Đồng thời họ cũng là một dân tộc vốn coi trọng huyết thống gia đình, thân tộc nên tang lễ là một sự kiện rất quan trọng trong gia đình của người Trung Quốc.. Được biết, thời kì đánh dấu
Trang 1I, Giới thiệu chung
Người Trung Quốc có quan niệm “Sống gửi thác về”, có nghĩa là cuộc sống trên dương thế chỉ là tạm bợ còn chết mới là trở về cõi vĩnh hằng, cõi thực của con người Đồng thời họ cũng là một dân tộc vốn coi trọng huyết thống gia đình, thân tộc nên tang lễ là một sự kiện rất quan trọng trong gia đình của người Trung Quốc Tang lễ luôn được tổ chức cẩn thận và mang đậm màu sắc của dân tộc với hơn
5000 năm lịch sử này Được biết, thời kì đánh dấu sự ra đời của phong tục mai táng người chết ở Trung Quốc là thời Chu (khoảng thế kỉ 11 đến năm 256 TCN)
II, Các quy trình và nghi thức trong tổ chức tang ma
Theo các nhà sử học Trung Quốc (tham khảo sách Trung Quốc Văn Hóa Sử) thì phong tục tang ma của người Trung Quốc được cử hành theo 17 nghi thức còn theo sách “Nghi lễ của người Trung Hoa” do Bùi Quang Tiêu chủ biên có đề cập đến 9 quy trình trong Tang ma của người Trung Quốc Sau đây chúng ta cùng điểm
sơ qua 17 nghi thức và 9 quy trình đó
a, 17 nghi thức tang ma Trung Quốc
1. Phủ liễm (đình thi): người chết được bỏ hết quần áo và đặt bên cửa sổ phía Nam rồi đắp một loại chăn liệm đặc chế
2. Phục hồn (chiêu hồn): người nhà gọi hồn người chết bằng cách lấy áo cũ của người đã mất chạy ra cửa phía Bắc (đại diện cho u giới, thế giới linh hồn) gọi tên người chết “hãy quay về đi” 3 lần, sau đó đem áo này mặc lại cho người chết (mang hình thái tín ngưỡng cổ – níu kéo người chết)
3. Phụng thể phách tinh thần: Trang điểm cho thi thể (khiết sĩ), để tấm ván cố định ở chân để dễ đi giày (xuyết túc) Sau đó để cơm rượu ở phía đông, sát người chết để cúng quỷ thần
4. Điếu Táng: Người thân và bạn bè đến viếng người chết phải khóc to và đưa chăn áo tặng cho người chết (còn gọi là tụy)
5. Vi minh: Làm một lá cờ (tùy theo thân phận, thứ cấp của người mất) trên viết tên người chết, cắm vào gậy trúc và đặt ở phía Tây trước nhà
6. Trần tập sự cập hưu dục, phạn hàm chi cụ: Bày các dụng cụ dùng để tắm rửa, thay quần áo và độ phạn hàm cho người chết
Trang 27. Hưu dục, phạn hàm, tập thi: Thay đồ, tắm rửa, phạn hàm, mặc ba bộ áo mới
“tam xương” cho người chết
8. Thiết trùng: khắc ván gỗ ghi tên người chết để tượng trưng cho linh hồn của người chết hay còn gọi là “trùng”
9. Vu bốc trạch triệu, táng nhật: Thầy cúng chọn ngày (bằng cách bói mai rùa)
và vị trí mộ Gia chủ đưa đồ cúng ra nơi chôn cất làm lễ trước
10. Ký tịch: Buổi tối trước khi hạ táng 2 ngày, chủ nhân lại ở trước linh cữu khóc một lần nữa và thông báo cho mọi người thời gian đưa ma
11. Trần tiểu liễn cập điện tiểu liễn soạn: Đặt áo quần của người chết vào quan tài (do người thân tặng) Nam nữ phải bỏ hết trang sức và quấn tóc lên đầu Đàn ông phải để lộ cánh tay và không ngừng dẫm chân khóc và đưa cơm rượu lên cúng cho người chết Đêm hôm đó đốt đèn trong sân suốt đêm
12. Đại liễm (nhập quan): Từ sáng sớm mọi người đem quần áo dùng cho đại liễm, cơm rượu cỗ cúng và quan tài đặt ở trong nhà Gia chủ cùng người thần đích thân đặt thi hài người chết vào quan tài trong cảnh thương tiếc
13. Thành phục: chủ nhân mặc áo tang và sau đó tiến hành cúng cơm cho người chết
