1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điểm mới về tội phạm và hình phạt trong Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017

20 235 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 47,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 27112015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Bộ luật hình sự (BLHS) sửa đổi. Đến ngày 20062017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015),theo đó, Bộ luật gồm 3 phần, 26 chương, 426 điềuso với Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là BLHS 1999),có nhiều điểm mới quan trọng về tội phạm và hình phạt trong phần chung của BLHS năm 2015. rõ ràng “phải bị xử lý hình sự” là một dấu hiệu (về hậu quả pháp lý) của tội phạm và việc Bộ luật Hình sự năm 1999 không khái quát dấu hiệu này trong khái niệm tội phạm là chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn khách quan. Đây là một điểm hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999 và khi Bộ luật Hình sự năm 2015 được ban hành thì các nhà làm luật mới khắc phục hạn chế đó bằng cách tạo ra cơ sở pháp lý khẳng định tội phạm phải bị xử lý hình sự là một dấu hiệu của tội phạm nhằm nhấn mạnh tính răn đe, phòng ngừa, giáo dục, ngăn ngừa tội phạm mới cũng như khẳng định tính tất yếu khách quan của quy định này.

Trang 1

CỦA BLHS NĂM 2015.

Ngày 27-11-2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua

Bộ luật hình sự (BLHS) sửa đổi Đến ngày 20/06/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là BLHS năm 2015),theo đó, Bộ luật gồm 3 phần, 26 chương, 426 điềuso với Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là BLHS 1999),có nhiều điểm mới quan trọng về tội phạm và hình phạt trong phần chung của BLHS năm 2015, được thể hiện cụ thể như sau

1 Những điểm mới về khái niệm tội phạm và phân loại tội phạm của BLHS năm 2015.

- Khái niệm tội phạm, khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự,

do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của

tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự”.

Thứ nhất, về khách thể của tội phạm, so với khái niệm tội phạm của các

Bộ luật Hình sự trước đó thì khái niệm tội phạm trong BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm “quyền con người” vào các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo

vệ Sự bổ sung này là nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 (Điều 3 và chương II)

Thứ hai, về chủ thể của tội phạm, chủ thể của tội phạm đã được mở rộng

hơn, bao gồm Con người và pháp nhân thương mại

Thứ ba, về hậu quả pháp lý của tội phạm: Trong khái niệm tội phạm của

Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định về tính phải bị xử lý hình sự nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý khi phân tích về tội phạm thì tính phải bị

xử lý hình sự vẫn mặc nhiên được thừa nhận

Trang 2

Bởi lẽ, xuất phát từ mỗi quy định về phần các tội phạm trong Bộ luật Hình sự năm 1999 bao giờ cũng có quy định về hình phạt tương ứng kèm theo hoặc các biện pháp xử lý hình sự khác Có nghĩa, chỉ có tội phạm mới “phải

bị xử lý hình sự” hay “phải bị xử lý hình sự” chỉ gắn liền với tội phạm

Do đó, rõ ràng “phải bị xử lý hình sự” là một dấu hiệu (về hậu quả pháp

lý) của tội phạm và việc Bộ luật Hình sự năm 1999 không khái quát dấu hiệu này trong khái niệm tội phạm là chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn khách quan Đây là một điểm hạn chế của Bộ luật Hình sự năm 1999 và khi Bộ luật Hình

sự năm 2015 được ban hành thì các nhà làm luật mới khắc phục hạn chế đó bằng cách tạo ra cơ sở pháp lý khẳng định tội phạm phải bị xử lý hình sự là một dấu hiệu của tội phạm nhằm nhấn mạnh tính răn đe, phòng ngừa, giáo dục, ngăn ngừa tội phạm mới cũng như khẳng định tính tất yếu khách quan của quy định này

Đặc điểm này không phải là thuộc tính bên trong của tội phạm như các đặc điểm trên.Điều 8 BLHS năm 1999 không để cặp dấu hiệu này trong định nghĩa tội phạm Hành vi bị coi là tội phạm vi về nội dung, có tỉnh nguy hiểm cho xã hội và về hình thức, được quy định trong BLHS chứ không phải vì

“phải bị xử lý hình sự” Ngược lại, hành vi “phải bị xử lý hình sự” vì là tội phạm Tuy nhiên, đặc điểm “phải bị xử lý hình sự” cần được coi là dấu hiệu

của tội phạm vì nó được xác định bởi chính những thuộc tính khách quan bên trong của tội phạm Chỉ có hành vi phạm tội mới “phải bị xử lý hình sự”; không có tội phạm thì cũng không có biện pháp “phải bị xử lý hình sự”

