Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh sinh viên trường Cao Đẳng Y Tế Thái Nguyên về việc chấp hành luật an toà
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong đời sống xã hội, pháp luật giữ một vai trò đặc biệt quan trọng, phápluật là phương tiện không thể thiếu để bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của xãhội Việc giáo dục ý thức trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội, thế giới tựnhiên hay ý thức chấp hành pháp luật là điều vô cùng quan trọng, mang tính chấtsống còn đến sự tồn tại và phát triển của xã hội Giáo dục ý thức chấp hành phápluật về an toàn giao thông chính là một phần của việc giáo dục ý thức trách nhiệmđối với bản thân, gia đình và xã hội của mỗi người
Những năm gần đây, tình hình trật tự an toàn giao thông (ATGT) ở ViệtNam có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là trên lĩnh vực giao thông đường bộ.Theo thống kê của Cục cảnh sát giao thông, trong năm 2015, cả nước đã xảy ra22.827 vụ tai nạn giao thông (TNGT), trong đó TNGT đường bộ là 22.326 vụ, gần70% số vụ tai nạn liên quan tới xe máy [7]
Theo điều tra của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia, hơn 70% số người bị
xử lý khi tham gia giao thông (TGGT) có độ tuổi từ 16 đến 35 Lứa tuổi này tậptrung chủ yếu ở học sinh sinh viên (HSSV) Xe máy là phương tiện TGGT thuậnlợi và ít tốn kém nhất được HSSV sử dụng nhiều nhất Cũng theo kết quả điều tra,gần 80% HSSV đi xe máy không có giấy phép lái xe, 95% sinh viên (SV) điềukhiển xe máy sai kỹ thuật
Qua các con số thống kê cho thấy, thủ phạm gây ra các vụ tai nạn giao thông
có đến hơn 80% đều thuộc lỗi chủ quan của người tham gia giao thông Con số nàynói lên rằng, ý thức chấp hành luật pháp cũng như nếp sống văn hóa của ngườiTGGT còn rất kém Vì thế, những năm gần đây, nhà nước rất chú trọng đến việcgiáo dục ý thức tự giác chấp hành luật giao thông đường bộ nhằm giảm thiểu số vụtai nạn giao thông Nhiều năm nay, chương trình giáo dục ATGT đã được áp dụng
ở mọi cấp bậc, từ mầm non, tiểu học tới các trường trung cấp chuyên nghiệp
Trường Cao đẳng Y Tế Thái Nguyên cũng đã áp dụng chương trình giáo dụcATGT đối với HSSV trong trường Trường luôn coi trọng công tác tuyên truyền vềATGT; phối hợp với ban tuyên truyền ATGT của tỉnh tổ chức phổ biến tuyên
Trang 2truyền về luật giao thông đường bộ (LGTĐB) tới HSSV; phổ biến và yêu cầuHSSV ký cam kết không vi phạm ATGT khi về nghỉ tết, nghỉ hè Tuy nhiên, thờilượng chương trình giáo dục ATGT còn ít, chưa thực sự hiệu quả Số HSSV khôngđội mũ bảo hiểm, đèo ba, lạng lách khi ra, vào cổng trường vẫn còn.
Việc biết được HSSV có nhận thức như thế nào về LGTĐB, có ý thức nhưthế nào về hành vi của mình khi đi tham gia giao thông… sẽ góp phần giúp Bangiám hiệu nhà trường nhìn nhận chính xác hơn suy nghĩ và hành vi tham gia giaothông của HSSV để có cách đưa vấn đề giáo dục hành vi giao thông vào trườnghọc có hiệu quả [1]
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài “Kiến
thức, thái độ, thực hành của học sinh sinh viên trường Cao Đẳng Y Tế Thái Nguyên về việc chấp hành luật an toàn giao thông đường bộ khi đi xe máy”
nhằm mục tiêu:
1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh sinh viên trường Cao Đẳng Y Tế Thái Nguyên về việc chấp hành luật an toàn giao thông đường
bộ khi đi xe máy.
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của HSSV.