14. Chiêu tịch khốc điện: Khách đến viếng và chủ nhân đón tiếp khách trong trạng thái bi cảm khóc thương và khách động viên chủ nhân Trước hôm an táng 1 ngày chủ nhân chuyên linh cữu đặt ở Tổ miếu và để trần 1 cánh tay vừa khóc vừa nhảy
15. Hạ táng: sáng sớm chủ nhân bày cỗ cúng ra ngoài cửa cử hành lễ cúng và công bố lễ vật mọi người đem tặng cho người chết Sau đó chủ nhân và khách cùng chuyển linh cữu ra mộ và hạ táng Khi hạ huyệt, chủ nhân nam quay mặt về hướng Tây, chủ nhân nữ quay mặt về hướng đông (không được khóc) Sau khi lấp đất xong chủ nhân mới khóc và nhảy “dõng vô toán”
Trang 316. Phản khóc cập ngu lễ: Chủ nhân và rước linh vị người chết quay về tổ miếu đặt trên tuẫn cung (linh đường) vừa khóc vừa nhảy (thể hiện sự đau buồn và
an ủi người chết một lần nữa)
17. Phụ tế: đem thần chủ người mất đặt ở vị trí thích hợp trong tổ miếu để hưởng cúng lễ tổ tiên Sau đó chuyển linh vị người chết về nhà thờ, hết 2 năm (mãn tang) mới được mang về tổ miếu thờ
b, 9 quy trình trong tang ma Trung Quốc
1. Tống Chung: Tập quán dân gian của Trung Quốc cho rằng, phàm người nào sống đến 60 tuổi trở lên đã được coi là thọ, nếu chết đi thì được gọi là
“Hỷ tang”, cũng là “bạch hỷ sự” Đối với những người chết gia này, những người thân trong gia đình đã có chuẩn bị trước về mặt tâm lý cũng như phương diện vật chất
Trước lúc người thân lâm chung, con cháu phải luôn ngày đêm túc trực bên cạnh trông coi, gọi là “Tống chung” Lúc người thân sắp hấp hối, người trong gia đình dời người bệnh từ phòng ngủ ra trước giường ván đã được đặt sẵn ở chính đình Người nam sẽ đặt ở chính tẩm, phía bên phải Nếu là
nữ đặt ở nội tẩm, ở bên trái Phải dời người sắp chết ra trước chính đình, vì tục lệ cho rằng chính giữa nhà là nơi tốt nhất mà họ có thể yên lòng nhắm mắt Người xưa tin rằng, nếu người ta chết trong giường ngủ của mình, thì linh hồn sẽ bị treo ở trên giường, không được siêu độ Ngoài ra nếu người chưa thành niên mà chết yểu, tuy không được rời ra đặt ở chính đình, nhưng cũng phải dời họ đặt nằm ở dưới đất trước giường Tiếp đến là “Thụ hồn bạc”tức gần chân người chết sẽ phải cúng “Cơm dưới chân”, đốt giấy tiền vàng bạc và thắp nến, ấy là để họ có thức ăn và lộ phí
2. Sơ chung: Thi thể người chết được đặt nàm trên chiếc chiếu trong nội đường, đây gọi là “Hạ tháp”, nằm trên linh sáng Phải đặt màn trướng ở ngoài Tạm thời vẫn chưa lập linh vị Lúc này thi thể phải nằm đầu hướng ra ngoài, ở dưới chân có đặt một chiếc đại hoặc chén bát nhỏ trong đó có đựng dầu để thắp bấc đèn Đây gọi là ngọn đèn của người chết, gọi là “trường minh đăng” Cách làm này dựa theo tập tục của dân tộc Trung Hoa, vì họ cho rằng làm như thế có thể tận trung chữ hiếu Xưa có cách nói “Thọ chung
Trang 4chính tẩm”, tức là đặt thi thể trên linh sàng Sau khi chính tẩm, người nhà sẽ phát giấy báo tang cho thân bằng quyến thuộc, đồng thời bàn bạc về việc lo hậu sự cho người chết Tiếp theo là “Phục lễ”, chiêu hồn Người nhà sẽ lên
mồ mả tổ tiên để gọi người chết hu vọng rằng “Phục lễ” gọi được hồn người chết trở về Tiếp đến là “Sơ khốc”, bắt đầu khóc than, xác nhận một điều rằng người thân của mình đã thực sự lìa khỏi trần thế Đây là biểu hiện về nỗi đau thương
3. Nhập liệm: Còn gọi là Trang liễm, đặt người chết vào trong quan mộc Là thời gian chờ để đặt người chết vào quan tài 3 ngày sau khi mất gọi là Tiểu Liễm, năm ngày là Đại liễm Sau lễ nhập liệm là “thủ linh” còn được gọi là
