Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của hãng vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại về tài sản của hành khách trong quá trình vận chuyển .... Tuy nhiên, sự gia t
Trang 1NGUYỄN NGA LINH
TRÁCH NHIỆM CỦA HÃNG VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG ĐỐI VỚI NHỮNG THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN CỦA HÀNH
KHÁCH TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Bùi Ngọc Cường
HÀ NỘI –2017
Trang 2của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định.Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Mọi thông tin được trích dẫn trong luận văn tốt nghiệp đã được ghi rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Nga Linh
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn luận văn 5
7 Kết cấu của Luận văn 6
CHƯƠNG I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA HÃNG VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG 7
1.1 Khái niệm trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách trong quá trình vận chuyển 7
1.1.1 Khái niệm 7
1.1.2 Đặc điểm trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại về tài sản của hành khách trong quá trình vận chuyển 8
1.2 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm Hãng vận chuyển đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách 13
1.2.1 Phạm vi, các loại hình thiệt hại trong vận chuyển hàng không đối với tài sản của hành khách 13
1.2.2 Cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường của hãng vận chuyển 13
1.2.2.1 Lỗi 14
1.2.2.2 Hành vi vi phạm 14
1.2.2.3 Thiệt hại 15
1.2.2.4 Quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại 16
1.2.3 Căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường trong vận chuyển hàng không 16
1.2.4 Giới hạn bồi thường đối với tài sản, hành lý của hành khách 17
1.3 Pháp luật về trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với thiệt hại về tài sản của hành khách tại một số quốc gia trên thế giới 18
1.3.1 Pháp luật của Hoa Kỳ 18
1.3.2 Pháp luật của Đức 23
Trang 41.4 Kết luận Chương I 26
CHƯƠNG II QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA HÃNG VẬN CHUYỂN ĐỐI VỚI THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN CỦA HÀNH KHÁCH 28
2.1 Nguồn luật điều chỉnh 28
2.1.1 Bộ Luật Dân sự 2015 28
2.1.2 Các Luật chuyên ngành 29
2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của hãng vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại về tài sản của hành khách trong quá trình vận chuyển 29
2.2.1 Quy định về nguyên tắc xác định trách nhiệm 29
2.2.1.1 Thời hạn trách nhiệm 30
2.2.1.2 Cơ sở của trách nhiệm 32
2.2.2 Quy định về áp dụng mức giới hạn trách nhiệm 35
2.2.2.1 Mức giới hạn trách nhiệm trong trường hợp xảy ra thiệt hại, hư hỏng, mất mát tài sản của hành khách 36
2.2.2.2 Mức giới hạn trách nhiệm trong trường hợp vận chuyển chậm hành lý và hàng hóa của hành khách dẫn đến thiệt hại 39
2.2.3 Quy định về bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hãng vận chuyển 42
2.2.4 Quy định về giải quyết tranh chấp 46
2.3 Một số quy định theo Công ước, Điều ước quốc tế Việt Nam tham gia là thành viên hoặc chịu sự điều chỉnh 48
2.3.1 Đối với các chuyến bay quốc tế (Ngoại trừ các chuyến bay đi và đến từ các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu) 48
2.3.2 Đối với các chuyến bay đi/ đến từ các quốc gia thuộc liên minh Châu Âu 54
2.4 Kết luận Chương II 56
CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA HÃNG VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG VỀ THIỆT HẠI TÀI CỦA HÀNH KHÁCH TẠI VIỆT NAM 57
Trang 53.1 Một số nhận xét về quy định của pháp luật về trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với thiệt hại về tài sản của hành khách 57 3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện luật pháp luật hàng không Việt Nam về trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với thiệt hại về tài sản của hành
khách 65 3.3 Kết luận Chương III 67
KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài
Sự tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã góp phần tạo điều kiện cho ngành vận tải hàng không Việt Nam tăng trưởng vượt bậc Ngành vận tải hàng không mặc dù mới phát triển tại Việt Nam khoảng 20 năm trở lại đây nhưng đã có những bước phát triển lớn, từ việc
ra đời ngày càng nhiều các hãng hàng không gia nhập thị trường, đặc biệt
là các hãng hàng không giá rẻ cho đến việc trang thiết bị, cơ sở hạ tầng như tàu bay, sân đỗ, máy móc kỹ thuật luôn được cập nhật hiện đại nhằm phục
vụ hành khách, đảm bảo an toàn cho các chuyến bay Khi người dân chọn hàng không là phương tiện đi lại ngày càng nhiều, chất lượng dịch vụ của các hãng hàng không càng đòi hỏi phải được nâng cao, trách nhiệm vận chuyển của hãng hàng không đối với hành khách luôn được coi trọng Vấn
đề trách nhiệm của hãng hàng không được ghi nhận tại các văn bản pháp luật hiện hành như Luật hàng không dân dụng Việt nam 2006 (sửa đổi năm 2014) cùng các văn bản dưới luật đã tạo hành lang pháp lýtrong hoạt động thực tiễn, điều chỉnh mối quan hệ giữa bên vận chuyển và hành khách Tuy nhiên, sự gia tăng các vụ việc gây thiệt hại đối với hành khách trên thực tế bên cạnh việc phát triển ngành vận tải hàng không đã khiến cho trong quá trình thực thi pháp luật, các quy định hiện hành bộc lộ những điểm bất cập, hạn chế, chưa phù hợp với thực tiễn…Với những lý do đó, đề tài của bài
luận văn này là Trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không đối với
những thiệt hại về tài sản của hành khách tại Việt Nam Luận văn sẽ
tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định hiện hành và đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật quy định về trách nhiệm của Hãng vận
Trang 7chuyển hàng không đối với những thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề trách nhiệm của hãng hàng không đối với hành khách không phải là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam Tuy nhiên, vấn đề này vẫn chưa được nhiều nhà khoa học cũng như những người làm công tác thực tiễn quan tâm nghiên cứu, và các đề tài nghiên cứu này hầu hết đều được nghiên cứu trước thời điểm Luật Hàng không dân dụng sửa đổi số 61/2014/QH13 ngày 21/11/2014 được ban hành
Các đề tài nghiên cứu các tác giả trước đây đã thực hiện là: Khóa
luận tốt nghiệp của Tác giả Lê Văn Lân với đề tài “Bảo hiểm trách nhiệm
dân sự của Hàng không Việt Nam đối với hành lý, hàng hóa và tư trang của hành khách” năm 2003, với đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu
vấn đề bảo hiểm trách nhiệm dân sự của hãng vận chuyển, chưa đi sâu phân tích trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với những thiệt hại của hành khách
Luận văn thạc sĩ của tác giả Đào Thị Thu Hồng với đề tài “Trách
nhiệm dân sự của Hãng vận chuyển đối với hành khách, hành lý và hàng hóa trong vận tải hàng không trên đường bay nội địa Việt Nam” năm
2005 Luật văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Nga với đề
