Trên cơ sở đó đóng góp ý kiến nhằm hạn chế phần nào những cuộc đình công trái luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên trong quan hệ lao động, góp phần đem lại những giá trị dân chủ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Thúy Nga
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Nguyễn Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
Trang bìa phụ i
Lời cam đoan ii
Danh mục các chữ viết tắt iii
Mục lục iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ HẠN CHẾ QUYỀN ĐÌNH CÔNG 7
1.1 Khái quát chung về đình công 7
1.1.1 Khái niệm, các dấu hiệu cơ bản của đình công 7
1.1.2.Phân loại đình công 15
1.1.3 Ảnh hưởng của đình công 19
1.2 Khái quát chung về hạn chế quyền đình công 22
1.2.1 Khái niệm hạn chế quyền đình công 22
1.2.2 Đặc điểm của hạn chế quyền đình công 24
1.2.3 Sự cần thiết phải ban hành pháp luật về hạn chế quyền đình công 26
1.2.4 Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) và một số quốc gia về hạn chế quyền đình công 29
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ HẠN CHẾ QUYỀN ĐÌNH CÔNG VÀ ĐÁNH GIÁ TRÊN TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ 36 2.1 Cấm đình công trong pháp luật lao động Việt Nam 38
Trang 62.2 Hạn chế quyền đình công trong pháp luật lao động Việt Nam 45
2.2.1 Sự hạn chế quyền đình công thể hiện trong khái niệm đình công 46
2.2.2 Sự hạn chế thể hiện thông qua các quy định về điều kiện hợp pháp của cuộc đình công 49
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
VÀ NÂNG CAO TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC QUY ĐỊNH VỀ HẠN CHẾ QUYỀN ĐÌNH CÔNG TRONG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM 65
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về hạn chế quyền đình công tại Việt Nam 65
3.2 Một số giải pháp cơ bản hoàn thiện và nâng cao tính khả thi của các quy định về hạn chế quyền đình công trong pháp luật Lao động Việt Nam 69
3.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về hạn chế quyền đình công 69
3.2.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hạn chế quyền đình công 72
3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật hạn chế quyền đình công 77
KẾT LUẬN 81
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với nhiều quy định khác của pháp luật lao động, đình công là nội dung thu hút được sự quan tâm không chỉ của các chủ thể trong quan hệ lao động
mà của toàn xã hội Đình công là phương tiện để NLĐ có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi cần thiết Trong pháp luật quốc tế, quyền đình công đã được ghi nhận cụ thể tại Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của Đại hội đồng Liên hợp quốc (năm 1966) Quyền này cũng được cụ thể hóa trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, giới hạn được thực hiện quyền này đến đâu lại phụ thuộc vào quan điểm của mỗi một quốc gia
Ở Việt Nam, hiện tượng đình công đã xuất hiện từ rất lâu, nhưng diễn ra ngày càng phổ biến trong thời gian gần đây, khi đất nước thực hiện sự chuyển đổi từ nền kinh tế từ tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường Mặc dù vậy, hầu hết các cuộc đình công đó đều là đình công bất hợp pháp
Tại sao gần như 100% cuộc đình công của người lao động Việt Nam bị xác định là bất hợp pháp? Vậy quyền lợi của người lao động được bảo vệ như thế nào trước sức ép việc làm, tiền lương và giá cả ngày càng leo thang hiện nay?
Sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách, luật pháp tới việc bảo vệ quyền lợi của đối tượng được xác định là thường xuyên ở vị trí thế yếu trong quan hệ lao động này được thể hiện ra sao và ở mức độ như thế nào?
Khi hiện tượng đình công diễn ra ngày càng mạnh mẽ cùng với sự chuyển dịch nền kinh tế đất nước, Nhà nước đã kịp thời ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này, như Pháp lệnh Thủ tục giải quyết tranh chấp lao động năm 1996; Bộ luật Lao động năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2006; Nghị định số 133/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
Trang 8của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động; Nghị định số 122/2007/NĐ-CP và Nghị định số 28/2011/NĐ-CP về danh mục doanh nghiệp không được đình công và việc giải quyết yêu cầu của tập thể lao động tại doanh nghiệp không được đình công; Nghị định số 12/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 176 của Bộ luật Lao động về hoãn, ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của tập thể lao động… Gần đây nhất, Quốc hội ban hành Bộ luật Lao động 2012 cùng với Nghị định số 46/2013/NĐ-CP ngày 10/05/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về giải quyết tranh chấp lao động thay thế Nghị định số 133/2007/NĐ-CP và Nghị định số 12/2008/NĐ-CP; Nghị định số 41/2013/NĐ-CP ngày 08/05/2013 quy định chi tiết thi hành Điều 220 của Bộ luật Lao động về danh mục đơn vị sử dụng lao động không được đình công và giải quyết yêu cầu của tập thể lao động ở đơn vị sử dụng lao động không được đình công thay thế Nghị định 122/2007/NĐ-CP và Nghị định 28/2011/NĐ-CP Hiện Bộ luật Lao động năm 2012 đang trong giai đoạn sửa đổi, bổ sung Ngoài ra, quy định thủ tục xét tính hợp pháp của cuộc đình công đã được Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định tại chương XXXI (từ Điều 403 đến Điều 413) Các quy định về vấn đề này tại Bộ luật Lao động năm 2012 hết hiệu lực kể từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự có hiệu lực (xem Điều
516 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015)
Có thể thấy rằng, pháp luật về đình công liên tục được hoàn thiện để kịp thời điều chỉnh quan hệ xã hội về đình công trong thời kỳ mới Mặc dù các quy định về hạn chế đình công của BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn liên quan được đánh giá chung là phù hợp, đưa đình công về đúng bản chất của
nó, song vẫn cần có thời gian để kiểm chứng trong thực tiễn và nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện
Luận văn tập trung đi sâu vào các quy định hạn chế đình công, góp phần
lý giải tại sao gần như 100% cuộc đình công trên phạm vi toàn quốc đều là đình
Trang 9công bất hợp pháp Trên cơ sở đó đóng góp ý kiến nhằm hạn chế phần nào những cuộc đình công trái luật, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên trong quan hệ lao động, góp phần đem lại những giá trị dân chủ trong lĩnh vực lao động; bên cạnh đó vẫn bảo đảm nguyên tắc phù hợp với lợi ích chung của xã hội, không gây bất ổn về an ninh trật tự, an toàn xã hội, không ảnh hưởng tới các doanh nghiệp và các ngành kinh tế khác
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đình công ở Việt Nam được nhìn nhận và nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau với nhiều phương thức thể hiện cụ thể như: sách, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ, bài viết, đề tài nghiên cứu, Trong số đó, nghiên
cứu ở mức độ toàn diện là Luận án tiến sỹ của NCS Đỗ Ngân Bình: “Pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” (Trường Đại học Luật Hà Nội - 2005) Luận án này là công
trình nghiên cứu một cách hệ thống về pháp luật đình công và giải quyết đình công, về những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng cũng như những giải pháp tổng thể, để hoàn thiện pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế gắn với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị
trường Tiếp đó là Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Hồng Hạnh với đề tài “Đình công và giải quyết đình công theo pháp luật lao động Việt Nam” (Trường Đại học
Luật Hà Nội - 2008) cũng nghiên cứu tương đối toàn diện về pháp luật đình công
và giải quyết đình công trên cơ sở các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của BLLĐ năm 2006 Luận văn thạc sỹ: "Những vấn đề pháp lý về việc tham gia của công đoàn trong giải quyết tranh chấp lao động và đình công" của tác giả
Nguyễn Thị Phương Thúy (Trường Đại học Luật Hà Nội - 2009) nghiên cứu về vai trò của tổ chức đại diện lao động (công đoàn) tham gia giải quyết tranh chấp lao động và đình công Luận văn thạc sỹ của tác giả Hà Thị Hoa Phượng với đề tài
“Đình công và giải quyết đình công theo BLLĐ 2012” (Trường Đại học Luật Hà
Trang 10Nội - 2012) Bên cạnh đó, cũng phải kể đến các bài viết trên các tạp chí nghiên cứu về khoa học pháp lý như Tạp chí Luật học, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp… Riêng đối với lĩnh vực liên quan đến hạn chế quyền đình công, hiện tại không có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu đến lĩnh vực này là luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Thị Thu