“Hộ lĩnh” lúc này con cái sẽ túc trực bên người chết để đợi đến khi nhập quan
4. Báo Tang: Báo tin nhà có người thân mất để cho họ hàng làng xóm biết và đến phúng viếng
5. Thành phục: Con cháu trong nhà mặc đồ tang Trung Quốc có lỗi nói
“tuân lễ thành phục” Chế độ ngũ phục truyền thống không chỉ được áp dụng trong mai táng mà còn là mục tiêu giới định về mối quan hệ gần xa của thân bằng quyến thuộc Vào thời đại Chu Tần nó đã cơ bản được định hình Khi người thân mất, việc đội tang phải theo một lễ chế nghiêm ngặt, không được có sự sai sót Thành phục là một “Nghi lễ” cơ bản, tùy vào mối quan hệ với người chết mà mặc trang phục Nhìn vào tang phục cỏ thể biết được mối quan hệ của người tang với người chết Không chỉ giải thích rõ mối quan hệ nội bộ trong giới gia tộc mà nó còn quy định một cách thành tục về quyền lợi và nghĩa vụ giữa họ Giả sử là cha con, ngũ phục thuộc loại “Trầm suy”, sử dụng loại vải thô nhất có viền lông, phục tang ba năm, đồng thời họ cũng là người có quyền thừa kế di sản của người chết Do các mối quan hệ là rất rộng lớn nên phục tang cũng rất phức tạp, vừa tinh tế mà phải tỉ mỉ
6. Phúng điếu: Khổng Tử nói : “Tang chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ” nghĩa là khi có tang lễ ở mỗi gia đình, phúng điếu cũng được xem là nội dung quan trọng
Lễ số và phương thức phúng điếu cũng có nhiều khác biệt Tất cả những người chí thân khi vừa nhận được cáo phó, phải kịp thời đến với tang gia ngay Những người thân thuộc loại “Trảm suy” như con trai, con dâu, con
Trang 5gái, con rể, sẽ gác mọi công việc nhà lại, vội vàng đi bôn tang Khi gần đến tang gia phải “Vọng hương nhị ca”, tức là khóc thương thảm thiết Người con gái đã lấy chồng vừa đi vừa phải khóc trên đường, đến nơi phải quỳ khấu trước linh đường mà khóc than đợi khi có người đến an ủi mới được ngưng khóc Những thành viên khác trong thân tộc có mối quan hệ gần gũi thân thiết, tuy không đau thương bằng con cái của người chết, nhưng cũng phải biểu hiện rõ nỗi buồn thương cực độ của mình
Khi thân bằng quyến thuộc đến phúng điếu, người đội tang chí thân nhất phải đến quỳ bái mà nghênh tiếp rồi mới về hầu cạnh linh đường, lúc đó cũng kèm theo nghi trượng cổ nhạc Người đến phúng điếu, trước tiên khấu đầu 4 lần trước linh cữu, sau khi tang gia trả lễ xong đến trước phòng giao
lễ Ở một số nơi nếu người phúng điếu không phải là người chí thân của người chết hoặc trưởng bối của người chết thì chỉ cần đốt vài tờ tiền giấy trước linh đường là được
Thân hữu đến phúng điếu phải mang theo lễ phẩm hay lễ kim Lễ phẩm gốm biển ngạch, văn liên, hương chúc, giấy tiền… và đó cũng có thể là tấm văn chương Bất luận chất liệu vải của văn chương như thế nào, màu của nó nhất thiết phải là xanh, xanh lam hay màu trắng, phía trên có dòng chữ trắng sáng “Anh oanh thiên cổ”, … Nếu lễ vật là ngân kim phải dùng giấy màu vàng hay xanh lam bao gói kỹ càng, ghi rõ số lượng Hầu hết bây giờ đều là đưa trực tiếp cho tang chủ để tránh sự sai sót
7. Tiếp Tam: Truyền thuyết dân gian xưa cho rằng, sau khi chết được 3 ngày, linh hồn sẽ chính thức xuống địa phủ Cũng có thể sẽ được thần, Phật hay sứ giả của thần Phật là Kim Đồng Ngọc Nữ đón đi Ai cũng đều muốn người thân của mình sẽ được lên trời, nhưng muốn được như vậy thì lúc còn sống
