độ:
- An ninh phi truyền thống ở cấp độ quốc tế
- An ninh phi truyền thống ở cấp độ nhà nước (quốc gia, địa phương)
- An ninh phi truyền thống ở cấp độ cộng đồng (con người)
- An ninh phi truyền thống ở cấp độ doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp và đông đảo người lao động)
An ninh phi truyền thống được nghiên cứu trong bối cảnh biến đổi toàn cầu (Chính trị - Kinh tế - Văn hóa – Xã hội) và biến đổi khí hậu:
- Các yếu tố tác động từ môi trường bên trong của chủ thể (quốc gia, cộng đồng, doanh nghiệp)
- Các yếu tố tác động từ môi trường sống, tác nghiệp, môi trường ngành công nghiệp,
- Các yếu tố tác động từ môi trường quốc tế: khu vực, toàn cầu
Trang 26Xây dựng hay tìm kiếm và lựa chọn khung lý thuyết hay lý luận để phân tích về an ninh hay an ninh phi truyền thống: từ khái niệm, định nghĩa tới so sánh, thu thập dữ liệu, phân tích, đánh giá, ra quyết định, thay đổi, cải tiến, (Framework for Analysis or Analytical Framework)
Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí khảo sát và đánh giá năng lực quản trị An ninh phi truyền thống ở cấp độ quốc gia và ở cấp độ địa phương (tỉnh, huyện)
- Năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện các chiến lược An ninh phi truyền thống
- Năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện các kế hoạch đảm bảo An ninh phi truyền thống
- Kết quả đạt được trong năm, giai đoạn?
- Nỗi sợ, rủi ro, mối nguy, nguy hiểm, tổn thất?
Về cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu về quản trị an ninh, tác giả chỉ ra các
cá nhân và tổ chức nghiên cứu có thể có nhiều cách tiếp cận khác nhau từ chuyên ngành đến liên ngành, từ cao đến thấp, từ bao quát tới cụ thể, sử dụng các phương pháp nghiên cứu một cách sáng tạo theo các điểm chung và điểm riêng của các cách tiếp cập và phương pháp nghiên cứu
Tác giả mô tả An ninh quốc gia bằng công thức:
AN NINH QUỐC GIA = AN NINH TRUYỀN THỐNG + AN NINH PHI TRUYỀN THỐNGhayAN NINH QUỐC GIA = AN NINH CỨNG + AN NINH MỀM
Phương trình an ninh quốc gia:
ANQG VIỆT NAM = ỔN ĐỊNH + PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG + ĐỘC LẬP + CHỦ QUYỀN + THỐNG NHẤT + TOÀN VẸN LÃNH THỔ
Phương trình an ninh của một chủ thể:
AN NINH CỦA MỘT CHỦ THỂ = ( 1 AN TOÀN + 2 ỔN ĐỊNH + 3 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ) – (4 CHI PHÍ QT RỦI RO + 5 KHỦNG HOẢNG + 6 CHI PHÍ KHẮC PHỤC)
Trang 27Hình 1.1 Mô hình phân tích 4 nhóm năng lực nền tảng cho phát triển bền vững quốc gia
Nguồn: Hoàng Đình Phi, Nguyễn Bách Khoa, 2015
b Theo PGS TS Nguyễn Mạnh Hưởng – Viện Khoa ho ̣c xã hô ̣i và nhân văn quân sự,
Bộ Quốc phòng thì An ninh phi truyền thống là vấn đề mang tính toàn cầu (Tạp chí Cộng sản, ngày 30/12/2011)
Trong lịch sử của mình, chưa có khi nào nhân loại đạt được những bước tiến dài trên con đường phát triển như ngày nay, nhưng cũng chưa bao giờ con người phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa đến chính sự tồn vong của mình như bây giờ Cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thảm họa thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia… đang đặt ra những yêu cầu bức thiết phải có sự nỗ lực chung của
cả cô ̣ng đồng quốc tế để đối phó , vì sự an nguy của mỗi quốc gia dân tộc cũng như của toàn nhân loại
An ninh phi truyền thống: một khái niệm mới
“An ninh phi truyền thống” là một khái niệm mới xuất hiện và được bàn đến khá nhiều trong thời gian gần đây Đây là mối quan tâm lớn của các quốc gia dân tộc trên thế giới, là một trong những chủ đề quan trọng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG QUỐC GIA
NĂNG LỰC QUẢN TRỊ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG QUỐC GIA
NĂNG LỰC QUẢN TRỊ AN NINH TRUYỀN THỐNG (QUỐC GIA)
NĂNG LỰC QUẢN TRỊ AN NINH PHI TRUYỀN THỐNG (NN, DN)
NĂNG LỰC QUẢN TRỊ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ (NN, DN)
Trang 28được bàn luận trên nhiều diễn đàn quốc tế, cũng như trong nhiều nội dung của các quan hệ song phương và đa phương
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, thế giới bước vào giai đoạn mà trong đó xu thế hợp tác và phát triển kinh tế là chủ yếu, đã và đang mang đến