tài “Trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không về những thiệt hại xảy
ra đối với hành khách trong quá trình vận chuyển” năm 2013 Cả hai đề tài
của tác giả Đào Thị Thu Hằng và tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Nga tập trung phân tích trách nhiệm của bên vận chuyến đối với thiệt hại trên tất cả các phương diện: hành khách (thiệt hại về tính mạng, sức khỏe), thiệt hại về hành lý và hàng hóa
Trang 8Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Hảo với đề tài “Một số vấn đề
pháp lý về bồi thường thiệt hại phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không” năm 1999 Tác giả có đề cập đến trách nhiệm
của Hãng vận chuyển, nhưng chỉ nghiên cứu phân tích trách nhiệm của bên vận chuyển đối với hàng hóa theo các hợp đồng vận chuyển hàng hóa
Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Trần Thu Hằng được thực hiện vào năm ban hành Luật Hàng không dân dụng Việt Nam - 2006 Tên đề tài
là “Một số vấn đề pháp lý về vận chuyển hàng không quốc tế” mặc dù đề
tài đã phân tích sâu quy định của cả pháp luật quốc gia và quốc tế về trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không đối với thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển nhưng vẫn chưa đề cập đủ và chưa nêu lên được hạn chế của pháp luật khi quy định về trách nhiệm này
Đối với các công trình nghiên cứu khoa học, có đề tài nghiên cứu
khoa học cấp bộ “Vận tải đường biển và đường hàng không quốc tế:
những nội dung cơ bản về trách nhiệm của người chuyên chở” do chủ
nhiệm đề tài là TS Vũ Sĩ Tuấn, cùng tham gia là CN Nguyễn Thị Thanh Phúc và CN Vương Bích Ngà năm 2000.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển và đường hàng không, trách nhiệm của người chuyên chở đối với hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển
Tìm hiểu các đề tài, công trình nghiên cứu nêu trên, có thể thấy rằng nội dung liên quan đến trách nhiệm của Hãng vận chuyển đối với những thiệt hại phát sinh của hành khách trong vận chuyển hàng không dân dụng tại Việt Nam đã được thực hiện trước đây chưa được nghiên cứu toàn diện Bên cạnh đó với sự thay đổi của pháp luật về hàng không dân dụng tại Việt Nam trong những năm qua đòi hỏi cần phải có đề tài nghiên cứu về vấn đề
Trang 9này được thực hiện mới để nhận thấy được những điểm mới cũng như những hạn chế bất cập còn tồn tại của pháp luật Việt Nam về hàng không dân dụng, qua đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luật hàng không dân dụng Việt nam 2006 (sửa đổi năm 2014) là tổng thể bao quát hệ thống pháp lý của hoạt động hàng không dân dụng tại Việt Nam từ vấn đề khai thác tàu bay; thuê, cho thuê tàu bay; quy hoạch, đầu tư xây dựng cảng hàng không sân bay…cho đến bảo đảm hoạt động, tìm kiếm cứu nạn, an ninh hàng không Vì vậy, để đảm bảo việc nghiên cứu trọn vẹn và đi sâu vào nội dung đề tài Tên đề tài luận văn được thu
hẹp lại ở phạm vi nghiên cứu là Trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng
không đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách tại Việt Nam Điều này có nghĩa là đối tượng nghiên cứu của luận văn là trách
nhiệm của bên vận chuyển đối với thiệt hại về tài sản của hành khách mà không đi sâu nghiên cứu trách nhiệm về sức khỏe và tính mạng của hành khách Cụ thể luận văn sẽ xem xét khái niệm, đặc điểm về trách nhiệm của hãng vận chuyển hàng không, thực trạng pháp luật Việt Nam và pháp luật trên thế giới để từ đó kiến nghị một số giải pháp để hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là xem xét các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm của hãng hàng không đối với thiệt hại phát sinh
về tài sản của hành khách, đánh giá các quy định này Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của hãng vận
Trang 10chuyển đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách trong vận chuyển hàng không dân dụng tại Việt Nam
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, các nhiệm vụ mà luận văn cần phải giải quyết là:
- Nghiên cứu khái niệm, nội dung cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển đối với hành khách, đặc biệt là khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành trách nhiệm của hãng vận chuyển
- Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam và pháp luật trên thế giới
về trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách
- Đề ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách tại Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp là cách thức sử dụng khi xem xét, phân tích một vấn đề
để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu Với đề tài đã lựa chọn nêu trên cần vận dụng cả phương pháp chung cũng như phương pháp chuyên ngành Cụ thể như phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê hết hợp với thực tiễn…tùy từng khía cạnh vấn đề mà có sự vận dụng linh hoạt nhằm làm rõ từng nội dung cụ thể của đề tài luận văn
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn luận văn
Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
Trang 11- Nêu được nội dung cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển đối với thiệt hại về tài sản của hành khách, đặc biệt là khái niệm, đặc điểm, các yếu tố cấu thành trách nhiệm của hãng vận chuyển
- Trình bày đầy đủ có hệ thống hóa các quy định pháp luật Việt Nam
và pháp luật quốc tế về các quy định nêu trên
- Trên cơ sở tổng hợp, phân tích và đánh giá quy định của pháp luật trong nước và công ước quốc tế, luận văn sẽ có một vài kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của bên vận chuyển đối với thiệt hại về tài sản của hành khách
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 03 chương:
Chương 1: Khái niệm, đặc điểm về trách nhiệm pháp lý của hãng vận chuyển hàng không
Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam đối với những thiệt hại về tài sản của hành khách
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của hãng vận chuyển hàng không về những thiệt hại tài sản của hành khách
Trang 12CHƯƠNG I KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA
HÃNG VẬN CHUYỂN HÀNG KHÔNG
1.1 Khái niệm trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách trong quá trình vận chuyển
1.1.1 Khái niệm
Dưới góc độ ngôn ngữ, theo từ điển tiếng Việt, “Trách nhiệm” có
nghĩa là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình hoặc sự
ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả1 Như vậy, hiểu theo nghĩa thông thường thì “Trách nhiệm” có nghĩa là phần việc được giao, nếu kết quả làm không tốt thì phải đền bù thiệt hại do lỗi của mình Trong tiếng Anh, có hai thuật ngữ cùng được hiểu là “trách nhiệm”: “Liability” và “Accountability” Hai thuật ngữ này thường được dùng thay thế cho nhau, nhưng có một sự khác biệt cơ bản giữa hai thuật ngữ này “Trách nhiệm”với nghĩa là
“responsibility” thường được hiểu là việc phải làm, như là bổn phận, nghĩa