họ phải tích nhiều công đức
Nhưng dân gian cho rằng, sau khi chết qua 3 ngày, khi linh hồn của họ đã rời khỏi xác, mời Tăng nhân đến làm lễ tụng kinh sám hối, tích đức chuộc tội, người chết sẽ được lên thiên đàng Do vậy đã hình thành phong tục “Tiếp tam”, con cái của người chết mong muốn đưa người thân lên Tây thiên, do vậy còn được gọi là “Tống tam” hay “Nghênh tam.” Muốn đưa người thân lên Tây thiên tất nhiên phải cần có xe, ngựa Những thứ này được làm bằng giấy, tục gọi là “Bảo mã tố xa”, có nơi làm rất công phu Ngoài ra còn có tủ rương để đựng hành trang và những vật dụng khác
Trang 6Thời giờ làm lễ tống tam thường là vào lúc chiều tối, Tăng chúng niệm kinh
lễ Phật, có người cổ nhạc hát theo, đồng thời cũng còn có hàng loạt những tục nghi khác Sau đó ngựa xe sẽ được con cái của người chết đưa ra cửa, đem đốt ở một địa điểm hướng tây của ngôi nhà
8. Phát dẫn: Phát dẫn, hạ tang là nghi tục khi tang lễ sắp kết thúc Theo tục
lệ cổ xưa, nếu tang lễ quá dài, thi thể sẽ không được bảo tồn cho đến lúc chôn, người sống cũng sẽ rất vất vả lo toan tất bật Do vậy xuất hiện các lễ
“Khát táng”, “Huyết táng”, tức nội trong 7 ngày phải đem đi chôn Kỳ hạn ngừng tang cụ thể không giống nhau, nó liên quan đến địa vị xã hội, kinh tế, chính trị, ,Mọi người sẽ dải tiền vàng, nhất là lúc qua cầu, qua đường như lộ phí để đi đường
9. Cư tang: Bản chất của việc cư tang là sự hiếu đạo là thân tình của người thân với người đã khuất Trong khoảng thời gian người thân mất, con cháu phải ngừng lại các mặt sinh hoạt bình thường để thể hiện nỗi bi thương, tư niệm người quá cố Truyền thống xưa quan niệm rằng: lúc mới sinh ra, con cháu ba năm đầu luôn trong vòng tay ôm ấp của cha mẹ, được chăm súc, mớm bú, Do vậy khi cha mẹ mất đi, phải báo hiếu 3 năm Với những người làm quan tại triều đình, họ sẽ được nghỉ phép dài hạn để về nhà cư tang khi cha mẹ mất
Như vậy, sau khi an táng xong, người Trung Quốc có phong tục để tang cho người đã khuất, tùy theo mối quan hệ thân sơ, từ 1 tháng cho đến 3 năm Trong vòng thời gian để tang người sống tiếp tục thực hiện một số nghi thức khác tùy theo quan niệm của từng thời kỳ hay ảnh hưởng của các tôn giáo như: Đời Thương mở đầu hình thức tuẫn táng (chôn người sống theo); đời Hán, Tấn, Nam Bắc Triều đã lưu hành tiền giấy, đốt nhà giấy, hòm giấy; khi Phật giáo du nhập vào thì hình thành nghi thức cúng Trai thất, Chung thất; hay các phong tục cúng khác như: cúng 100 ngày, tiểu tường (giỗ đầu), Đại tường (hết tang)…
III, Một số đặc điểm tiêu biểu trong tang ma Trung Quốc
- Về Tang phục: Từ xưa người Trung Quốc đã có quan niệm về trang phục và
màu sắc để thể hiện từng bối cảnh, ý nghĩa khác nhau Tang phục cũng có sự
Trang 7thay đổi không ngừng trong các triều đại Phong kiến và có sự phân biệt tầng lớp, xa gần Tuy nhiên đều lấy màu trắng là màu chủ đạo và thể hiện lễ chế tông pháp “trọng nam, trọng đích”.Đối với tang ma ở Trung Quốc có 5 loại
và mỗi loại có các hình thức khác nhau để biểu thị mối quan hệ giữa người
đã khuất với người còn sống như sau:
• Trảm thôi (đại tang – Tang 3 năm): là loại cao nhất trong tang phục, với chất liệu là vải gai thô, không khâu mép vải để lộ chỗ chém đứt để may áo; dùng “tư điệt” (dây lưng bằng gai thô) quấn chặt phần dưới thân; tay cầm “trượng khốc tang bồng” (gậy bằng trúc không cạo vỏ – biểu thị đau thương không thể đứng thẳng phải dùng gậy chống); chân đi giày cỏ