sự phồn thịnh cho nhiều quốc gia, khu vực Tuy nhiên, quá trình hợp tác, hội nhập quốc tế này cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, đe dọa đến an ninh, chủ quyền của các quốc gia dân tộc và cuộc sống của chính con người Khái niệm an ninh phi truyền thống ra đời trong bối cảnh đó và được sử dụng rộng rãi, phổ biến trên nhiều diễn đàn quốc tế thảo luận về các vấn đề chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, xã hội, trong chiến lược quốc phòng, an ninh của nhiều quốc gia dân tộc, cũng như trong hợp tác an ninh của nhiều khu vực và thế giới, sau khi diễn ra sự kiện khủng bố ngày 11-9-2001 ở Mỹ
Tuy nhiên, cho đến nay, việc nhận thức và xác định những vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn chưa có sự thống nhất Một số nghiên cứu viện dẫn quan niệm của Liên hợp quốc về vấn đề an ninh phi truyền thống trong 7 lĩnh vực chính : kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người , cộng đồng và chính trị Có nghiên cứu quy vấn đề an ninh phi truyền thống vào 5 lĩnh vực cơ bản: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hóa Một quan điểm khác phân chia các vấn đề an ninh phi truyền thống thành 6 nhóm chính: ô nhiễm môi trường , tình trạng thiếu hụt tài nguyên , tội phạm xuyên quốc gia , nạn khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm và thảm họa địa chất
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 6 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc tại Phnôm Pênh (Campuchia) đã ra Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống, xác định an ninh phi truyền thống là những vấn đề: tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế, tội phạm công nghệ cao
Các quan niệm nêu trên dù không hoàn toàn giống nhau, nhưng đều có một điểm chung là xác định các vấn đề an ninh phi truyền thống là gì để so sánh và qua đó thấy được
sự khác biệt với vấn đề an ninh truyền thống Tuy nhiên, trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các mối quan hệ, các lĩnh vực của đời sống xã hội ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau, thâm nhập, đan xen, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau, việc tách biê ̣t đâu là vấn đề an ninh truyền thống và đâu là an ninh phi truyền thống chỉ mang tính tương đối bởi sự đan xen , chồng lấn nội dung giữa chúng Chẳng hạn, sự khủng hoảng, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhiên liệu, đặc biệt là năng lượng, dầu
Trang 29mỏ đã dẫn đến các cuộc tranh đoạt tài nguyên, và, trong không ít trường hợp, vũ lực đã được sử dụng để phân thắng, bại Tội phạm công nghệ cao đột nhập, tấn công vào nhiều mục tiêu trên toàn thế giới, xâm nhập hệ thống dữ liệu của nhiều công ty, tập đoàn, các tổ chức quốc tế, các cơ quan chính phủ để đánh cắp các dữ liệu, hồ sơ, tài sản sở hữu trí tuệ,
bí mật quốc gia…Thiệt hại mà loại hình tội phạm này gây ra không chỉ nghiêm trọng về kinh tế mà còn thách thức đối với an ninh của quốc gia dân tộc Để đối phó với nguy cơ này, trên thế giới xuất hiện những khái niệm mới, lĩnh vực hoạt động mới, chẳng hạn “chạy đua vũ trang mạng”, “liên minh chống tội phạm mạng”… nhằm giành quyền chủ động trong “thế giới ảo” Hoặc, những biến động chính trị, bạo loạn, xung đột, dẫn đến lật đổ chế độ ở một số nước Bắc Phi và Trung Đông vừa qua, bắt nguồn từ những lời kêu gọi được truyền đi trên các trang mạng xã hội Người ta đã nói đến các cụm từ: “cách mạng xã hội trên internet”, “cách mạng từ internet” như là đặc điểm nổi bật của “phong trào” biến động, bạo loạn này
Khái niệm an ninh phi truyền thống với những nội dung cụ thể của nó, rõ ràng mang tính chất “động”, và, cùng với thời gian, nội hàm của nó có thể còn tiếp tục được mở rộng hơn Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà cách đặt vấn đề an ninh phi truyền thống của các quốc gia , khu vực và cộng đồng có những điểm khác nhau nhất định Việc khuôn những vấn đề cụ thể nào đó trong nội hàm của vấn đề an ninh phi truyền thống như các nhận thức nêu trên đều mang ý nghĩa tương đối, nhằm phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng chính sách, chiến lược an ninh của đất nước và những cam kết an ninh song phương,
đa phương trong hợp tác, liên kết quốc tế nhất định
Những mối đe dọa an ninh phi truyền thống: thách thức mang tính toàn cầu
