- Phương pháp thu thập thông tin: được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, nghị quyết, quyết
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ HỒNG NHUNG
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở PHƯỜNG TÂN ĐỊNH, QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHAN ANH TUẤN
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn là của cá nhân, được nghiên cứu nghiêm túc, trung thực và chưa từng được ai sử dụng để công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin, tài liệu trong luận văn đã được trích dẫn và ghi rõ nguồn gốc./
TP.HCM, tháng 8 năm 2018
Tác giả Luận văn
Lê Thị Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 8
1.1 Dân chủ và Quy chế dân chủ cơ sở 8
1.1.1 Khái niệm về dân chủ 8
1.1.2 Khái niệm về dân chủ cơ sở, Quy chế dân chủ ở cơ sở 10
1.1.3 Đặc điểm của Quy chế dân chủ ở cơ sở 12
1.1.4 Quan điểm của Đảng và quy định của Nhà nước trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 13
1.2 Nội dung thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 15
1.2.1 Những nội dung, hình thức công khai để nhân dân biết 15
1.2.2 Những nội dung, hình thức Nhân dân bàn và quyết định 17
1.2.3 Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định 19
1.2.4 Những nội dung, hình thức Nhân dân giám sát 19
1.2.5 Nội dung các bước trong tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường 20
1.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 23
1.3.1 Chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 23
1.3.2 Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Đảng ở cơ sở 24
1.3.3 Công tác tổ chức thực hiện của chính quyền và vai trò của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể quần chúng ở cơ sở 24
1.3.4 Trình độ, năng lực, nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức 25
1.3.5 Đặc điểm địa bàn dân cư, trình độ dân trí 25
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở PHƯỜNG TÂN ĐỊNH, QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 27
2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 272.2 Thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 31
2.2.1 Thực trạng thực hiện các bước trong tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 31 2.2.2 Thực trạng thực hiện nội dung Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 44
2.3 Đánh giá chung việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh 51
2.3.1 Mặt làm được 51 2.3.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 52
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở PHƯỜNG TÂN ĐỊNH, QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 55
3.1 Những phương hướng cơ bản nhằm tăng cường thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 553.2 Các giải pháp tăng cường việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 56
3.2.1 Củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị cơ sở 56 3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, quán triệt việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 59 3.2.3 Nâng cao nhận thức, năng lực của cho cán bộ, công chức, Đảng viên và Nhân dân trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 60 3.2.4 Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gắn với phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao trình độ dân trí 61
Trang 63.2.5 Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân 63 3.2.6 Tăng cường công tác tổng kết thực tiễn việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở 64
KẾT LUẬN 66 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Theo số liệu thống kê kết quả đánh giá mức độ hài lòng của
Nhân dân thông qua bảng điện tử từ năm 2014 đến năm 2017, như sau 43
Bảng 2.2: Theo thống kê từ năm 2008 đến năm 2012, kết quả thanh niên nhập ngũ 45
Bảng 2.3: Theo thống kê từ năm 2008 đến năm 2012, kết quả giảm
nghèo 46
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là sản phẩm tiến hóa của lịch sử xã hội gắn liền với sự tồn tại
và phát triển của đời sống con người, là nhu cầu khách quan đối với sự phát triển bền vững của đất nước Các cuộc đấu tranh dân chủ, vì sự tiến bộ của xã hội đang trở thành một xu thế tất yếu của thời đại
Trong cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dân chủ hóa đời sống xã hội đã được Đảng và Nhà nước xác định là một trong những nội dung cốt lõi, trọng tâm, đặc biệt là dân chủ hóa đời sống
xã hội từ cơ sở
Nhằm phát huy đầy đủ và hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngày 18 tháng 02 năm
1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và ngày 20 tháng 4 năm 2007, Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội ban hành pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện dân chủ ở phường, xã, thị trấn Đây là những văn bản quan trọng đánh dấu việc thể chế hóa “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngay từ cơ sở, đồng thời cũng thể hiện quyết tâm củng cố, hoàn thiện, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước ta
Sau 10 năm thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở nhận thấy kết quả bước đầu của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đã mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội Tuy nhiên việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
ở một số nơi chưa thực hiện một cách đúng đắn, còn dân chủ hình thức, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm, tình trạng quan liêu, hách dịch, tham nhũng vẫn còn tồn tại Điển hình việc thực hiện Quy chế dân chủ ở phường
Trang 9Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy còn nhiều hạn chế, vướng mắc cần có những giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện Quy chế này, đáp ứng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân ở địa phương
Từ thực trạng trên, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện quy chế dân chủ cơ
sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ Chính trị học của mình, đồng thời với mong muốn đóng góp một số giải pháp hoàn thiện việc thực hiện Quy chế dân chủ ở phường Tân Định
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu các tài liệu đã được công bố những năm gần đây cho thấy:
đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề dân chủ ở nhiều góc độ khác nhau, trong đó có các công trình tiêu biểu như sau:
- Lê Khả Phiêu 1998 , “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, ây
dựng và thực hiện thiết chế dân chủ ở cơ sở”, Tạp chí cộng sản, số 3
- Trần Quang Nhiếp 1998 , “Để thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”,
Tạp chí cộng sản, số 2
- Đỗ Mười 1998 , “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở”,
Tạp chí cộng sản, số 20
- Trần Hậu Thành 2000 , “Dân chủ và mối quan hệ giữa nhà nước
pháp quyền với dân chủ”, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 10
- Nguyễn Quốc Phẩm (2000), “Hệ thống chính trị cấp cơ sở và dân chủ
hóa đời sống ã hội nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
- Dương Xuân Ngọc 2000), “Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp ã -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trang 10- Nguyễn Minh Thi (2000), “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại
các vùng nông thôn miền núi của tỉnh Bắc Giang hiện nay”, Luận văn thạc sĩ
bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
- Ban tổ chức - Cán bộ chính phủ 2001 , “Hướng d n triển khai Quy
chế dân chủ ở cơ sở”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Cúc (2002), “Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình
hình hiện nay Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội
- Đỗ Trung Hiếu 2002 , “Một số khía cạnh của khái niệm dân chủ”,
Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 3
- Nguyễn Thị Ngân (2002 - 2003), “Quá trình thực hiện Quy chế dân
chủ cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay”
- Nguyễn Văn Sáu – Hồ Văn Thông 2003 , “Thể chế dân chủ và phát
triển nông thôn Việt Nam hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà
Nội
- Lương Gia Ban 2003 , “Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Trần Bạch Đằng (2003), “Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền
thống của dân tộc Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 35
- Trần Khắc Việt (2004), “Thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay - Vấn
đề đặt ra và giải pháp”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9
- Hoàng Chí Bảo 2008 , “Dân chủ và dân chủ ở nông thôn trong tiến
trình đổi mới”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
- Nguyễn Văn Mạnh - Tào Thị Quyên 2010 , “Dân chủ trực tiếp ở
Việt Nam, lý luận và thực tiễn”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội
- Phạm Ngọc Trâm (2012), “Nhìn lại quá trình thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở 1998 – 2012”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11
Trang 11- Nguyễn Hồng Chuyên 2013 , “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp
ã phục vụ ây dựng nông thôn mới”, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà nội
- Đào Trí Úc Chủ biên , Trịnh Đức Thảo, Vũ Công Giao 2014 , “Một
số vấn đề lý luận, thực tiễn về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới
và ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhìn chung, các công trình nêu trên đã đi sâu nghiên cứu việc thực hiện dân chủ, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; các bài viết của các tác giả đã làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng, cách thức tổ chức, các biện pháp thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ, phản ánh thực trạng thực hiện cũng như phương hướng, giải pháp tăng cường việc thực hiện dân chủ ở cơ sở Các công trình khoa học nêu trên là nguồn tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở; cũng như tham khảo về các giải pháp để thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở ở các địa phương để có thể vận dụng cho phù hợp với đặc điểm của phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, riêng ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, cho đến nay chưa có bài viết, đề tài nào nghiên cứu về vấn đề thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở Điều này xuất phát từ tính chất đặc thù của địa bàn phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí
Minh Hay nói cách khác, đề tài “Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở phường
Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay” không trùng lặp với
các công trình khoa học đã công bố cho đến thời điểm hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Đề tài làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng thực hiện và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Trang 12Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận thực hiện quy chế dân chủ cơ
1, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: đề tài nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ chính trị học
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ
sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
- Về thời gian: Trong phạm vi của đề tài, các tư liệu, số liệu khảo sát chủ yếu từ năm 2008 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách pháp luật của Nhà nước về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 13Để thực hiện mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng để làm rõ những khái niệm và những vấn đề lý luận thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
- Phương pháp thống kê: phương pháp này được sử dụng để làm rõ các
số liệu về thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
- Phương pháp thu thập thông tin: được sử dụng để thu thập, phân tích
và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng, Nhà nước; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban ngành, đoàn thể có liên quan đến vấn đề thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở hiện nay
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan trong việc tiếp tục đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, Luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Chương 2 Thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân
Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 14Chương 3 Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường thực hiện
Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1.1 Dân chủ và Quy chế dân chủ cơ sở
1.1.1 Khái niệm về dân chủ