“gian cục” và đầu đội “quan thằng anh” (loại mũ dùng dây gai quấn lại) Người mặc trảm thôi trong 3 năm để chịu tang thì được xem là “hiếu tử” Sách Thanh hội quy định: “Trảm thôi chủ yếu dùng để con trai, con gái và con dâu mặc để chịu tang cha mẹ Nếu không có con trai thì cháu hoặc chắt đích tôn phải thay hoặc vợ và thiếp để tang cho chồng”
• Tư thôi (cơ niên – tang 1 năm có chống gậy): Dùng vải gai thô nhưng viền mép đều và chống gậy trúc cạo nhẵn, hạn dùng trong 1 năm
• Đại công (tang 9 tháng): Vải gai mịn đã qua gia công, màu ngà, hạn mặc trong vòng 9 tháng
• Tiểu công (tang 5 tháng): vải gai mịn hơn, màu trắng, hạn mặc trong 5 tháng, là tang phục của anh em trai
• Ti ma (tang 3 tháng): may bằng vải tinh chế màu trắng, hạn mặc trong 3 tháng (loại nhẹ nhất trong ngũ tang phục)
- Thời hạn để tang đối với những người có quan hệ gần được quy định rất rõ
ràng Ví dụ như sau:
Trang 8năm Cha, mẹ/ Cha, mẹ chồng Trảm thôi, 3 năm
Chị em ruột Còn ở nhà: tang 1 năm Lấy chồng: tang 9 tháng
Cha mẹ vợ Tang 1 năm, ngoài ra con rể khôngphải để tang một người nào khác
bên vợ
Vợ kế Nếu có con: tang 9 thángKhông có con: tang 5 tháng
Nhìn vào thời hạn để tang này, ta có thể thấy rõ tư tưởng “trọng nam” ở Trung Quốc: để tang người nam luôn lâu hơn người nữ, vợ phải để tang tất
cả những người bên họ hàng nhà chồng nhưng người chồng chỉ phải để tang cha mẹ vợ, để tang cha mẹ chồng lâu hơn cha mẹ vợ…
- Về đồ tùy táng: Theo thời gian và các triều đại khác nhau thì người Trung
Quốc cũng có những sự thay đổi rất riêng về đồ chôn theo người chết Ví dụ như:
• Thời cổ đại: sau khi chết đi, thân nhân của người chết họ chôn theo những vật dụng cần thiết kể khi còn sống của người đó như dụng cụ lao động Đây là họ biểu lộ mối thâm tình sâu đậm khi sống sao thì lúc chết cũng như thế
• Thời Chu: tất cả những vật dụng quý giá của họ khi còn sống kể cả thê thiếp, thuộc hạ được sủng ái cũng đều phải chôn theo Về sau tục lệ
vô nhân đạo này đã được bãi bỏ để thay vào đó là Sô linh (người bện bằng cỏ)
• Năm Nguyên Hưng nguyên niên (105) đời Hán Hoa: Bắt đầu từ khi có giấy, ông Vương Dũ nghĩ đến việc biến chế vàng bạc, áo quần… bằng giấy thay cho đồ thật để đốt đi sau khi cúng kính
• Theo nhà tư tưởng Vương Dư đời Đường cho rằng: “Từ thời nhà Hán,
đã có tục chôn tiền và đời sau lấy giấy thay tiền”
Trang 9- Chọn ngày tổ chức đám tang và vị trí chôn cất: Thông thường, trong quan
niệm của người Trung Quốc, khi có người mất phải xem ngày, xem giờ và vị trí chôn cất để tránh những điều không may xảy ra Vị trí của mộ tốt hay xấu
có thể ảnh hưởng đến con cháu đời sau Có một số điều kiêng kỵ khi chọn vị trí chôn cất như: Không được chôn cất ở nơi có tảng đá lớn, không chôn cất
ở nơi có bãi cát và nước chảy xiết, không chôn cất ở kênh rạch và nơi hoang vắng, không chôn trên đỉnh núi cô độc, không chôn xung quanh đền, chùa, miếu, không chôn gần nhà tù, không chôn nơi đồi núi hỗn loạn, không chôn nơi phong cảnh u sầu, không chôn nơi ẩm ướt hoặc địa hình không ổn định…
- Cắm một cái cọc bằng kim loại suốt chân giường người chết hoặc để con dao trên đầu (bụng) người chết để trừ ma quỷ quấy phá