Hương “Cấm, hạn chế đình công trong pháp luật lao động Việt Nam“ năm 2008
(Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội)
Tuy đã có nhiều công trình nghiên cứu về đình công song đó là hướng nghiên cứu rộng xung quanh vấn đề đình công nói chung, không nghiên cứu cụ thể, chi tiết khía cạnh hạn chế quyền đình công; hoặc cũng có công trình đã nghiên cứu đề tài này tuy nhiên chưa có công trình nào đánh giá nội dung này đặt trong tiêu chuẩn quốc tế cũng như so sánh với các quy định pháp luật nước ngoài Tuy nhiên, các công trình nói trên đã gợi mở cho tôi nhiều ý tưởng về lý luận và thực tiễn để tôi thực hiện luận văn
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về những hạn chế đối với quyền đình công, cụ thể là nghiên cứu những hạn chế về quyền đình công trong pháp luật lao động Việt Nam vì trên thực tế, quyền đình công cũng chỉ được quy định chủ yếu trong pháp luật lao động Ngoài các quy định của pháp luật lao động Việt Nam, Luận văn cũng nghiên cứu và đề cập đến một số quan điểm của Tổ chức lao động thế giới (ILO) và pháp luật lao động của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề hạn chế đình công nhằm tạo cơ sở pháp lý cũng như có sự so sánh để làm sáng tỏ các vấn đề liên quan
Luận văn không nghiên cứu những vấn đề liên quan đến giải quyết đình công
4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 11Xuất phát từ những đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam và những yêu cầu của thực tiễn về mối quan hệ pháp luật giữa người lao động và người sử dụng lao động, mục đích chính của luận văn là nghiên cứu các vấn đề lý luận về hạn chế quyền đình công, cũng như những quy định trong pháp luật Việt Nam về vấn đề này so với tiêu chuẩn quốc tế và thực tiễn áp dụng Trên cơ sở đó có sự đánh giá, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật lao động hiện hành, bảo vệ hài hòa lợi ích của cả người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Với mục đích nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và pháp lý về đình công nói chung và hạn chế quyền đình công nói riêng chẳng hạn như: khái niệm đình công, dấu hiệu cơ bản của đình công, ảnh hưởng, cách phân loại đình công, một số vấn đề pháp lý
về hạn chế quyền đình công theo pháp luật lao động Việt Nam và Tiêu chuẩn lao động quốc tế
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng nhằm tìm ra những điểm bất cập chưa hợp lý để
từ đó đưa ra những phương hướng, giải pháp để hạn chế tình trạng đình công bất hợp pháp đang xảy ra
- Đề xuất một số định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật hạn chế quyền đình công ở Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu Khoá luận đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, liệt kê đồng thời cũng dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về chính sách kinh tế - xã hội, bảo vệ và phát triển con người Trong đó, chương 1 chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, liệt kê; chương 2 dùng phương pháp phân tích, so sánh, kết hợp lý luận với thực tiễn; chương 3 dùng phương pháp
Trang 12thống kê, phân tích, tổng hợp
6 Ý nghĩa của luận văn
Về mặt lý luận: Đề tài luận văn có ý nghĩa làm rõ hệ thống lý luận, những vấn đề pháp lý cơ bản về vấn đề hạn chế đình công, sự cần thiết đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người lao động cũng như bảo vệ người lao động trong đình công Bảo đảm nguyên tắc “trước pháp luật mọi người đều bình đẳng” để có cái nhìn khách quan và đầy đủ hơn về quan hệ lao động nhất là trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay
Về mặt thực tiễn: Phân tích thực trạng các quy định pháp luật, tình hình thực tiễn áp dụng trong thời gian qua cũng như đánh giá các quy định của pháp luật trong việc hạn chế quyền đình công Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật lao động về vấn đề này cũng như đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở chính sách pháp luật, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà đầu
tư, doanh nghiệp khi họ được đảm bảo hoạt động trong môi trường pháp lý đầy
đủ và an toàn
7 Kết cấu của Luận văn
Về kết cấu, ngoài Lời nói đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương, cụ thể là:
Chương 1: Khái quát chung về đình công và hạn chế quyền đình công Chương 2: Quy định của pháp luật lao động Việt Nam về hạn chế quyền đình công và đánh giá trên tiêu chuẩn quốc tế
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao tính khả thi của các quy định về hạn chế quyền đình công trong pháp luật lao động Việt Nam
Trang 13Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐÌNH CÔNG
VÀ HẠN CHẾ QUYỀN ĐÌNH CÔNG
1.1 Khái quát chung về đình công
1.1.1 Khái niệm, các dấu hiệu cơ bản của đình công
1.1.1.1 Khái niệm đình công
Đình công là một hiện tượng trong quan hệ lao động, xảy ra khi mâu thuẫn phát sinh giữa Người lao động (NLĐ) và Người sử dụng lao động (NSDLĐ) lên đến mức không thể giải quyết bằng các biện pháp giải quyết tranh chấp thông thường Để đưa ra cái nhìn thống nhất và tương đối toàn diện về đình công, trước hết cần xem xét đình công dưới những góc độ khác nhau Cụ thể là đình công cần được xem xét dưới các góc độ xã hội, kinh tế và pháp lý
Dưới góc độ xã hội, đình công là hiện tượng xã hội xuất hiện và tồn tại
một cách khách quan trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường mua bán hàng hóa sức lao động là nơi diễn ra sự trao đổi sức lao động, thông qua quan hệ mua bán giữa NLĐ (người bán) và NSDLĐ (người mua) Mối quan hệ này làm nảy sinh những lợi ích chung, những quan hệ phụ thuộc gắn chặt với nhau trong hệ thống phân công lao động xã hội, ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi bởi các quy định của pháp luật Chính vì vậy, quan hệ lao động vừa là quan hệ đối lập (sự đối lập có thể dẫn tới xung đột), nhưng đồng thời lại là quan hệ hợp tác (xung đột, đấu tranh nhưng hai bên rất cần nhau, đình công, tranh chấp nhưng không làm bên kia phải đóng cửa, phá sản) Do đó, khi không đạt được các thỏa thuận về quyền và lợi ích như mong muốn, NLĐ đã chọn cách liên kết với nhau, cùng ngừng việc tập thể để gây sức ép đối với NSDLĐ chứ không chấm dứt quan hệ lao động
Trang 14Những điều này cũng cho thấy đình công là một hiện tượng xuất hiện và tồn tại khách quan, nó chỉ phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội mà nó tồn tại chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào việc nhà nước hay pháp luật quốc gia có thừa nhận hay không Nó có cả yếu tố tích cực (đem lại giá trị dân chủ trong lĩnh vực lao động, làm giảm đi khoảng cách giữa lợi ích của NSDLĐ và lợi ích của những NLĐ ) và yếu tố tiêu cực (mất ổn định xã hội, gây thiệt hại đến sự phát triển kinh tế ).Vấn đề là nhà nước phải thừa nhận và điều chỉnh sao cho giảm bớt đi các tác động tiêu cực này
Dưới góc độ kinh tế, đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế của tập thể
lao động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích kinh tế, xã hội, lao động mà họ quan tâm
Do sức ép về vấn đề việc làm và thu nhập, do ảnh hưởng của tương quan cung cầu sức lao động mà NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn so với NSDLĐ Vì vậy, khi các lợi ích trong quan hệ lao động bị NSDLĐ vi phạm, những NLĐ thường liên kết với nhau, cùng ngừng việc để tạo thành sức mạnh tập thể đấu tranh với NSDLĐ Đình công sẽ gây ra những thiệt hại khó xác định và gây hậu quả không nhỏ cho doanh nghiệp, vô hình chung tạo áp lực lên NSDLĐ Do đó, đình công trở thành “vũ khí lợi hại” mà tập thể lao động sử dụng trong cuộc đấu tranh với NSDLĐ Ngoài ra, trong nhiều trường hợp, những người đình công còn nhằm gây sức ép với Nhà nước, Đảng cầm quyền nếu pháp luật hoặc chính sách đưa ra
có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ (đình công chính trị) hoặc gây sức ép lên NSDLĐ ở một đơn vị khác để hưởng ứng cho những NLĐ đang đình công tại đó (đình công hưởng ứng)
Dưới góc độ pháp lý, đình công là quyền tập thể của NLĐ được pháp luật
thừa nhận trong một phạm vi nhất định, theo đó, NLĐ có quyền được nghỉ việc tập thể nhằm buộc NSDLĐ phải thỏa mãn những yêu sách của mình
Trên bình diện quốc tế, ILO bảo vệ quyền đình công của NLĐ trên cơ sở Công ước lao động quốc tế số 87 (1948) về các quyền tự do liên kết và quyền tổ