Có một điểm cần nhấn mạnh là, không phải đến bây giờ, nhiều vấn đề được gọi là mối đe dọa đối với an ninh phi truyền thống, như giá lương thực tăng cao, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh…, mới gây cho con người những lo lắng về sự an nguy và tồn vong của mình Lịch sử nhân loại đã từng chứng kiến những trận đói, nạn dịch khủng khiếp cướp đi sinh mạng của hàng triệu con người Tuy nhiên, trong bối cảnh bùng nổ cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ đã làm cho biên giới địa lý giữa các quốc gia trở nên “mềm” hơn, dễ vượt qua hơn; mạng internet đã tạo ra một
“thế giới ảo” với các xa lộ thông tin toàn cầu, hoàn toàn không còn biên giới ngăn cách Cùng với đó là sự hủy hoại của con người đối với tự nhiên, môi trường; sự phát triển kinh
tế thiếu kiểm soát, chạy theo lợi nhuận thuần túy, lợi ích trước mắt; sự chi phối của những
Trang 30tư tưởng chính trị cực đoan, sự tha hóa và suy thoái về đạo đức của chính con người… đã làm cho những vấn đề mà ngày nay được gọi là an ninh phi truyền thống trở nên trầm trọng hơn, phức tạp hơn, có quy mô lớn hơn rất nhiều Phạm vi tác động của vấn đề đã vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ và lợi ích an ninh quốc gia dân tộc của một nước Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng tới nhiều nước, kéo cả nền kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suy thoái, là một thí dụ Vấn đề môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên, nguồn nước sạch, vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng… đôi khi lại đe dọa nhiều hơn đối với cuộc sống của người dân ở những quốc gia không phải là “thủ phạm” gây ra những biến đổi, cạn kiệt đó Các hoạt động tội phạm, khủng bố quốc tế, nhất là khủng bố bằng vũ khí sinh học, hóa học, bệnh dịch…, có quy mô xuyên biên giới Những mối đe dọa an ninh phi truyền thống, vì thế, trở thành những thách thức mang tính toàn cầu
Tính chất nguy hiểm của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống không chỉ biểu hiện ở mức độ hủy hoại, sự tàn phá của nó đối với cuộc sống của con người, mà còn đặt ra nhiều thách thức đối với sự ổn định xã hội, sự tồn vong của cả cộng đồng, hiệu quả thực tế của hợp tác và hội nhập toàn cầu; thậm chí còn làm nảy sinh các vấn đề về an ninh quân
sự Các thảm họa thiên nhiên, động đất, sóng thần, bão lụt, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên… ngày càng thách thức các thành tựu của khoa học , kỹ thuật hiện đại và khả năng, nỗ lực của con người Khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, những vấn đề tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực… đang thử thách nghiệt ngã năng lực điều hành của các chính phủ, sự vững chắc của các thể chế chính trị và các nền kinh tế, kể cả nền kinh tế giàu mạnh nhất, cũng như tính khả thi, bền vững của các liên kết quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia tăng lên, thế giới dường như trở nên nhỏ bé hơn, nhưng lại khó kiểm soát hơn, kém an toàn hơn bởi các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có mức độ nguy hiểm cao hơn, sức ảnh hưởng lớn hơn, tầm ảnh hưởng rộng hơn và tốc độ lây lan cũng nhanh hơn Chính vì vậy, để giải quyết và đối phó với những vấn đề này đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, sự cố gắng của mỗi cộng đồng, quốc gia, con người, với những giải pháp và bước
đi phù hợp, kết hợp tổng lực các biện pháp kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, pháp luật, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội
Trang 31Phối hợp hành động: giải pháp quan trọng để đối phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống
Tăng cường hợp tác, cùng nhau phối hợp hành động chung đang là xu thế và giải pháp quan trọng nhằm đối phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống hiện nay Trong thời gian tới, các mối quan hệ hợp tác này càng cần được nâng cao hơn nữa cả về hiệu quả
và tính thiết thực
Ở khu vực Đông Nam Á, các nước ASEAN và các nước đối thoại đã xây dựng các chương trình và kế hoạch hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống, bao gồm các cơ chế và khả năng hợp tác cụ thể Các chương trình và kế hoạch hợp tác đã thể hiện rõ sự cần thiết khách quan và tầm quan trọng của những hợp tác song phương và đa phương trong nội khối, cũng như sự hợp tác giữa các nước ASEAN với các bên đối thoại trong việc đối phó với vấn đề an ninh phi truyền thống Những thách thức an ninh mà khu vực đang phải đối mặt, như an ninh biển, hoạt động khủng bố, thảm họa thiên nhiên, dịch bệnh truyền nhiễm, an ninh lương thực và năng lượng, biến đổi khí hậu, được các tư lệnh quốc phòng các nước ASEAN nhất trí coi là những vấn đề cần được ưu tiên hợp tác hiện nay và xác định cần tăng cường khả năng quân đội tham gia giải quyết các vấn đề khu vực, tăng cường xây dựng lòng tin, giảm căng thẳng thông qua trao đổi trực tiếp các cấp