Dân chủ là tài sản vô cùng quý báu của con người, có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội
“Dân chủ” có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại Nhà sử học, chính trị học người Hy Lạp Hêrôđốt là người đầu tiên đưa ra khái niệm về dân chủ “Dân
chủ” là một từ ghép bao gồm hai từ: “Demos” có nghĩa là dân và “Kratos”
có nghĩa là quyền lực Do đó, từ “Democratia” - “Dân chủ” - có nghĩa là
quyền lực thuộc về nhân dân
Khi bàn về khái niệm dân chủ là gì, các nhà khoa học đã nêu ra khá nhiều ý kiến như:
- Ý kiến thứ nhất cho rằng, dân chủ là sản phẩm của quan hệ giai cấp,
là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp cầm quyền đối với xã hội
- Ý kiến thứ hai hiểu khái niệm dân chủ bao hàm ba nội dung cơ bản là nội dung chính trị dân chủ chính trị , nội dung văn minh nhân đạo dân chủ
xã hội là thành quả quan trọng nhất của văn minh và nhân đạo của loài người
và nội dung xã hội của dân chủ dân chủ xã hội là hình thức tồn tại của xã hội hiện đại
- Ý kiến thứ ba cho rằng, dân chủ cần được xem xét theo nhiều khía cạnh, nhưng với nghĩa chung nhất, phổ biến nhất, dân chủ là quyền lực thuộc
về nhân dân
- Ý kiến thứ tư của một số nhà khoa học, tôn vinh dân chủ là một công trình bi tráng trong hàng chục vạn năm của loài người Đó là khát vọng, lý tưởng chung mà hàng triệu con tim và khối óc cùng hướng tới, đấu tranh không mệt mỏi để giành lấy dù phải hy sinh xương máu Dân chủ là khát
Trang 16vọng mà chính chúng ta đang vươn tới
- Ý kiến thứ năm cho rằng, dân chủ không chỉ là một vấn đề chính trị hay xã hội, mà xét theo bề sâu chính là một vấn đề văn hóa Bởi thế, xử lý vấn
đề dân chủ không thể tách rời khỏi mối quan hệ truyền thống - hiện đại trong văn hóa Dân chủ còn là một yếu tố của văn hóa, một thành tựu của văn hóa
đã có từ lâu đời trong truyền thống văn hóa của dân tộc Theo các nhà kinh điển: dân chủ là sản phẩm tự quyết của nhân dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất cả ý trí, tài năng và lợi ích của họ; dân chủ là sản phẩm của đấu tranh giai cấp; quyền dân chủ bị chế định bởi tương quan giai cấp, trạng thái phát triển của sản xuất và trình độ văn hóa chung, trước hết là văn hóa chính trị của nhân dân; dân chủ là một hình thức Nhà nước mà ở đó thừa nhận quyền ngang nhau của dân cư trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý
xã hội [28, tr 129-130-131]
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do Dân chủ cũng được vận dụng vào các tổ chức và hoạt động của những tổ chức và thiết chế xã hội nhất định” [19]
Như vậy, dân chủ là vấn đề phức tạp, có nội dung khá rộng lớn Để hiểu rõ về dân chủ phải xem xét dân chủ ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, dù tiếp cận vấn đề này ở góc độ nào thì nhìn chung các ý kiến đều thống nhất với nhau một luận điểm chung đó là: “Dân chủ” là quyền lực thuộc
về nhân dân Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức và quản lý xã hội, phát triển con người, phát triển xã hội, do đó dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội
Ở Việt Nam, dân chủ còn được hiểu như một mục tiêu phấn đấu của
Trang 17dân tộc đã được ghi rõ trong Hiến pháp: “Thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Những mục tiêu đó có mối quan
hệ mật thiết với nhau và không thể tách rời vì dân có giàu thì nước mới mạnh,
có dân chủ thì mới có công bằng xã hội, có dân chủ thực sự thì dân mới giàu
và nước mới mạnh Đồng thời, hệ thống chính trị ở nước ta dựa trên thiết chế
“Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Việc phát huy, thực hiện dân chủ được tiến hành không thể tách rời khỏi thiết chế này
Như vậy, dân chủ là chế độ chính trị, là quyền lực thuộc về nhân dân Nhân dân sử dụng sức mạnh quyền lực để thực hiện quyền làm chủ của mình, dân chủ cũng là đặc điểm cơ bản của một xã hội công bằng, văn minh Ở nước ta, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ dân chủ của đa số nhân dân trong xã hội vì chế độ đó là “của dân, do dân, vì dân”
1.1.2 Khái niệm về dân chủ cơ sở, Quy chế dân chủ ở cơ sở
Theo TS Trương Hồ Hải: “Ở bất cứ đất nước nào, xã hội nào, tổ chức nào, nếu xét theo cấu trúc thì cũng bao gồm một hệ thống từ nhỏ đến lớn Mà những cấu trúc nhỏ này nếu xét trong một hệ thống thì nó có tư cách như một chỉnh thể tương đối hoàn chỉnh, độc lập nhưng lại có sự thống nhất tạo nên một nền tảng cho toàn bộ hệ thống thì đó được gọi là cơ sở” [18, tr 209-211]
Cơ sở là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống chính trị ở nước ta Cơ sở (xã, phường, cơ quan, trường học, là địa bàn nhân dân sinh sống, lao động, sản xuất, công tác, học tập, là nơi trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước trên các mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh , là nơi mà quyền dân chủ của nhân dân cần được thực thi một cách đúng đắn và có hiệu quả
Cơ sở cũng là nơi thường xuyên diễn ra sự tiếp xúc trực tiếp giữa nhân dân với đảng bộ, chính quyền địa phương trong điều hành xử lý các công việc hàng ngày Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của
Trang 18việc thực hiện dân chủ và luôn đặt sự phát triển dân chủ gắn liền với Hiến pháp và pháp luật
Đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận đánh giá cao vai trò của dân chủ, dân chủ cơ sở Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện để nhân dân phát huy được sức mạnh làm chủ của nhân dân và thực hiện đúng chủ trương “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” vì chỉ khi dân chủ được thực thi từ cơ sở thực sự thì các công việc của Nhà nước mới đạt được hiệu quả cao, tạo được uy tín, lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước
Điều 6 Hiến pháp năm 2013 quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” [27]
+ Dân chủ trực tiếp: là nhân dân trực tiếp thực hiện quyền lực Nhà nước Tức là nhân dân thể hiện một cách trực tiếp quyết định, phản ảnh đúng
ý chí, nguyện vọng của mình trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước, quản lý xã hội đến các cơ quan có thẩm quyền Hình thức biểu hiện của dân chủ trực tiếp như ứng cử, bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân, thực hiện Quy chế dân chủ
cơ sở, trưng cầu dân ý