Trang 15chức, Công ước số 98 (1949) về quyền tổ chức và thương lượng tập thể ILO có hai cơ cấu đặc biệt giám sát vấn đề tự do liên kết (kể cả đình công) của NLĐ là:
Ủy ban về quyền tự do liên kết của Hội đồng quản trị ILO và Hội đồng điều tra, hòa giải về quyền tự do liên kết Quan điểm của ILO về vấn đề đình công được thể hiện trong Bản Tổng khảo sát về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể do Ủy ban chuyên gia về việc áp dụng Công ước và Khuyến nghị của ILO trình bày tại Hội nghị lao động quốc tế kỳ 69 (năm 1983) ILO cho rằng quyền đình công là một trong những biện pháp thiết yếu NLĐ và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế và xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà NLĐ trực tiếp quan tâm
Với cách hiểu như trên thì đình công không chỉ có ý nghĩa đối với NLĐ
mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội Không chỉ đem lại điều kiện làm việc tốt hơn cho NLĐ, đình công còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế - xã hội hay các vấn đề lao động bất kỳ nào mà NLĐ trực tiếp quan tâm Đó là ý nghĩa xã hội lớn lao mà đình công hướng tới Vậy tại sao có những quốc gia cho tới thời điểm hiện nay vẫn đưa ra những quy định nhằm hạn chế đình công Phải chăng hiểu đình công như thế nào còn phụ thuộc vào quan điểm lập pháp và ý thức chính trị của nhà cầm quyền
Do điều kiện kinh tế - xã hội, mỗi quốc gia có quan điểm khác nhau về đình công Có quốc gia thừa nhận quyền đình công nhưng cũng có nước hiện vẫn tồn tại những quy định hạn chế, thậm chí là không thừa nhận; và cũng có quốc gia ghi nhận đình công là quyền hiến định xong có quốc gia cũng mới chỉ ghi nhận đình công là quyền luật định Sự khác biệt này xuất phát từ điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia
Trang 16Ở một số nước phát triển, quyền đình công được coi là quyền đương nhiên của NLĐ về quyền tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể Ở một số nước
tư bản chủ nghĩa lâu đời, vấn đề đình công được xem là hiện tượng rất quen thuộc, rất thông thường, thậm chí không cần thiết phải quy định trong luật liên bang mà chỉ theo án lệ (như Đức, Anh, Úc, ) Song ở hầu hết các nước khác đều ghi nhận quyền đình công trong các văn bản pháp luật về lao động, chẳng hạn Hoa Kỳ quy định trong Luật quan hệ quản lý lao động; Malaysia và Singapore quy định về đình công trong Luật công đoàn; Nga, Na Uy, Philippines quy định trong Bộ luật lao động Ví dụ Điều 5 Luật Quan hệ lao động của Thái Lan (1975)
quy định, đình công là những việc người lao động ngừng công việc hàng loạt với tính chất tạm thời do có tranh chấp lao động Đình công xuất phát từ tranh chấp
lao động, do mâu thuẫn giữa các bên trong quan hệ lao động không được giải quyết hoặc có sự thương lượng, hòa giải nhưng sự thương lượng, hòa giải đó không làm thỏa mãn đòi hỏi của NLĐ Đình công có dấu hiệu là sự ngừng việc nhưng tính chất của sự việc này khác với sự ngừng việc trong chấm dứt quan hệ lao động Người lao động cùng nhau ngừng việc hàng loạt để tiến hành đình công nhưng chỉ với tính chất tạm thời, sau khi kết thúc đình công, họ có thể lại tiếp tục làm việc, quan hệ lao động đã thiết lập với NSDLĐ vẫn được duy trì; còn khi chấm dứt quan hệ lao động, NLĐ không còn bất cứ mối quan hệ ràng buộc nào với NSDLĐ Không nêu ra một khái niệm hay định nghĩa cụ thể về đình công, Chính phủ Philippines thể hiện quan điểm về đình công như sau:
“Đình công không chỉ bao gồm sự ngừng việc có phối hợp mà gồm cả lãn công, nghỉ việc hàng loạt, bãi công ngồi, có ý đồ hủy hoại, tiêu hủy hoặc phá hoại thiết
bị, cơ sở sản xuất và những hoạt động tương tự” Một loạt dấu hiệu để nhận biết
đinh công không chỉ là dấu hiệu ngừng việc có phối hợp Lãn công, bãi công ngồi, nghỉ việc hàng loạt hay những hành vi thể hiện ý đồ hủy hoại, tiêu hủy hoặc phá hoại thiết bị, cơ sở sản xuất cũng được coi là dấu hiệu để nhận biết đình
Trang 17công ở Philippines Như vậy, cách thức đình công mà Chính phủ nước này thừa nhận về mặt luật pháp đa dạng hơn nhiều quốc gia khác
Nhìn chung, không phải quốc gia nào khi thừa nhận quyền đình công cũng đưa ra khái niệm đình công và quyền đình công Dù quy định cụ thể trong luật hay không đều xuất phát từ quyền thương lượng tập thể, có nghĩa là đình công chỉ phát sinh từ thương lượng tập thể
Các quốc gia tuy có nhiều quan điểm khác nhau về đình công nhưng đều
đã thể hiện ý chí thống nhất thông qua việc ghi nhận đình công là một trong những quyền của người lao động Trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế,
văn hóa và xã hội (1966) mà Việt Nam gia nhập ngày 24/09/1982 ghi rõ: “Các thành viên của Công ước cam kết bảo đảm quyền đình công với điều kiện là quyền này phải được thực hiện phù hợp với luật pháp của mỗi nước” Như vậy,
yếu tố kinh tế - văn hóa - xã hội có tác động trực tiếp tới việc các quốc gia thực thi công ước và chuyển hóa các quy định của công ước thành luật pháp quốc gia Yêu cầu mà Đại hội đồng Liên hợp quốc đặt ra đối với các thành viên gia nhập công ước đó là việc cam kết bảo đảm việc thực hiện quyền đình công; tuy nhiên mức độ bảo đảm thực hiện đến đâu còn phải tính tới đặc thù của mỗi nước
Ở Việt Nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về quan niệm đình công Theo Từ điển Luật học của Nhà xuất bản Từ điển bách khoa Hà Nội:
“Đình công là đỉnh cao của tranh chấp lao động tập thể, được biểu hiện ở sự ngừng việc tập thể Đình công là biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt của tập thể lao động để đòi NSDLĐ thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động, đòi thỏa mãn các yêu sách và các vấn đề trong quan hệ lao động”.1
Khoản 1 Điều 209 Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012: “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt
1
Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội, 1999, tr.160
Trang 18được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động” Khái niệm đình
công này cũng phần nào thể hiện được các trường hợp đình công hợp pháp, cụ thể khái niệm này coi mục đích của đình công là để đạt đượcnhững yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động, từ đó gián tiếp chỉ ra phạm vi của đình công diễn ra trong quan hệ lao động, chủ thể chịu sức ép là NSDLĐ và đình công có mục tiêu đòi hỏi những quyền và lợi ích về kinh tế Mặc dù vậy, như đã phân tích, bản chất kinh tế của đình công là biện pháp đấu tranh của NLĐ nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích kinh tế, xã hội, lao động mà họ quan tâm; có thể là của họ hoặc của những NLĐ khác như trong cuộc đình công hưởng ứng, thậm chí là để phản đối nhà cầm quyền và liên quan tới các chính sách hoặc quy định của pháp luật như trong cuộc đình công chính trị
Như vậy, có thể nhận thấy, khái niệm đình công trong pháp luật lao động Việt Nam được quy định theo hướng hẹp hơn so với khái niệm đình công theo nghĩa chung (như đã nêu) Điều này đồng nghĩa với việc nếu xảy ra các trường hợp ngừng việc tạm thời nhằm đòi yêu sách với một chủ thể khác không phải là NSDLĐ, hoặc ngừng việc không nhằm giải quyết tranh chấp lao động tập thể thì không được coi là đình công theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam
1.1.1.2 Các dấu hiệu cơ bản của đình công
Thứ nhất, đình công biểu hiện bằng sự ngừng việc tạm thời một cách đồng loạt, triệt để của nhiều NLĐ
Trong trường hợp xảy ra bất đồng giữa tập thể lao động với NSDLĐ hay một chủ thể khác, tập thể lao động có thể ngừng việc nhằm gây áp lực buộc chủ thể kia phải chấp nhận các yêu sách Sự ngừng việc này được coi là hợp pháp hay bất hợp pháp tùy thuộc vào quy định của pháp luật nhưng đây luôn được coi
là dấu hiệu đầu tiên, là thuộc tính cơ bản phản ánh bản chất của đình công
Sự ngừng việc của đình công được hiểu là phản ứng của những NLĐ bằng cách không làm việc, không xin phép, trong khi biết trước là NSDLĐ không
Trang 19đồng ý Trong ý thức của những NLĐ, sự ngừng việc này chỉ diễn ra tạm thời, trong một thời gian ngắn, họ không dự định ngừng việc lâu dài, không bỏ việc và không đi làm cho người khác Trong thời gian đình công, quan hệ lao động vẫn tồn tại và NLĐ sẽ tiếp tục làm việc sau đình công
Trên thực tế, sự ngừng việc thường biểu hiện ở những mức độ khác nhau như ngừng việc lẻ tẻ hay đồng loạt, làm việc cầm chừng hay ngừng việc triệt để