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 31.1 Những hiểu biết về Luật giao thông đường bộ
1.1.1 Khái niệm Luật
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính chất bắt buộc chung
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí củagiai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợpvới lợi ích của giai cấp mình
1.1.2 Khái niệm giao thông
Giao thông: Hiểu theo nghĩa thông thường thì giao thông được xem là sự
lưu thông, vận chuyển trên đường
Theo từ điển Tiếng Việt: giao thông là việc đi lại từ nơi này đến nơi kháccủa người và các phương tiện chuyên trở [5]
Cùng với sự phát triển qua các thời kỳ lịch sử, giao thông và nền kinh tế xã hội có quan hệ hữu cơ với nhau và không thể tách rời nhau Mạng lưới giao thôngđược ví như là “những mạch máu trong cơ thể sống”, nếu nó ngừng hoạt động thì mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội sẽ bị tê liệt [2,tr18]
Giao thông có nhiệm vụ phục vụ nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hoá,nhu cầu đi lại của người dân, cũng như việc giao lưu kinh tế - văn hoá giữa cácđịa phương, giữa các vùng miền và các quốc gia trên thế giới
Như vậy, có thể thấy giao thông là một lĩnh vực quan trọng của đời sống
xã hội, hoạt động giao thông là một dạng hoạt động trong các hình thái hoạt độngcủa con người Hoạt động giao thông là nhu cầu khách quan của mọi quốc gia,trong mọi giai đoạn phát triển của lịch sử
1.1.3 Khái niệm luật giao thông
Luật giao thông là hệ thống các phép tắc lề lối do Quốc hội và Nhà nước đưa
ra cho mọi người trong quá trình tham gia sử dụng công trình giao thông, nhằmđảm bảo an toàn về người, phương tiện và tài sản của Nhà nước và nhân dân trong qúa trình tham gia giao thông
1.1.3.1 Khái niệm luật giao thông đường bộ
Trang 4Luật giao thông đường bộ là hệ thống các phép tắc, lề lối do Quốc hội vàNhà nước đưa ra cho người, phương tiện trong quá trình tham gia hoạt động và sửdụng các công trình giao thông đường bộ và giao thông đô thị nhằm đảm bảo antoàn về người, phương tiện, tài sản của nhà nước và nhân dân
Nói một cách khái quát hơn, LGTĐB là một loại chuẩn mực pháp luật thuộcphạm trù chuẩn mực xã hội, là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao, tạo hànhlang pháp lý đầy đủ cho công tác đảm bảo an toàn giao thông ở nước ta
Quốc hội đã thông qua “ Luật giao thông đường bộ”, có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 7 năm 2015 để thay thế cho LGTĐB thông qua ngày 01/07/2009
Cấu trúc của LGTĐB: ngoài phần nói đầu, Luật có 08 chương với 89 Điều:
- Chương I từ Điều 1 đến Điều 8 đề cập tới “Những quy định chung”
Trong chương này, nghiên cứu của chúng tôi có đề cập tới “Điều 8 Các hành
vi bị nghiêm cấm” tại các khoản sau:
Khoản 6 Đua xe, cổ vũ đua xe, tổ chức đua xe trái phép, lạng lách, đánh võng.Khoản 7 Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể cóchất ma túy
Khoản 8 Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường màtrong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn
Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở
Khoản 9 Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định.Điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ không
có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, bằnghoặc chứng chỉ điều khiển xe máy chuyên dùng
Khoản 11 Điều khiển xe cơ giới chạy quá tốc độ quy định, giành đường, vượt ẩu.Khoản 12 Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi trong thời gian từ 22 giờ đến 5 giờ, bấmcòi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị và khu đông dân cư, trừ các xe đượcquyền ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định của Luật này
- Chương II từ Điều 9 đến Điều 38, nêu “ Quy tắc giao thông đường bộ”
Trang 5Trong đề tài, chúng tôi có đề cập đến nội dung của các điều sau:
Điều 9 Quy tắc chung
1 Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng lànđường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ
2 Xe ô tô có trang bị dây an toàn thì người lái xe và người ngồi hàng ghế phíatrước trong xe ô tô phải thắt dây an toàn
Điều 10 Hệ thống báo hiệu đường bộ
1 Hệ thống báo hiệu đường bộ gồm hiệu lệnh của người điều khiển giao thông; tín
hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu hoặc tường bảo vệ, rào chắn.