Đây là lý do mà BLHS năm 2015bổ sung đặc điểm “phải bị xử lý hình sự” trong định nghĩa khái niệm tội phạm tại Điều 8

Nói tội phạm “phải bị xử lý hình sự” có nghĩa là bất cứ ' hành vi phạm

tội nào, do tỉnh nguy hiểm cho xã hội cũng đều bị đe dọa “phải bị xử lý hình sự” Nhưng điều đó không có nghĩa là việc áp dụng và thi hành trong thực tế hiện pháp xử lý hình sự,_ trong đó có hình phạt và các biện pháp tư pháp có tính chất bắt buộc tuyệt đối cho mọi trường hợp phạm tội

Trong thực tế vẫn có trường hợp người phạm tội không phải chịu các biện pháp này.Đó là những trường hơp được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt hoặc được miễn chấp hành hình phạt được quy định tại các điều 29, 59, 62 và 65 của BLHS

Trang 3

Như vậy, so với BLHS năm 1999, khái niệm tội phạm trong BLHS năm

2015 đã có nhiều điểm mới bổ sung theo hướng chặt chẽ, khoa học và phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ở nước ta

- Điểm mới về phân loại Tội phạm.

Điều 9.Phân loại tội phạm.

“ 1 Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại sau đây:

a) Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

b) Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

c) Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm tù đến 15 năm tù;

d) Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do

Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

2 Tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều này và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này.”.

Cách phân loại tội phạm giống như cách phân loại tội phạm trong BLHS năm 1999 Tuy nhiên, BLHS năm 2015 diễn đạt dấu hiệu mức cao nhất của khung hình phạt cụ thể, rõ ràng hơn qua việc thể hiện cả mức cao nhất tối thiểu và mức cao nhất tối đa

Ngoài ra, trong khi phân loại BLHS năm 2015 sử dụng thống nhất đầu

hiệu “nguy hiểm cho xã hội” cho tội phạm nói chung cũng như của từng loại tội phạm và chỉ bổ sung từ xác định mức độ “nguy hiểm cho xã hội” ở mỗi

Trang 4

loại tội phạm (không lớn; lớn, rất lớn và đặc biệt lớn) Trước đó, BLHS năm

1999 sử dụng dấu hiệu nguy hiểm cho xã hội ở tội phạm nói chung còn sử dụng dấu hiệu nguy hại cho xã hộikhi phân loại tội phạm

Khoản 2 của điều luật là nội dung được bổ sung theo BLHS năm 2015 Việc bổ sung này xuất phát từ quy định có tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện nên phải có các quy định cho tội phạm này tương ứng với các quy định cho tội phạm do cá nhân thực hiện

Bộ BLHS năm 2015 bổ sung quy định về phân loại tội phạm đối với pháp nhân thương mại cụ thể là tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 9 và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của BLHS năm 2015

Bổ sung quy định này có ý nghĩa quan trọng để xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, thẩm quyền điều tra của cơ quan tiến hành tố tụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội; ngoài ra việc sửa đổi, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội có ý nghĩa rất quan trọng trong xét xử

2 Thu hẹp độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

Khoản 2, Điều 12 quy định như sau:

“Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171,

173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304”

Theo đó người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình

sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại 28 điều luậttrong số 314 tội danh được quy định trong BLHS (chiếm

tỷ lệ 8,91%) thuộc 04 nhóm tội phạm: (1) Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; (2) Các tội xâm phạm sở hữu; (3) Các tội phạm về ma túy; (4) Các tội xâm phạm an toàn công cộng

So với BLHS năm 1999, quy định của BLHS năm 2015 giới hạn phạm

vi phải chịu trách nhiệm hình sự của người trong độ tuổi 14 đến dưới 16 tuổi hẹp hơn, BLHS năm 1999 chỉ giới hạn theo loại tội phạm còn BLHS năm

Trang 5

2015 không chỉ giới hạn theo tội phạm mà còn giới hạn trong phạm vi một số tội phạm

3 Trường hợp chuẩn bị phạm tội (Điều 14)

“1 Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này.

2 Người chuẩn bị phạm tội quy định tại một trong các điều 108, 109,

110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168,

169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.

3 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội quy định tại Điều 123, Điều 168 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.”.