Kể từ sau Tuyên bố chung ASEAN - Trung Quốc về hợp tác trên những lĩnh vực an ninh phi truyền thống, các nước ASEAN đã triển khai với các nước đối thoại, đặc biệt là với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU, các tổ chức quốc tế trong hợp tác đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia và lĩnh vực an ninh phi truyền thống Đó là các chương trình: “Chiến lược hợp tác chống ma túy ASEAN năm 2000”; “Tuyên bố chung Bắc Kinh về hợp tác chống ma túy năm 2001”; “Tuyên bố ASEAN về hợp tác chống khủng bố”; “Tuyên bố chung ASEAN - Mỹ về hợp tác chống khủng bố” tháng 8-2002;
“Tuyên bố chung ASEAN-EU về hợp tác chống khủng bố” tháng 1-2003; “Tuyên bố Ba-li II”, tháng 10-2003 về xây dựng cộng đồng ASEAN; các kỳ họp của Diễn đàn an ninh khu vực - ASEAN (ARF)
Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2004 đã xác định: “Những vấn đề chưa được giải quyết, liên quan đến tranh chấp biên giới, lãnh thổ trên bộ, trên biển cùng những vấn đề an ninh phi truyền thống khác, như buôn bán và vận chuyển trái phép vũ khí, ma túy, cướp biển, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, khủng bố, nhập cư và di cư trái phép,
suy thoái môi trường, sinh thái cũng là những mối quan tâm an ninh của Việt Nam” (Bộ
Trang 32Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Thế giới, Hà Nội,
2004, tr 11) Như vậy, những mối đe dọa an ninh phi truyền thống đối với nước ta không
chỉ từ các vấn đề trong nước, mà còn từ các vấn đề khu vực và thế giới, đặc biệt là các vấn
đề khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, an ninh biển, tội phạm công nghệ cao
Nhiệm vụ an ninh của nước ta trong thời kỳ mới không chỉ là vấn đề giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm an ninh quốc gia, mà còn phải góp phần làm thất bại mọi sự chống phá của các thế lực thù địch, bảo đảm “sự ổn định, phát triển bền vững của
chế độ”, “sự bất khả xâm phạm, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”
(Luật An ninh quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 8)
Giữ vững an ninh quốc gia, đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” hiện nay của nước ta
Yêu cầu đối phó với vấn đề an ninh phi truyền thống hiện nay là phải trực tiếp phục
vụ cho mu ̣c tiêu , nhiê ̣m vu ̣ quốc phòng , an ninh, bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XI của Đảng
đã xác định: “bảo vê ̣ vững chắc đô ̣c lâ ̣p , chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế đô ̣ xã hô ̣i chủ nghĩa , giữ vững hòa bình, ổn
đi ̣nh chính tri ̣ và an ninh quốc gia, trâ ̣t tự, an toàn xã hô ̣i; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta ” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị
quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011) Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh quy định
những vấn đề về bảo đảm an ninh quốc gia, bao gồm cả việc đối phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống
Để đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ và toàn diện
- Trước hết, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng: “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng - an
ninh” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật,
Hà Nội, 2011) Theo đó, phát triển bền vững, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện công bằng
xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe của nhân dân, tăng cường quốc phòng và an ninh
là những vấn đề cơ bản tạo nền tảng vững chắc cho việc đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống
Trang 33- Nâng cao ý thức cho mọi tầng lớp nhân dân về bảo vệ Tổ quốc theo yêu cầu của thời kỳ mới Quán triệt và giáo dục sâu rộng mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc theo tinh thần của Đại hội XI của Đảng cho toàn xã hội, đặc biệt là cho cán bộ, đảng viên Tổ chức nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; tăng cường tuyên truyền, trao đổi thông tin về các mối đe dọa an ninh, quốc phòng Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm xã hội, trách nhiệm cộng đồng của chính quyền các cấp, của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, “tích cực hợp tác cùng các nước, các tổ chức khu vực