- Khi chưa nhập quan, luôn luôn thắp hương nến (nếu không có nến thì thắp ngọn đèn dầu) cho đến khi hạ huyệt không để tắt hương đèn để xua đuổi tà khí
- Hai bên hương án, phía gần kề áo quan, người ta đặt hai cây chuối con để trừ tà khí
- Dựng bó đuốc to ở giữa sân vào ban đêm trước lễ an táng (nếu để qua đêm), con cháu và thân nhân túc trực quanh linh cữu (lễ “Chúc thực” ban đêm, nghĩa là “lễ trồng bó đuốc”) để xua đuổi tà ma (quan niệm ma sợ lửa)
- Khi thi thể co cứng lại thì cần hơ lửa và nắn hoặc dùng cồn, rượu xoa bóp, nếu vẫn còn cứng lại thì có thuật dùng hai chiếc đũa cả để hai bên mép áo quan rồi cho thi hài lọt xuống dần, khi thi hài dã lọt vào áo quan rồi thì phải cắt bỏ những dây buộc chân, buộc tay, buộc vai, buộc mông để người chết
có thể nằm thoải mái
- Sau lễ nhập quan phải đốt lỗ hung (lỗ đào ở chính giữa giường người mới chết nằm khi chưa nhập quan Chất đốt có thể dùng trấu, than , củi hoặc giẻ rách…) Dùng khói lửa, ánh sáng mặt trời (đốt hương, nến, đèn, đuốc, than, trấu, dỡ mái nhà, mở rộng cửa, đào lỗ hung, đốt pháo…) để triệt tiêu hơi lạnh
- Đối với những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi Thân nhân làm hình nhân và làm lễ “Chiêu hồn nạp táng” an táng theo như lễ an táng thông thường Dùng gỗ hoặc đất sét gọt đẽo nhào nặn thành hình người kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài Thi hài tượng trưng đó cũng được
Trang 10khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, hoặc đưa vào tiểu sành Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa
ấn phù phép để vong hồn nhập vào hình nhân
- Đối với những người đến dự lễ tang, nhất dự khâm liệm cần có những phương thuật để phòng chống hơi lạnh như ngậm gừng sống, uống nước lá nhót, ăn trầu và xông khói vỏ bưởi, bồ kết trước và sau khi đến lễ tang
Hiện nay, với đời sống công nghiệp hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển nhiều
hình thức tang ma cổ truyền mang tính mê tín đang dần dẹp bỏ như: đốt vàng mã, hình nhân thế mạng…hay các nghi thức rườm rà khác Thay vào đó là các công ty mai táng ra đời với đội ngũ chuyên môn, chuyên nghiệp có nhiều dịch vụ khác nhau để phù hợp với túi tiền của từng đối tượng
Đáng chú ý hơn cả là sự thay đổi của các vật phẩm phúng viếng Nó phản ánh rõ nhất ảnh hưởng của cơ chế thị trường, của thời kì đổi mới (cả ở cách nghĩ của người dân), in dấu sự phát triển của kinh tế, khoa học kĩ thuật, của mức sống xã hội Xưa kia, người ta dùng vàng hương, cau rượu, câu đối, vòng hoa và họ hàng thì dùng chè xanh hay gạo để đỡ đần tang chủ Ngày nay, phúng viếng tang ma người ta dùng hương, nến và “phong bì” với quan niệm để cho giản tiện, lịch sự và không bị coi là “cổ hủ” Câu đối ngày càng ít dần, vòng hoa thờ thường chỉ có các
cơ quan, đoàn thể sử dụng Nến thắp trên áo quan thay thế cho dầu bông xưa kia
và mỗi người chết đều có ảnh để thờ cúng
IV, Một số kiêng kị trong tang ma
- Kỵ để người đã khuất ở trần: Người phương Đông thường rất kĩ tính trong nghi thức khâm liệm Gia đình phải chuẩn bị sẵn quần áo đẹp cho người mất, kỵ để người đã khuất ở trần trong đám tang Thường thì người già đến một tuổi nào đó hoặc sức khỏe yếu sẽ dặn dò con cháu chuẩn bị sẵn áo liệm
Áo liệm thường được chuẩn bị theo số lẻ: 3 cái, 5 cái, 7 cái… Vì theo quan niệm dân gian, số chẵn sẽ làm tai họa ập đến gia đình một lần nữa Áo liệm