So với BLHS năm 1999, Có ba điểm mới rất quan trọng, đó là

Khái niệm được mở rộng về nội hàm “chuẩn bị phạm tội”, theo đó,

“chuẩn bị phạm tội” bao gồm cả hành vi “thành lập, tham gia nhóm tội phạm”; đồng thời bổ sung quy định loại trừ đối với các trường hợp mà hành

vi chuẩn bị phạm tội cấu thành một tội phạm cụ thể quy định tại Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và điểm a khoản 2 Điều 299 (tội khủng bố) của BLHS

Thu hẹp phạm vi xử lý hình sự đối với người có hành vi chuẩn bị phạm tội, quy định rõ trong 25 tội danh thuộc 04 nhóm tội phạm (các tội xâm phạm

an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm an toàn công cộng,người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự

Đây là một điểm mới của chế định chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật

Trên cơ sở quy định này, lần đầu tiên, BLHS năm 2015 đã quy định một khung hình phạt riêng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội ngay trong từng điều luật quy định về các tội danh cụ thể

Khoản 3 quy định riêng đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 02 tội danh: giết

Trang 6

người và cướp tài sản (bởi đây là những tội đặc biệt nguy hiểm, có tính bạo lực cao, xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người, cần được quy định để phòng ngừa, xử lý, ngăn chặn sớm trước khi có thể xảy ra trên thực tế

So với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 giới hạn phạm vi các hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự hẹp hơn và có sự phân biệt giữa trường hợp chủ thể từ đủ 16 tuổi trở lên với trường hợp chủ thể từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

4 Về đồng phạm.

Khoản 4, Điều 17, BLHS năm 2015 bổ sung quy định xác định trách nhiệm hình sự cụ thể trong trường hợp vượt quá của người thực hành, quy

định “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành”.

Quy định này thể hiện nguyên tắc chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện vụ đồng phạm Trong vụ đồng phạm, mỗi người đồng phạm tuy phải chịu trách nhiệm chung về tội phạm nhưng do trách nhiệm hình sự là trách nhiệm cá nhân nên việc xác định trách nhiệm hình sự cho từng người đồng phạm vẫn phải dựa trên cơ sở hành vi cụ thể của mỗi người

Do đó, mỗi người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm về hành vi vượt quá của người đồng phạm khác Trong đó hành vi vượt quá của người đồng phạm được hiểu là hành vi vượt ra ngoài ý định chung của những người đồng phạm và hành vi này có thể cấu thành tội phạm khác hoặc thỏa mãn dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng

5 Về không tố giác tội phạm

Điều 19 Không tố giác tội phạm

2 Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột,

vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3 Người không tố giác là người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc

Trang 7

biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”.

Điểm mới đó là mở rộng đối vớingười không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội về phải chịu trách nhiệm hình sự là là các tội phạm tại chương XIII và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, theo quy định của BLHS năm 1999 thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm an ninh quốc gia và các tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313

Mở rộng phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa về hành

vi không tố giác thân chủ, việc BLHS năm 2017 quy định người bào chữa phải chịu trách nhiệm hình sự nếu “không tố giác các tội quy định tại Chương XIII của Bộ luật này hoặc tội khác là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do chính người mà mình bào chữa đang chuẩn bị, đang thực hiện hoặc đã thực hiện mà người bào chữa biết rõ khi thực hiện việc bào chữa”, tức theo quy định này thì hành vi không tố giác thân chủ của người bào chữa đã mở rộng hơn so với BLHS 2015, không chỉ còn bó hẹp đối với việc không tố giác những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 389

BLHS năm 2017 quy định rõ việc chịu trách nhiệm hình sự của người bào chữa trong trường hợp không tố giác tội phạm như trên là hoàn toàn phù hợp, đảm bảo được nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và đáp ứng đầy đủ hơn, hiệu quả hơn cho công tác đấu tranh, phòng ngừa và chống các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác

Bởi thiết nghĩ thì chế định bào chữa trong luật hình sự là nhằm hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người bị buộc tội, nhưng nếu vì bảo

vệ quyền lợi của người phạm tội mà cố tình không tố giác những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác thì hệ quả của nó vô cùng lớn

5 Về loại trừ trách nhiệm hình sự

Được quy định thành một chương, Chương IV, gồm có 07 điều luật, theo

đó BLHS năm 2017 bổ sung có 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự Đây là chương mới được xây dựng tập hợp 4 điều luật đã có trong BLHS năm

1999 và 03 điều luật mới được bổ sung là 03 điều luật có cùng tính chất với trường hợp phòng vệ chính đáng và trường hợp tình thế cấp thiết

Trang 8

- “Điều 24 Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

1 Hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm.

2 Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Lần đầu tiên pháp luật hình sự nước ta ghi nhận về hành vi gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội là trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình

sự Việc ghi nhận này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn xét xử, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật hình sự