2 Hiệu lệnh của người điều khiển giao thông quy định như sau:
a) Tay giơ thẳng đứng để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở các hướngdừng lại;
b) Hai tay hoặc một tay dang ngang để báo hiệu cho người tham gia giao thông ởphía trước và ở phía sau người điều khiển giao thông phải dừng lại; người tham giagiao thông ở phía bên phải và bên trái của người điều khiển giao thông được đi;c) Tay phải giơ về phía trước để báo hiệu cho người tham gia giao thông ở phía sau
và bên phải người điều khiển giao thông phải dừng lại; người tham gia giao thông ởphía trước người điều khiển giao thông được rẽ phải; người tham gia giao thông ởphía bên trái người điểu khiển giao thông được đi tất cả các hướng; người đi bộ quađường phải đi sau lưng người điều khiển giao thông
3 Tín hiệu đèn giao thông có ba mầu, quy định như sau:
a) Tín hiệu xanh là được đi;
b) Tín hiệu đỏ là cấm đi;
c) Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạchdừng thì được đi tiếp; trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưngphải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường
4 Biển báo hiệu đường bộ gồm năm nhóm, quy định như sau:
a) Biển báo cấm để biểu thị các điều cấm;
b) Biển báo nguy hiểm để cảnh báo các tình huống nguy hiểm có thể xảy ra;
Trang 6c) Biển hiệu lệnh để báo các hiệu lệnh phải thi hành;
d) Biển chỉ dẫn để chỉ dẫn hướng đi hoặc các điều cần biết;
đ) Biển phụ để thuyết minh bổ sung các loại biển báo cấm, biển báo nguy hiểm,biển hiệu lệnh và biển chỉ dẫn
Điều 11 Chấp hành báo hiệu đường bộ
1 Người tham gia giao thông phải chấp hành hiệu lệnh và chỉ dẫn của hệ thốngbáo hiệu đường bộ
2 Khi có người điều khiển giao thông thì người tham gia giao thông phải chấphành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông
3 Tại nơi có biển báo hiệu cố định lại có báo hiệu tạm thời thì người tham gia giaothông phải chấp hành hiệu lệnh của báo hiệu tạm thời
Điều 12 Tốc độ xe và khoảng cách giữa các xe
Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định
về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối với xe chạyliền trước xe của mình; ở nơi có biển báo "Cự ly tối thiểu giữa hai xe" phải giữkhoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo
Điều 20 Xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ
1 Hàng hóa xếp trên xe phải gọn gàng, chằng buộc chắc chắn, không để rơi vãidọc đường, không kéo lê hàng hóa trên mặt đường và không cản trở việc điềukhiển xe
2 Khi xếp hàng hóa vượt phía trước và phía sau xe thì ban ngày phải có cờ báohiệu màu đỏ, ban đêm hoặc khi trời tối phải có đèn đỏ báo hiệu
Điều 24 Nhường đường tại nơi đường giao nhau
Khi đến gần đường giao nhau, người điều khiển phương tiện phải cho xe giảm tốc
độ và nhường đường theo quy định sau đây:
1 Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhườngđường cho xe đi đến từ bên phải;
2 Tại nơi đường giao nhau có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường
cho xe đi bên trái;
Trang 73 Tại nơi đường giao nhau giữa đường không ưu tiên và đường ưu tiên hoặc giữađường nhánh và đường chính thì xe đi từ đường không ưu tiên hoặc đường nhánhphải nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên hoặc đường chính từ bất kỳhướng nào tới.
Điều 30 Người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy
1 Người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người, trừnhững trường hợp sau thì được chở tối đa hai người:
a) Chở người bệnh đi cấp cứu;
b) Áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;
b) Đi xe vào phần đường dành cho người đi bộ và phương tiện khác;
c) Sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính;
d) Sử dụng xe để kéo, đẩy xe khác, vật khác, mang, vác và chở vật cồng kềnh;đ) Buông cả hai tay hoặc đi xe bằng một bánh đối với xe hai bánh, bằng hai bánhđối với xe ba bánh;
e) Hành vi khác gây mất trật tự, an toàn giao thông
4 Người ngồi trên xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy khi tham giagiao thông không được thực hiện các hành vi sau đây:
a) Mang, vác vật cồng kềnh;
b) Sử dụng ô;
c) Bám, kéo hoặc đẩy các phương tiện khác;
d) Đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái;
đ) Hành vi khác gây mất trật tự, an toàn giao thông
Trang 8- Chương III từ Điều 39 đến Điều 52 quy định “ Kết cấu hạ tầng giao thôngđường bộ”.