vụ Còn "Accountability" có nghĩa rộng hơn “Responsibility”, không chỉ có nghĩa là những việc phải làm, mà còn bao gồm việc đứng ra nhận và chịu trách nhiệm về kết quả, hậu quả thực hiện những việc đó
Dưới góc độ pháp lý, khi đó “Trách nhiệm” đã được điều chỉnh và bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành Như vậy, trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có vi phạm pháp luật và đó là hậu quả của
1 Từ điển Tiếng Việt tại địa chỉ:
https://vi.wiktionary.org/wiki/tr%C3%A1ch_nhi%E1%BB%87m#Ti.E1.BA.BFng_Vi.E1.BB.87t
Trang 13hành vi vi phạm Sự gánh chịu hậu quả của hành vi vi phạm bằng việc bù đắp tổn thất (có thể bằng tài sản hoặc bằng tinh thần) cho người bị gánh chịu thiệt hại được hiểu là bồi thường thiệt hại (BTTH)
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm dân
sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra
Hay nói cách khác, trách nhiệm BTTH của Hãng vận chuyển hàng
không về tài sản của hành khách là trách nhiệm khi Hãng vận chuyển hàng không đó vi phạm nghĩa vụ pháp lý đối với hành khách, gây ra tổn thất về tài sản cho hành khách thì phải bồi thường những tổn thất do Hãng đó gây ra 2
1.1.2 Đặc điểm trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại về tài sản của hành khách trong quá trình vận chuyển
Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung như do Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với bên có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng,… thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) của Hãng vận chuyển hàng không còn có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, về cơ sở pháp lý: là một loại trách nhiệm Dân sự và chịu
sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự Khi hãng hàng không gây thiệt hại cho khách thì họ phải bồi thường thiệt hại và bồi thường thiệt hại chính là một quan hệ tài sản do Luật Dân sự điều chỉnh và được quy định trong Bộ Luật Dân sự 2015 Quy định trách nhiệm BTTH của Hãng vận chuyển đối với
2 khong-20160111105247121.htm
Trang 14http://www.caa.gov.vn/pho-bien-phap-luat/trach-nhiem-cua-cac-to-chuc-trong-hoat-dong-van-tai-hang-hành khách được quy định tại Điều 528 Tiểu mục 1 Mục 10 của Bộ Luật Dân sự 2015 như sau:
“1 Trường hợp tính mạng, sức khỏe và hành lý của hành khách bị thiệt hại thì bên vận chuyển phải bồi thường theo quy định của pháp luật
2 Bên vận chuyển không phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và hành lý của hành khách nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của hành khách, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
3 Trường hợp hành khách vi phạm điều kiện vận chuyển đã thỏa thuận, quy định của điều lệ vận chuyển mà gây thiệt hại cho bên vận chuyển hoặc người thứ ba thì phải bồi thường”
Ngoài ra, trách nhiệm của Hãng vận chuyển còn được điều chỉnh bởi các công ước quốc tế về vận chuyển hàng không, luật chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn thi hành Bên cạnh đó, việc vận chuyển hàng không có thể xảy ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia hoặc từ hai quốc gia trở lên nên khi phát sinh tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của Hãng vận chuyển, vấn đề áp dụng luật điều chỉnh của quốc gia nào cũng là vấn đề phức tạp Do đó, các quốc gia thường quy định cụ thể vấn đề này, bản thân các Hãng vận chuyển cũng quy định chi tiết trong điều lệ vận chuyển
Thứ hai, về điều kiện phát sinh: trách nhiệm BTTH nói chung chỉ
đặt ra khi thoả mãn các điều kiện nhất định đó là: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với cácthiệt hại xảy ra, có lỗi của người gây thiệt hại Đây là những điều kiện chung nhất để xác định trách nhiệm của một người phải bồi thường cho người khác những thiệt hại do mình gây ra Trách nhiệm BTTH của Hãng vận chuyển cũng phát sinh với các điều kiện tương tự như
Trang 15vậy, điều đó có nghĩa là: có thiệt hại xảy ra cho hành khách, có hành vi vi phạm nghĩa vụ giữa bên vận chuyển và hành khách, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra và có lỗi của bên gây thiệt hại (Hãng vận chuyển) Bên cạnh đó, do đặc tính của việc vận chuyển trên không nên khách hàng thường phải tuân thủ những quy định chặt chẽ của hãng vận chuyển khi sử dụng dịch vụ vận chuyển Vì vậy, việc xác định lỗi của Hãng vận chuyển thường sẽ là cơ sở quan trọng để Hãng vận chuyển được miễn giảm trách nhiệm khi có thiệt hại xảy ra với hành khách
Thứ ba, về hậu quả: trách nhiệm BTTH luôn mang đến một hậu quả
bất lợi về tài sản cho hành khách Bởi lẽ, khi Hãng vận chuyển gây ra tổn thất cho hành khách thì tổn thất đó phải được tính toán được bằng tiền, vật chất hoặc phải được pháp luật quy định bằng một đại lượng vật chất nhất định, nếu không sẽ khó trong việc xác định bồi thường thiệt hại cho hành khách Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại Và cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại cho hành khách
Thứ tư, về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm BTTH: Với tính chất của
quan hệ pháp luật dân sự, hoạt động vận chuyển hàng không diễn ra giữa một bên chủ thể là Hãng vận chuyển và một bên chủ thể khác là khách hàng (người thuê vận chuyển, bao gồm hành khách hoặc người có hàng hóa gửi vận chuyển trên tàu bay) Hãng vận chuyển có nhiệm vụ chuyên chở hành khách, hành lý hoặc hàng hóa tới địa điểm đến hoặc địa điểm trả hàng hàng hóa cho người nhận hàng theo thỏa thuận Trong thực tiễn hoạt động vận chuyển hàng không hiện nay, Bên vận chuyển có thể là:
Trang 161 Người giao kết hợp đồng vận chuyển bằng đường hàng không với hành khách, người gửi hàng hoặc đại diện của hành khách, người gửi hàng
2 Hãng vận chuyển thực tế, thực hiện toàn bộ hoặc một phần vận chuyển theo sự uỷ quyền của Hãng vận chuyển theo hợp đồng nhưng không phải là Hãng vận chuyển kế tiếp theo quy định tại Điều 118 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11
(Theo Điều 151- Hãng vận chuyển theo hợp đồng và Hãng vận chuyển thực tế của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11)
Căn cứ Điều 110 của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 quy định Doanh nghiệp vận chuyển hàng không Việt Nam phải có các điều kiện như: Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mà ngành kinh doanh chính là vận chuyển hàng không; Có phương án bảo đảm
có tàu bay khai thác; Có tổ chức bộ máy, có nhân viên được cấp giấy phép, chứng chỉ phù hợp bảo đảm khai thác tàu bay, kinh doanh vận chuyển hàng không; Đáp ứng điều kiện về vốn theo quy định của Chính phủ; Có phương
án kinh doanh và chiến lược phát triển sản phẩm vận chuyển hàng không phù hợp với nhu cầu của thị trường và quy hoạch, định hướng phát triển ngành hàng không; Có trụ sở chính và địa điểm kinh doanh chính tại Việt Nam thì mới được cấp Giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được cấp Giấy phép kinh doanh vận chuyển hàng không khi có đủ các điều kiện quy định nêu trên kèm theo các điều kiện: Bên nước ngoài góp vốn với tỷ lệ theo quy định của Chính phủ; Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là công dân Việt Nam