+ Dân chủ đại diện: là hình thức nhân dân thông qua các cơ quan Nhà nước, các cá nhân được nhân dân ủy quyền để thực hiện ý chí của nhân dân Dân chủ đại diện có ưu điểm là với hình thức này nhân dân quản lý được mọi mặt đời sống xã hội, nhưng có hạn chế là ý chí, nguyện vọng của nhân dân phải qua trung gian của người đại diện, có thể nội dung đề đạt chưa đúng như mong muốn của nhân dân bởi nhiều lý do như quan điểm nhìn nhận vấn đề, trình độ nhận thức
Thực hiện dân chủ cơ sở là việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách thường xuyên nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhân
Trang 19dân Để dân chủ được triển khai một cách sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội thì phải cần có một Quy chế
Quy chế dân chủ ở cơ sở là văn bản pháp luật về trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong việc bảo đảm người dân được thực hiện đầy đủ các quyền
và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định pháp luật; đảm bảo để nhân dân được biết, được bàn, được thực hiện và được kiểm tra các công việc của chính quyền cơ sở
Ngoài ra, Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" Nội dung của Quy chế là phát huy dân chủ ở cơ sở phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, dân chủ đi đôi với trật tự, kỷ cương; quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ; chống quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và lợi dụng dân chủ vi phạm pháp luật
1.1.3 Đặc điểm của Quy chế dân chủ ở cơ sở
Việc ban hành Quy chế dân chủ cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sự đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, chính quyền trong sạch, vững mạnh góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Quy chế dân chủ ở cơ sở thực hiện phải đảm bảo nhân dân được biết, tham gia đóng góp ý kiến, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp
xã
Quy chế dân chủ ở cơ sở thực hiện phải bảo đảm trật tự, kỷ cương, phù hợp với Hiến pháp và pháp luật quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể, quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 20Quy chế dân chủ ở cở sở thực hiện công khai, minh bạch, đồng thời phải bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
Quy chế dân chủ ở cơ sở thực hiện là phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"
1.1.4 Quan điểm của Đảng và quy định của Nhà nước trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
- Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Chỉ thị nêu rõ
“Nhà nước cần ban hành Quy chế dân chủ ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện Quy chế dân chủ cần được xây dựng cho từng loại cơ sở, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu, cơ quan hành chính phù hợp với từng loại cơ sở”
- Ngày 15/5/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã và đã được sửa đổi, bổ sung thay thế bằng Nghị định số 79/2003//NĐ-CP ngày 7/7/2003
- Ngày 8/9/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 71/1998/NĐ-CP về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan
- Ngày 13/02/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/1999/NĐ-CP
về thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước
- Ngày 28/3/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
- Ngày 20/4/2007, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh
số 34/2007/ PL - UBTVQH12 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Trang 21- Ngày 28/5/2007, Chính Phủ ban hành Nghị định số 87/2007/NĐ-CP
về thực hiện dân chủ ở công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn
- Kết luận số 65-KL/TW ngày 04/3/2010 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ
- Ngày 19/6/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
60/2013/NĐ-CP quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 của Bộ luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc
- Ngày 09/01/2015, Chính phủ ban hành Nghị định 04/2015/NĐ-CP quy định về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập
Ngoài những văn bản trên quy định về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ
sở, còn có một số văn bản pháp luật khác có liên quan như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức chính quyền địa phương, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Cán bộ, công chức, Luật thanh tra
Nhìn chung, các văn bản pháp được ban hành một cách kịp thời và là
cơ sở pháp lý vững chắc trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy hiệu quả quyền làm chủ của nhân dân, từng bước đẩy lùi các tệ nạn nhũng nhiễu, cửa quyền, hách dịch, tham nhũng của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ, góp phần làm trong sạch bộ máy Nhà nước, tạo động lực xây dựng, phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh hơn
Trang 221.2 Nội dung thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 20/4/2007 quy định về việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn như sau:
1.2.1 Những nội dung, hình thức công khai để nhân dân biết
* Những nội dung công khai để nhân dân biết
1 Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã
2 Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương
án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương
án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã
3 Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân
4 Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp
5 Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế
6 Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã
7 Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
8 Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn
Trang 23đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy
ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này
9 Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu
10 Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện
11 Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
* Hình thức công khai để nhân dân biết
- Niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 20/4/2007 cũng quy định rõ những nội dung quy định tại các khoản 2, 3, 9 và 10 nêu trên phải được niêm yết công khai tại trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã
Chính quyền cấp xã có trách nhiệm niêm yết những nội dung quy định tại khoản 1 nêu trên chậm nhất là hai ngày, kể từ ngày văn bản được thông qua, ký ban hành đối với những việc thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền cấp xã hoặc kể từ ngày nhận được văn bản đối với những việc thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan nhà nước cấp trên
Thời gian niêm yết các nội dung quy định tại khoản 2 và khoản 9 nêu trên ít nhất là ba mươi ngày liên tục, kể từ ngày niêm yết; các nội dung quy định tại khoản 3 và khoản 10 nêu trên được niêm yết thường xuyên
- Công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã
Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 của
Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội cũng quy định rõ những nội dung quy định tại các khoản 1, 4, 5, 6, 7, 8 và 11 nêu trên được công khai trên hệ thống truyền
Trang 24thanh của cấp xã hoặc gửi đến Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân
Trường hợp công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã thì thời hạn công khai là ba ngày liên tục
- Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân
- Có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai nêu trên
1.2.2 Những nội dung, hình thức nhân dân bàn và quyết định
Về nhân dân bàn có 2 loại gồm:
- Một loại công việc do nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
- Một loại công việc do nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định
* Những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
Những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp:
1 Về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng
2 Các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật
* Hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp
- Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp những nội dung quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm
2007 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội bằng một trong các hình thức sau đây:
+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố
+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
- Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc
Trang 25biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố hoặc trong toàn cấp xã thì tổ chức lại cuộc họp
- Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
* Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định
Những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết bao gồm:
1 Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố
2 Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
3 Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu
tư của cộng đồng
* Hình thức nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định
- Nhân dân bàn và biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định những nội dung quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày
20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội một trong các hình thức sau đây:
+ Tổ chức cuộc họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố
+ Phát phiếu lấy ý kiến tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
- Trường hợp tổ chức họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình thì việc biểu quyết được thực hiện bằng hình thức giơ tay hoặc bỏ phiếu kín; hình thức biểu quyết do hội nghị quyết định; nếu số người tán thành chưa đạt quá 50% tổng số cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố thì
tổ chức lại cuộc họp
- Trường hợp không tổ chức lại được cuộc họp thì phát phiếu lấy ý kiến
Trang 26tới cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình, trừ việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố
1.2.3 Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định
* Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến
1 Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã
2 Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã
3 Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ
sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư
4 Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã
5 Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết
* Hình thức để nhân dân tham gia ý kiến
- Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố
- Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình
- Thông qua hòm thư góp ý
1.2.4 Những nội dung, hình thức nhân dân giám sát
* Những nội dung nhân dân giám sát
Nhân dân giám sát việc thực hiện các nội dung như sau:
1 Những nội dung nhân dân biết
Trang 272 Những nội dung nhân dân bàn và quyết định
3 Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định
* Hình thức để thực hiện việc giám sát của nhân dân
- Nhân dân thực hiện việc giám sát thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
Trình tự, thủ tục hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng được thực hiện theo quy định của pháp luật
- Nhân dân trực tiếp thực hiện việc giám sát thông qua quyền khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận cấp xã, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng
Trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật
1.2.5 Nội dung các bước trong tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ
- Kế hoạch tổ chức điều hành: Gồm dự kiến các cơ quan chủ trì và phối họp triển khai thực hiện, số lượng nhân sự tham gia tổ chức thực hiện, quyền
và trách nhiệm của từng cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện, cơ chế
Trang 28tác động của giữa cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
- Kế hoạch triển khai thực hiện: Dự kiến việc tổ chức triển khai và thời gian tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
- Kế hoạch kiểm tra việc thực hiện chính sách: Dự kiến phương pháp kiểm tra việc tổ chức thực hiện…
* Phổ biến, tuyên truyền các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường
Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước là một trong những bước quan trọng trong việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường vì việc tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách pháp luật được thực hiện tốt sẽ giúp cho cán bộ, công chức, Đảng viên và nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng đắn về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ cở ở Phường để nhân dân thực hiện đúng vai trò làm chủ của mình góp phần xây dựng chính quyền địa phương, xây dựng đất nước ngành càng giàu mạnh; đồng thời giúp cho cán bộ, công chức hiểu rõ quyền và trách nhiệm của mình trong việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở để việc tổ chức, thực hiện đạt hiệu quả cao
Tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng
và Nhà nước về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường bằng nhiều hình thức như: tổ chức các buổi tuyên truyền miệng, các buổi tọa đàm, lồng ghép tuyên tuyền qua các buổi họp giao ban khu phố, tổ dân phố…hoặc tuyên truyền, phổ biến thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: các đài phát thanh…
* Phân công phối hợp thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường
Phân công phối hợp thực hiện cũng là một bước khá quan trọng trong việc tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ, vì có sự phân công rõ ràng thì các cơ
Trang 29quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân hiểu rõ được quyền và trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức và sẽ có sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ hơn, đạt được kết quả tốt hơn, nếu không có sự phân công rõ ràng sẽ dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, thiếu phối hợp dẫn đến công việc bị trì trệ, hiệu quả không cao
* Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra, thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở
Phường
Đôn đốc, theo dõi, kiểm tra là chức năng, nhiệm vụ quan trọng, tất yếu khách quan trong việc tổ chức thực hiện Quy chủ cơ sở ở Phường Vì có đôn đốc, theo dõi, kiểm tra mới đảm bảo các cơ quan, tổ chức, cá nhân được phân công nhiệm vụ thực hiện đúng theo quy định, có chất lượng và kịp thời phát hiện những thiếu sót nếu có để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, rút kinh nghiệm ngay
Việc đôn đốc, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
ở Phường được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục và phải bảo đảm các yêu cầu kiểm tra, đánh giá kết luận khách quan, đúng quy định, nhằm đánh giá đúng thực trạng của việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường
* Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
ở Phường
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ
sở ở Phường là bước rất quan trọng và cần thiết trong tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường vì quá trình này nhằm xem xét, đánh giá vai trò của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tham gia thực hiện Quy chế dân chủ
Trang 301.3 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
1.3.1 Chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện Quy chế dân chủ ở
cơ sở
Hệ thống văn bản của Đảng và Nhà nước tạo hành lang pháp lý vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức và Nhân dân trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở như:
Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 11/05/1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã
Sau khi triển khai thực hiện được một thời gian, ngày 28/03/2002, Ban
Bí thư Trung ương ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Ngày 7/7/2003, Chính phủ ban hành Nghị định 79/2003/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã thay thế cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP
Ngày 20/4/2007, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/ PL - UBTVQH12 về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn
Ngoài các văn bản nêu trên Đảng và Nhà nước còn ban hành một số văn bản có liên quan nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Quy chế dân chủ
ở cơ sở ngày một hiệu quả hơn
Nhìn chung, Đảng và Nhà nước ta nhận thức sâu sắc về vai trò, tầm quan trọng của việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nên các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước được ban hành rất kịp thời đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội, là cơ sở pháp lý để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình một cách đúng đắn, đạt hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền vững mạnh hơn
Trang 311.3.2 Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức Đảng ở cơ sở
Với vai trò lãnh đạo Đảng ủy phường chỉ đạo các Chi bộ, đảng viên, các tổ chức Chính quyền, Đoàn thể đưa Quy chế dân chủ vào cuộc sống, đồng thời tập trung chỉ đạo thể chế hóa Quy chế dân chủ ở cơ sở thành các chương trình phát triển kinh tế - xã hội
Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở đạt chất lượng và hiệu quả cao thì mỗi đảng viên của tổ chức Đảng ở cơ sở, phải nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của mình, của tổ chức Đảng ở cơ sở trong việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Qua nhiều năm thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nhận thấy rằng tổ chức Đảng ở cơ sở quán triệt đầy đủ, sâu sắc, xác định đúng vai trò lãnh đạo toàn diện, chỉ đạo trực tiếp và thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ ở cơ sở thì kết quả đạt được và cán bộ, đảng viên, nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng, làm theo
1.3.3 Công tác tổ chức thực hiện của chính quyền và vai trò của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể quần chúng ở cơ sở
Cán bộ, công chức phường có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức
và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở được tổ chức thực hiện có chất lượng, đạt hiệu quả cao phần lớn phụ thuộc vào công tác tổ chức thực hiện của chính quyền cấp xã
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở cơ sở cũng giữ vai trò tuyên truyền, phổ biến cho các đoàn viên, hội viên và nhân dân hiểu rõ quyền
và trách nhiệm của mình trong việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở
Trên thực tế nhiều nơi công tác thực hiện Quy chế dân chủ còn mang tính hình thức Công tác tuyên truyền, phổ biến cho người dân về tầm quan trọng, nội dung, hình thức của việc thực hiện Quy chế dân chủ không được tổ chức có chiều sâu, có chất lượng, dẫn đến người dân không nhận thức đúng