Đa số pháp luật các nước theo xu hướng thừa nhận ngừng việc triệt để mới là dấu hiệu để nhận dạng đình công Những người tham gia đình công thường ngừng việc hoàn toàn, không thực hiện bất kỳ công việc nào theo quy định và thoả thuận hợp pháp của các bên trong thời gian đình công Như vậy, nếu NLĐ phản ứng bằng cách nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, không sử dụng hết công suất máy móc, thời gian làm việc… (hay còn gọi là lãn công), thì thường không được coi là đình công và có nguy cơ phải chịu các hình thức kỷ luật lao động
Thứ hai, NLĐ thực hiện đình công một cách tự nguyện
Xét về bản chất pháp lý, đình công là quyền của NLĐ Theo đó, NLĐ có quyền tự quyết định tham gia hay không tham gia đình công, không ai có quyền
ép buộc họ phải thực hiện đình công, hoặc cấm họ không được đình công Ngoài
ra, những trường hợp tập thể lao động phải ngừng việc do các yếu tố khách quan,
ví dụ nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch hoạ… hay ngừng việc do lỗi của NSDLĐ thì không phải là đình công Pháp luật nước ta hiện hành không nêu cụ thể nhưng cũng gián tiếp thể hiện dấu hiệu này thông qua các quy định về thủ tục lấy ý kiến tập thể lao động trước khi đình công; về tỉ lệ tối thiểu số người tán thành;
Thứ ba, đình công luôn có tính tập thể
Đình công là quyền của NLĐ nhưng thực hiện đình công bao giờ cũng là hành vi mang tính tập thể Sự tham gia của tập thể lao động vừa là một trong các biểu hiện bên ngoài của đình công, vừa là một dấu hiệu không thể thiếu của đình
Trang 20công Tính tập thể của một cuộc đình công được thể hiện đồng thời trên hai
phương diện: Về định lượng, cuộc đình công phải do toàn bộ, đa số hoặc một số
lượng lớn lao động trong một bộ phận của doanh nghiệp, một doanh nghiệp, một
số doanh nghiệp, một ngành hoặc một vùng… thực hiện; Về định tính, phải có sự
liên kết giữa NLĐ ngừng việc nói trên, cùng ngừng việc vì mục tiêu chung Hành vi ngừng việc nếu không thỏa mãn cả hai dấu hiệu này thì không được coi
là đình công Do vậy, nếu hành vi ngừng việc của một cá nhân hay nhiều cá nhân nhưng giữa họ không có sự liên kết với nhau và không vì mục đích chung thì không được coi là đình công
Pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ về dấu hiệu này nhưng chỉ thừa nhận những cuộc đình công phát sinh từ tranh chấp lao động tập thể, trong phạm vi doanh nghiệp, được quá nửa số lao động tán thành mới là hợp pháp (Khoản 1 Điều 213 BLLĐ 2012)
Thứ tư, đình công luôn có tính tổ chức
Tính tổ chức của đình công được hiểu là có người lãnh đạo đình công, có
sự phối hợp và chủ định trong phạm vi những NLĐ ngừng việc Những người tham gia thường tiến hành đình công theo những trật tự chung do họ xác định nhằm đạt được mục đích chung Thực tế, thì mỗi NLĐ khi tham gia đình công có những hành động và suy nghĩ khác nhau, nếu không có sự thống nhất hành động thông qua vai trò của tổ chức lãnh đạo thì NLĐ sẽ không có tiếng nói chung và không phát huy sức mạnh tập thể Đó là yêu cầu khách quan của đình công, không phụ thuộc nhiều vào việc người lãnh đạo cuộc đình công đó và trật tự tiến hành đình công có được pháp luật thừa nhận là hợp pháp hay không Tính tập thể
và tính tổ chức là hai dấu hiệu không thể tách rời, có sự tác động qua lại với nhau làm nên hiện tượng đình công
Trang 21Như vậy, có thể hiểu rằng tính tổ chức của đình công được thể hiện qua sự đồng thuận, nhất trí và được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định chứ không phụ thuộc vào ai là người lãnh đạo đình công
Thứ năm, mục đích của đình công là nhằm đạt được những yêu sách gắn với quyền và lợi ích của tập thể lao động
Ngừng việc tập thể chỉ là hình thức biểu hiện, là cách thức gây áp lực để đạt được mục đích của đình công Mục đích cuối cùng mà những người đình công hướng tới là lợi ích của họ trong phạm vi quan hệ lao động, gắn với lợi ích nghề nghiệp của họ Thông qua hành động ngừng việc, tập thể lao động gây sức
ép với NSDLĐ hoặc giới sử dụng lao động trực tiếp tham gia quan hệ lao động, nhằm đạt được những yêu sách về kinh tế
Những yêu sách của tập thể lao động cũng có thể không nằm trong phạm
vi quan hệ lao động cụ thể (xét theo nghĩa hẹp), nhưng phải liên quan đến quan
hệ lao động hoặc được NLĐ quan tâm Ví dụ trường hợp những người đình công gây áp lực với nhà nước, chính quyền địa phương về chính sách lao động, tiền lương, thất nghiệp thậm chí có cả những yêu sách về chính trị hoặc chỉ để ủng
hộ cho những yêu sách của cuộc đình công khác Việc cho phép các cuộc đình công có được vượt ra khỏi phạm vi quan hệ lao động hay không còn tuỳ thuộc vào quan điểm của từng quốc gia
Như vậy, đình công có năm dấu hiệu cơ bản, theo đó nó là sự ngừng việc tạm thời nhưng triệt để, xuất phát từ ý chí chủ quan và hoàn toàn tự nguyện của nhiều NLĐ, có tính tập thể và tính tổ chức, với mục đích nhằm đạt được yêu sách của những người tham gia đình công
1.1.2 Phân loại đình công
Việc phân loại đình công không chỉ có ý nghĩa về mặt lí luận, nhận thức
mà còn giúp cho quá trình điều chỉnh vấn đề đình công hiệu quả Có nhiều cách
Trang 22thức để phân loại đình công tùy theo các căn cứ khác nhau, trong đó có bốn căn
cứ cơ bản như sau:
Thứ nhất, căn cứ vào tính chất của cuộc đình công, có thể phân đình công
thành hai loại: đình công kinh tế và đình công chính trị
Đình công kinh tế là những cuộc đình công nhằm gây sức ép với bên sử dụng lao động hoặc chủ thể khác để đạt được những mức độ lớn hơn về quyền và lợi ích trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, nghề nghiệp như việc làm, tiền lương, thu nhập, điều kiện lao động và các quyền lợi khác liên quan đến quan hệ lao động Đây là loại đình công phổ biến vì nó phản ánh lí do ra đời và tồn tại của đình công, phản ánh bản chất của đình công Phạm vi đình công kinh tế có thể khác nhau theo quy định của từng nước nhưng nhìn chung, pháp luật Việt Nam
và nhiều nước khác đều thừa nhận đình công kinh tế là hợp pháp
Đình công chính trị là những cuộc đình công nhằm gây sức ép để phản đối chính quyền nhà nước hoặc các đảng phái chính trị, cầm quyền hay đối lập nhằm đạt được các mục đích chính trị mà người đình công quan tâm Nó thường phản ánh thái độ, mục đích chính trị của họ đối với đường lối đối nội và đối ngoại của nhà nước hay các đảng phái cầm quyền Ví dụ như cuộc đình công của công nhân công ty TNHH Pouyeun Việt Nam “phản đối” các quy định tại Điều 60 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 về việc không cho người tham gia BHXH được hưởng BHXH một lần như trước2
Từ đó có thể thấy, đình công chính trị có ảnh hưởng lớn đến trật tự, an ninh xã hội và sự tồn tại của các chế độ cầm quyền trong phạm vi quốc gia Do đó luật pháp của hầu hết các nước đều coi những cuộc đình công chính trị là bất hợp pháp Ở Việt Nam chúng ta gián tiếp không
thừa nhận đình công chính trị thể hiện qua quy định “việc đình công chỉ được
2
huong-bhxh-1-lan-309595.bld
Trang 23http://laodong.com.vn/cong-doan/gan-90000-cong-nhan-pouyuen-dinh-cong-vi-khong-duoc-tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích” (Khoản 2 Điều 209
BLLĐ năm 2012)
Thứ hai, căn cứ vào mục đích đình công, có thể phân thành: đình công yêu
sách và đình công hưởng ứng (ủng hộ)
Đình công yêu sách là những cuộc đình công nhằm đạt được một hoặc một
số yêu sách về quyền và lợi ích cho những NLĐ tham gia đình công Các nhà nước thường chỉ quy định về phạm vi liên quan của yêu sách, chủ thể bị yêu sách, ít khi quy định về tính hợp pháp của nội dung yêu sách Pháp luật nước ta chỉ thừa nhận những cuộc đình công nhằm giải quyết những tranh chấp lao động tập thể là hợp pháp
Đình công hưởng ứng là những cuộc đình công nhằm ủng hộ, tỏ thái độ đồng tình để hỗ trợ cho cuộc đình công khác trong khi những người tham gia đình công (hưởng ứng) không có yêu sách về quyền và lợi ích cho mình
Một số nước cũng thừa nhận hình thức đình công hưởng ứng của NLĐ, nhất là những nước kí thỏa ước tập thể theo ngành hoặc có cấu trúc công nghiệp,
có những trung tâm tập trung lao động như Pháp, Đức, Anh, Thụy Điển ILO cho rằng NLĐ phải có quyền đình công hưởng ứng miễn sao chính cuộc đình công mà họ tỏ cảm tình cũng phải là hợp pháp Ở Việt Nam chỉ thừa nhận những cuộc đình công trong phạm vi một doanh nghiệp nên đình công hưởng ứng, nếu vượt khỏi phạm vi doanh nghiệp, sẽ bị coi là bất hợp pháp
Thứ ba, căn cứ vào phạm vi đình công, thì đình công được phân thành bốn
loại:
- Đình công doanh nghiệp: là những cuộc đình công do tập thể lao động trong phạm vi một doanh nghiệp tiến hành Đây là loại đơn vị thường xảy ra đình công, cũng là phạm vi đình công thường được pháp luật thừa nhân
Trang 24- Đình công bộ phận: là những cuộc đình công do tập thể lao động trong một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp (hoặc của đơn vị sử dụng lao động) tiến hành
- Đình công ngành, khu vực: là những cuộc đình công của những NLĐ trong phạm vi một ngành, một khu vực tiến hành
- Tổng đình công: là những cuộc đình công của những NLĐ trong phạm vi nhiều ngành hoặc nhiều khu vực trong toàn quốc tiến hành Tuy nhiên, điều đó hiếm khi xảy ra vì phạm vi đình công thường liên quan đến lợi ích chung của NLĐ trong phạm vi nhất định hoặc phụ thuộc vào phạm vi hoạt động của một tổ chức công đoàn Thực tế thì ít có những chế độ lao động chung bị giới lao động
cả nước phản đối bởi chính sách pháp luật của quốc gia vốn đã được nhà nước (hoặc ba bên) cân nhắc khá kĩ trước khi ban hành
Pháp luật Việt Nam chỉ thừa nhận những cuộc đình công trong phạm vi doanh nghiệp (đình công doanh nghiệp và bộ phận) là hợp pháp
Thứ tư, căn cứ vào sự thừa nhận của pháp luật về tính hợp pháp của đình công, có: đình công hợp pháp và đình công bất hợp pháp
Đình công hợp pháp là đình công tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.Một số nước quy định cụ thể các trường hợp đình công bất hợp pháp, như Liên bang Nga quy định, đình công được coi là bất hợp pháp nếu xảy ra trong thời gian chiến sự hoặc tình trạng khẩn cấp hoặc đang trong công việc tìm kiếm
và cứu nạn hàng không, cứu hỏa hay các cuộc đình công tại doanh nghiệp, cơ quan/tổ chức cung cấp điện, nước hơi đốt, đường sắt, bưu chính viễn thông, giao thông đường thủy, bưu điện Ngoài ra, pháp luât Lao động Nga hạn chế quyền đình công trong trường hợp đình công là bất hợp pháp nếu không tuân thủ theo trình tự và những yêu cầu theo quy định luật3 Luật Lao động của Campuchia
3
Điều 413 Bộ luật Lao động Liên bang Nga (2001)
Trang 25quy định đình công bất hợp pháp là những cuộc đình công không tuân thủ các thủ tục quy định hoăc đình công không hòa bình4
Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, đình công nếu không thuộc các trường hợp đình công bất hợp pháp là đình công hợp pháp Quan điểm này đã thể hiện tư tưởng, dân chủ, tiến bộ của nhà nước pháp quyền: cho phép các cá nhân,
tổ chức… có thể làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cấm
Đình công bất hợp pháp là đình công không thực hiện đầy đủ, không thực hiện đúng các quy định của pháp luật Các trường hợp bị xem là đình công bất hợp pháp được quy định tại Điều 215 Bộ luật lao động 2012
Ngoài các căn cứ trên, đình công còn có thể phân loại dựa trên phương thức đình công (đình công cổ điển và đình công hiện đại); thời gian đình công (đình công luân phiên, đình công chớp nhoáng, đình công cảnh cáo…); và hình thức thực hiện đình công (đình công ngồi, đình công đứng tập trung, đình công chiếm xưởng, đình công diễu hành…)
1.1.3 Ảnh hưởng của đình công
1.1.3.1 Ảnh hưởng tích cực
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, các tranh chấp lao động càng trở nên đa dạng, phức tạp và phổ biến Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, NLĐ sử dụng quyền đình công nhằm gây áp lực buộc NSDLĐ và các chủ thể khác phải thỏa mãn những yêu sách của mình, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm những thỏa thuận hợp pháp (nếu có) đã được xác lập trong quá trình giao kết và thực hiện các quan hệ lao động Với sự liên kết sức mạnh tập thể, thông qua đình công, NLĐ nhiều khi còn giành được những lợi ích cao hơn luật định Đó là điều
mà nếu từng cá nhân NLĐ đấu tranh riêng lẻ thì không dễ gì đạt được
4 Điều 336 và 337 Luật Lao động Campuchia (1997)
Trang 26Theo kết quả khảo sát do Tổng liên đoàn lao động Việt Nam tiến hành với
sự tài trợ của Viện FES (Cộng hòa liên bang Đức) có 377 ý kiến trên tổng số 635 NLĐ được hỏi cho rằng sau khi đình công, NSDLĐ quan tâm hơn đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ (chiếm 59,37%) Ngoài ra, với câu hỏi những công việc doanh nghiệp tiến hành sau khi đình công xảy ra, hầu hết ý kiến của
746 đối tượng được khảo sát (bao gồm cả NLĐ và NSDLĐ) đều trả lời doanh nghiệp đã tiến hành tổ chức sắp xếp lại sản xuất kinh doanh cho hợp lý hơn; xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung các quy định, quy chế nội bộ như nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, quy chế mối quan hệ phối hợp giữa NLĐ và công đoàn; thành lập các tổ chức cần thiết trong đơn vị sử dụng lao động theo quy định của pháp luật như: Công đoàn, Hòa giải viên lao động; các hoạt động đối thoại giữa NSDLĐ với NLĐ và các hoạt động khác
Mặt khác, thực tế cho thấy, qua các cuộc đình công, NSDLĐ sẽ rút ra được những bài học trong công tác quản lý nhân sự, trong việc thực hiện pháp luật, thực thi quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động, để có thể quản lý lao động tốt hơn Từ những thiệt hại về kinh tế, NSDLĐ cũng thấy cần phải thiện chí và hợp tác với NLĐ thì sản xuất kinh doanh mới có hiệu quả
Đình công là biện pháp thúc đẩy quá trình giải quyết thỏa đáng quyền lợi của NLĐ trong quan hệ lao động Nếu các bên cùng thiện chí, quan hệ lao động
sẽ phát triển hài hòa, ổn định, phù hợp với tính tích cực của nền kinh tế thị trường Sau đình công, quyền lợi NLĐ được đảm bảo hơn đã kích thích họ làm việc tích cực, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, góp phần phát triển đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
1.1.3.2 Ảnh hưởng tiêu cực
Cùng với sự phát triển của thị trường sức lao động, việc ghi nhận quyền đình công cho NLĐ là hết sức cần thiết Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, việc thực hiện quyền đình công của NLĐ cũng có những ảnh hưởng
Trang 27tiêu cực, đặc biệt là nếu tình trạng đình công tràn lan trong khi vẫn có thể có cách giải quyết tốt hơn hoặc là những cuộc đình công bất hợp pháp thì hậu quả
sẽ càng nghiêm trọng, nặng nề
Về phía NSDLĐ: Không bao giờ họ muốn đình công xảy ra, vì đình công
có nghĩa là tập thể lao động đồng loạt ngừng việc, không tham gia lao động sản xuất, không tạo ra sản phẩm và lợi nhuận cho NSDLĐ Cũng theo kết quả khảo sát của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, hầu hết các ý kiến của đối tượng được khảo sát đều cho rằng ảnh hưởng tiêu cực chủ yếu của đình công đối với NSDLĐ là: làm ngừng trệ sản xuất kinh doanh, gây thiệt hại về kinh tế cho doanh nghiệp, làm mất uy tín của doanh nghiệp Bởi lẽ, nếu đình công diễn ra trong thời gian dài ở phạm vi toàn doanh nghiệp, có thể dẫn đến tình trạng doanh nghiệp sẽ không có đủ sản phẩm để cung cấp cho khách hàng, không thực hiện đúng các hợp đồng đã giao kết và phải gánh chịu thiệt hại về vật chất (doanh nghiệp không thu được lợi nhuận, thậm chí còn bị phạt hợp đồng ) Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, do đình công xảy ra nhiều lần hoặc kéo dài dẫn đến uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng và bạn hàng giảm sút
Đối với NLĐ: Nếu NLĐ sử dụng quyền đình công không đúng, sẽ gây hại
đến quyền và lợi ích thiết thân của họ Đặc biệt là trong trường hợp nếu cuộc đình công bị kết luận là bất hợp pháp thì thu nhập của NLĐ bị giảm sút đáng kể Khi đó, điều kiện sinh hoạt, chất lượng cuộc sống của NLĐ và gia đình họ sẽ
bị ảnh hưởng nghiêm trọng Đó là còn chưa kể đến sự hợp tác trong mối quan hệ giữa NLĐ và NSDLĐ sẽ bị ảnh hưởng ở mức độ nhất định Ở Việt Nam trong thời gian qua, hầu hết các cuộc đình công bất hợp pháp là do sai về trình tự, thủ tục tiến hành đình công, mặc dù các yêu sách mà NLĐ đưa ra đều ít, nhiều phù hợp Do vậy, bên cạnh những kết quả đạt được từ đình công thì bản thân NLĐ của phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực vì trong trường hợp này, quyền lợi của
họ đã không được duy trì và đảm bảo ở mức tối đa
Trang 28Hơn nữa, ở những mức độ khác nhau, đình công còn làm mất ổn định đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng xấu đến chính sách khuyến khích
và thu hút đầu tư nước ngoài do tâm lý e ngại của các nhà đầu tư nước ngoài trước tình trạng đình công của NLĐ kéo dài và ngày càng phổ biến Đặc biệt, nếu cuộc đình công được tiến hành bởi NLĐ làm việc trong các doanh nghiệp phục vụ công cộng, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm trực tiếp phục vụ an ninh - quốc phòng thì đời sống sinh hoạt của nhân dân, sự phát triển của nền kinh tế -