và quốc tế trong việc đối phó với những thách thức an ninh phi truyền thống, và nhất là
tình trạng biến đổi khí hậu; ” (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB
Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011); đẩy mạnh hợp tác với các nước và các tổ chức
quốc tế, các cơ quan an ninh, cảnh sát của các nước trong vấn đề an ninh phi truyền thống, đấu tranh chống khủng bố, phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; thiết lập hành lang pháp lý, xây dựng cơ chế hợp tác với các nước trong khu vực và quốc tế, với các tổ chức quốc tế có liên quan; chú trọng tăng cường quan hệ hợp tác với các nước ASEAN trong đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, đặc biệt trong phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, bảo đảm an ninh biển, đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu, thảm họa thiên nhiên, với các chương trình, kế hoạch và cơ chế phù hợp
Vấn đề an ninh phi truyền thống là một nội dung rất quan trọng của nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta trong thời kỳ mới Đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống vừa là yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc , vừa là điều kiện quan trọng để bảo vê ̣ vững chắc đô ̣c lâ ̣p , chủ quyền , thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ , bảo vệ chế độ , giữ vững hòa bình , ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trâ ̣t tự, an toàn xã hô ̣i Thực hiện nhiệm vụ này đòi hỏi sự đồng thuận và nỗ lực của toàn xã hội, sự quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, với những giải pháp, biện pháp phù hợp và hiệu quả
1.1.3 Khái niệm chung về an ninh con người
Theo PGS.TS Hoàng Đình Phi (2015) thì an ninh con người được hiểu là trạng thái
đảm bảo sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững của con người trước các mối đe dọa trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu Trong đó, 07
Trang 34yếu tố cấu thành, tác động đến an ninh con người từ nhiều góc độ, phương diện khác nhau, tùy theo hoàn cảnh không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến từng người, từng cộng đồng người nhất định, cụ thể:
- An ninh kinh tế: bảo đảm cho con người về mặt an sinh xã hội, việc làm, nhất là thu nhập của người lao động, tạo điều kiện cơ sở vật chất thực hiện, bảo đảm cuộc sống, bảo đảm quyền sống và phát triển;
- An ninh lương thực: bảo đảm cho con người không bị đói, cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho con người, bảo đảm mọi người đều có cơ hội và khả năng cung ứng lương thực;
- An ninh sức khỏe: bảo đảm an toàn cho con người trước mọi nguy cơ đe dọa về mặt sức khỏe thể chất (thể lực) và sức khỏe tinh thần (trí lực);
- An ninh môi trường: bảo đảm môi trường sống cho con người;
- An ninh cá nhân: bảo đảm cho mỗi cá nhân trước nguy cơ đe dọa từ hành vi bạo lực;
- An ninh cộng đồng: bảo đảm cho từng công dân sinh sống trong một cộng đồng an toàn;
- An ninh chính trị: bảo đảm sự ổn định chính trị- xã hội, là tiền đề để bảo đảm, thực thi quyền con người, con người được an toàn, tự do, phát triển cả về thể chất và tinh thần
Về cơ bản, nội hàm khái niệm an ninh con người của PGS.TS Hoàng Đình Phi đã có
sự kế thừa từ quan điểm về an ninh con người của UNDP công bố trong báo cáo phát triển con người năm 1994 và học thuyết an ninh con người của Liên minh Châu Âu Ngoài ra, trong kết quả nghiên cứu của mình tác giả cũng đã có những phát triển sáng tạo trong việc làm rõ khái niệm, nội hàm, bối cảnh ra đời, các mối đe dọa và các công cụ chính góp phần đảm bảo an ninh con người trong doanh nghiệp hiện nay
An toàn trong Tiếng Anh là Safety; secure chỉ sự yên ổn, không còn sợ tai họa
An toàn được định nghĩa là trạng thái mà khả năng gây hại cho người hoặc hủy hoại tài sản được giảm thiểu và duy trì tại hoặc dưới mức độ chấp nhận được
Anh ninh trong Tiếng Anh là Security.An ninh có ý là an toàn, bình an và ngược lại với nguy (Từ điển Hán ngữ) An ninh là chưa có nguy hiểm, không bị uy hiếp, không xảy
ra sự cố (Từ điển Hán ngữ) Gốc của “an” là tồn tại (survival, existence) Như vậy có thể hiểu nội hàm của khái niệm an ninh theo bối cảnh hay khuôn khổ cụ thể là an toàn
1.1.4 Khái niệm về tuyển dụng
1.1.4.1 Khái niệm chung về tuyển dụng