Trang 32đắn về việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Từ đó, người dân ít quan tâm đến vấn đề chính trị, văn hóa xã hội, quyền làm chủ của mình khi thực hiện Quy chế dân chủ
1.3.4 Trình độ, năng lực, nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức
Đội ngũ cán bộ, công chức phường có trình độ, năng lực, được đào tạo, bồi dưỡng tốt, nhận thức sâu sắc về vị trí, tầm quan trọng trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường là một trong những yếu tố quan trọng đem lại kết quả cao trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường Vì đội ngũ này là những người trực tiếp truyền tải những nội dung, hình thức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở Phường đến với nhân dân một cách thấu đáo nhất, giúp nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng đắn về quyền làm chủ của mình trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường
Ngoài ra, Nhà nước thường xuyên tạo mọi điều kiện, tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức lý luận và trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức Phường đáp ứng yêu cầu công việc được giao,
có nhận thức đúng đắn, có trách nhiệm trong công việc phát huy tốt vai trò của mình trong quá trình thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường
Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, công chức Phường phải luôn học hỏi, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ và phải luôn gần gũi với nhân dân, lắng nghe, tiếp thu ý kiến góp ý của nhân dân nhằm củng cố lòng tin trong nhân dân Vì chỉ khi nhân dân tin tưởng, ủng hộ, tích cực hưởng ứng tham gia, thì các công việc của chính quyền địa phương mới thực sự đạt kết quả cao
1.3.5 Đặc điểm địa bàn dân cư, trình độ dân trí
Địa bàn dân cư, trình độ dân trí cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường Vì trình độ dân trí chưa cao dẫn đến người dân chưa hiểu rõ, nhận thức chưa
Trang 33đúng đắn các chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước dẫn đến việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở Phường một số khó khăn
Địa bàn dân cư phức tạp, trình độ dân trí thấp, không đồng đều thì việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở gặp nhiều khó khăn và không mang lại hiệu quả cao
Tiểu kết Chương 1
Dân chủ ở cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và cũng
là nơi thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp
Quy chế dân chủ ở cơ sở đã được thực hiện một cách rộng rãi và đi vào
nề nếp Dân chủ ở cơ sở làm cho bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa được bộc
lộ rõ ở khắp nơi, mọi công dân đều được phát huy hết khả năng, trách nhiệm của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, điều quan trọng là thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở phải thực sự hiệu quả và chất lượng Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu, sự nhận thức đúng đắn của Đảng, chính quyền và nhân dân về việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
Nhìn chung, trong chương 1, tác giả đã nêu rõ một số khái niệm về dân chủ, dân chủ cơ sở, Quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc điểm, nội dung thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở và các yếu tố tác động đến việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở Đây là cơ sở lý luận để phân tích, đánh giá việc thực hiện và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở
phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở PHƯỜNG TÂN ĐỊNH, QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Phường Tân Định là một vùng đất bao gồm các khóm của phường Trần Quang Khải cũ , được bao bọc bởi các tuyến đường giao thông, đồng thời cũng là ranh giới tự nhiên phân chia phường Tân Định với các phường lân cận Phường Tân Định có diện tích tự nhiên 0,63 km2, hướng Bắc và một phần hướng Tây được bao bọc bởi kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè cùng tuyến đường Hoàng Sa, giáp ranh quận Phú Nhuận; hướng Đông là đường Đinh Tiên Hoàng và hướng Đông Nam là đường Võ Thị Sáu, tiếp giáp với phường
Đa Kao; hướng Tây Nam là đường Hai Bà Trưng, tiếp giáp Quận 3 Trục đường trung tâm, xuyên suốt trên địa bàn phường là đường Trần Quang Khải, tuyến đường nối với các tuyến đường Hai Bà Trưng, Nguyễn Văn Nguyễn, đường Bà Lê Chân, đường Trần Nhật Duật, đường Trần Khắc Chân, đường Nguyễn Hữu Cầu, Đinh Tiên Hoàng tạo thành mạng lưới giao thông liên hoàn [12, tr 7]
Phường Tân Định là một trong những phường tập trung đông dân cư nhất của Quận 1 Theo thống kê năm 2017, toàn phường có 7.693 hộ thường trú, 27.319 nhân khẩu, được chia thành 9 khu phố, 152 tổ dân phố Dân cư trên địa bàn phường Tân Định chủ yếu người Kinh chiếm 95,71% dân số, người Hoa chiếm 4,07% dân số, người Khme chiếm 0,05% dân số, người Chăm chiếm 0,02% dân số, còn lại 0,15% dân tộc thiểu số khác sinh sống Đảng bộ phường Tân Định có 22 chi bộ trực thuộc, với 698 đảng viên đảng
Trang 35viên hưu trí là 543, đương chức là 155 Dân cư trên địa bàn phường Tân Định hiện nay phần đông là người lao động, tiểu thương, cán bộ, công chức
Nội trong phạm vi phường Tân Định có nhiều đường mang tên các danh tướng như: đường Trần Khắc Chân, đường Trần Quý Khoách, đường Trần Khánh Dư Đặc biệt là đường Trần Quang Khải, nằm giữa trung tâm phường, có trụ sở làm việc của Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phường Tân Định, Ủy ban mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội, Ban Chỉ huy quân sự phường, trạm y tế phường Có những con đường tồn tại từ thời cổ xưa, có đường phố mới, hiện đại như đường Hoàng Sa, có đường buôn bán sầm uất nổi tiếng như đường Hai Bà Trưng, đường Trần Quang Khải, đường Võ Thị Sáu… Riêng tuyến đường Hoàng Sa không chỉ là trục giao thông quan trọng, mà còn là công trình trọng điểm của Thành phố mang nhiều ý nghĩa lớn về phát triển đô thị theo hướng hiện đại, cải tạo cảnh quan môi trường Vị trí địa lý tự nhiên của phường Tân Định có quá trình đô thị hóa từ rất lâu, có thế mạnh, tiềm năng lớn về kinh tế, văn hóa – xã hội và quốc phòng – an ninh [12, tr 9-10]