Việc bắt người phạm tội với mục đích bắt là để chuyển giao các đối tượng này cho cơ quan có thẩm quyền xử lý, đồng thời để người đó không tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc bỏ trốn sự truy nã của cơ quan tiến hành tố tụng Việc thực hiện hành vi gây thiệt hại là biện pháp bất đắc dĩ, cuối cùng, duy nhất, không còn cách nào khác ngoài việc dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ

Nếu không tiến hành ngay tức khắc, người đó sẽ chống trả, bỏ trốn hoặc tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng Người thực hiện hành vi trong khi bắt người phạm tội với trạng thái tâm lý là lỗi cố ý, nhằm mục đích ngăn ngừa việc tiếp tục phạm tội hoặc tẩu thoát

Việc thực hiện hành vi bắt người phải là hành vi hợp pháp, có căn cứ pháp lý như: Người bị bắt giữ đang thực hiện hành vi phạm tội quả tang, đang trốn tránh sự truy nã của cơ quan điều tra, có dấu hiệu thực tế chống trả… và người bắt giữ đã tiến hành các biện pháp khác, nhưng không còn cách nào khác là dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt

- Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25).

“Hành vi gây ra thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa thì không phải là tội phạm.

Trang 9

Người nào không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy

đủ biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự”.

Lần đầu tiên pháp luật hình sự nước ta ghi nhận về hành vi gây thiệt hại

do rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ: Người gây ra thiệt hại trong việc thực hiện hành vi khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới mặc dù đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa, cân nhắc cẩn thận, so sánh ý nghĩa, mục đích đặt ra với hậu quả rủi ro, không mong muốn xảy ra, hậu quả xảy ra phải nhỏ hơn, không đáng kể với mục đích nghiên cứu đạt được, nghiên cứu, thử nghiệm đó phải đem lại lợi ích lớn cho xã hội, cộng đồng thì không phải là tội phạm

Người nào không tuân thủ các quy trình, biện pháp phòng ngừa, gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự thì phải chịu TNHS

Cơ sở cho phép trong trường hợp này phải có một trong các hoạt động sau: Nghiên cứu; Thử nghiệm; Áp dung tiến bộ khoa học, kĩ thuật, công nghệ Mục đích của các hoạt động trên đây là nhằm đem lại lợi ích chung cho

xã hội Hành vi gây thiệt hại về tài sản, về kinh tế hoặc cũng có thể về thể chất khi thực hiện hoạt động trên được coi không phải là tội phạm khi:

Các quy trình, quy phạm có liên quan đến hoạt động đã được tiến hành được tuân thủ đúng và các biện pháp phòng ngừa trong điều kiện chung cho phép được áp dụng đầy đủ Chủ thể đã cố gắng hạn chế thấp nhất những thiệt hại hoặc rủi ro mà có thể lường thấy được, đã tiến hành các biện pháp cần thiết nhất để ngăn ngừa thiệt hại có thể xảy ra và thiệt hại, rủi ro xảy ra nằm ngoài mong muốn của chủ thể

Hai điều kiện trên đây thể hiện tính tuân thủ pháp luật cũng như sự thận trong của chủ thê trong việc cân nhắc các khả năng có thể xảy ra, lường trước các khả năng xâu để chuẩn bị các hiện pháp phòng ngừa cũng như hiện pháp

xử lý khi xảy ra

Hành vi rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học,

kỹ thuật và công nghệ phải nhằm đạt được mục đích duy nhất là đem lại lợi ích cho xã hội và mục đích này đã không thể đạt được, gây ra sự rủi ro với

Trang 10

chính việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ

- Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26)

“Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.

Quy định này không áp dụng đối với các trường hợp quy định tại khoản

2 Điều 421, khoản 2 Điều 422 và khoản 2 Điều 423 của Bộ luật này”.

Là chế định mới thể hiện nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật hình sự Việt Nam: Hành vi gây thiệt hại về mặt pháp lý hình sự có dấu hiệu nào đó bị pháp luật hình sự cấm trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự

Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự.Hành vi gây thiệt hại trong việc chấp hành chỉ thị là hành vi nguy hiểm cho

xã hội, bị pháp luật hình sự cấm, do chủ thể thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên gây ra

Người thi hành mệnh lệnh gây thiệt hại với lỗi cố ý, do bắt buộc phải thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.Người này đã làm hết trách nhiệm, quy trình báo cáo, nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó Đây là mối quan hệ ràng buộc của người ra chỉ thị với người thực hành chỉ thị Người thi hành mệnh lệnh chỉ thị của cấp trên không phải chịu trách nhiệm hình sự, mà người ra chỉ thị, mệnh lệnh sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc ra mệnh lệnh

6.Bổ sung đối với trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Ngày đăng: 26/11/2018, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w