Trang 17và không quá một phần ba tổng số thành viên trong bộ máy điều hành là người nước ngoài
Như vậy, mọi hoạt động vận chuyển hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hóa đều được tiến hành bởi các Doanh nghiệp vận chuyển hàng không được thành lập theo pháp luật Việt Nam hoặc được cho phép theo pháp luật Việt Nam chủ thể bị áp dụng trách nhiệm BTTH chính là Hãng vận chuyển đã ký hợp đồng với hành khách, cho dù bên vận chuyển
có thể là bên được ủy quyền bởi bên ký hợp đồng thực hiện toàn bộ chuyến bay hay bên vận chuyển thực tế với hành khách thì trách nhiệm BTTH đối với tài sản của hành khách luôn được xác định bởi hợp đồng vận chuyển giữa bên thuê vận chuyển và bên vận chuyển
Thứ năm, về mục đích của trách nhiệm BTTH: việc bồi thường của
Hãng vận chuyển đối với các thiệt hại phát sinh của hành khách không chỉ
là việc áp dụng các biện pháp, chế tài đối với hành vi vi phạm mà còn là sự khôi phục lại tình trạng tương ứng với phần hậu quả mà Hãng vận chuyển
đã gây ra đối với hành khách do không thực hiện nghĩa vụ của mình.Do đó, trách nhiệm BTTH của Hãng vận chuyển mang tính đền bù
Thứ sáu, về mức bồi thường: Trách nhiệm của Hãng vận chuyển
hàng không được quy định giới hạn rõ ràng và có đơn vị tính đặc biệt (SDR) do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) 3 tính toán dựa trên giá trị của một số đồng tiền mạnh Vận chuyển hàng không thường ít xảy ra rủi ro, nhưng khi
đã xảy ra rủi ro thì hậu quả là nghiêm trọng Do đó, để đảm bảo thực hiện trách nhiệm của Hãng vận chuyển Pháp luật quy định bắt buộc Hãng vận chuyển phải mua bảo hiểm trách nhiệm BTTH đối với tính mạng, sức khỏe
3 http://nghiencuuquocte.org/2016/04/16/quy-tien-te-quoc-te-imf/
Trang 18của hành khách, việc mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hành lý, hàng hóa trong quá trình vận chuyển hoặc thực hiện các biện pháp đảm bảo khác đến mức giới hạn trách nhiệm của Hãng vận chuyển
1.2 Các yếu tố cấu thành trách nhiệm Hãng vận chuyển đối với những thiệt hại phát sinh về tài sản của hành khách
1.2.1 Phạm vi, các loại hình thiệt hại trong vận chuyển hàng không đối với tài sản của hành khách
Căn cứ những thiệt hại phát sinh của hành khách trong quá trình vận chuyển mà Hãng vận chuyển có thể chịu trách nhiệm, có thể phân loại hình thiệt hại trong vận chuyển hàng không đối với tài sản của hành khách theo hai loại hình như sau:
- Thiệt hại do hư hỏng, thiếu hụt, mất mát một phần hoặc toàn bộ hành lý, hàng hóa, bưu kiện của hành khách phát sinh trong quá trình vận chuyển bằng đường hàng không;
- Thiệt hại phát sinh do vận chuyển chậm, trì hoãn hành lý, hàng hóa, bưu kiện của hành khách
1.2.2 Cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường của hãng vận chuyển
Trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại xảy ra của hành khách trong quá trình vận chuyển được quy định cụ thể tại các văn bản pháp luật quốc tế cũng như tại Việt Nam.Từ những quy định tại các văn bản pháp luật này có thể thấy rằng cơ sở xác định trách nhiệm của Hãng vận chuyển dựa trên các yếu tố: Lỗi, Hành vi vi phạm, Thiệt hại và Quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại
Trang 191.2.2.1 Lỗi
Trách nhiệm của Hãng vận chuyển được xác định trên cơ sở xác định lỗi Nghĩa vụ chứng minh không có lỗi thuộc về Hãng vận chuyển.Hãng vận chuyển được miễn trừ trách nhiệm toàn bộ hoặc một phần khi chứng minh được rằng thiệt hại xảy ra do lỗi của hành khách hoặc hành khách góp phần gây ra.Ví dụ hành khách không tuân thủ đúng các yêu cầu bắt buộc của Hãng vận chuyển khi để các vật dụng đắt tiền như nữ trang, lap top…vào hành lý ký gửi mặc dù đã có sự thông báo, chỉ dẫn của Hãng hàng không Trong trường hợp này nếu hành khách bị mất, hư hỏng một phần hay toàn bộ đồ vật thì Hãng vận chuyển sẽ được xem xét miễn trách nhiệm đối với thiệt hại phát sinh của hành khách.Ngược lại, trường hợp xác định lỗi cố ý đối với Hãng vận chuyển Hãng vận chuyển sẽkhông được hưởng mức hạn chế trách nhiệm mà phải chịu trách nhiệm về toàn bộ thiệt hại gây ra trong trường hợp nếu thiệt hại gây ra do lỗi cố ý hoặc do sơ suất, bất cẩn của Hãng vận chuyển mặc dù có nhận thức thực tế rằng thiệt hại có thể xảy ra và hành khách chứng minh được rằng Hãng vận chuyển thực hiện những hành động thiếu sót này trong quá trình vận chuyển
Bên cạnh đó, đối với các thiệt hại xảy ra do chậm chuyến, nhỡ chuyến, Hãng vận chuyển trong trường hợp chứng minh rằng đã thực hiện mọi biện pháp được yêu cầu hợp lý để tránh những thiệt hại phát sinh hoặc không thể thực hiện các biện pháp hợp lý vì lý do bất khả kháng thì Hãng vận chuyển không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho hành khách
1.2.2.2 Hành vi vi phạm
Do tàu bay là phương tiện vận tải đặc thù nên việc thực hiện các quy định hàng không là một nguyên tắc bắt buộc và hết sức cần thiết để đảm
Trang 20bảo tính mạng, tài sản của hành khách cũng như an toàn trên các chuyến bay của Hãng vận chuyển Việc thực hiện các quy định trong vận chuyển hàng không là nghĩa vụ của Hãng hàng không và của cả hành khách Luật Hàng không dân dụng VN số 66/2006/QH11, Luật Hàng không dân dụng sửa đổi số 61/2014/QH13 có những quy định rõ các hành vi bị cấm trong hoạt động hàng không dân dụng, đặc biệt Nghị định 147/2013/NĐ-CP ngày 30/10/2013 4của Chính phủ quy định xử phạm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng Đối tượng điều chỉnh của Nghị định là các
cá nhân, tổ chức Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng trong lãnh thổ Việt Nam, trên tàu bay đăng ký quốc tịch Việt Nam, ở vùng thông báo bay do Việt Nam quản lý Cụ thể các Điều 6: Vi phạm quy định về tiêu chuẩn đủ điều kiện bay, Điều 7: Vi phạm quy định về bảo dưỡng, sửa chữa tàu bay, Điều 8: Vi phạm quy định khai thác tàu bay…đã quy định khung pháp lý, hình thức, mức xử phạt đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm Những quy định về hành vi vi phạm này cùng với quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền của Hãng vận chuyển là yếu tố để xác định trách nhiệm bồi thường của Hãng vận chuyển bên cạnh các yếu tố lỗi, thiệt hại, và quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại
1.2.2.3 Thiệt hại
Để xác định trách nhiệm bồi thường của Hãng vận chuyển, yếu tố thiệt hại thực tế xảy ra chính là yếu tố hàng đầu để làm rõ trách nhiệm của Hãng vận chuyển Thiệt hại của hành khách có thể tính mạng, sức khỏe, tài sản…Đối với tài sản của hành khách, thường sẽ xảy ra thiệt hại về hư
4 trong-linh-vuc-hang-khong-dan-dung-211494.aspx
Trang 21https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-dinh-147-2013-ND-CP-xu-phat-vi-pham-hanh-chinh-hỏng, thiếu hụt, mất mát một phần hoặc toàn bộ hành lý, hàng hóa, bưu kiện của hành khách phát sinh trong quá trình vận chuyển bằng đường hàng không hoặc thiệt hại phát sinh do vận chuyển chậm, trì hoãn hành lý, hàng hóa, bưu kiện của hành khách Các thiệt hại nêu trên được quy định rất cụ thể tại các văn bản pháp luật Việt Nam cũng như các công ước quốc tế.Có điểm cần lưu ý khi đề cập đến thiệt hại trong vận chuyển hàng không,