- Chương IV từ Điều 53 đến Điều 57 đề cập “ Phương tiện tham gia giaothông đường bộ”
- Chương V từ Điều 58 đến Điều 63 quy định “ Người điều khiển phươnngtiện tham gia giao thông đường bộ”
- Chương VI nói về vận tải đường bộ trong đó:
- Chương VII từ Điều 84 đến Điều 87 quy định Quản lý nhà nước về giaothông đường bộ
- Chương VIII từ Điều 88 đến Điều 89 quy định Điều khoản thi hành
Đối tượng áp dụng của LGTĐB: áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhânhoạt động, sinh sống trên lãnh thổ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà nước CHXHCNVN ký kết hoặc tham gia
có quy định khác với Luật này thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó
Và như vậy, LGTĐB cũng áp dụng đối với đối tượng HSSV, trong đó cóHSSV của trường Cao đẳng Y Tế Thái Nguyên – khách thể nghiên cứu của đề tài
Phạm vi điều chỉnh của LGTĐB bao gồm: Quy định quy tắc giao thôngđường bộ, các điều kiện đảm bảo an toàn GTĐB của kết cấu hạ tầng, phương tiện
và người tham gia GTĐB, hoạt động vận tải đường bộ và quản lý nhà nước vềGTĐB
1.1.3.2 Khái niệm xe máy
Theo thông tư của Luật giao thông đường bộ: xe mô tô hai bánh là xe cơgiới có hai bánh, di chuyển bằng động cơ, có dung tích xi lanh từ 50cm3 trở lên vàtổng trọng lượng toàn xe không vượt quá 400 ki-lô-gam
1.2 Tình hình tai nạn giao thông
Trang 9hằng năm cho thấy TNGT đang để lại những hậu quả nặng nề cho sức khỏe, tínhmạng của con người trong đó nguyên nhân do TNGT đường bộ là cao nhất.
Bảng thống kê số liệu tai nạn giao thông
(Thống kê của Cục Cảnh sát giao thông)
Đường bộ Đường thủy Đường bộ Đường thủy Đường bộ Đường thủy
Qua thống kê, phân tích tổng số các vụ TNGT xảy ra trong năm 2015 cho
thấy các lỗi vi phạm trật tự ATGT chủ yếu dẫn đến TNGT là: đi không đúng làn đường, phần đường quy định chiếm tỉ lệ cao (26%), chạy quá tốc độ (9%), chuyển hướng không đúng quy định (9%), ngoài ra các lỗi không nhường đường, vượt xe,
sử dụng rượu bia chiếm tỉ lệ đáng kể [7]
Mô tô, xe máy là loại phương tiện chủ yếu trong các vụ tai nạn (gần 70%), trong đó rất nhiều mô tô, xe máy cũ hoặc không đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và
an toàn Hiện nay, số lượng mô tô, xe máy chiếm hơn 85% tổng số phương tiện giao thông hiện đang hoạt động trong cả nước do nhiều ưu điểm như tính cơ động cao, linh hoạt giá thành rẻ phù hợp điều kiện kinh tế của đa phần người dân Bên cạnh đó, ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông bằng phương tiện mô
tô, xe máy còn chưa cao Vì vậy vấn đề tai nạn liên quan đến mô tô, xe máy đang
là vấn đề rất báo động
Theo nhận định, nguyên nhân chủ yếu làm cho tình hình tai nạn và ùn tắc giao thông chưa “tháo gỡ” là do ý thức chấp hành luật của người TGGT chưa tự giác, số lượng phương tiện cơ giới tăng lên gấp nhiều lần so với cơ sở hạ tầng giao thông,… Để giải quyết tình hình TNGT cần nâng cao nhận thức cũng như cải thiện
Trang 10hành vi của người TGGT, cần đẩy mạnh các công tác tuyên truyền, cần có những biện pháp quyết liệt có tính răn đe mạnh của các ngành chức năng và chính quyền đia phương.