Về đời sống: Nhân dân trên địa bàn phường có đời sống trung bình, ổn định Hầu hết các hộ dân đều có đủ phương tiện nghe nhìn, sử dụng nước sạch, có điện chiếu sáng, 98% người ở độ tuổi lao động có việc làm ổn định, 100% trẻ em trong độ tuổi đều đến trường Theo thống kê năm 2017 phường còn 34 hộ nghèo, 87 hộ cận nghèo, không còn hộ nghèo có thu nhập dưới 16.000.000 đồng/người/năm Tuy nhiên, cuộc sống của nhân dân cũng đã chịu ảnh hưởng không nhỏ trong tình kinh tế hiện nay
Về phát triển kinh tế: Trên địa bàn phường Tân Định, hiện có 125 cơ quan, doanh nghiệp theo phân cấp quản lý; 1.946 hộ kinh doanh cá thể, trong
đó chợ Tân Định có 899 thương nhân đang kinh doanh; 952 công ty, doanh
Trang 36nghiệp, chủ yếu hoạt động ngành thương mại, dịch vụ, ăn uống có quy mô vừa và nhỏ trên các tuyến đường [12, tr 17]
Về văn hóa xã hội: Phường xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, văn hóa ứng xử trong giao tiếp, thông qua cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa dân cư” Thực hiện tốt việc vận động 100% hộ gia đình đăng ký gia đình văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, lễ hội và các loại hình sinh hoạt xã hội khác Giới thiệu việc làm, chăm lo đời sống với các diện chính sách, các hộ trong chương trình xóa đói giảm nghèo; thực hiện tốt công tác chính sách, giải quyết tích cực các vấn đề xã hội
Về quốc phòng - an ninh: Phường xây dựng lực lượng công an, quân sự vững mạnh toàn diện, giữ vững tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn phường, thực hiện phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, phòng chống tội phạm đạt loại khá, chuyển hóa địa bàn, xây dựng khu dân cư an toàn Hàng năm phấn đấu giảm tỷ lệ tội phạm pháp hình sự 5%, tỷ
lệ phá án đạt 70% trở lên, duy trì chỉ tiêu cán bộ sai phạm dưới 1% Tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân, hoàn thành 100% chỉ tiêu gọi thanh niên nhập ngũ, tập trung huấn luyện đối với quân sự dự bị đạt 100%, tham gia diễn tập phòng thủ hàng năm đạt kết quả cao theo yêu cầu của Thành phố, của Quận
Từ những đặc điểm trên ta nhận thấy được những đặc điểm này tác động đến việc triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:
Thứ nhất, phường Tân Định có điều kiện tự nhiên đa dạng phong phú,
cơ sở hạ tầng phát triển, giao thông thuận tiện, thu hút nhiều doanh nghiệp phát triển kinh doanh trên địa bàn phường, đa số nhân dân chấp hành tốt các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, tình hình an ninh
Trang 37chính trị tương đối ổn định là nền tảng thuận lợi cho việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường
Thứ hai, đội ngũ cán bộ, công chức của phường có phẩm chức đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ, có trách nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao và triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đạt được hiệu quả Hàng năm, Ủy ban nhân dân phường thực hiện các biện pháp đánh giá phân loại cán bộ, công chức, kiên quyết thay thế cán bộ yếu kém, cán bộ lợi dụng nhiệm vụ để trục lợi cá nhân Sắp xếp cán bộ theo chương trình cải cách hành chính, chủ động phát triển đào tạo đội ngũ cán bộ kế thừa
Thứ ba, trong những năm qua hầu hết các chỉ tiêu về kinh tế - xã hội cơ bản đều đạt và vượt mức Tình hình an ninh chính trị - trật tự đô thị luôn giữ vững, không để xảy ra vấn đề nghiêm trọng nào Những bức xúc của người dân luôn được kịp thời giải quyết có hiệu quả Hệ thống chính trị từ phường đến tổ dân phố được củng cố và kiện toàn; các phong trào quần chúng được quan tâm và hoạt động có chiều sâu Đời sống của nhân dân ngày được cải thiện và nâng cao, trong đó các đối tượng chính sách được tập trung quan tâm
và chăm lo ngày càng tốt hơn… Nhân dân ngày càng tin tưởng hơn vào sự lãnh đạo của Đảng, của chính quyền địa phương trong việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
Thứ tư, các cấp ủy Đảng, ban điều hành khu phố, tổ dân phố làm tốt công tác phổ biến tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân về Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn” của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI Tổ chỉ đạo Quy chế dân chủ cơ sở của phường đã tham mưu Đảng ủy, chính quyền địa phương tăng cường việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trên cơ
sở thực hiện nhiệm vụ trọng tâm hàng năm, thông qua việc thực hiện Nghị quyết lãnh đạo của Đảng ủy về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở
Trang 38Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi còn có những tồn tại, hạn chế: Công tác tuyên truyền, phổ biến Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày
20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội và các văn bản có liên quan đến việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở chưa thật sự sâu rộng trong nhân dân Nguyên nhân chủ yếu là do một số hộ dân đã cho thuê nhà, không cư trú thực tế tại địa phương hoặc đi công tác thường xuyên dẫn đến trong các buổi hội nghị nhân dân tỷ lệ người đến tham dự chưa đầy đủ
2.2 Thực trạng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Thực trạng thực hiện các bước trong tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
* Thực hiện ây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Quy chế dân chủ
cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy ban nhân dân phường Tân Định nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác chỉ đạo triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở mà
cụ thể là Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20 tháng 4 năm 2007 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội, đồng thời xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong việc mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước Việc xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở phường Tân Định, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện qua các hoạt động sau:
Tổ chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở của phường đã tham mưu cho Đảng ủy quán triệt những nhiệm vụ, giải pháp của Ban chỉ đạo Quy chế dân chủ cơ sở Thành phố, Quận về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở theo từng năm; chỉ đạo các cấp ủy tập trung nâng cao chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở đưa nội dung thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở vào Nghị quyết lãnh