xã hội, và an ninh quốc phòng của đất nước càng bị đe dọa
Như vậy, có thể nhận xét rằng, đình công đã có những tác động tích cực,
đó là thông qua đình công, các xung đột về quyền và lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ nhanh chóng được giải quyết Ngoài ra, đình công còn góp phần cải thiện quan hệ lao động Song, bên cạnh những mặt tích cực thì ảnh hưởng tiêu cực của các cuộc đình công là vấn đề cần được đặc biệt quan tâm cần nghiên cứu
để có thể hạn chế ở mức thấp nhất hậu quả đối với các bên chủ thể của quan hệ lao động cũng như đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước
1.2 Khái quát chung về hạn chế quyền đình công
1.2.1 Khái niệm hạn chế quyền đình công
Hạn chế đình công là vấn đề nhạy cảm vì đình công là quyền kinh tế - xã hội của người lao động Về nguyên tắc khi đã được thừa nhận là quyền trong các văn bản pháp lý, không thể tồn tại những hạn chế đối với đối tượng thực hiện Tuy nhiên, nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực mà đình công đem lại, các nhà lập pháp ở tất cả các quốc gia trên thế giới đã dự liệu trước một số tình huống hay nói cách khác là đưa ra một số quy phạm trong đó thu hẹp giới hạn việc thực hiện hành vi đình công của người lao động
Hạn chế là giữ lại, ngăn lại một giới hạn nhất định, không thể hoặc không
để cho vượt qua Trong đình công, hạn chế chính là sự thu hẹp giới hạn việc thực hiện quyền nói trên Chủ thể có thẩm quyền quyết định việc này không ai khác
Trang 29chính là Nhà nước Bằng pháp luật, Nhà nước quy định cụ thể hành vi được phép, không được phép; những điều kiện đi kèm mà NLĐ phải thỏa mãn nếu quyết định tiến hành đình công Người lao động có quyền đình công nhưng chỉ trong phạm vi, giới hạn, khuôn khổ đã được các nhà lập pháp xây dựng nên Nếu vượt qua rào cản pháp lý đó, đình công của NLĐ sẽ trở thành đình công bất hợp
pháp Vậy, có thể hiểu hạn chế đình công là cách mà Nhà nước giới hạn việc thực hiện quyền đình công của người lao động, không cho phép họ đình công vượt quá những khuôn khổ nhất định
Pháp luật của hầu hết các nước ít nhiều đều có những quy định về hạn chế đình công Có một số biện pháp được áp dụng khá phổ biến đó là:
Đặt ra những quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục, điều kiện đình công
Hạn chế quyền đình công của một số loại lao động bằng việc đưa ra danh mục những doanh nghiệp mà ở đó người lao động không được đình công
Tạo điều kiện cho sự tác động của cá nhân, tổ chức có thẩm quyền như ra lệnh hoãn, ngừng đình công, yêu cầu Tòa án xem xét
Áp dụng chế tài hành chính (phạt tiền) hoặc chế tài hình sự (phạt tù) nếu đình công không hợp pháp
Áp dụng những giới hạn về mục đích, phạm vi, phương pháp tổ chức đình công và những điều cấm
Xác định đối tượng không được phép (cấm) đình công là một phần của những quy định hạn chế quyền đình công Các nhà lập pháp thường “căn cứ vào tính chất công việc mà người lao động đang đảm nhiệm, mức độ ảnh hưởng của những lợi ích chung của xã hội do sự ngừng trệ công việc đó gây ra” để kịp thời ban hành những quy định cấm đình công hợp lý nhằm hạn chế đến mức thấp nhấy những ảnh hưởng tiêu cực của đình công
NLĐ thuộc đối tượng cấm, nếu đình công sẽ bị coi là vi phạm pháp luật lao động và phải gánh chịu những hình phạt tương ứng với mức độ vi phạm
Trang 30Phạm vi cấm đình công hẹp, chỉ áp dụng đối với một số đối tượng, lĩnh vực nhất định, thông thường là nhóm doanh nghiệp hoạt động công ích, doanh nghiệp có vai trò thiết yếu trong nền kinh tế hoặc doanh nghiệp an ninh quốc phòng
Hạn chế đình công là đưa ra giới hạn và chỉ cho phép NLĐ thực hiện quyền đình công trong giới hạn đó Nhà nước vẫn trao cho NLĐ quyền đình công nhưng có một số rào cản pháp lý buộc NLĐ phải tuân thủ Pháp luật quy định cho NLĐ có quyền được đình công để đòi giới chủ phải đáp ứng những đòi hỏi mà họ cho là hợp lý Họ có quyền được tập hợp lực lượng, quyền được nghỉ việc để đình công, gây sức ép với giới chủ nhưng đồng thời họ cũng phải có nghĩa vụ không được thực hiện những hành vi bị pháp luật ngăn cấm trước, trong
và thậm chí cả sau quá trình đình công Thực chất đó là những quy định nhằm hạn chế quyền đình công của NLĐ
Đình công là quyền của NLĐ đã được pháp luật bảo vệ Cấm hay hạn chế đình công đều là ngăn cản việc thực hiện quyền của giới thợ Vì những mục đích khác nhau, việc cấm và hạn chế kể trên vẫn được thừa nhận một cách hợp pháp Việc các quốc gia đặt ra những hạn chế nhất định đối với quyền đình công của NLĐ không nằm ngoài mục đích bảo vệ những lợi ích công cộng, giảm bớt những ảnh hướng tiêu cực của đình công
1.2.2 Đặc điểm của hạn chế quyền đình công
Chủ thể ban hành quy định về hạn chế quyền đình công
Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền ban hành các quy định về hạn chế đình công Đình công là biện pháp đấu tranh kinh tế của NLĐ tồn tại khách quan trong nền kinh tế thị trường, là quyền cơ bản của NLĐ và được quốc tế thừa nhận Bên cạnh những tác động tích cực (giải quyết xung đột giữa NLĐ và NSDLĐ, cải thiện quan hệ lao động ) thì đình công cũng đem lại những ảnh hưởng tiêu cực như ngừng trệ sản xuất kinh doanh, gây thiệt hại cho doanh nghiệp, gây mất ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước Do vậy, việc
Trang 31đưa ra các quy định về hạn chế đình công không thể là một chủ thể tùy tiện, mà
do Nhà nước quy định
Đồng thời, việc đưa ra quy định hạn chế đình công phải trong khuôn khổ cho phép của luật pháp quốc tế; phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của quốc gia và điều quan trọng, nó không nhằm mục đích triệt tiêu quyền của đình công của NLĐ Nếu quá lạm dụng các quy định về hạn chế đình công sẽ vi phạm quyền được luật pháp quốc tế thừa nhận của NLĐ Sự hạn chế là cần thiết nhằm phục
vụ những mục đích xã hội khác nhau, vì lợi ích chung của cả cộng đồng nhưng không đồng nghĩa với việc ngăn cản bất hợp pháp NLĐ sử dụng quyền này
Đối tượng điều chỉnh của quy định về hạn chế quyền đình công
Đối tượng chịu sự điều chỉnh của quy định về hạn chế đình công phần lớn
là những người lao động làm công ăn lương, đã xác lập quan hệ lao động với NSDLĐ Họ có quyền được đình công nhưng quyền này bị hạn chế hoặc cấm đình công bởi những lý do được các nhà cầm quyền viện dẫn NLĐ chịu sự điều chỉnh bởi các quy phạm về đình công điều tất yếu sẽ là đối tượng bị hạn chế đình công Các quy định hạn chế đình công này nằm rải rác trong các quy định về điều kiện hợp pháp của một cuộc đình công như: điều kiện về trình tự, thủ tục đình công, thời điểm đình công, chủ thể lãnh đạo, cách thức tiến hành đình công Sự hạn chế được thể hiện một cách tế nhị, ẩn đằng sau những quy định cho phép người lao động đình công Người lao động bị cấm sẽ không có bất kì
cơ hội nào được tiến hành đình công; đa số họ là những người làm việc trong các đơn vị sử dụng lao động, những ngành, khu vực đặc biệt có ảnh hưởng lớn tới đời sống nhân dân và có yêu cầu đặc biệt về an ninh, quốc phòng
Mục đích của việc hạn chế quyền đình công
Quy định về hạn chế đình công do Nhà nước ban hành nhằm mục đích bảo
vệ lợi ích chung của xã hội, đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên trong quan hệ lao động
Trang 32Đình công được xem như là một đặc quyền mà pháp luật trao cho tập thể lao động để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, song đặc quyền đó không phải là tuyệt đối bởi nó còn có những giới hạn nhất định Đó là vì lợi ích chung của xã hội, là vì quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động Lợi ích của NLĐ đặt cạnh quyền hợp pháp của NSDLĐ và dung hòa với lợi ích chung của cả cộng đồng Hạn chế đình công sẽ là hợp pháp nếu được xây dựng nhằm mục đích chính đáng kể trên
1.2.3 Sự cần thiết phải ban hành pháp luật về hạn chế quyền đình công
Hạn chế đình công phụ thuộc vào quan điểm và đặc thù của mỗi quốc gia
về đình công Các quốc gia thiên về xu hướng bảo vệ NLĐ nhiều hơn so với NSDLĐ sẽ có những quy định thông thoáng hơn về đình công (ví dụ như đưa ra các điều kiện đình công hợp pháp tạo thuận lợi cho NLĐ và tổ chức của họ trong quá trình đình công) Một số quốc gia khác quan tâm nhiều hơn tới việc bảo vệ lợi ích công cộng và tôn trọng quyền quản lý lao động của NSDLĐ thì đưa ra những quy định chặt chẽ hơn với mục đích hạn chế việc thực hiện quyền đình công của NLĐ; thông thường luật pháp các nước quy định chặt chẽ về thủ tục, trình tự đình công, chủ thể lãnh đạo và tiến hành đình công, các hành vi bị cấm trước, trong và sau quá trình đình công