đó là trong quá trình xác định thiệt hại trên thực tế của hành khách, nếu Hãng vận chuyển không chứng minh được thiệt hại thực sự của hành khách thì Hãng vận chuyển sẽ phải bồi thường theo giá trịhành khách đã kê khai trước khi có thiệt hại xảy ra và khoản bồi thường này sẽ không vượt quá giới hạn bồi thường theo luật định Như vậy, nguyên tắc bồi thường theo thiệt hại thực tế là nguyên tắc được áp dụng khi xảy ra thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển của Hãng vận chuyển hàng không
1.2.2.4 Quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại chính là quan hệ giữa hành vi vi phạm của Hãng vận chuyển và thiệt hại xảy ra đối với hành khách Điều này có nghĩa là chính những hành vi vi phạm của Hãng vận chuyển đã gây ra thiệt hại cho hành khách Nếu không có hành vi đó thì thiệt hại đã không xảy ra Quan hệ nhân quả trong trách nhiệm của Hãng vận chuyển đối với thiệt hại của hành khách trong quá trình vận chuyển được xác định rõ khi xem xét yếu tố lỗi của Hãng vận chuyển khi có thiệt hại xảy ra
1.2.3 Căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường trong vận chuyển hàng không
Các căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường trong vận chuyển hàng không là phạm vi chịu trách nhiệm của Hãng vận chuyển và cơ sở xác định
Trang 22trách nhiệm bồi thường của Hãng vận chuyển nêu trên Trường hợp Hãng vận chuyển chứng minh được không có hoặc có không đầy đủ bốn yếu tố
để xác định trách nhiệm bồi thường thì đây được coi là căn cứ miễn trách nhiệm bồi thường Bên cạnh đó, Hãng vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm đối với tài sản, hành lý, hàng hóa của hành khách trong quá trình vận chuyển của Hãng vận chuyển đó Như vậy, trách nhiệm của Hãng vận chuyển được xác định trong phạm vi quá trình vận chuyển Các thiệt hại phát sinh tài sản của hành khách như hư hỏng, thiếu hụt, mất mát hoặc tổn thất một phần hoặc toàn bộ hành lý, hàng hóa, bưu kiện của hành khách ngoài quá trình vận chuyển của Hãng vận chuyển thì Hãng vận chuyển đó không có trách nhiệm bồi thường cho hành khách Đây cũng là căn cứ miễn trách nhiệm BTTH trong vận chuyển hàng không
1.2.4 Giới hạn bồi thường đối với tài sản, hành lý của hành khách
Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà Hãng vận chuyển hàng không phải chịu trách nhiệm bồi thường cho hành khách đối với những thiệt hại mà hành khách phải gánh chịu trong quá trình vận chuyển.Điều này phần nào có lợi và giúp Hãng vận chuyển ổn định khi thực hiện hoạt động kinh doanh của mình vì ngành hàng không là ngành chứa nhiều rủi ro
và khi có rủi ro xảy ra thì thiệt hại là vô cùng lớn Nếu bồi thường theo thiệt hại thực tế và không quy định hạn mức có thể dẫn tới chỉ sau một vụ việc có hãng hàng không sẽ phá sản, điều này sẽ kéo theo hiệu ứng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành hàng không nói riêng, thậm chí gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền KT-XH của một quốc gia, nhất là trong bối cảnh vận chuyển hàng không đang đóng vai trò ngày càng lớn trong việc giao thông đi lại, giúp phát triển kinh tế các nước…
Trang 231.3 Pháp luật về trách nhiệm của hãng vận chuyển đối với thiệt hại về tài sản của hành khách tại một số quốc gia trên thế giới
1.3.1 Pháp luật của Hoa Kỳ
Pháp luật về hàng không tại Hoa Kỳ chủ yếu được quản lý bởi các cơ quan có thẩm quyền:
- Bộ Giao thông vận tải – The Department of Transportation ("DOT5");
- Cục Hàng không Liên bang Hoa Kỳ - The Federal Aviation Administration ("FAA6"), là cơ quan của DOT;
- Sở Quản lý An ninh Vận tải An ninh Nội địa (“TSA7”) và Hải quan
và Biên phòng bảo vệ (“CBP8”) – the Department of Homeland Securityʼs Transportation Security Administration (“TSA”) and Customs and Border Protection (“CBP”); Và
- Ủy ban an toàn giao thông quốc gia ("NTSB9")
DOT quản lý việc phê chuẩn của chính quyền các vấn đề kinh tế và bảo vệ người tiêu dùng, thương lượng và thực hiện các thỏa thuận vận tải quốc tế FAA quản lý các vấn đề an toàn hàng không, bao gồm nhưng không giới hạn ở: các tiêu chuẩn tối thiểu để sản xuất, vận hành và bảo dưỡng tàu bay; Kiểm soát không lưu, chứng nhận và đăng ký sân bay; Và tàu bay và các bộ phận của chúng FAA cũng tài trợ và điều tiết việc phát
Trang 24triển sân bay TSA hỗ trợ FAA về an toàn hàng không bằng cách kiểm tra hành khách, hành lý và hàng hoá của hãng hàng không CBP hoạt động để bảo vệ biên giới Hoa Kỳ NTSB là một cơ quan độc lập chịu trách nhiệm điều tra tai nạn hàng không dân dụng và tai nạn liên quan đến các phương thức vận tải khác ở Hoa Kỳ
Pháp luật hàng không của Hoa Kỳ cơ bản được quy định theo Phần
49 của Bộ luật Hoa Kỳ ("USC"), Mục 40.101 Bộ luật Giao thông vận tải (The Transportation Code), và các quy định về hàng không cơ bản được quy định tại Bộ luật Hàng không Liên bang Mỹ 1958 (Federal Aviation Act
of 195810)
Mỗi tiểu bang trong Hoa Kỳ cũng có các luật và các quy định về hàng không có thể áp dụng trong trường hợp các quy định và luật pháp đó không được pháp luật liên bang ban hành trước
Các Công ước đã được Hoa Kỳ ký kết và có hiệu lực tại Hoa Kỳ bao gồm:
- Công ước về Hàng không Dân dụng Quốc tế ("Công ước Chicago11") –04/4/1947;
- Công ước Geneva - ngày 17/9/ 1953;
- Công ước Vácsava – 29/ 10/1934;
- Nghị định thư Hague năm 1955 cho Công ước Vácsava, và Nghị định thư Montreal số 4 - 14 /12/2003;
- Công ước Montreal –04/11/2003; Và
10 http://libraryonline.erau.edu/online-full-text/books-online/Aviationlawpt1.pdf
11
https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-thong-Van-tai/Cong-uoc-hang-khong-dan-dung-quoc-te-68715.aspx
Trang 25- Công ước Cape Town và Nghị định thư về Công ước về các vấn đề
cụ thể đối với thiết bị máy bay - ngày 1/3/200612
Theo quy định của DOT về bảo vệ người tiêu dùng hàng không, trách nhiệm của Hãng vận chuyển đối với thiệt hại về tài sản của hành khách quy định như sau:
a Khiếu nại về hành lý: Sau khi hành khách kéo hành lý ra khỏi
băng chuyền, kiểm tra thẻ tên hoặc số hiệu hành lý Nếu hành lý của hành khách phát hiện có dấu hiệu mở khóa hoặc nhìn thấy hư hỏng, hành khách cần phải kiểm tra xem hành lý bị thiếu hoặc bị hỏng, thông báo với hãng hàng không trước khi rời khỏi sân bay; Bất cứ thiệt hại nào đối với hành lý hoặc bất cứ trường hợp bị mất cắp phải được thông báo ngay cho hãng hàng không bằng điện thoại, hành khách cần ghi lại ngày và giờ của cuộc gọi, và tên và số điện thoại của nhân viên nói chuyện Theo dõi càng sớm càng tốt bằng một lá thư xác nhận cho hãng hàng không
b Thiệt hại xảy ra: Nếu hành lý của hành khách bị đập vỡ hoặc bị