1.2.2 Tình hình TNGT tại tỉnh Thái Nguyên
Tỉnh Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực miền núi phía bắc Trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có khoảng 1 triệu người, cùng với đó là các trường đại học, cao đẳng, khu công nghiệp Yên Bình với 2 nhà máy của Samsung đi vào hoạt động
đã thu hút gần 70 nghìn người lao động, trong đó, số lượng người ở các tỉnh khác
về là rất lớn khiến dân số tại Thái Nguyên tăng lên đáng kể, làm cho mật độ TGGTdày đặc Người tham gia giao thông trên địa bàn tập trung chủ yếu là lứa tuổi thanhthiếu niên (HSSV, công nhân lao động) Vì thế vào những giờ cao điểm, tình trạng
ùn tắc giao thông và xảy ra tai nạn giao thông thường xuyên diễn ra ở một số các địa điểm đông khu dân cư
Năm 2010, Thái Nguyên là một trong 10 tỉnh có TNGT tăng bị Thủ tướng Chính phủ phê bình Tuy nhiên, những năm gần đây, số vụ TNGT xảy ra đã giảm, nhưng số vụ TNGT nghiêm trọng, rất nghiêm trọng có xu hướng tăng và thực tế vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến TNGT Tính riêng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, trong 9 tháng đầu năm 2015 đã xảy ra 139 vụ, số người chết 79 người, bị thương 111 người So sánh cùng kỳ năm 2014 TNGT giảm 26 vụ (-15.76%); tăng
3 người chết (+3.95%) (theo số liệu của Ban ATGT Tỉnh Thái Nguyên, 2015) [6]
Ban ATGT tỉnh Thái Nguyên đánh giá, một trong những nguyên nhân dẫnđến TNGT là do phương tiện giao thông tăng nhanh, mật độ xe đi lại cao, nhiều xetải trọng lớn, xe container gây cản trở giao thông Trong khi đó, hạ tầng giao thônglại không đáp ứng kịp sự tăng trưởng nhanh chóng của phương tiện, tổ chức giaothông hỗn hợp có ít tuyến giao thông được phân làn Vì vậy, vi phạm hành langATGT còn tồn tại nhiều, chưa được khắc phục kịp thời
Theo như ông Tân Hoàng Long - Chánh văn phòng Ban ATGT tỉnh TháiNguyên nhận định nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNGT do ý thức của người thamgia giao thông (chiếm 90%) Ý thức chấp hành các quy định của pháp luật còn hạn
Trang 11chế, sự chủ quan của người tham gia giao thông là những nguyên nhân trực tiếpgây TNGT Cụ thể là tình trạng lái xe sử dụng rượu bia khi tham gia giao thôngcòn khá phổ biến, đặc biệt trong những ngày Tết và lễ hội; việc lấn chiếm lànđường, vỉa hè, hành lang giao thông để kinh doanh, họp chợ vẫn xảy ra; đườngngang dân sinh mở trái phép qua đường sắt còn tồn tại nhiều, tiềm ẩn nguy cơ tainạn chưa được giải tỏa kịp thời; các điểm đen - vị trí có nguy cơ gây TNGT trêncác tuyến đường tỉnh, huyện đã được xác định song còn chậm khắc phục do khôngbảo đảm kinh phí…
1.2.3 Tình hình TNGT tại trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên
Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên tiền thân là Trường Trung sơ cấp Y tếBắc Thái thành lập theo quyết định số 1476/TCDC ngày 26 tháng 12 năm 1966của Ủy ban hành chính tỉnh Bắc Thái Năm 1997 tỉnh Bắc Thái tách thành hai tỉnhThái Nguyên và Bắc Kạn, trường được đổi tên thành Trường học Y tế TháiNguyên
Trường học Y tế Thái Nguyên được nâng cấp thành Trường Cao đẳng Y tếtheo quyết định số 6317/QĐ-BGDĐT ngày 06/11/2006 của Bộ Giáo dục và đàotạo
Là một trường đa cấp, đa ngành, Cao đẳng Y tế Thái Nguyên có sứ mệnhđào tạo nguồn nhân lực Y-Dược trình độ Cao đẳng và Trung cấp chuyên nghiệpvới chất lượng cao
Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên tọa lạc tại trung tâm thành phố Thái Nguyênvới mật độ dân cư cao và giao thông phức tạp Học sinh sinh viên của trường chủyếu đến từ các tỉnh miền núi phía Bắc và đa số HSSV là người dân tộc, ít va chạmvới xã hội bên ngoài Vì thế khi xuống học tại trung tâm thành phố Thái Nguyênvới mật độ dân số cao, cở sở hạ tầng giao thông hiện đại khiến cho không ít HSSVtrong trường lúng túng khi tham gia giao thông trên các tuyến đường của tỉnh