Quyền đình công của người lao động đã được pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế thừa nhận Tuy nhiên vẫn tồn tại những quy định cấm, hạn chế đình công trong luật pháp của nhiều nước Cấm, hạn chế đình công ở một khía cạnh nhất định là điều cẩn thiết Có thể đưa ra một số lý do như sau:
Thứ nhất, đình công là hiện tượng phức tạp Bên cạnh những tác động tích
cực mà đình công đem lại cho NLĐ và tổ chức của họ, các nhà lập pháp cũng phải tính tới những hậu quả không mong muốn mà hiện tượng này gây ra cho NSDLĐ nói riêng và cho xã hội nói chung Bảo vệ NLĐ là cần thiết và rất quan trọng đối với mỗi Nhà nước, nhất là khi họ luôn bị đặt vào vị trí thế yếu trong
Trang 33mối quan hệ lao động Trao cho NLĐ quyền đình công là khoác cho họ tấm áo bảo hộ trước những sức ép mà giới chủ gây ra; tuy nhiên, được đình công không
có nghĩa là mọi đòi hỏi, yêu cầu củaNLĐ sẽ được đáp ứng Đối với một Nhà nước, việc bảo vệ giới thợ là cần thiết nhưng việc bảo đảm một môi trường đầu
tư ổn định, ít biến động cũng có ý nghĩa quan trọng không kém đối với sự phát triển của cả nền kinh tế Hiện tượng này có những ảnh hưởng nhất định đến môi trường đầu tư, trong khi đó đây lại là khu vực có những đóng góp đáng kể vào tốc độ tăng trưởng kinh tế Không phải mọi cuộc đình công đều hợp pháp, đều xuất pháp từ những lý do chính đáng cần được giới chủ đáp ứng; và cũng có không ít cuộc đình công được tiến hành do sự thiếu hiểu biết về pháp luật lao động nói chung và pháp luật về đình công nói riêng Lợi dụng sự thông thoáng trong các quy phạm pháp luật, nhiều NLĐ đã lạm dụng đình công, tiến hành đình công tràn lan, gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh tế xã hội Do đó, việc dung hòa lợi ích của các bên trong quan hệ lao động gắn liền với lợi ích chung của
xã hội cần được thể hiện rõ ràng và đầy đủ trong các văn bản pháp lý có liên quan
Thứ hai, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận đình công là
quyền kinh tế xã hội nhưng hiện tượng này lại có liên quan chặt chẽ đến vấn đề chính trị
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam - tập I thì “Đình công là một dạng bãi công ở quy mô nhỏ trong một hay nhiều xí nghiệp, cơ quan, thường không kèm theo những yêu sách về chính trị” Về bản chất, đình công khác hoàn toàn với bãi công, tuy nhiên, đình công dễ biến tướng thành bãi công, biểu tình ở quy mô rộng, mang màu sắc chính trị rõ nét Trong trường hợp Nhà nước không có sự điều chỉnh hợp lý và kịp thời thông qua các quy phạm pháp luật phù hợp, đình công có thể bị các phần tử chống đối lợi dụng để biến thành công cụ đấu tranh chính trị Khi đó hậu quả mà đình công gây ra cho xã hội là vô cùng lớn, an ninh chính trị bị đảo lộn, đời sống người dân bị đe dọa, kéo theo đó là những tác động
Trang 34không mong muốn đối với nền kinh tế, xã hội Những cuộc đình công kể trên có thể là ngòi nổ cho những bạo loạn chính trị của những đảng phái, phe cánh đối lập Như vậy, không chỉ có quan hệ lao động bị đe dọa mà sự bình ổn của cả nền chính trị cũng có những mầm mống của sự bất ổn Không thể cấm triệt để NLĐ đình công vì đình công là quyền đã được pháp luật không chỉ của quốc gia mà pháp luật quốc tế cùng đã thừa nhận Vấn đề đặt ra là đảm bảo để đình công chỉ đơn thuần là biện pháp đấu tranh kinh tế vì những lợi ích mang tính nghề nghiệp của NLĐ Việc Nhà nước đưa ra những quy định cấm trước, trong và sau đình công, quy định cấm không được đình công đối với một số đối tượng đặc thù hay những quy định nhằm hạn chế việc thực hiện quyền đình công của NLĐ là cần thiết Trước tiên là bảo vệ chính NLĐ, định hướng để họ thực hiện quyền của mình theo đúng quy định của Nhà nước nhằm đạt được hiệu quả đấu tranh cao nhất có thể, đồng thời tránh hiện tượng các phần tử phản động, đối lập lợi dụng đình công nổi loạn; sau là bảo vệ chính sự ổn định của nền chính trị quốc gia Thông thường, luật pháp các nước có những quy định chặt chẽ về các nội dung: Mục đích đình công, chủ thể lãnh đạo đình công, trình tự, thủ tục, phạm vi đình công
Thứ ba, cần có quy định hạn chế đình công đối với một số đối tượng như:
lao động làm việc trong một số doanh nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt đối với kinh tế, an ninh quốc phòng hoặc làm công việc đòi hỏi phải có sự liên tục, nhất quán Đình công trong những thời điểm nhạy cảm về chính trị khi đất nước đang trọng tình trạng thiết quân luật, khủng hoảng kinh tế hay bất ổn về chính trị cũng cần phải được hạn chế bởi những giới hạn pháp lý Nhà nước phải dự liệu trước những tình huống kể trên và kịp thời đưa ra những quy định cấm, hạn chế đình công Mục đích là để bảo vệ lợi ích hợp pháp của NSDLĐ, đảm bảo đình công không nhằm mục đích tiêu diệt đối phương và quan trọng hơn là bảo vệ những lợi ích chung của xã hội
Trang 35Hạn chế đình công phải bảo đảm những yêu cầu nhất định Bởi lẽ, người
ta cần phòng ngừa đình công bất hợp pháp, song không thể phòng ngừa đình công nói chung vì đó là quyền cơ bản của người lao động, nếu quá lạm dụng quyền năng và biện minh bởi những lý do không phù hợp để đưa ra quy định cấm, hạn chế đình công là xâm phạm quyền của người lao động Đây là điều tối
kỵ trong xây dựng pháp luật nói chung và pháp luật về đình công nói riêng
1.2.4 Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế (ILO) và một số quốc gia về hạn chế quyền đình công
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thừa nhận “Quyền đình công với điều kiện
là quyền này phải được thực hiện phù hợp với luật pháp của mỗi nước” ILO bảo
vệ quyền tự do tổ chức nghiệp đoàn, quyền tổ chức và thương lượng tập thể của giới thợ và không có điều luật nào chỉ ra rằng quyền đình công của giới thợ sẽ bị giới hạn Mặc dù vậy, ILO cũng khẳng định: trong khi thi hành những quyền mà Công ước đã thừa nhận cho mình, NLĐ, NSDLĐ và các tổ chức tương ứng của
họ, cũng như mọi người và mọi tập thể có tổ chức khác, đều phải tôn trọng pháp luật trong nước
Không quy định cấm, hạn chế đình công nhưng ILO thừa nhận việc các quốc gia đưa ra những định chế pháp luật phù hợp với đặc thù của nước mình Việc quy định cấm, hạn chế đình công nếu phù hợp và trong giới hạn luật pháp quốc tế cho phép thì không thể coi là xâm phạm quyền đình công của NLĐ Tuy nhiên, trong mọi trường hợp không một điều khoản nào của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa cũng như các công ước có liên quan cho phép một nước thành viên giải thích quá rộng để vi phạm quyền đình công của NLĐ
Một số quốc gia chỉ rõ đối tượng cụ thể không được đình công như: Ấn
Độ quy định cấm thành phần công chức làm việc cho Chính phủ đình công, nếu
vi phạm sẽ bị sa thải Một số ngành nghề bị cấm không được đình công tại Pháp
Trang 36như thẩm phán hay cảnh sát Tại Cộng hòa Liên bang Đức, do không có điều khoản chung hay riêng về đình công trong công vụ nên mặc nhiên được hiểu là cấm đình công đối với người lao động là công chức
Tại Singapore, phần III của Luật Hình sự (điều khoản tạm thời) cấm hoặc hạn chế đình công, đặc biệt trong khu vực nhà nước vì sẽ gây khó khăn và rối loạn cho cộng đồng hoặc nguy hại cho an ninh công cộng Do đó đã cấm đình công trong 3 ngành thiết yếu là nước, khí đốt và điện Ngoài ra, hạn chế đình công (nghĩa là phải giấy báo trước trong vòng 14 ngày và thời hạn báo trước có giá trị trong 30 ngày, thì trong khoảng thời gian này không được đình công; không được đình công trong khi đang có trình tự hòa giải do Bộ trưởng Bộ Lao động hoặc ủy viên lao động tiến hành, trong khi Tòa án trọng tài công nghiệp đang xem xét hoặc trong khi ủy ban điều tra do Bộ trưởng lao động cử ra đang tiến hành điều tra) trong những công việc thiết yếu như kiểm soát không lưu và hàng không dân dụng, ngân hàng, xăng dầu, nhà tù, bưu điện và viễn thông, dịch
vụ y dược, dịch vụ phát thanh và vô tuyến truyền hình và các loại khác mà Chính phủ có thể quy định là thiết yếu trong từng thời gian (mới đây Chính phủ Singapore đã tuyên bố coi 18 công ty là thiết yếu, phần lớn trong quốc phòng hoặc có liên quan tới quốc phòng)5
Bộ luật Lao động năm 1975 của Philippines chỉ rõ đình công phải trải qua giai đoạn thương lượng tập thể và phải có sự báo trước cho Bộ lao động và việc làm Đối với những doanh nghiệp hoạt động trong những ngành công việc thiết yếu hoặc đe dọa nghiêm trọng tới lợi ích quốc gia, nếu xảy ra tranh chấp và tranh chấp đó đã được giải quyết bởi quyết định của Tổng thống, Bộ trưởng Bộ Lao
5 Điều 6 phần III Luật Hình sự (Điều khoản tạm thời) của Singapore 2000
Nguồn: b538-a01352b7dc96;page=0;query=DocId%3A%22a0f19883-86d3-46d3-8f92-
http://statutes.agc.gov.sg/aol/search/display/view.w3p;ident=b48dc0d7-5ef9-4922-17c578f590cd%22%20Status%3Apublished%20Depth%3A0;rec=0#legis
Trang 37động và việc làm hay Ủy ban trọng tài tự nguyện, Ủy ban trọng tài bắt buộc thì
tổ chức Công đoàn đại diện cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp này không được tiến hành đình công Những người lao động, cán bộ Công đoàn tham gia đình công bất hợp pháp cũng như tham gia những hành động bất hợp pháp trong thời gian đình công có thể bị mất việc làm và bị sa thải6
Tại Thái Lan, Luật Quan hệ lao động (1975) quy định trong các ngành (dịch vụ) thiết yếu, doanh nghiệp công cộng hoặc các cơ sở sản xuất - kinh doanh có tranh chấp phải chuyển sang Ủy ban Quan hệ lao động theo lệnh của
Bộ trưởng Bộ Lao động thì không được đình công Đạo luật quan hệ lao động của Thái Lan, chương III về “Bế xưởng và đình công” chỉ rõ người lao động không được đình công trong một số trường hợp như: khi vụ tranh chấp đang chờ
Ủy ban quan hệ lao động giải quyết; khi có quyết định của Bộ trưởng hoặc quyết định của Ủy ban quan hệ lao động hay khi đang chờ quyết định của các Trọng tài Và trong bất cứ trường hợp nào NLĐ cũng không được tiến hành đình công nếu như họ không thông báo cho Hòa giải viên lao động cũng như phía bên kia biết trước ít nhất là 24 giờ trước khi họ nhận được thông báo Trong trường hợp
Bộ trưởng xét thấy rằng việc đình công có thể gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh
tế đất nước hoặc gây khó khăn cho cộng động hoặc gây thiệt hại đối với an ninh của đất nước hoặc chống lại trật tự công cộng thì Bộ trưởng có quyền ra lệnh cho những NLĐ tham gia đình công quay trở lại làm việc Quyền đình công của NLĐ cũng bị giới hạn trong trường hợp có thông báo cấm đình công của Bộ trưởng được đăng trên công báo của Chính phủ (thông báo cấm đình công được ban hành khi có lệnh tuyên bố thiết quân luật theo Luật Thiết quân luật hoặc tình
6
Điều 264 và Điều 272 Bộ luật Lao động Philippines 1975
Nguồn: https://www.dole.gov.ph/labor_codes/view/6
Trang 38trạng giới nghiêm theo Luật về quản lý các công việc của Chính phủ) Đối với trường hợp này, NLĐ phải trở lại làm việc trong thời hạn do Bộ trưởng ấn hành7
Luật Quan hệ Lao động quốc gia (NLRA) của Hoa Kỳ ghi nhận: Quyền đình công, cho dù là tranh chấp về quyền hay tranh chấp về lợi ích, là quyền cơ bản trong luật Một số hình thức đình công, ví dụ tẩy chay thứ cấp khi công đoàn
cố tình gài bẫy NSDLĐ trung lập trong một tranh chấp với người sử dụng ban đầu, là bị cấm, cũng như hình thức đình công bằng cách giảm tốc độ sản xuất và đình công ngồi chiếm xưởng NSDLĐ có quyền tương ứng để ngăn người lao động tham gia tranh chấp làm việc - được gọi là “không cho làm việc” cho đến khi tranh chấp đó được giải quyết.Việc thuê người thay thế những người tham gia đình công trong các tranh chấp về lợi ích cũng được phép thực hiện trong một số trường hợp, và quy tắc “không làm việc, không có lương” áp dụng đối với những người tham gia đình công8
Luật điều chỉnh các Quan hệ Lao động và Công đoàn (TULRAA) của Hàn Quốc cho phép Công đoàn tập hợp người lao động tiến hành đình công trong trường hợp giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục hòa giải không thành, tuy nhiên hành động này chỉ được tiến hành nếu đa số công đoàn viên đồng tình với
đề xuất hành động bằng cách bỏ phiếu kín9
Trong thời gian đình công, các công đoàn viên có thể từ chối đi làm, song không được phép chiếm nhiệm sở hoặc ngăn cản công nhân hoặc cán bộ quản lý khác làm việc hoặc ra vào địa điểm làm việc hoặc trụ sở văn phòng, cho dù bằng bất cứ hình thức gì như vũ lực hay đe
7 Điều 23, 24 và 25 Luật Quan hệ Lao động Thái Lan (1975)
Nguồn: http://www.mol.go.th/sites/default/files/images/other/labourRelation2518_en.pdf 8
Phạm Thị Thu Hương (2008), Cấm và hạn chế đình công trong pháp luật lao động Việt Nam,
Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.33
9 Điều 41.1 Luật Quan hệ Lao động và Công đoàn của Hàn Quốc (2010)
Nguồn:www.moel.go.kr
Trang 39dọa bằng lời nói10 Nếu các hoạt động của công đoàn được thực hiện trong trụ sở công ty làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của công ty trong quá trình thực hiện một hành động tập thể sẽ được coi là trái pháp luật Hàn Quốc cũng áp dụng nguyên tắc trong đình công là “không làm việc không trả lương”11
Cũng như nhiều quốc gia đang phát triển khác, pháp luật lao động Việt Nam cũng tồn tại nhiều quy định hạn chế quyền đình công của người lao động Những hạn chế đó nằm rải rác trong các điều luật quy định cụ thể về đình công trong Bộ luật Lao động Việt Nam, tạo thành khung pháp lý nhất định giới hạn việc thực hiền quyền của NLĐ Thực tế cho thấy, đình công ở Việt Nam thường xuyên vi phạm các quy định khung kể trên, đặc biệt là vi phạm về trình tự, thủ tục, thời điểm đình công Có nhiều nguyên nhân để lý giải cho hiện tượng này,
đó là do sự thiếu hiểu biết về pháp luật lao động của NLĐ; sự thiếu hoàn thiện trong các quy định pháp luật về đình công nói riêng và pháp luật lao động nói chung; NLĐ quá bức xúc trước sự vi phạm quyền cơ bản của NSDLĐ; Công đoàn hoạt động yếu kém, chưa trở thành người đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NLĐ; công tác quản lý nhà nước về lao động, việc làm còn nhiều bất cập; đời sống của NLĐ nói chung bị suy giảm do vật giá ngày càng tăng Ở nước ta xu hướng đình công ngày càng gia tăng Từ năm 2009 đến 06 tháng đầu năm 2016, cả nước xảy ra 3.614 cuộc ngừng việc tập thể, đình công tự phát ở trên 40 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, trong đó đỉnh điểm năm 2011 xảy
ra 970 cuộc đình công12 Nguyên nhân chủ yếu của các cuộc tranh chấp lao động
là chủ doanh nghiệp vi phạm quy định của pháp luật lao động, nhất là về thực hiện chính sách tiền lương, tiền thưởng, bữa ăn giữa ca Có tình trạng một số ít
10 Điều 38.1 Luật Quan hệ Lao động và Công đoàn của Hàn Quốc (2010)
11 Điều 44 Luật Quan hệ Lao động và Công đoàn của Hàn Quốc (2010)
12
Báo cáo đình công từ năm 2014 đến 6 tháng đầu năm 2016, Ban Quan hệ lao động tổng LĐLĐVN, Hà Nội, 2016
Trang 40công nhân, lao động bị lôi kéo, kích động tham gia ngừng việc tập thể Có thể nhận thấy, các cuộc đình công ở Việt Nam dường như có tính chất mùa vụ Thời điểm xảy ra đình công thường tập trung chủ yếu vào những tháng đầu năm (thời điểm trước và sau Tết âm lịch) với những yêu cầu về tiền thưởng Tết, thanh toán tiền phép năm hoặc vào thời điểm tăng lương theo quy định của Nhà nước hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động giữa NLĐ với chủ doanh nghiệp
Có nhiều lý do dẫn tới việc NLĐ đình công và cũng có muôn vàn cách thức họ tổ chức đình công Điều đáng quan tâm là hầu hết các cuộc đình đã diễn
ra đều không hợp pháp, vi phạm các quy định cấm, hạn chế đình công Đình công là hiện tượng khách quan, là hệ quả tất yếu của nền kinh tế phát triển, do đó không thể kìm hãm đình công Vấn đề là hạn chế đình công không đúng luật, hạn chế những hậu quả tiêu cực mà hiện tượng này gây ra cho xã hội, doanh nghiệp
và chính người lao động Luật có thể bằng điều khoản này hay điều khoản khác
để hạn chế quyền đình công của NLĐ nhưng thực tế ở Việt Nam gần như 100% các cuộc đình công đều đưa ra những đòi hỏi, yêu sách chính đáng Tính bất hợp pháp phải chăng tồn tại trong các quy định về trình tự, thủ tục đình công Các quy định hiện hành về hạn chế đình công có thực sự phù hợp, có góp phần ngăn cản những ảnh hưởng tiêu cực mà đình công gây ra cho xã hội, cho nền kinh tế hay lại chính là rào cản lớn nhất đối với việc thực hiện quyền của NLĐ
Đình công là hành vi ngừng việc triệt để, có tổ chức của tập thể lao động nhằm mục đích gây sức ép buộc giới chủ phải thực hiện những yêu sách gắn với quyền và lợi ích của tập thể lao động Đình công có thể gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại về mặt vật chất đối với giới chủ nhưng đó không phải là mục đích
mà tập thể lao động hướng tới khi đình công Bên cạnh những tác động tích cực
mà đình công đem lại cho NLĐ, hiện tượng này cũng gây nên những tác động tiêu cực đối với NSDLĐ và toàn xã hội Vì lẽ đó, chúng ta đặt ra các quy phạm