rách, hãng hàng không thường trả tiền sửa chữa Nếu không thể khắc phục, hang hàng không sẽ phải thương lượng giải quyết để thanh toán cho hành khách giá trị khấu hao Hãng hàng không có thể từ chối bồi thường thiệt hại cho hành kháchvới lý do tổn thất hàng hóa, hành lý là kết quả từ thiếu hụt, đặc tính hay khuyết tật vốn có của hàng hóa, hành lý đó hoặc việc đóng gói hành lý, hàng hóa không đúng quy định Các hãng hàng không cũng có thể từ chối bồi thường cho hành khách những đồ vật bị hư hỏng bên trong hành lý, hàng hóa khi không có bằng chứng về hư hỏng bên ngoài đối với hành lý, hàng hóa đó Khi hành khách thực hiện thủ tục
12 quoc-te-trang-thiet-bi-tau-bay-255852.aspx
Trang 26https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-thong-Van-tai/Thong-bao-hieu-luc-Nghi-dinh-thu-Cong-uoc-check-in, nhân viên hãng hàng không sẽ thông báo cho hành khách trường hợp hành lý, hàng hóa của hành khách đó khó có thể được nguyên vẹn trong quá trình chuyên chở Hãng hàng không có thể yêu cầu hành khách
ký một bản tuyên bố mà hành khách đồng ý tự kiểm tra Kể cả trong trường hợp hành khách ký bản tuyên bố, hãng hàng không vẫn phải chịu trách nhiệm về thiệt hại trong trường hợp nguyên nhân gây ra thiệt hại là do sự
sơ suất của hãng hàng khôngdẫn đến tổn thất bên ngoài đối với hành lý, hàng hóa đó
c Vận chuyển chậm hành lý, hàng hóa: Trong trường hợp vận
chuyển chậm dẫn đến thất lạc hành lý, hàng hóa, hành khách cần thông báo cho đại diện hãng hàng hàng không, lập biên bản giữa hai bên về vấn đề này Hầu hết các hãng hàng không thiết lập hướng dẫn cho nhân viên sân bay của họ cho phép họ giải ngân một số tiền tại sân bay để mua hàng khẩn cấp Số tiền phụ thuộc vào việc hành khách đang ở xa nhà và phải mất bao lâu để theo dõi và trả lại hành lý, hàng hóa cho hành khách
d Mất hành lý, hàng hóa: Khi hành lý, hàng hóa của hành khách bị
tuyên bố không tìm thấy, thất lạc thì hành khách phải gửi đơn khiếu nại, việc không hoàn thành đơn khiếu nại hoặc thời hạn nộp đơn khiếu nại không đúng có thể làm mất hiệu lực hoàn toàn việc khiếu nại của hành khách Nếu chuyến bay của hành khách là chuyến bay nối chuyến giữa hai hãng hàng không, hãng vận chuyển cuối cùng thường là hãng chịu trách nhiệm xử lý yêu cầu bồi thường của hành khách ngay cả trong trường hợp việc mất hành lý, hàng hóa xảy ra từ giai đoạn vận chuyển đầu tiên Hãng hàng không không tự động thanh toán toàn bộ số tiền bồi thường mà họ bị khiếu nại Hãng hàng không sẽ sử dụng thông tin trên đơn khiếu nại của hành khách để ước tính giá trị của đồ đạc bị mất Giống như các công ty
Trang 27bảo hiểm, các hãng hàng không xem xét giá trị khấu hao của hành lý, hàng hóa đó Hãng hàng không hoàn toàn có thể từ chối yêu cầu bồi thường trong trường hợp phát hiện ra hành khách có sự gian lận trong việc khiếu nại Thông thường sẽ phải mất khoảng thời gian từ một tháng đến ba tháng
để hãng hàng không trả tiền bồi thường hành khách cho hành lý, hàng hóa
bị mất của họ Cũng có những trường hợp hãng hàng không thay vì bồi thường tiền cho hành khách có thể cung cấp cho hành khách tùy chọn vé miễn phí cho các chuyến bay trong tương lai với số tiền cao hơn khoản thanh toán tiền mặt
e Giới hạn về trách nhiệm pháp lý: Hãng hàng không có mức giới
hạn về trách nhiệm của họ đối với hành lý ký gửi vận chuyển chậm, bị mất hoặc hư hỏng Khi hành lý của hành khách có giá trị vượt quá giới hạn trách nhiệm, hành khách có thể muốn mua "giá trị vượt quá" nếu có từ hãng hàng không Việc này sẽ làm tăng trách nhiệm của Hãng vận chuyển Hãng hàng không có thể từ chối bán giá trị vượt trội đối với một số mặt hàng có giá trị đặc biệt hoặc có thể vỡ, ví dụ như đồ cổ, nhạc cụ, đồ trang sức, bản thảo, chứng khoán chuyển nhượng và tiền mặt
Đối với các chuyến bay trong nước, hãng hàng không có thể đưa ra mức trần do DOT điều chỉnh hai năm một lần Mức giới hạn trách nhiệm hiện tại là 3.500 USD cho mỗi hành khách
Đối với các chuyến bay quốc tế có điểm đi từ Hoa Kỳ, giới hạn trách nhiệm pháp lý được quy định bởi Công ước Montreal Công ước này cũng quy định trách nhiệm đối với các chuyến đi quốc tế bắt nguồn từ một quốc gia khác đã phê chuẩn Công ước này và các chuyến đi một chiều giữa Hoa
Kỳ và một quốc gia như vậy Giới hạn trách nhiệm này được điều chỉnh
Trang 28theo lạm phát 5 năm một lần; Hiện tại mức giới hạn trách nhiệm là 1.131 SDR tương đương khoảng $ 1,675 Mức giới hạn trách nhiệm này được áp dụng cho các chuyến bay trong nước của một hành trình quốc tế Đây là trường hợp ngay cả khi các chuyến bay nội địa và quốc tế có trên các vé riêng biệt và hành khách yêu cầu bồi thường và kiểm tra lại hành lý giữa hai chuyến bay
1.3.2 Pháp luật của Đức
Pháp luật hàng không ở Đứcđược đặc trưng bởi các điều ước quốc tế
và luật châu Âu Trên bình diện quốc gia, luật hàng không chủ yếu dựa trên Đạo luật không lưu Đức ( Luftverkehrsgesetz ) 13 năm 1922, Luật Giao thông hàng không ( Luftverkehrs-Ordnung) 14năm 1963 và Đạo luật Bảo mật Hàng không ( Luftsicherheitsgesetz ) năm 2005 Cục Hàng không Liên bang Đức (Luftfahrt-Bundesamt hoặc "LBA15") được thành lập năm 1954 tại Braunschweig với tư cách là cơ quan quyền lực tối cao trong ngành hàng không dân dụng và trực thuộc Bộ Giao thông, Xây dựng và Phát triển
Đô thị liên bang Đức (Bundesministerium für Verkehr, Bau und Stadtentwicklung)16 Trong số các nhiệm vụ được giao, LBA chịu trách nhiệm giám sát ngành hàng không và đăng ký tàu bay tại Liên bang Đức (Luftfahrzeugrolle)
Đức đã ký các Công ước quốc tế Montreal 1999 (có hiệu lực ngày 28/6/2004), Công ước Vácsava 1929 (có hiệu lực ngày 29/12/1933), Nghị định thư Hague cho sửa đổi Công ước Vácsava 1955 (có hiệu lực từ ngày 01/8/1963), Công ước Geneva về Công nhận quốc tế về quyền trên máy
13 https://de.wikipedia.org/wiki/Luftverkehrsgesetz
14 https://de.wikipedia.org/wiki/Luftverkehrs-Ordnung
15 http://www.lba.de/EN/Home/home_node.html
16 http://www.bmvi.de/DE/Home/home.html
Trang 29bay (có hiệu lực ngày 05/10/19590), Công ước về hàng không dân dụng quốc tế (Chicago) có hiệu lực ngày 8/6/1956, Công ước về thống nhất các quy tắc nhất định liên quan đến vận chuyển quốc tế bằng đường hàng không (Montreal) có hiệu lực ngày28/6/2004
Tại Đức, trách nhiệm pháp lý đối với vận chuyển hàng không được điều chỉnh bởi Luật Giao thông Hàng không Đức (LuftVG)17 Luật này cũng áp dụng cho các thiệt hại trên mặt đất (nghĩa là thiệt hại mà bên thứ
ba gây ra do hoạt động của tàu bay)
LuftVG cũng quy định trách nhiệm pháp lý trong trường hợp vận chuyển chậm và hư hỏng hành lý Hãng hàng không không chịu trách nhiệm trong trường hợp vận chuyển chậm trễ nếu tất cả các biện pháp được thực hiện để tránh thiệt hại hoặc nếu không thể thực hiện được các biện pháp đó Hơn nữa, trong trường hợp vận chuyển chậm hành lý, trách nhiệm pháp lý được giới hạn ở mức 4.694 SDR cho mỗi hành khách
Trong trường hợp hư hỏng hoặc mất hành lý ký gửi, Hãng vận chuyển phải chịu trách nhiệm pháp lý Trách nhiệm pháp lý được giới hạn
ở 1.131 SDR cho mỗi hành khách Trong trường hợp hư hỏng đối với hành