Mặc dù đã được tuyên truyền, giáo dục về ATGT tại trường nhưng vẫn cónhững trường hợp HSSV vi phạm ATGT Theo thống kê từ Phòng Công tácHSSV, năm 2014 đã xảy ra 6 vụ TNGT làm 5 HSSV bị thương Năm 2015 đã xảy
Trang 12ra 10 vụ TNGT làm cho 9 HSSV bị thương, trong đó có 5 HSSV phải nhập việnđiều trị.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNGT là do ý thức của HSSV, tập trung ởmột số lỗi như phóng nhanh, vượt ẩu, chở quá số người qui định, điều khiển xemáy khi chưa có giấy phép lái xe…
Hơn nữa, trường có tới 80% tổng số HSSV ở ngoại trú, điều này làm tăngmật độ tham gia giao thông trên địa bàn phường Thịnh Đán
Ngoài ra, yêu cầu công việc công tác HSSV ngày càng cao, khối lượng côngviệc nhiều, trong khi số lượng biên chế cán bộ phụ trách công tác HSSV hạn chế,
do đó khó khăn trong việc bố trí cán bộ chuyên trách trong công tác này
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh sinh viên học tại trường Cao đẳng Y Tế Thái Nguyên
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 10/2015 đến tháng 06/2016
Địa điểm: Trường Cao đẳng Y tế Thái Nguyên
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang
- Phương pháp nghiên cứu mô tả
- Phương pháp quan sát
2.4 Kỹ thuật chọn mẫu
* Phương pháp nghiên cứu mô tả
- Cỡ mẫu phỏng vấn: Theo công thức:
Thực tế đề tài nghiên cứu tiến hành điều tra 399 HSSV
- Chọn mẫu: chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên hệ thống
Tỷ lệ HSSV được phân bố đều cho 3 nhóm HSSV:
+ HSSV năm thứ nhất (N1): 133
+ HSSV năm thứ hai (N2): 133
+ HSSV năm thứ ba (N3): 133
* Phương pháp quan sát
Chọn mẫu có chủ đích với cỡ mẫu là 400
2.5 Chỉ tiêu nghiên cứu
- Kiến thức của HSSV về luật giao thông đường bộ
+ Giấy phép lái xe mô tô/ xe máy
Trang 14+ Địa điểm tiếp cận thông tin về luật ATGT
+ Hiểu biết của HSSV về luật giao thông đường bộ
+ Hiểu biết của HSSV về các loại biển báo đường bộ
- Thái độ của HSSV về việc chấp hành luật giao thông đường bộ
+ Sự cần thiết của việc chấp hành luật giao thông
+ Thái độ của HSSV đối với người vi phạm luật giao thông
( Khi bản thân và người khác vi phạm)
- Thực hành của HSSV về việc chấp hành luật giao thông đường bộ
+ Mức độ vi phạm luật giao thông
+ Các lỗi mà HSSV vi phạm khi tham gia giao thông
+ Hình thức xử lý khi HSSV vi phạm luật
+ Quan sát thực tế HSSV thực hiện luật khi tham gia giao thông
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
- Phỏng vấn HSSV bằng bộ câu hỏi được thiết kế dựa vào LUẬT GIAO THÔNG
ĐƯỜNG BỘ của Quốc hội áp dụng từ ngày 01 tháng 7 năm 2015 Các nghiên cứuviên sẽ phát phiếu điều tra, giải thích và thu phiếu điều tra sau khi HSSV hoànthành
- Quan sát HSSV ra vào cổng trường điền vào bảng kiểm quan sát Chúng tôi tiếnhành quan sát ngẫu nhiên 400 xe máy khi ra, vào cổng trường trong 10 ngày
2.7 Vật liệu nghiên cứu
- Phiếu điều tra Anket
- Bảng kiểm quan sát
2.8 Xử lý và phân tích số liệu
Nhập và xử lý số liệu: SPSS phiên bản 11.5
2.9 Đạo đức nghiên cứu
HSSV được thông báo về ý nghĩa, mục đích của nghiên cứu Mọi thông tin về HSSVđược đảm bảo giữ bí mật và không ghi tên HSSV trong đề tài nghiên cứu
2.10 Kế hoạch nghiên cứu
Trang 15Tháng 8/2015 – 10/2015: Tham khảo tài liệu, viết đề cương nghiên cứu, xây dựngcông cụ nghiên cứu.
Tháng 11/2015: Thử phiếu, thu thập và chỉnh sửa phiếu
Tháng 12/2015: Phát phiếu, thu thập số liệu
Tháng 1 - 4/2016: Tổng hợp, phân tích số liệu, viết đề tài
Tháng 6/2016: Báo cáo kết quả
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Kiến thức của HSSV về luật giao thông đường bộ