Theo cuốn tối đa hóa năng lực nhân viên thì “Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm nhân
sự nhằm đáp ứng yêu cầu cho một vị trí hoặc một công việc trong tổ chức Tuyển dụng được
Trang 35tiến hành để đáp ứng nhu cầu cấp thiết như bổ sung cho một vị trí trống nào đó nhằm giảm bớt thời gian bổ sung nhân sự một vị trí trống bằng cách duy trì danh sách ứng viên”
1.4.1.2 Khái niệm về tuyển dụng trong các cơ quan nhà nước
Đối với các cơ quan nhà nước thì tuyển dụng được hiểu là quá trình tìm kiếm và lựa chọn những người có đầy đủ năng lực, phẩm chất cần thiết tham gia vào hoạt động trong đơn vị hành chính, sự nghiệp nhằm đáp ứng số lượng, trình độ và cơ cấu nhu cầu về cán bộ công chức, viên chức của đơn vị trong mỗi thời kỳ nhất định
Ngoài ra, giữa việc tuyển dụng công chức và viên chức cũng có những quy định khác nhau trong Luật, cụ thể:
Theo Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 thì “Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế.”
Theo Luật viên chức số 58/2010/QH12 ngày 15/11/2010 thì “Tuyển dụng là việc lựa chọn làm người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập” (khoản 4, điều 3) và “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập” (Điều 20)
Như vậy, để tuyển dụng công chức, viên chức đều phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm
vụ hay nhu cầu công việc và vị trí việc làm của đơn vị Đối với công chức còn phải căn cứ vào chỉ tiêu biên chế, đối với viên chức còn phải căn cứ vào tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị
Trong các cơ quan nhà nước thì tuyển dụng là một hoạt động nhằm chọn được những người có đủ khả năng và điều kiện thực thi công việc trong các cơ quan nhà nước, tùy theo tính chất, chức năng, nhiệm vụ của từng loại cơ quan mà tiêu chuẩn điều kiện, hình thức tuyển dụng có khác nhau Tuyển dụng là khâu đầu tiên có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức do đó cần phải tuân thủ những nguyên tắc chung nhất định và quy trình khoa học từ hình thức đến nội dung tuyển dụng.Ở đây, việc tuyển dụng bao gồm cả giai đoạn tập sự của người được tuyển và việc bổ nhiệm vào ngạch hoặc chức danh nghề nghiệp sau khi hết thời gian tập sự
1.2 Các vấn đề liên quan đến công tác tuyển dụng
1.2.1 Đặc điểm tuyển dụng nhân sự trong cơ quan nhà nước:
Tuyển dụng nhân sự trong cơ quan nhà nước là tuyển dụng công chức hoặc viên chức vào làm việc trong cơ quan hành chính hoặc đơn vị sự nghiệp công lập
Trang 36Việc tuyển dụng công chức, viên chức phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, cụ thể phải tuân thủ theo các Nghị định của Chính phủ về tuyển dụng, các Thông tư hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan, các văn bản của UBND cấp tỉnh và hướng dẫn của các Sở, ngành có liên quan
1.2.1.1 Đặc điểm của một công chức
Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam
Thứ hai, về chế độ tuyển dụng, bổ nhiệm:
- Công chức phải là người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, chức vụ trong các Cơ quan, Tổ chức, Đơn vị thuộc cấp Trung ương, cấp Tỉnh, cấp Huyện
- Công chức phải có đủ trình độ chuyên môn phù hợp với ngạch, chức danh, chức vụ Các vấn đề liên quan tới bổ nhiệm, tuyển dụng công chức vào các chức danh, chức vụ và
bổ nhiệm vào các ngạch công chức quy định cụ thể ở chương IV – Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 Những vấn đề này còn phụ thuộc vào quy định riêng đối với các chức danh, chức vụ khác nhau; cùng một chức danh, chức vụ nhưng thuộc các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác nhau; cùng một chức danh, chức vụ thuộc cùng một loại tổ chức, cơ quan, đơn
vị nhưng ở các cấp khác nhau
Thứ ba, về nơi làm việc: Nơi làm việc của Công chức rất đa dạng Nếu như cán bộ
là những người hoạt động trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương, ở Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố trực thuộc Tỉnh thì Công chức còn làm việc ở cả Cơ quan, Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
Thứ tư, về thời gian công tác: Công chức đảm nhiệm công tác từ khi được bổ nhiệm, tuyển dụng cho tới khi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động mà không hoạt động theo nhiệm kì như cán bộ (Điều 60 – Luật cán bộ, công chức năm 2008) Chấm dứt đảm nhiệm chức vụ khi đến tuổi nghỉ hưu: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi (Quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 73 – Luật Bảo hiểm Xã hội năm 2014)