lý xách tay, Hãng vận chuyển chỉ phải chịu trách nhiệm nếu thiệt hại xảy ra
do sự sơ suất của Hãng vận chuyển
Trách nhiệm đối với việc vận chuyển hàng hoá được quy định trong
Bộ luật Thương mại Đức (HGB18) Theo Điều 431 Khoản 1 HGB, trách nhiệm của Hãng vận chuyển được giới hạn ở 8,33 SDR /kg Tuy nhiên, trách nhiệm pháp lý này có thể không giới hạn trong trường hợp thiệt hại xảy ra do hành vi sai trái cố ý với sự hiểu biết rằng có thể gây thiệt hại
17 https://www.gesetze-im-internet.de/luftvg/
18 https://en.wikipedia.org/wiki/Handelsgesetzbuch
Trang 30Các quy định của pháp luật Đức về quyền hành khách là Điều 44 của LuftVG Điều 44 nêu rõ rằng các quy định của châu Âu và quốc tế về quyền hành khách chiếm ưu thế hơn các quy định của Đức cho đến khi chúng được áp dụng Các quy định về quyền hành khách chủ yếu được điều chỉnh bởi các quy định của EU, đặc biệt là Quy định (EC) số 261/2004
và Công ước Montreal LBA là cơ quan thực thi Quy định (EC) số 261/2004
Khi khiếu nại của hành khách hoặc các cuộc điều tra của LBA liên quan đến việc hãng hàng không vi phạm Quy định (EC) số 261/2004, LBA thực hiện điều tra đối với Hãng vận chuyển hàng không, gửi đến hãng hàng không văn bản trong đó cáo buộc vi phạm được đưa ra và yêu cầu ý kiến của bên vận chuyển Nếu hãng hàng không không thể chứng minh tình huống bất thường hoặc bất kỳ lý do nào khác để trì hoãn hoặc hủy bỏ, hoặc nếu hãng hàng không không bồi thường cho hành khách theo văn bản của LBA, LBA sẽ áp dụng mức phạt đối với hãng hàng không lên đến € 25,000
Yêu cầu bảo hiểm đối với các hãng hàng không và các nhà khai thác tàu bay được quy định trong Quy định (EC) số 285/2010 sửa đổi Quy định (EC) số 785/2004 ngày 21/4/2004
Quy định này áp dụng cho tất cả các hãng hàng không và cho tất cả các nhà khai thác tàu bay bay trong, vào, ra khỏi hoặc trên lãnh thổ của một Quốc gia Thành viên mà Quy chế áp dụng Hãng vận chuyển hàng không
và khai thác tàu bay được bảo hiểm theo quy định của Quy định này liên quan đến trách nhiệm cụ thể về hàng không đối với hành khách, hành lý, hàng hoá và bên thứ ba Rủi ro được bảo hiểm bao gồm các hành động
Trang 31chiến tranh, khủng bố, cướp bóc, hành động phá hoại, chiếm giữ máy bay
và tình trạng hỗn loạn bất hợp pháp
Đối với trách nhiệm pháp lý đối với hành lý, mức bảo hiểm tối thiểu
là 1,131 SDR cho mỗi hành khách trong hoạt động thương mại Đối với trách nhiệm pháp lý đối với hàng hoá, mức bảo hiểm tối thiểu là 19 SDR/kg trong hoạt động thương mại Tuy nhiên, những con số này không
áp dụng đối với các chuyến bay trên lãnh thổ của các quốc gia thành viên
do các hãng hàng không ngoài Cộng đồng thực hiện và bởi các nhà khai thác tàu bay sử dụng máy bay đăng ký bên ngoài Cộng đồng mà không liên quan đến việc hạ cánh hoặc cất cánh từ lãnh thổ đó.Nếu nhà khai thác tàu bay không phải là hãng vận tải của Cộng đồng Châu Âu, mức bảo hiểm tối thiểu phải phù hợp với Điều 37 của LuftVG
1.4 Kết luận Chương I
Như vậy, từ việc phân tích khái niệm, đặc điểm trách nhiệm của Hãng vận chuyển, các yếu tố cấu thành trách nhiệm của Hãng vận chuyển cũng như việc phân tích Pháp luật của các quốc gia Hoa kỳ và Cộng hòa Liên Bang Đức về trách nhiệm của Hãng vận chuyển đối thiệt hại về tài sản của hành khách cho thấy rằng: chế định trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không
là phương tiện pháp lý để bảo vệ quyền lợi của hành khách cũng như để bảo
vệ quyền lợi ích kinh doanh hợp pháp của Hãng vận chuyển hàng không Trong quan hệ pháp luật về vận chuyển hàng không, chủ thể tham gia (Hãng vận chuyển) không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ sẽ phải có
“trách nhiệm dân sự” đối với bên còn lại (hành khách) Quan hệ này có đặc thù là được điều chỉnh bởi cả hai hệ thống pháp luật quốc gia và hệ thống pháp luật quốc tế Khi xác định và thực hiện trách nhiệm dân sự của Hãng vận
Trang 32chuyển hàng không, các yếu tố về lỗi, hành vi vi phạm, thiệt hại, quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại, cả pháp luật Việt Nam và luật pháp quốc
tế đều có các quy định rõ ràng về vấn đề này
Một trong những quy định đặc thù về trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không chính là mức giới hạn trách nhiệm Quy định về giới hạn này có sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật quốc tế Giới hạn này được quy định các mức khác nhau về BTTH hành lý, tài sản Trong mọi trường hợp xảy ra thiệt hại, Trách nhiệm bồi thường của Hãng vận chuyển hàng không chỉ bao trùm đến thiệt hại thực tế Nếu thiệt hại thực tế không thể tính toán được thì mức bồi thường mà Hãng vận chuyển hàng không chịu tối đa chỉ bằng mức giới hạn trách nhiệm Quy định này trên thực tế để bảo vệ quyền lợi, hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà vận chuyển
Trang 33CHƯƠNG II QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA HÃNG VẬN CHUYỂN ĐỐI VỚI THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN CỦA
HÀNH KHÁCH 2.1 Nguồn luật điều chỉnh
2.1.1 Bộ Luật Dân sự 2015
Trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm dân sự và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Dân sự nên khi tìm hiểu nguồn luật điều chỉnh trách nhiệm của hãng vận chuyển, Bộ luật Dân sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2017 phải được kể đến đầu tiên Căn cứ Điều 351 - Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ được quy định như sau:
“1 Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền
Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ
2 Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp
có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác
3 Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”
Như vậy, Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền trừ trường hợp Bất khả kháng và trường hợp Bên chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền
Trang 34Bộ luật Dân sự cũng dành hẳn Mục 10,các Điều từ 522 đến Điều 541
để quy định về hợp đồng vận chuyển, trong đó, các nội dung quy định về trách nhiệm BTTH được quy định tại các Điều 528 và Điều 541 Nội dung
về trách nhiệm của Hãng vận chuyển được quy định từ Điều 524 đến Điều
528 của Bộ luật Dân sự 2015
2.1.2 Các Luật chuyên ngành
Tiếp theo bộ luật Dân sự 2015 là hệ thống luật chuyên ngành bao gồm Luật hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11ngày 29/6/2006; Luật Hàng không dân dụng sửa đổi số 61/2014/QH13 ngày 21/11/2014 cùng các văn bản hướng dẫn dưới luật Do tính chất quốc tế của hoạt động hàng không như chủ thể tham gia, đường bay, phương tiện bay…nên hoạt động hàng không phải được tuân thủ theo các nguyên tắc chung do Tổ chức hàng không Dân dụng quốc tế (ICAO) 19đưa ra, các Điều ước, Công ước quốc tế về hàng không mà Việt Nam tham gia Bên cạnh đó, chủ thể tham gia quan hệ dân sự đa dạng, nên trong nhiều trường hợp phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, đòi hỏi phải được điều chỉnh bởi các nguyên tắc và quy định của Tư pháp quốc tế
2.2 Nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm của hãng vận chuyển hàng không đối với những thiệt hại về tài sản của hành khách trong quá trình vận chuyển
2.2.1 Quy định về nguyên tắc xác định trách nhiệm
Trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không là một trong những nộidung cơ bản của luật hàng không Việt Nam Các quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam đã thể hiện quan niệm pháp lý về trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không, việc xác định trách nhiệm của
19 https://en.wikipedia.org/wiki/International_Civil_Aviation_Organization
Trang 35Hãng vận chuyển hàng không được thực hiện thông qua xem xét các yếu tố
đó là thời hạn trách nhiệm và cơ sở của trách nhiệm
2.2.1.1 Thời hạn trách nhiệm
Thời hạn trách nhiệm được hiểu là thời gian mà người chuyên chở phải chịu trách nhiệm đối với hành khách, hành lý và hàng hóa trong quá trình chuyên chở.Thời hạn trách nhiệm còn là những quy định về toàn bộ thời gian và không gian mà Hãng vận chuyển phải chịu trách nhiệm khi có thiệt hại xảy ra đốivới hành khách Căn cứ Điều 161 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 quy định bồi thường thiệt hại đối với hàng hóa, hành lý, thời hạn trách nhiệm được xác định như sau:
Trường hợp thiệt hại đối với hành lý và hàng hóa, Hãng vận chuyển cótrách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra với hành lý và hàng hóatừ thời điểm hành khách giao hàng hóa, hành lý ký gửi cho Hãng vận chuyển đến thời điểm Hãng vận chuyển trả hàng hóa, hành lý ký gửi cho người có quyền nhận; đối với vận chuyển hàng hóa, thời gian trên không bao gồm quá trình vận chuyển bằng đường biển, đường bộ, đường sắt hoặc đường thủy nội địa được thực hiện ngoài cảng hàng không, sân bay Trường hợp hàng hóa đã được Hãng vận chuyển hàng không tiếp nhận thì bất kỳ thiệt hại nào cũng được coi là kết quả của sự kiện xảy ra khi vận chuyển bằng đường hàng không mà không phụ thuộc vào phương thức vận chuyển thực tế, trừ trường hợp Hãng vận chuyển chứng minh được thiệt hại xảy ra trong giai đoạn vận chuyển bằng đường bộ, đường sắt, đường biển hoặc đường thủy nội địa Trường hợp Hãng vận chuyển thay thế một phần hay toàn bộ việc vận chuyển bằng đường hàng không bằng phương thức vận chuyển khác mà không được sự đồng ý của người gửi hàng thì việc vận
Trang 36chuyển bằng phương thức khác đó được coi là vận chuyển bằng đường hàng không
Bên cạnh đó, Đối với trách nhiệm của Hãng vận chuyển với hành lý xách tay cùa hành khách, do đặc thù hành lý xách tay sẽ do hành khách tự trông coi, bảo quản trong quá trình vận chuyển bằng hàng không nên căn
cứ Khoản 2 Điều 161, Hãng vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm bồi thường trường hợp Hãng vận chuyển gây ra thiệt hại
Quy định về thời hạn trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàngkhông đối với thiệt hại xảy ra cho hành lý và hàng hóa của hành khách trongLuật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 có điều chỉnh so với luật HKDD Việt Nam năm 1991 được sửa đổi năm 199520 Theo điều 75 của luật HKDD Việt Nam năm 1991, Hãng vận chuyển hàng không phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa kể từ khi nhận hàng từ người gửi hàng cho tới khi Hãng vận chuyển giao hàng cho người có quyền nhận Như vậy, trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không được quy định ở đây về mặt thời gian và không gian lớn hơn rất nhiều so với các công ước quốc tế về vận tải hàng không và có phần khác so với luật HKDD Việt Nam năm
2006 Bởi vì, nơi nhận hàng và nơi giao hàng nếu không quy định rõ thì nó
có thể ở cảng hàng không , cũng có thể ở một nơi khác Như vậy, theo luật HKDD Việt Nam năm 1991 Hãng vận chuyển hàng không có thể phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa từ kho đi cho tới kho đến; trong khi đó các công ước quốc tế về hàng không chỉ quy định trách nhiệm của Hãng vận chuyển hàng không đối với hàng hóa khi hàng hóa ở trong máy bay, ở trong sân bay trong trường hợp máy bay buộc phải hạ cánh ngoài cảng
20 39-L-CTN-39100.aspx
Trang 37https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Luat-Hang-khong-dan-dung-Viet-Nam-1995-sua-doi-hàng không thì mới ở bất kỳ nơi nào nếu máy bay buộc phải hạ cánh ngoài cảng hàng không Quy định nàyđược đánh giá là khá phù hợp với xu hướng giao hàng từ cửa tới cửa ngày nay, nhưng như vậy, Hãng vận chuyển hàng không phải chịu trách nhiệm đối với hàng hóa ở cả những đoạn vận chuyển
ở hai đầu sân bay đi và đến, trong khi đó các công ước quốc tế về hàng không lại loại trừ quá trình vận chuyển hàng hóa ở đoạn vận chuyển đường
bộ, đường biển và đường sông ra ngoài khái niệm vận tải hàng không trừ trường hợp đặc biệt như đã nói ở trên
2.2.1.2 Cơ sở của trách nhiệm
Điều 524 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định nghĩa vụ của bên vận chuyển:
“1 Chuyên chở hành khách từ địa điểm xuất phát đến đúng địa điểm, đến đúng giờ, bằng phương tiện đã thỏa thuận một cách an toàn, theo lộ trình; bảo đảm đủ chỗ cho hành khách và không chuyên chở vượt quá trọng tải
2 Mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với hành khách theo quy định của pháp luật
3 Bảo đảm thời gian xuất phát đã được thông báo hoặc theo thỏa thuận
4 Chuyên chở hành lý và trả lại cho hành khách hoặc người có quyền nhận hành lý tại địa điểm thỏa thuận theo đúng thời gian, lộ trình
5 Hoàn trả cho hành khách cước phí vận chuyển theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật”
Trang 38Điều 528 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:
“1 Trường hợp tính mạng, sức khỏe và hành lý của hành khách bị thiệt hại thì bên vận chuyển phải bồi thường theo quy định của pháp luật
2 Bên vận chuyển không phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe và hành lý của hành khách nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của hành khách, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
3 Trường hợp hành khách vi phạm điều kiện vận chuyển đã thỏa thuận, quy định của điều lệ vận chuyển mà gây thiệt hại cho bên vận chuyển hoặc người thứ ba thì phải bồi thường”
Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 và Luật Hàng không dân dụng số 61/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 có các Điều 161, Điều 164 và Điều 165 quy định trách nhiệm của Hãng vận chuyển Cụ thể Điều 161 quy định bồi thường thiệt hại đối với hành hóa, hành lý Điều 164 quy định bồi thường thiệt hại do vận chuyển chậm:
“Hãng vận chuyển có trách nhiệm bồi thường thiệt hại xảy ra do vận chuyển chậm, trừ trường hợp chứng minh được mình, nhân viên và đại lý của mình không thể áp dụng hoặc đã áp dụng mọi biện pháp để tránh thiệt hại nhưng thiệt hại vẫn xảy ra”
Điều 165 quy định việc miễn, giảm trách nhiệm BTTH:
“1 Trong trường hợp chứng minh được thiệt hại xảy ra do lỗi của bên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, Hãng vận chuyển được miễn