Thứ năm, về chế độ lao động: Công chức được biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước (Điều 12 – Luật cán bộ, công chức năm 2008); đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Trang 371.2.1.2 Đặc điểm của một viên chức
Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam
Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được được tuyển dụng theo
vị trí việc làm Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm Ngoài
ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau:
“Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập”
Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề
nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường
xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển (Điều 23 Luật Viên chức năm 2010)
Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại Đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị
sự nghiệp công lập theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “…tổ chức
do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước” Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm:
- Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm
vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ)
- Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ)
Thứ tư, về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chức được tính kể từ khi
được tuyển dụng, Hợp đồng làm việc có hiệu lực cho đến khi chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động
Thứ năm, về chế độ lao động: viên chức làm việc theo chế độ Hợp đồng làm việc và
hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Điều đó
có nghĩa giữa viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí
Trang 38các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên Lương của Viên chức được nhận từ quỹ của Đơn vị sự nghiệp công lập nơi họ làm việc chứ không phải
từ Nhà nước Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng, Nhà nước hầu như không can thiệp vào vấn đề này
1.2.1.3 Đặc điểm của công tác tuyển dụng nhân sự trong các cơ quan nhà nước phải căn
cứ vào:
Nhu cầu công việc
Trong cơ quan nhà nước, nhu cầu công việc là nhu cầu cần thiết sử dụng lao động
để hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính hoặc đơn vị sự nghiệp công lập Định mức lao động được tính dựa trên nhu cầu công việc theo quy định của Chính phủ
Đối với doanh nghiệp thì nhu cầu công việc thường xuất hiện khi doanh nghiệp cần
mở rộng phạm vi kinh doanh hoặc mô hình, loại hình kinh doanh mới
Vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, viên chức trong cơ quan tổ chức cần tuyển dụng
- Đối với công chức:
Vị trí việc làm là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức
để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị Vị trí việc làm được phân thành 3 loại: vị trí việc làm do một người đảm nhận; vị trí việc làm do nhiều người đảm nhận; vị trí việc làm kiêm nhiệm
Cấu trúc của mỗi vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị gồm bản mô tả công việc và khung năng lực phù hợp để hoàn thành công việc
Việc xác định vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị được thực hiện theo phương pháp tổng hợp, nghĩa là việc kết hợp giữa hoạt động phân tích tổ chức và phân tích công việc…
Cơ cấu ngạch công chức của mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị là tỷ lệ % (phần trăm) công chức giữ các ngạch phù hợp với Danh mục vị trí việc làm và biên chế công chức tương ứng
Căn cứ xác định cơ cấu ngạch công chức dựa vào Danh mục vị trí việc làm; tiêu
chuẩn và chức danh ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm
- Đối với viên chức:
Vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc
Trang 39chức vụ quản lý tương ứng; là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức
để thực hiện tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
Vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập được phân loại thành vị trí việc làm
do một người đảm nhận, nhiều người đảm nhận và vị trí việc làm kiêm nhiệm
Xác định vị trí việc làm là đòi hỏi tất yếu trước khi một cơ quan, đơn vị ra đời để
định hình tổ chức bộ máy và tiêu chuẩn chọn nhân sự phù hợp với từng vị trí
Chỉ tiêu biên chế được giao
Là số lượng biên chế được cấp có thẩm quyền phân bổ cho cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp cấp dưới trên cơ sở cân đối về các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng
Các tiêu chuẩn nhân thân tương quan với yêu cầu công vụ của người được tuyển dụng:
Bao gồm những yêu cầu về lý lịch,độ tuổi, phẩm chất đạo đức, yêu cầu về trình độ chuyên môn,nghiệp vụ, sức khỏe,… (đúng tiêu chuẩn nghiệp vụ)
Phải thi tuyển hoặc xét tuyển và phải trúng tuyển
- Đối với công chức thường áp dụng hình thức thi tuyển
- Đối với viên chức có thể áp dụng hình thức xét tuyển
1.2.1.4 Các đặc điểm của công tác đảm bảo an toàn trong tuyển dụng nhân sự trong cơ quan nhà nước
Đối với mỗi tổ chức thì hoạt động tuyển dụng nhân lực tại đơn vị đóng vai trò quan trọng Bởi hoạt động tuyển dụng nhân lực của tổ chức có tốt thì sẽ có một nguồn lực tốt để hoàn thành tốt mọi công việc được giao, đóng góp tích cực vào sự tồn tại và phát triển của
tổ chức đó Tuyển dụng nhân sự giúp cho các đơn vị thỏa mãn được nhu cầu về lao động
cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu Bởi trước khi tiến hành tuyển dụng lao động các đơn
vị cần phải hoạch định nguồn nhân sự trong đơn vị mình quản lý Hoạt động này sẽ làm cho nhà quản lý nắm rõ được lực lượng lao động thừa, thiếu trong đơn vị ở bộ phận nào
Từ đó có chính sách bổ sung, thuyên chuyển nhân sự trong đơn vị cho hợp lý
Đối với cơ quan nhà nước việc tuyển dụng công chức, viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế được giao Việc tuyển dụng diễn ra chủ yếu khi có sự biến động về nhân sự (chuyển công tác, nghỉ hưu, thăng chức, thôi việc,…) Yếu tố “nở ra” của hệ thống và tổ chức bộ máy là rất ít
Đảm bảo an toàn trong công tác tuyển dụng công chức, viên chức là phải đảm bảophù hợp với cơ chế Nhà nước, nhưng cũng vẫn phải tuyển dụng được những người lao
Trang 40động có trình độ chuyên môn cao, tay nghề cao, có tinh thần trách nhiệm và tâm huyết với công việc; tránh được những rủi ro như: không tuyển đủ số lượng công chức theo kế hoạch
và yêu cầu đề ra (dẫn đến phải tuyển thêm gây lãng phí về kinh tế, thời gian ), chất lượng đầu vào của nhân lực kém (dẫn đến phải đào tạo lại, đào tạo thêm gây tốn kém về kinh tế, thời gian ), sa thải (không hoàn thành chế độ tập sự, thử việc) Hoạt động tuyển dụng phải đem lại những lợi ích to lớn như: Giảm được chi phí đào tạo, đào tạo lại; Hạn chế được những sự cố xảy ra trong quá trình quản lý cũng như trong quá trình vận hành, kịp thời đưa những dự án đầu tư vào vận hành trong thời gian ngắn nhất, không phụ thuộc vào nguồn lao động bên ngoài
Đối với doanh nghiệp, việc tuyển dụng chủ yếu dựa trên sự phát triển về quy mô của doanh nghiệp hoặc mở rộng, phát triển cácmô hình, loại hình kinh doanh mới
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác tuyển dụng đối với một đơn vị
1.2.2.1 Môi trường bên ngoài
Chính trị, pháp luật: Môi trường chính trị và luật pháp bao gồm thể chế chính trị, sự
ổn định của chính phủ, hệ thống các văn bản pháp quy, chính sách, các đạo luật, bộ luật và các quy định, hướng dẫn thi hành Các đơn vị khi tổ chức tuyển dụng thường tập trung nghiên cứu kĩ lưỡng hệ thống luật pháp và các văn bản hướng dẫn về công tác tuyển dụng
để xây dựng kế hoạch tuyển dụng phù hợp và đúng quy trình quy định
Các xu hướng phát triển kinh tế trong từng thời kỳ: Có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt
động tuyển dụng nhân lực của tổ chức Giai đoạn hiện nay các tổ chức có xu hướng thu hẹp chỉ tiêu biên chế để tăng thu nhập cho những người trong tổ chức
Thái độ của xã hội đối với mỗi ngành nghề nhất định: Ở mỗi giai đoạn phát triển của
xã hội thì sẽ có một số ngành nghề thu hút được nhiều lao động tham gia hơn, có những ngành nghề không còn được ưa chuộng nữa Do vậy, khi nhà quản trị tuyển dụng một vị trí ngành nghề được người lao động ưa chuộng thì số lượng ứng viên tham gia sẽ đông hơn, nhà quản trị sẽ có cơ hội để lựa chọn, sàng lọc kỹ và tuyển dụng được lao động có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi Còn đối với những vị trí ngành nghề mà không ưa chuộng thì số lượng ứng viên tham gia ít hơn, cơ hội lựa chọn sàng lọc cũng ít hơn Do vậy, thái độ của xã hội đối với một số ngành nghề cũng ảnh hưởng đến hoạt động tuyển dụng nhân lực của tổ chức nên cần phải phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra