TTHC phải đảm bảo tính khả thi, công khai, minh bạch trong quy định và thực hiện TTHC, ngh a là người dân có quyền tham gia và được biết về TTHC trước khi ban hành và sau khi ban hành để
Trang 1LÊ THỊ HIỀN
ĐỀ TÀI KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐẢM BẢO YÊU CẦU KHẢ THI, CÔNG KHAI, MINH BẠCH TRONG XÂY DỰNG VÀ
THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2LÊ THỊ HIỀN
ĐỀ TÀI KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐẢM BẢO YÊU CẦU KHẢ THI, CÔNG KHAI, MINH BẠCH TRONG XÂY DỰNG
VÀ THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102
Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Thị Lan Hương
Hà Nội - 2017
Trang 3người xung quanh dù cho sự giúp đỡ đó là ít hay nhiều, trực tiếp hay gián Trong
suốt thời gian từ khi bắt đầu làm luận văn đến nay, em đã nhận được sự quan tâm,
chỉ bảo, giúp đỡ của thầy cô, gia đình và bạn bè xung quanh
Với tấm lòng biết ơn vô cùng sâu sắc, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý Thầy Cô Trường Đại học Luật Hà Nội đã sử dụng tri thức và tâm huyết của mình để có thể truyền đạt cho chúng em trong vốn kiến thức quý báu suốt thời gian học tập tại trường
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn TS Phan Thị Lan Hương đã tận tâm chỉ bảo hướng dẫn em qua từng buổi học, từng buổi nói chuyện, thảo luận về đề tài nghiên cứu Nhờ có những lời hướng dẫn, dạy bảo đó, bài luận văn này của em đã hoàn thành một cách tốt nhất Một lần nữa, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến
cô
Bài luận văn được thực hiện trong 2 tháng Ban đầu em còn bỡ ngỡ vì vốn kiến thức của em còn hạn Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý Thầy Cô để bài luận được hoàn thiện hơn
Trang 4Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này
Tác giả luận văn
Lê Thị Hiền
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐẢM BẢO YÊU CẦU TÍNH KHẢ THI, CÔNG KHAI, MINH BẠCH TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
t ủ tục hành chính 6
1.1.2 Các yêu cầu của thủ tục hành chính 8
1.1.3 Khái ni m kiểm soát thủ tục hành chính 10
1.2 Nguyên tắc của hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính 12
1.2.1 Bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc của xây dựng và thực hi n thủ tục hành chính 12
1.2.2 Huy động mọi nguồn lực tham gia vào hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính 13
2 3 T ường xuyên, liên tục, gắn chặt với mục tiêu cải cách hành chính 14
1.3 Nội dung kiểm soát thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính 15
1.3.1 Kiểm soát hoạt động xây dựng và ba à c c quy định về thủ tục hành chính 15
1.3.2 Kiểm soát hoạt động thực hi c c quy định về thủ tục hành chính trên thực tế 15
1.3.3 Kiể so t cô g t c rà so t, đ g c c quy định về thủ tục hành chính trên thực tế 15
1.4 Yêu cầu kiểm soát thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính 16
1.4.1 Đảm bảo tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính 16
4 2 Đ p ứng yêu cầu công khai, minh bạch 17
1.5 ngh a của việc iểm so t thủ tục hành chính đảm bảo u cầu hả thi, công khai minh bạch trong dựng và thực hiện thủ tục hành chính 18 1.5.1 Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần vào vi c tă g cường tính minh bạch trong hoạt động của bộ y à ước 18
Trang 7và g a vụ cô g d được thực hi a c g, t u t , ạ c ế t
trạ g g y p ề à, s c u tro g t ực t ủ tục hành chính 20
1.5.4 Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần trực tiếp vào vi c cải thi n môi trườ g đầu tư, oà t ô trưởng sản xuất, kinh doanh, góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế 20
1.5.5 Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần nâng cao vị thế và uy tín của quốc g a trê trường quốc tế, t úc đẩy nhanh quá trình hội nh p ngày càng sâu rộ g vào đời sống quốc tế 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG IỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 23
2 1 Thực trạng ph p uật về iểm so t thủ tục hành chính 23
2 Cơ qua k ểm soát thủ tục hành chính 23
2.1.2 Chức ă g, m vụ, quyền hạn của cơ qua k ểm soát thủ tục hành chính 27
2.1.3 Nội dung kiểm soát thủ tục hành chính 34
2.2 Thực trạng kiểm soát thủ tục hành chính ở nước ta hiện nay 40
2.2.1 Một số kết quả đã đạt được 40
2 2 2 g t c t ức, tồn tại, ạ c ế tro g qu tr k ểm soát thủ tục hành chính 48
2 3 c c thủ tục hành chính 64
2 3 đố vớ t ủ tục à c í c ưa đảm bảo vi c công bố công khai64 2 3 2 t ủ tục hành chính khi không thực hi n vi c niêm yết công khai thủ tục hành chính 66
2 3 3 t ủ tục à c í k c ưa đảm bảo tính công khai, minh bạch trong vi c thực hi n Quy chế tiếp nh n và x lý phản ánh, kiến nghị: 69
2 3 4 t trạ g c a quyề , ũ g u, gây sách nhi u, phiền hà trong quá trình tiếp nh n thủ tục à c í , k ô g đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình thực hi n thủ tục hành chính: 72
2.4 Nguyên nhân của những tồn tại th ch th c hạn chế 74
2.4.1 H thố g cơ qua k ểm soát thủ tục à c í oạt độ g c c ưa u quả 74
Trang 8tục à c í và n thức của xã hội về kiểm soát thủ tục hành chính 77
2 4 5 C ưa t ực hi n vi c phổ biến, tuyên truyền về kiểm soát thủ tục hành
c í cũ g ư cải cách thủ tục hành chính 79
CHƯƠNG 3 N NG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG IỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐẢM BẢO TÍNH KHẢ THI, CÔNG KHAI, MINH BẠCH TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 80 3.1 Hoàn thiện pháp luật văn bản hướng dẫn về kiểm soát thủ tục hành chính cũng như thủ tục hành chính; nâng cao vị thế, vai trò, quyền hạn của
cơ quan KSTTHC trong quá trình KSTTHC 80
3 2 Đ mạnh việc iểm so t việc thực hiện đ nh gi t c động của thủ tục hành chính theo các tiêu chí trong luật định 83 3.3 Xây dựng quy trình kiểm soát thủ tục hành chính, mở rộng phạm vi của kiểm soát thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan iểm soát thủ tục hành chính khi có kiến nghị, phản hồi về thủ tục hành chính 84
3 4 N ng cao năng ực của bộ m chu n tr ch cũng như đội ngũ c n bộ, công ch c làm nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính 86
3 5 Đ mạnh tu n tru ền, phổ biến, giáo dục pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính 89 KẾT LUẬN 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 9LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam hiện nay đang hướng tới xây dựng một “Chính phủ kiến tạo và liêm chính Để thực hiện mục tiêu này, nhà nước ta cần tiếp tục đ y mạnh kiểm
soát và cải cách TTHC iểm soát TTHC để nh m loại bỏ các TTHC không khả thi, gây khó khăn phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, s góp phần thúc đ y phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời, đảm bảo thực hiện có hiệu quả quyền và ngh a vụ của các tổ chức, cá nhân Thông qua kiểm soát TTHC, những rào cản đối với môi trường kinh doanh và đời sống của nhân dân đã được gỡ bỏ; đồng thời, chi phí, rủi
ro của người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện TTHC cũng được cắt giảm iểm soát TTHC là một trong những hoạt động trọng tâm để cải cách và đơn giản hóa TTHC đã góp phần cải thiện hình ảnh của Việt Nam trước cộng đồng trong nước và quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về tính minh bạch, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh
Hơn thế nữa, CCHC nói chung và cải cách TTHC nói riêng đang là vấn đề mang tính toàn cầu Các nước phát triển và các nước đang phát triển đều xem CCHC, cải cách TTHC là một trong những giải pháp để tăng trưởng kinh tế, bảo đảm xây dựng một xã hội dân chủ, công b ng, văn minh
Có thể nói r ng, TTHC đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của bộ máy nhà nước; tuy nhiên theo thời gian một số TTHC đã trở nên lỗi thời và cần thay đổi Chính vì vậy, nhiệm vụ cấp thiết trước mắt là phải nhanh chóng cải cách TTHC, sửa đổi, bãi bỏ những TTHC không cần thiết, lạc hậu, lỗi thời, đi ngược với xu thế phát triển của các quốc gia trên thế giới Do đó, kiểm soát TTHC là một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước ta để đáp ứng yêu cầu xây dựng một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả
Thông điệp của Thủ tướng Chính phủ: “Huy động toàn xã hội tham gia
vào quy trình kiểm soát thủ tục hành chính để thực hiện tốt mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm nguyên tắc chỉ ban hành và duy trì các thủ tục hành chính thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và có chi phí tuân thủ thấp nhất” 1 Do đó, kiểm
1 Bộ Ngoại giao (2014), “ hái quát về công tác kiểm soát thủ tục hành chính , trang thông tin điện tử Bộ Ngoại giao, tại địa chỉ http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr110805094819/ ngày truy cập 11/7/2017
Trang 10soát TTHC là một trong những giải pháp quan trọng, góp phần bảo đảm mục tiêu xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả
KSTTHC được Nhà nước ta lựa chọn như là bước đi quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính, hiện diện là Đề án đơn giản hoá TTHC trên các l nh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (đề án 30) và sự hình thành các cơ chế, cơ quan KSTTHC KSTTHC nh m phát hiện, bãi bỏ kịp thời những TTHC rườm rà, không phù hợp, và là hoạt động cần thiết phải được tiến hành thường xuyên TTHC phải đảm bảo tính khả thi, công khai, minh bạch trong quy định và thực hiện TTHC, ngh a là người dân có quyền tham gia và được biết về TTHC trước khi ban hành và sau khi ban hành để khi thực hiện TTHC người dân biết được quy trình ra sao, qua đó hạn chế được phiền hà, sách nhiễu từ cơ quan nhà nước, hơn nữa tạo ra những thủ tục thông thoáng, đơn giản, thuận tiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, góp phần tiết kiệm thời gian, kinh phí, phương tiện, cơ sở vật chất…thúc đ y phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành đạt kết quả cao
Theo quy định của pháp luật hiện hành các cơ quan, cá nhân có th m quyền xây dựng và ban hành TTHC chỉ giới hạn trong một phạm vi nhất định để bảo đảm tính chặt ch của việc thực hiện quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khi các cơ quan nhà nước, cá nhân có th m quyền ban hành TTHC không tránh khỏi góc nhìn phiến diện từ chính hoạt động của cơ quan hay những yêu cầu mà xã hội đặt ra với chính
cơ quan đó Vì vậy, kiểm soát để bảo đảm trong khi xây dựng ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về TTHC thì các thủ tục đó có chất lượng tốt, khách quan, khoa học, khả thi, bản thân các quy định về thủ tục đảm bảo công khai, minh bạch là yêu cầu tất yếu
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về: “Kiểm soát thủ tục à c í đảm bảo
yêu cầu k ả t , cô g k a , bạch trong xây dự g và t ực t ủ tục à
c í có ý ngh a quan trọng trong việc đ y mạnh hiệu quả của hoạt động cải cách
hành chính Luận văn này s tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản của kiểm soát TTHC; ý ngh a, yêu cầu, thực trạng của KSTTHC ở nước ta hiện nay
nh m đảm bảo yêu cầu về tính công khai, minh bạch trong quá trình ban hành và thực hiện TTHC
Trang 11
2 Tình hình nghiên c u
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam có khá nhiều bài viết, bài nghiên cứu
của các nhà khoa học, bài phát biểu của một số đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước về vấn đề cải cách nền hành chính nói chung và cải cách TTHC nói riêng; TTHC đang là một vấn đề hết sức phức tạp, nhận được nhiều sự quan tâm của các ban, ngành, đoàn thể, cơ quan, tổ chức, cá nhân, … Tuy vậy, khái niệm KSTTHC mới được đề cập chính thức lần đầu tiên trong VBQPPL vào năm 2010; chính vì vậy, số lượng các công trình nghiên cứu và lý luận đối với hoạt động KSTTHC còn khá hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu và nghiên cứu chuyên sâu của một bộ phận tổ chức và cá nhân trong xã hội
Một trong những công trình nghiên cứu về hoạt động KSTTHC trong những năm vừa qua là luận văn thạc sỹ của tác giả Đoàn Thị Hồng Hạnh vào năm 2012 với
đề tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính ở nước ta hiện nay” Luận văn đã đề cập đến các cơ quan
thực hiện KSTTHC, thực tiễn hoạt động của các cơ quan KSTTHC nói trên và thực tiễn về tổ chức, hoạt động của cơ quan KSTTHC tại tỉnh Quảng Ninh Từ đó, tác giả đã mạnh dạn đề xuất một số phương hướng và giải pháp nh m hoàn thiện về tổ chức, hoạt động của các cơ quan KSTTHC ở nước ta hiện nay
Ngoài ra, có nhiều bài báo đăng trên tạp chí khác nhau đưa ra sự đánh giá và kết quả nghiên cứu của tác giả về công tác KSTTHC ở nước ta, ví dụ như tác giả
Nguyễn Thị Trà Lê với bài “Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015:
Đề cao vai trò của công tác kiểm soát thủ tục hành chính” đăng trên Tạp chí Tổ
chức Nhà nước (Bộ Nội vụ), Số 10/2015, tr 58 – 61; tác giả Trần Thuý Mai với bài
“Một số vấn đề về công tác kiểm soát thủ tục hành chính đăng trên Tạp chí Thanh
tra (Thanh tra Chính phủ), Số 3/2012, tr 20 – 22, …
Các công trình nghiên cứu nói trên trong chừng mực đã đề cập đến nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động KSTTHC Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về hoạt động KSTTHC nói chung cũng như hoạt động KSTTHC đảm bảo yêu cầu về tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện TTHC Việc tìm hiểu và nghiên cứu kỹ về vấn đề này s góp phần nâng cao hiệu quả cải cách TTHC ở nước ta hiện nay; đồng thời, bảo đảm mục tiêu xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, nâng cao vị thế cạnh tranh của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới
Trang 123 Mục đích và nhiệm vụ nghiên c u
3.1 Mục đíc g ê cứu
Nghiên cứu để làm rõ hơn về lý luận và thực trạng pháp luật về KSTTHC
nh m đảm bảo tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện TTHC; thực tiễn của hoạt động KSTTHC ở Việt Nam có đảm bảo tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện TTHC hay không; từ đó nghiên cứu, xem xét, tìm ra nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế, thiếu sót, khiếm khuyết nói trên để đánh giá được những kết quả đã đạt được cũng như những điểm chưa hoàn thiện của hoạt động KSTTHC Thông qua đó, luận văn cũng s đề xuất một số giải pháp nh m hoàn thiện cơ sở pháp lý cũng như nâng cao hiệu quả của hoạt động KSTTHC ở Việt Nam thời gian tới
3.2 Nhi m vụ nghiên cứu
- Nắm vững khái niệm TTHC, KSTTHC, nguyên tắc KSTTHC, cách thức tổ chức, vận hành KSTTHC trong các cơ quan hành chính nhà nước (HCNN) ở nước
ta hiện nay
- Nhận thức, đánh giá được tầm quan trọng của yêu cầu về tính khả thi trong xây dựng và tính công khai, minh bạch trong thực hiện TTHC; phục vụ cho công cuộc phòng, chống tham nhũng, lợi dụng, lạm dụng chức vụ quyền hạn được giao
để trục lợi; cải cách, đơn giản hóa TTHC; phòng ngừa thói sách nhiễu, quan liêu, hách dịch, cửa quyền
- Có dẫn chứng cụ thể, rõ ràng, có độ tin cậy cao; có số liệu, có sự tổng hợp,
Trang 13Th nhất: Nghiên cứu một số vấn đề chung về hoạt động KSTTHC, hoạt
động KSTTHC nh m bảo đảm yêu cầu khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện TTHC, qua đó làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp trong KSTTHC, nh m đảm bảo tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện TTHC
Th hai: Nghiên cứu pháp luật quy định về KSTTHC Việc thực hiện
KSTTHC trong xây dựng và thực hiện TTHC trên thực tế đã đảm bảo các yêu cầu
về tính khả thi, công khai, minh bạch chưa để bước đầu xác lập cơ sở thực tiễn cho các giải pháp được phân tích cụ thể trong luận văn
Th ba: Từ cơ sở lý luận và thực tiễn về việc KSTTHC trong xây dựng và
thực hiện TTHC ở nước ta hiện nay, đưa ra một số quan điểm, giải pháp thiết thực
để nâng cao hiệu quả hoạt động KSTTHC ở nước ta
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên c u
5 Cơ sở lý lu n
Lý luận: Vận dụng chủ ngh a Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý thuyết
về khoa học kiểm soát thủ tục hành chính
5 2 P ươ g p p g ê cứu
Ngoài phương pháp luận của chủ ngh a duy vật biện chứng và chủ ngh a duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể: Phân tích, tổng hợp, khảo sát văn bản kết hợp quan sát thực tiễn,
6 Kết cấu luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm soát thủ tục hành chính đảm bảo tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính
- Chương 2: Thực trạng kiểm soát thủ tục hành chính
- Chương 3: Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính đảm bảo tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH ĐẢM BẢO YÊU CẦU TÍNH KHẢ THI, CÔNG KHAI, MINH BẠCH TRONG
Về mặt thuật ngữ, ngh a của từ thủ tục được các từ điển giải thích nhưng có
sự khác biệt nhất định Chẳng hạn “thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức 2; “thủ tục là cách thức tiến hành một công việc với nội dung và trình tự nhất định theo quy định của cơ quan nhà nước 3
Từ các quan niệm trên có thể thấy ở góc độ chung nhất, thủ tục bao gồm hai yếu tố cơ bản là trình tự và cách thức, trong đó trình tự xác định quy trình, tức là trật
tự các bước, các giai đoạn tiến hành công việc; cách thức xác định phương pháp tiến hành các công việc, gắn với những hoạt động cụ thể Các hoạt động của cơ quan nhà nước, trong đó có các hoạt động quản lý hành chính nhà nước đều được diễn ra phổ biến với nhiều hành vi kế tiếp nhau, với trình tự thời gian và những công việc
cụ thể, xác định, theo những thủ tục nhất định Như vậy, trình tự là yếu tố quan trọng và không thể thiếu của thủ tục nói chung và của TTHC nói riêng Tuy nhiên, trình tự mới chỉ là yếu tố có tính hình thức, để trình tự được tôn trọng và thực hiện thì đòi hỏi phải có cách thức phù hợp Ngược lại cách thức để tiến hành các hoạt động có ý ngh a rất quan trọng, nhưng nó chỉ có thể đạt được hiệu quả khi được áp dụng một cách đúng đắn, theo những trình tự và thời gian nhất định Nói cách khác, trình tự và cách thức thực hiện các hoạt động cụ thể nh m đạt được mục đích đặt ra
là hai mặt có mối quan hệ mật thiết với nhau của thủ tục
Trang 15Khái niệm thủ tục là khái niệm cơ bản cho phép đi sâu nghiên cứu khái niệm thru tục trên các l nh vực cụ thể, trong đó có khái niệm TTHC Theo tác giả Nguyễn Hạnh khi nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện thủ tục pháp lý về giải quyết khiếu nại của
công dân đã quan niệm: ‘TTHC là trình tự, cách thức do pháp luật hành chính quy định để các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động của mình trong phạm vi và lĩnh vực quản lý hành chính, nhằm mục đích thực hiện các quy phạm vật chất do pháp luật hành chính và các quy phạm của các ngành luật khác quy định 4 Theo quan niệm này, TTHC được hiểu là các quy phạm thủ tục, là một bộ phận cấu thành của pháp luật hành chính; giữa quy phạm thủ tục và quy phạm vật chất có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy phạm thủ tục được quy định để thực hiện các quy phạm vật chất
Khái niệm TTHC cũng được để cập trong các giáo trình giảng dạt của một số
cơ sở đào tạo luật Nhìn chung, trong các giáo trình này đều có một điểm chung là coi TTHC là một chế định độc lập của ngành luật hành chính, bao gồm ác quy phạm hình thức, đồng thời đều giải thích TTHC là trình tự và cách thức tiến hành các hoạt động quản lý hành chính nhà nước Tuy nhiên, về nội hàm và cách thể hiện khái niệm TTHC trong mỗi giáo trình cụ thể vẫn có những khác biệt nhất định Ví dụ,
Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội “Thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính, bao gồm trình tự, nội dung, mục đích cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước 5 : hay trong giáo trình “Hành chính
học đại cương do GS Đoàn Trọng Tuyến chủ biên “Thủ tục hành chính là trình tự
về thời gian và không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với cơ quan tổ chức, cá nhân công dân Nó được đặt ra để các cơ quan nhà nước có thể thực hiện một hình thức hoạt động cần thiết của mình tron đó bao ồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, trình tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính 6
Đại học Luật Hà Nội (2010), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.144
6 Đoàn Trọng Tuyến (Chủ biên) (1997), Giáo trình Hành chính học đại cương, Nxb Chính trị quốc gia, tr.208
Trang 16Từ cách phân tích trên cho thấy, quan niệm về TTHC về cơ bản đã có sự thống nhất, mà cụ thể là đã có sự thống nhất về những yếu tố tạo thành TTHC, về những đặc điểm chung của TTHC Tuy nhiên các quan niệm trên còn còn có hạn chế là chưa đề cập hoặc đề cập chưa rõ những yêu cầu mới đối với TTHC trong cải cách TTHC hiện nay, và trong mối quan hệ giữa cải cách TTHC với cải cách nền hành chính trong quá trình chuyển từ nền hành chính cai trị sang nền hành chính phục vụ Vì vậy, quan niệm TTHC cần được hoàn thiện nh m đáp ứng những yêu cầu của cải cách hành chính, tăng cường tính hợp lý, công khai, minh bạch của TTHC, làm cho nó thực sự là công cụ để cơ quan, tổ chức và cá nhân sử dụng, tham gia tích cực vào các giao dịch hành chính Trên cơ sở kết thừa các yếu tố trong các quan niệm về TTHC như đã nêu ở trên, tôi xin đưa ra định ngh a về TTHC như sau:
“TTHC là trình tự và cách thức do quy phạm luật hành chính quy định để các cơ quan nhà nước n ười có thẩm quyền hành chính tiến hành các hoạt động nhằm ổn định tổ chức và trật tự quản lý nội bộ hoặc để các chủ thể này tổ chức cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện những hoạt động cụ thể trong quá trình quản lý hành chính nhà nước, cung cấp các dịch vụ công nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước, phục vụ xã hội và nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước cơ quan tổ chức và cá nhân
1.1.2 Các yêu cầu của thủ tục hành chính
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước hay hoạt động chấp hành- điều hành chỉ do các chủ thể nhân danh nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước thực hiện, do
đó, hoạt động này không thể được thực hiện một các tùy tiện, theo ý chí chủ quan của chủ thể quản lý hành chính nhà nước Các hoạt động quản lý hành chính nhà nước phải được tiến hành theo quy định của pháp luật về nội dung, th m quyền
cũng như trình tự thực hiện các hoạt động quản lý
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước có nội dung rất đa dạng, phong phú,
nó diễn ra trên các l nh vực khác nhau của đời sống xã hội do đó không thể có một
quy định chung về trình tự, cách thức tiến hành để áp dụng cho tất cả các hoạt động
quản lý hành chính nhà nước Xuất phát từ chính đặc điểm này mà các hoạt động
quản lý hành chính nhà nước tùy thuộc vào từng nội dung quản lý s có các cánh thức và trình tự thực hiện khác nhau Như vậy, thủ tục thực hiện hoạt động quản lý
hành chính nhà nước có tính chất rất đa dạng Hơn nữa, các chủ thể quản lý không thể tùy tiện đặt ra các cách thức, trình tự giải quyết công việc theo ý chí chủ quan
Trang 17của mình Để đảm bảo tính thống nhất chung trong hoạt động quản lý thì các cách thức, trình tự này phải được quy định giống nhau và có tính bắt buộc chung, có
ngh a là cách thức, trình tự giải quyết công việc này phải do pháp luật quy định và tuân thủ những nguyên tắc nhất định
- Nguyên tắc pháp chế:
Đây là nguyên tắc cơ bản, làm nền tảng cho các nguyên tắc khác của hoạt động quản lý HCNN Nguyên tắc pháp chế thể hiện trước hết là chỉ cơ quan có th m quyền mới có quyền định ra TTHC Hiện nay, chủ yếu các cơ quan nhà nước ở TW thực hiện th m quyền quy định về TTHC
Nguyên tắc pháp chế cũng quy định, chỉ cơ quan, tổ chức, cá nhân có th m quyền mới có quyền thực hiện TTHC và thực hiện TTHC trong phạm vi th m quyền do pháp luật quy định Do đó, các TTHC thực hiện không đúng th m quyền thì không những việc thực hiện thủ tục đó không hợp pháp mà hiệu quả quản lý cũng bị ảnh hưởng
- Nguyên tắc công khai, minh bạch
Theo Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về việc ban hành chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 thì nhiệm vụ của chương trình cải cách TTHC “Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính
b ng các hình thức thiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí
mà cá nhân, tổ chức phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước; duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính 7 Như vậy, mọi TTHC s được công khai và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế tránh tình trạng tuỳ tiện, thiếu công khai, minh bạch trong việc ban hành và thực hiện TTHC Việc công khai TTHC s được thực hiện theo nguyên tắc đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng, đúng địa chỉ, dễ tiếp cận, dễ khai thác sử dụng và phải được đăng tải trên cơ sở dữ liệu quốc gia và thông tin rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân được biết và thực hiện
Trang 18khâu, các bước, các giai đoạn đều phải dựa trên các căn cứ pháp lý, căn cứ khoa học Các cơ quan, tổ chức, cá nhân có th m quyền khi thực hiện TTHC không được
áp đặt ý chí chủ quan của mình mà phải đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu Bên cạnh đó cũng cần đảm bảo về mặt quản lý nhà nước, không tuyệt đối hoá lợi ích của quản lý cũng như đối tượng quản lý, TTHC không được sử dụng để phục vụ những lợi ích mang tính chủ quan của chủ thể quản lý
- Nguyên tắc đơn giản, tiết kiện, nhanh chóng, kịp thời:
Nhanh chóng, kịp thời là đặc trưng của hoạt động hành chính Các TTHC được xây dựng và thực hiện đều xuất phát từ nhu cầu khách quan của hoạt động quản lý Mỗi TTHC chỉ bao gồm những khâu, những bước với sự tham gia của những chủ thể thật sự cần thiết để việc thực hiện TTHC không bị lãng phí thời gian, chi phí, trí tuệ vào những hoạt động không thiết thực Như vậy, TTHC vừa dễ thực hiện, vừa góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tiết kiệm chi phí của cá nhân, tổ chức cũng như của nhà nước
- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của các bên tham gia thủ tục hành chính:
Bất kỳ TTHC nào cũng có sự tham gia của chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước
và chủ thể phục tùng quyền lực nhà nước Dưới góc độ của quan hệ pháp luật hành chính, quan hệ TTHC là quan hệ giữa chủ thể bắt buộc và chủ thể thường, trong đó chủ thể bắt buộc có quyền nhân danh Nhà nước để áp đặt ý chí đối với bên kia Tuy nhiên, trong thực hiện TTHC, cả hai bên tham gia quan hệ đều bình đẳng trước pháp luật Nhà nước quy định rõ quyền lợi và ngh a vụ của mỗi bên trong quan hệ giải quyết TTHC, theo đó mỗi bên đều có thể đưa ra yêu cầu, nguyện vọng chính đánh của mình và bên kia phải thực hiện Bên cạnh đó, do TTHC được công bố, niêm yết công khai tại nơi tiếp nhận, giải quyết TTHC phải tuân thủ theo đúng nội dung đã được công bố và niêm yết công khai
1.1.3 Khái ni m kiểm soát thủ tục hành chính
TTHC có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của của doanh nghiệp và đời sống hàng ngày của người dân Thông qua TTHC, quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức được thực hiện trên thực tế, các chủ thể quản lý HCNN thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình do pháp luật quy định
Trang 19Khái niệm KSTTHC được xây dựng trên cơ sở xác định r ng đây là một hoạt động do nhà nước tiến hành thực hiện trên cơ sở và căn cứ vào quy định của pháp luật
Thứ nhất, KSTTHC với tính chất là hoạt động của nhà nước, do các chủ thể được nhà nước trao quyền thực hiện Như vậy, KSTTHC có thể được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước Ở nước ta hiện nay, công việc KSTTHC được trao cho cơ quan KSTTHC từ TW đến địa phương Về phương diện tổ chức, cơ quan KSTTHC được tổ chức là một bộ phận của cơ quan HCNN chuyên trách thực hiện công việc KSTTHC
Thứ hai, KSTTHC hướng trực tiếp đến hoạt động xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện TTHC Những hoạt động này do các chủ thể có th m quyền tiến hành KSTTHC trước hết là việc xem xét, đánh giá các quy định về TTHC nh m bảo đảm r ng những quy định về TTHC này được ban hành đúng pháp luật, hợp lý
và có tính khả thi Nội dung công việc của KSTTHC gắn trực tiếp với hoạt động xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm có chứa quy định về TTHC của các chủ thể có th m quyền theo quy định của pháp luật Cùng với nội dung công việc này, việc KSTTHC gắn với việc theo dõi, kiểm tra hoạt động tổ chức thực hiện TTHC trong thực tiễn quản lý HCNN nh m đảm bảo việc thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để các quy định về TTHC của cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân
Thứ ba, hoạt động KSTTHC được thực hiện trên cơ sở tuân thủ những nguyên tắc được pháp luật quy định nh m hướng đến mục tiêu chung đã được đề ra
Về cơ bản, việc KSTTHC phải đạt được mục tiêu loại bỏ được những TTHC rườm
rà, gây phiền hà, cản trở đến hoạt động của người dân, doanh nghiệp, các cơ quan,
tổ chức và cá nhân khác Bao trùm hơn cả, hoạt động này hướng đến việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khi tham gia các TTHC theo quy định của pháp luật, hướng tới xây dựng một nền hành chính phục vụ
Như vậy, kiểm soát thủ tục hành chính là hoạt động do các chủ thể chuyên trách có thẩm quyền thực hiện có nội dung là việc xem xét đánh iá theo dõi nhằm bảo đảm tính hợp pháp, khả thi của quy định về thủ tục hành chính, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, yêu cầu trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính và đạt được các mục tiêu đề ra 8
8
Đoàn Thị Hồng Hạnh (2012), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan kiểm
soát TTHC ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.11
Trang 201.2 Nguyên tắc của hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính
Theo ngh a chung nhất, nguyên tắc được hiểu là những điều cơ bản nhất thiết phải tuân theo trong một loạt các việc làm Nguyên tắc là những quy định, phép tắc, tiêu chu n làm cơ sở, chỗ dựa để xem xét, làm việc
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính, nguyên tắc của hoạt động KSTTHC:
- KSTTHC phải bảo đảm thực hiện có hiệu quả mục tiêu cải cách TTHC và cải cách hành chính; bảo đảm điều phối, huy động sự tham gia tích cực, rộng rãi của tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân vào quá trình KSTTHC
- ịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa TTHC không phù hợp, phức tạp, phiền hà; bổ sung TTHC cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định TTHC đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC
- KSTTHC được thực hiện ngay khi đề nghị xây dựng văn bản QPPL về TTHC và được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC Trước đây, STTHC được thực hiện khi có dự thảo văn bản QPPL về TTHC, tức là quy định mới đã nâng cao vai trò, vị trí của STTHC khi cho phép diễn ra ngay từ khi có đề nghị xây dựng văn bản QPPL về TTHC
Ngoài ra, việc thực hiện hoạt động KSTTHC cũng phải tuân thủ những nguyên tắc đặc thù phù hợp với tính chất và nội dung của công việc này
1.2.1 Bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc của xây dựng và thực hi n thủ tục hành chính
Hoạt động KSTTHC hướng tới việc xây dựng và thực hiện một cách hiệu quả TTHC trên thực tế, phục vụ đắc lực cho tiến trình cải cách nền hành chính quốc gia Do đó hoạt động KSTTHC phải lấy các nguyên tắc trong xây dựng và thực hiện TTHC làm căn cứ, cơ sở để tiến hành các công việc kiểm soát của mình
Khi tiến hành kiểm soát thủ tục hành chính, cơ quan có th m quyền dựa trên các tiêu chí cụ thể về công khai, minh bạch, khả thi để tiến hảnh rà soát, đánh giá các dự thảo về thủ tục hành chính cũng như các thủ tục hành chính hiện hành Do
đó, cần hiểu rõ về từng tiêu chí và có những chỉ số đánh giá cụ thể về công khai, minh bạch và khả thi Ví dụ như, liên quan đến tính công khai của thủ tục hành
Trang 21chính, có thể xác định thông qua việc đánh giá số lượng người biết được về thủ tục hành chính, hình thức công bố thủ tục hành chính Liên quan đến tính khả thi cần đánh giá được mức độ phù hợp của thủ tục, chi phí thực hiện thủ tục và thời gian thực hiện thủ tục Đặc biệt là, thủ tục hành chính có nhiều loại khác nhau do đó khi tiến hành kiểm soát thủ tục hành chính trong từng l nh vực thì các tiêu chí để đánh giá về mức độ tuân thủ các nguyên tắc xây dựng thủ tục và thực hiện thủ tục cũng cần phải đảm bảo được điểm đặc thù của l nh vực đó
1.2.2 Huy động mọi nguồn lực tham gia vào hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính
Thông điệp của Chính phủ đưa ra đối với hoạt động KSTTHC của nước ta
“Huy động toàn xã hội tham gia vào quy trình kiểm soát thủ tục hành chính để thực hiện tốt mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, bảo đảm nguyên tắc chỉ ban hành và duy trì các thủ tục hành chính thực sự cần thiết, hợp lý, hợp pháp và có chi phí tuân thủ thấp nhất” 9 Việc KSTTHC khẳng định rõ ý ngh a, tầm quan trọng của hoạt
động này trong quá trình thực hiện CCHC ở nước ta hiện nay
KSTTHC gồm nhiều khâu, nhiều bước, do đó đòi hỏi sự tham gia không chỉ của cơ quan nhà nước, mà cần sự tham gia của toàn xã hội KSTTHC là một quy trình bắt đầu từ việc đánh giá tác động các quy định về trong quá trình dự thảo do các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản QPPL thực hiện; gửi lấy ý kiến của cơ quan, đơn vị KSTTHC; công khai, minh bạch TTHC sau khi ban hành; kiểm soát việc thực thi TTHC trong thực tiễn Cuối cùng là tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính nh m phát hiện và giải quyết những bất cập của các quy định hành chính, cũng như giám sát việc thực thi TTHC của đội ngũ cán bộ, công chức Thông qua việc KSTTHC, mọi TTHC s được công khai hóa và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, tránh tình trạng tùy tiện, thiếu công khai, minh bạch trong việc ban hành và thực hiện TTHC tại nhiều cơ quan hành chính
KSTTHC góp phần đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống, đem lại lợi ích cho nhân dân, cho cộng đồng doanh nghiệp, cho sự phát triển của đất nước Để công tác KSTTHC đạt hiệu quả
9
Bộ Ngoại giao (2014), “ hái quát về công tác kiểm soát TTHC , trang thông tin điện tử Bộ Ngoại giao, tại địa chỉ http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr110805094819/ , ngày truy cập 10/7/2017
Trang 22cao, cần phát huy sức mạnh của mọi nguồn lực trong xã hội; đề cao vai trò kiểm tra, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trong việc thực hiện, tuân thủ TTHC ở các cấp chính quyền Các tổ chức Đảng, đoàn thể trong xã hội cần đ y mạnh vận động các tầng lớp nhân dân phát huy dân chủ, thực hiện quyền làm chủ, tham gia kiểm soát việc thực hiện TTHC; tích cực tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống chính sách, pháp luật sát thực tiễn; tập hợp và kịp thời phản ánh ý kiến, kiến nghị của nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp với cơ quan nhà nước có
th m quyền 10
2 3 T ường xuyên, liên tục, gắn chặt với mục tiêu cải cách hành chính
KSTTHC được thực hiện từ khi đề nghị xây dựng VBQPPL về TTHC, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC
Cải cách TTHC là một nội dung của CCHC, nhưng là nội dung phản ánh rõ nhất mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, đồng thời cũng là nội dung có nhiều bức xúc nhất của người dân, doanh nghiệp, cũng như có nhiều yêu cầu đổi mới trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, do đó cải cách TTHC nói chung, KSTTHC nói riêng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục bởi đội ngũ cán bộ, công chức thật sự tâm huyết, tận tâm Có như vậy, công cuộc cải cách TTHC của nước ta mới thật sự đem lại hiệu quả, người dân, doanh nghiệp mới thực sự được hưởng lợi từ việc cải cách TTHC
Các cơ quan nhà nước phải thường xuyên rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy định nội bộ về quy trình, TTHC không còn phù hợp, gây phiền hà cho việc tiếp nhận và xử lý công việc của người dân và doanh nghiệp, thiết lập cho được cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, độc lập, khách quan trong nội bộ, khắc phục tình trạng khép kín, thiếu công khai, minh bạch dễ phát sinh tiêu cực trong giải quyết các TTHC với người dân và doanh nghiệp Cơ quan KSTTHC phải luôn luôn kiểm soát, nâng cao chất lượng cải cách TTHC; coi trọng việc đánh giá tác động TTHC trong dự thảo văn bản QPPL
10 Đoàn Thị Hồng Hạnh (2012), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt động của cơ quan kiểm
soát TTHC ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.18
Trang 231.3 Nội dung kiểm soát thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính
1.3.1 Kiểm soát hoạt động xây dự g và ba à c c quy định về thủ tục hành chính
Theo quy định của pháp luật, TTHC phải được quy định trong văn bản QPPL của một số chủ thể nhất định Về nguyên tắc, văn bản QPPL do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành phải theo th m quyền, hình thức, trình tự, thủ tục nhất định; phải đảm bảo các nguyên tắc theo quy định tại Điều 5 Luật ban hành văn bản QPPL năm 2015, đồng thời, trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, đáp ứng được yêu cầu về quản lý nhà nước, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Do đó, trong quá trình soạn thảo văn bản, cơ quan được giao chủ trì phải tiến hành đánh giá tác động các quy định về TTHC trong dự thảo văn bản, tiếp thu ý kiến của cơ quan KSTTHC trước khi gửi th m định Việc kiểm soát hoạt động xây dựng và ban hành các quy định về TTHC của cơ quan KSTTHC giúp giảm dần, tiến tới loại bỏ TTHC ban hành không đúng quy định, không đáp ứng được mục tiêu về cải cách TTHC của nước ta, gây khó khăn, cản trở cho cơ quan nhà nước và tổ chức, cá nhân khi thực hiện
1.3.2 Kiểm soát hoạt động thực hi c c quy định về thủ tục hành chính trên thực tế
Kiểm soát hoạt động thực hiện các quy định về TTHC của cơ quan KSTTHC
nh m mục đích kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa TTHC không phù hợp, phức tạp, gây phiền hà; đồng thời bổ sung TTHC cần thiết, đáp ứng được nhu cầu thực tế; đảm bảo quy định TTHC phải đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm được thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC
1.3.3 Kiể so t cô g t c rà so t, đ g c c quy định về thủ tục hành chính trên thực tế
Sau khi ban hành quy định về TTHC trong các văn bản QPPL, người có th m quyền trong các cơ quan công bố công khai TTHC vào cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC (công bố bao gồm công bố TTHC mới ban hành; công bố TTHC được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế và công bố TTHC bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ)
Trang 24Việc rà soát, đánh giá các quy định về TTHC được tiến hành trên cơ sở thống
kê, tập hợp đầy đủ các TTHC, các quy định có liên quan đến TTHC cần rà soát, đánh giá, xem xét theo các nội dung của TTHC với các quy định có liên quan đến TTHC được rà soát, đánh giá với mục tiêu quản lý nhà nước và những thay đổi về kinh tế - xã hội, công nghệ và các điều kiện khách quan khác
Kết quả rà soát TTHC tốt s là tiền đề để cắt giảm các TTHC không cần thiết, mang lại hiệu quả cho công cuộc cải cách TTHC nói chung, do đó rất cần sự vào cuộc không chỉ của cơ quan KSTTHC, cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội
1.4 Yêu cầu kiểm soát thủ tục hành chính đảm bảo yêu cầu tính khả thi, công khai, minh bạch trong xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính
Như đã phân tích ở trên, KSTTHC là hoạt động do các chủ thể chuyên trách
có th m quyền thực hiện có nội dung là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nh m bảo đảm tính hợp pháp, khả thi của quy định về TTHC, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc, yêu cầu trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC và đạt được các mục tiêu đề ra
Cũng theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày
08/6/2010 về kiểm soát thủ tục hành chính thì “Kiểm soát thủ tục hành chính là việc xem xét đánh iá theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính
Như vậy, khi KSTTHC cần đáp ứng đủ các tiêu chí về:
1.4.1 Đảm bảo tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính
Theo từ điển Tiếng Việt: Khả thi là có khả năng thực hiện được 11
Tính khả thi của quy định về TTHC theo ngh a hẹp là khả năng các quy định về TTHC có thể thực hiện được trong thực tế hay không Còn theo ngh a rộng, tính khả thi của quy định về TTHC được xem xét trên các góc độ như các quy định TTHC
đó có hợp pháp, hợp lý hay không, có rõ ràng, minh bạch hay không, có khả năng thực hiện được hay không và có khả năng mang lại hiệu quả cao hay không
11
Hoàng Phê (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.489
Trang 25Có thể thấy, tính khả thi này gắn liền với toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành, thực thi TTHC Vì vậy, đánh giá tính khả thi của quy định TTHC được xem xét trên góc độ nội dung TTHC, quá trình thực hiện TTHC và TTHC đó có hiệu quả trong đời sống kinh tế, xã hội không Cụ thể, tính khả thi được thể hiện ở các tiêu chí sau:
- Quy định về TTHC: Đó là các tiêu chí tính đúng đắn, rõ ràng trong xác định mục đích, yêu cầu của TTHC; tính hợp pháp, hợp lý; tính minh bạch; tính đồng bộ của các TTHC
- Khả năng thực hiện các TTHC của người dân
- Hiệu quả của việc thực thi TTHC
4 2 Đ p ứng yêu cầu công khai, minh bạch
Theo từ điển Tiếng Việt: Công khai là việc không giữ kín, mà để cho mọi người đều có thể biết (công: mọi người; khai: mở)12
Minh bạch là rõ ràng, rành mạch (minh: sang; bạch: trắng) 13
Xét về khía cạnh ngôn ngữ, mặc dù công khai, minh bạch có nội hàm cụ thể khác nhau song giữa hai thuật ngữ này có điểm chung là biểu hiện sự rành mạch, rõ ràng, cụ thể về một vấn đề nào đó được công bố rộng rãi cho mọi người đều biết hoặc mọi người có thể dễ dàng tiếp cận về thông tin, về nội dung của vấn đề này Công khai là hình thức công bố thông tin rộng rãi ra công chúng, còn minh bạch là
sự chu n xác, rõ ràng về nội dung thông tin
Với khái niệm của cụm từ “công khai , “minh bạch như trên thì ta có thể xác định các tiêu chí để xác định, đánh giá tính công khai, minh bạch, bao gồm:
Một là, nội dung rõ ràng, cụ thể, rành mạch
Hai là, được công bố rộng rãi cho mọi người biết Việc công bố thông tin cho mọi người được biết là một yêu cầu cơ bản và không thể thiếu được trong việc xác định, đánh giá tính công khai, minh bạch
Ba là, thông tin thuận tiện cho mọi người dễ dàng tiếp cận, truy cập Cùng với quyền được biết của người dân, doanh nghiệp thì đi liền với đó phải có cơ chế để các chủ thể này có thể tiếp cận được thông tin Vì vậy, trong việc đánh giá tính công
12 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, H.2010, tr.277
13 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, NXB Từ điển Bách khoa, H.2010, tr.815
Trang 26khai, minh bạch thì việc đưa ra các kênh để thông tin được công khai b ng nhiều cách khác nhau nh m đảm bảo sự tiếp cận thông tin dễ dàng cho người dân
Bốn là, thông tin phải tin cậy được, phải lường trước được và có thể dự đoán được Việc đưa ra thông tin phải đảm bảo nguồn thông tin chính xác, thông tin được xây dựng trên kết quả kết tinh trí tuệ, công sức của Nhà nước, người dân và phù hợp với quy luật, nhu cầu của xã hội chứ không phải sản ph m mang ý chí chủ quan của
cơ quan nhà nước có th m quyền Người cung cấp thông tin phải chịu trách nhiệm
về tính chính xác, đầy đủ, khách quan của thông tin do mình cung cấp Hơn nữa, nội dung các thông tin này phải dự liệu được những tình huống có thể phát sinh trên thực tế và dự liệu được các giải pháp xử lý những tình huống này
1.5 ngh a của việc iểm so t thủ tục hành chính đảm bảo u cầu hả thi công hai minh bạch trong xây dựng và thực hiện thủ tục hành chính
1.5.1 Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần vào vi c tă g cường tính minh bạch trong hoạt động của bộ y à ước
KSTTHC là việc cơ quan nhà nước kiểm tra, giám sát việc xây dựng, công bố công khai, thực hiện TTHC của cơ quan nhà nước TTHC được công khai, minh bạch s góp phần khắc phục tệ tham nhũng của cán bộ, công chức, tạo thuận lợi cho người dân và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời cũng là căn cứ để giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, khắc phục tệ nạn công chức sách nhiễu, vòi v nh nhân dân và doanh nghiệp trong quá trình giải quyết công việc KSTTHC còn là biện pháp hữu hiệu nh m phòng ngừa các hành vi sai trái, tiêu cực, các biểu hiện là sai lệch, suy giảm hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
Ở nước ta hiện nay, công khai hóa, minh bạch hóa hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, bộ máy HCNN nói riêng đòi hỏi quan trọng trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngh a, xây dựng nhà nước pháp quyền của công dân, do nhân dân và vì nhân dân, xây dựng xã hội dân sự định hướng xã hội chủ ngh a
1.5.2 Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghi p, hi u quả và hi đại
Có thể nhận thấy rất rõ, việc KSTTHC để nâng cao chất lượng hệ thống các quy định hành chính không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị KSTTHC mà
Trang 27đòi hỏi sự vào cuộc của toàn bộ hệ thống hành chính, từ cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm dự thảo văn bản QPPL có các quy định về TTHC tới các bộ phận trực tiếp thực hiện TTHC; từ trách nhiệm của cán bộ, công chức đến trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, các đối tượng tham gia vào TTHC
KSTTHC có hiệu quả là hoạt động mang lại lợi ích trực tiếp cho các cá nhân, tổ chức nhưng đồng thời không để sơ hở trong công tác quản lý nhà nước Đây là một quy trình bắt đầu từ việc đánh giá tác động các quy định về trong quá trình dự thảo
do các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản QPPL thực hiện; gửi lấy ý kiến của cơ quan, đơn vị KSTTHC; công khai, minh bạch TTHC sau khi ban hành; kiểm soát việc thực thi TTHC trong thực tiễn Cuối cùng là tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về các quy định hành chính nh m phát hiện và giải quyết những bất cập của các quy định hành chính, cũng như giám sát việc thực thi TTHC của đội ngũ cán bộ, công chức Thông qua việc KSTTHC, mọi TTHC s được công khai hóa và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế, tránh tình trạng tùy tiện, thiếu công khai, minh bạch trong việc ban hành và thực hiện TTHC tại nhiều cơ quan hành chính như thời gian qua
Thực tế đã chỉ ra r ng, nếu không làm tốt công tác giám sát, KSTTHC thì các hoạt động nh m cải cách TTHC đôi khi chỉ mang tính hình thức S có nhiều thủ
tục được “cải cách trên giấy tờ, không có tính thực thi trong thực tế Do vậy, để
bảo đảm tính khả thi của TTHC thì bước đầu tiên của quy trình kiểm soát chính là việc tổ chức đánh giá tác động của quy định về TTHC Việc làm này có ý ngh a
thiết thực trong việc tăng cường “trách nhiệm iải trình trước nhân dân của các
ban soạn thảo về sự cần thiết, tính hợp lý, tính hợp pháp và tính hiệu quả của quy định về TTHC dự kiến ban hành Đây là một việc làm cần thiết vì mỗi giờ lao động dành cho việc đánh giá tác động s giúp cắt giảm hàng ngàn, hàng vạn giờ không cần thiết của cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện TTHC sau này, nhưng đây cũng
là một việc làm khó, đòi hỏi các cán bộ, cơ quan, đơn vị soạn thảo văn bản QPPL phải đầu tư thời gian, công sức để đưa ra các phương án tối ưu.14
Nội dung công khai TTHC s được thực hiện theo nguyên tắc đầy đủ, thường xuyên, rõ ràng, đúng địa chỉ, dễ tiếp cận, dễ khai thác, sử dụng và phải đăng tải trên
Trang 28cơ sở dữ liệu quốc gia và thông tin rộng rãi cho người dân biết trên các phương tiện thông tin đại chúng hi thực hiện các TTHC với cơ quan hành chính, người dân có quyền được biết, được hướng dẫn đầy đủ để thực hiện TTHC và từ chối thực hiện những TTHC do các cơ quan hành chính và cán bộ, công chức tự đặt ra Việc này s hạn chế và dần đi đến chấm dứt các hành vi nhũng nhiễu, hành dân của một bộ phận cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền các cấp hiện nay Thực tế đã phát sinh rất nhiều trường hợp, cán bộ, công chức trong quá trình giải quyết TTHC đã lợi dụng sự mập mờ, bất cập của pháp luật để tự ý đặt ra các loại thủ tục, hồ sơ, giấy tờ
nh m gây khó khăn, sách nhiễu với người dân Nhiều trường hợp đã bị xem xét, xử
lý kỷ luật Chính vì vậy, công khai TTHC là một yêu cầu không thể thiếu trong KSTTHC
1.5.3 Kiểm soát thủ tục hành chính góp phầ bảo đả v c t ực quyề
và g a vụ cô g d được thực hi a c g, t u t , ạ c ế t trạ g g y p ề à, s c u tro g t ực t ủ tục hành chính
KSTTHC là l nh vực luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm vì nó không chỉ liên quan đến công việc nội bộ của một cơ quan, một cấp chính quyền mà còn liên quan đến các tổ chức và công dân trong mối quan hệ với Nhà nước Chính vì vậy, cải cách TTHC nhà nước trở thành nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt trong chương trình công tác của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương Đây được xác định là một khâu quan trọng và được đặt ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình CCHC ở nước ta, tất cả đều hướng về mục đích chung: “Vì Nhân dân phục vụ Chính vì vậy cần phải KSTTHC để kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa TTHC không phù hợp, phức tạp, phiền hà;
bổ sung TTHC cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định TTHC đơn giản,
dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC Qua đó người dân khi thực hiện TTHC s hạn chế tối đa được các thủ tục rườm rà, tránh gây phiền hà, mất thời gian khi thực hiện trên thực tế đời sống đảm bảo được việc thực hiện quyền và ngh a vụ của mình
1.5.4 Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần trực tiếp vào vi c cải thi n môi trườ g đầu tư, oà t ô trưởng sản xuất, kinh doanh, góp phầ t úc đẩy nhanh sự phát triển của nền kinh tế
KSTTHC tạo tính minh bạch công khai, sự cạnh tranh lành mạnh của các tổ chức kinh tế CCHC nh m xây dựng nền kinh tế thị trường ngày càng hoàn thiện, giải
Trang 29phóng lực lượng sản xuất; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển đất nước Coi trọng cải cách TTHC để tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi, minh bạch nh m giảm thiểu chi phí về thời gian và kinh phí cho sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
Trong thế giới toàn cầu hóa, một trong những thách thức của phát triển, nhất là đối với các nước đang chuyển đổi mô hình kinh tế và cải cách thể chế chính trị là phải xây dựng thể chế dân chủ - pháp quyền, vượt qua những vấn nạn về tham nhũng, tạo lập vững chắc cơ sở xã hội của chế độ dựa trên sự đoàn kết, hợp tác và đồng thuận của dân tộc và cộng đồng xã hội Đó là điều kiện then chốt để ổn định, tăng trưởng và phát triển ở trong nước đồng thời tham gia có hiêu quả vào hội nhập quốc tế, giải quyết hợp lý, hài hòa lợi ích dân tộc với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế
Cải cách TTHC có tác động to lớn đối với việc phát triển kinh tế - xã hội Thông qua cải cách TTHC đã gỡ bỏ những rào cản về TTHC đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân
và doanh nghiệp trong việc thực hiện TTHC
Thực tế triển khai Đề án 30 cho thấy, sau khi tất cả các giải pháp đơn giản hóa TTHC được thông qua đã cắt giảm một cách tối đa chi phí tuân thủ TTHC mà xã hội phải gánh chịu, qua đó, góp phần thúc đ y tăng trưởng kinh tế - xã hội
1.5.5 Kiểm soát thủ tục hành chính góp phần nâng cao vị thế và uy tín của quốc g a trê trường quốc tế, t úc đẩy nhanh quá trình hội nh p ngày càng sâu
rộ g vào đời sống quốc tế
KSTTHC tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, công khai, minh bạch cho các
tổ chức, cá nhân đến tìm hiểu đầu tư vào Việt Nam Qua KSTTHC, cơ quan chức năng có thể thấy được những bất cập, trở ngại của chính sách, thủ tục do nhà nước đặt ra đối với mọi hoạt động trong đời sống xã hội đối với cá nhân, tổ chức; từ đó có cải cách, điều chỉnh phù hợp thực tiễn, nh m cắt giảm thời gian, chi phí đi lại, tạo thuận lợi tối đa cho người dân KSTTHC góp phần nâng cao hình ảnh của Việt Nam nói chung và các bộ, ngành, địa phương nói riêng trước cộng đồng trong nước và quốc tế, nâng cao vị trí xếp hạng của Việt Nam về tính minh bạch, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh Đây là giá trị vô hình nhưng tác động to lớn đến việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cụ thể là có ảnh hưởng trực tiếp, tích cực
đến việc đầu tư trong và ngoài nước, xuất nhập kh u, việc làm, an ninh xã hội
Trang 30Tóm lại, kiểm soát TTHC là một hoạt động quan trọng trong quá trình quản lý HCNN, đảm bảo phát hiện kịp thời và loại bỏ những TTHC không khả thi, gây khó khăn, phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, thông qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý HCNN, xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả Việc đánh giá về thực trạng kiểm soát TTHC hiện nay có ý ngh a quan trọng trong việc góp phần đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát TTHC
Trang 31CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG IỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
2 1 Thực trạng ph p uật về iểm so t thủ tục hành chính
Hiện tại, th m quyền KSTTHC ở nước ta hiện nay bao gồm 03 nhóm đối tượng chính, đó là:
- Các cơ quan tham gia xây dựng, ban hành TTHC;
- Các cơ quan thực hiện TTHC; và
- Các cơ quan chuyên trách STTHC
Ngoài ra, trong quá trình KSTTHC còn có sự tham gia của các cơ quan nhà nước khác cũng như các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội
Tuy nhiên, với vị trí và vai trò là cơ quan chuyên trách, thường trực, được giao trách nhiệm KSTTHC thì hệ thống các cơ quan STTHC đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động STTHC, đảm bảo hoạt động STTHC được thực hiện một cách thông suốt và hiệu quả từ TW đến địa phương
Tuy nhiên, các cơ quan STTHC không phải là cơ quan trực tiếp đóng vai trò kiểm soát việc xây dựng và ban hành TTHC, nó chỉ đóng vai trò là cơ quan giúp việc cho Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc
TW trong KSTTHC, mà nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát việc thực hiện TTHC Trên thực tế, pháp luật đã có quy định rất chi tiết về vị trí, vai trò, cơ cấu tổ chức cũng như nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan KSTTHC nói trên trong bộ máy nhà nước ta, cụ thể như sau:
2.1.1 Cơ qua kiểm soát thủ tục hành chính
Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 và Nghị định số 48/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ thì hệ thống cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính bao gồm cơ quan KSTTHC trực thuộc Văn phòng Chính phủ và các cơ quan KSTTHC khác trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ và
UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW
Trang 322.1.1.1 Cơ quan kiểm soát thủ tục hành chính trực thuộc Văn phòn Chính
phủ (Cục Kiểm soát thủ tục hành chính)
- Được thành lập theo Quyết định số 74/2010/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ, có tên gọi là Cục KSTTHC Cục KSTTHC có chức năng giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc KSTTHC; tổ chức thực hiện việc KSTTHC, quản lý Cơ
sở dữ liệu về KSTTHC trong phạm vi cả nước theo quy định của pháp luật
- Tuy nhiên, ngày 08/11/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
số 1668/QĐ-TTg chuyển nhiệm vụ và bộ máy tổ chức của Cục KSTTHC từ Văn phòng Chính phủ sang Bộ Tư pháp
- Từ cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Bộ Tư pháp, trong đó quy định Cục KSTTHC là một đơn vị trực thuộc Bộ Tư pháp
- Sau đó, Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 2245/QĐ-BTP ngày 06/9/2013 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục KSTTHC; trong đó, quy định Cục KSTTHC có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về KSTTHC; quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia
về TTHC và tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC trong phạm vi cả nước theo quy định của pháp luật
- Ngày 11/11/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 150/2016/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ, trong đó chuyển Cục KSTTHC về Văn phòng Chính phủ với tư cách là một cơ quan trực thuộc
- Căn cứ vào đó, Văn phòng Chính phủ đã ban hành Quyết định số VPCP ngày 15/12/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các Vụ, Cục, đơn vị thuộc Văn phòng Chính phủ; trong đó, Cục KSTTHC có chức năng giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ thực hiện chức năng KSTTHC, cải cách TTHC trong phạm vi cả nước, tham mưu tổng hợp điều phối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành về cải cách TTHC, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Trang 331215/QĐ-Nhận ét đ nh gi :
- hi thành lập, Cục KSTTHC trực thuộc Văn phòng Chính phủ, giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trong việc KSTTHC trong phạm vi cả nước Tuy nhiên, năm 2012, Chính phủ nhận thấy cần thiết phải chuyển giao Cục KSTTHC về Bộ Tư pháp, với lý do Bộ Tư pháp là cơ quan th m định, trình Chính phủ và Quốc hội ban hành nhiều văn bản QPPL và bộ luật, trong đó chứa nhiều TTHC; việc chuyển giao s làm cho Cục KSTTHC được mạnh hơn, làm rõ hơn về vai trò quản lý nhà nước cũng như tạo điều kiện để thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về TTHC15
- Tuy nhiên, sau gần 04 năm thì cuối năm 2016, Chính phủ đã quyết định chuyển Cục KSTTHC về Văn phòng Chỉnh phủ như ban đầu
- Về bản chất, cơ quan KSTTHC ở TW phải thuộc một Bộ, cơ quan ngang
Bộ có thể dễ dàng thống kê, quản lý các TTHC trên cả nước để xử lý, giải quyết về mặt v mô, tạo điều kiện để hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ Chính vì vậy, các nhà làm luật ngay từ ban đầu đã nhận định Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang Bộ phù hợp nhất để đặt cơ quan KSTTHC ở TW vào đó Văn phòng Chính phủ với chức năng là giúp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành
hệ thống hành chính từ TW đến địa phương, cho nên nếu Cục KSTTHC trực thuộc Văn phòng Chính phủ thì s dễ dàng trong việc kiểm soát, hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ đối với các cơ quan KSTTHC ở TW cũng như ở địa phương Mặt khác, trong thời gian Cục KSTTHC trực thuộc Bộ Tư pháp cũng nảy sinh nhiều bất cập, như việc không lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành công tác KSTTHC tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác do mối quan hệ giữa Bộ Tư pháp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ khác là bình đẳng; riêng Văn phòng Chính phủ không thực hiện việc quản lý nhà nước về một l nh vực nào cụ thể mà thực chất là cơ quan giúp việc cho Chính phủ, cho nên về mặt trực quan mà nói thì nếu Cục KSTTHC trực thuộc Văn phòng Chính phủ thì s dễ dàng trong hoạt động, nhất là mối quan hệ với các Bộ, cơ quan ngang
Bộ khác ở TW, thuận lợi cho công tác KSTTHC
- Chính vì vậy, việc chuyển giao Cục KSTTHC về Văn phòng Chính phủ là một quyết định hợp lý của Chính phủ, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá
Trang 34trình chuyển giao trước đó về Bộ Tư pháp, cũng như thúc đ y mạnh m quá trình KSTTHC trên cả nước, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để cán bộ, công chức làm nhiệm vụ KSTTHC, góp sức vào sự phát triển chung của nền hành chính
2.1.1.2 Phòn Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc bộ
- Được thành lập căn cứ theo Thông tư liên tịch số BNV ngày 26/01/2011 của Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội vụ Cơ quan KSTTHC thuộc Bộ và cơ quan ngang Bộ có tên là Phòng KSTTHC trực thuộc Văn phòng các
01/2011/TTLT-VPCP-Bộ và cơ quan ngang 01/2011/TTLT-VPCP-Bộ16, có chức năng giúp Chánh Văn phòng Bộ, cơ quan ngang
Bộ trong việc KSTTHC và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ
- Phòng KSTTHC chịu sự lãnh đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ; sự chỉ đạo trực tiếp của người đứng đầu Văn phòng các Bộ, cơ quan ngang Bộ; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục KSTTHC
- Hiện tại, cơ cấu của Chính phủ gồm có 18 Bộ17 và 04 cơ quan ngang Bộ18 Tuy nhiên vì Văn phòng Chính phủ đã có Cục KSTTHC, do vậy số lượng Phòng KSTTHC thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ là 21 Phòng
2.1.1.3 Phòn Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc TW
- Được thành lập căn cứ theo Thông tư liên tịch số BNV ngày 26/01/2011 của Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội vụ và Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ
01/2011/TTLT-VPCP-Cơ quan KSTTHC thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW có tên là Phòng KSTTHC thuộc Sở Tư pháp19, có chức năng giúp Giám đốc Sở Tư pháp trong việc KSTTHC và tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định
18
Gồm: Văn phòng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Ủy ban Dân tộc
19 Điều 4.1 Thông tư liên tịch số 01/2011/TTLT-VPCP-BNV ngày 26/01/2011 của Văn phòng Chính phủ và
Bộ Nội vụ
Trang 35hành chính thuộc phạm vi, th m quyền quản lý của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW
- Phòng KSTTHC chịu sự lãnh đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và hoạt động của UBND, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW; chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc Sở Tư pháp; đồng thời, chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn
về chuyên môn, nghiệp vụ của Cục KSTTHC thuộc Văn phòng Chính phủ
- Hiện tại, Việt Nam có 63 tỉnh, thành phố trực thuộc TW tương ứng với 63
Sở Tư pháp cho nên số lượng Phòng KSTTHC thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW là 63 Phòng
- Tuy nhiên, ngày 07/8/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến STTHC (trong đó có Nghị định số 63 và Nghị định số 48); theo đó thì từ ngày 25/9/2017 thì Phòng STTHC thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW s trực thuộc Văn phòng UBND trên cơ sở chuyển giao từ Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc TW (để phù hợp với việc Cục STTHC chuyển giao từ Bộ Tư pháp sang Văn phòng Chính phủ)
2 2 C ức ă g, vụ, quyề ạ của cơ qua k ể so t t ủ tục hành chính
2.1.2.1 Cục Kiểm soát thủ tục hành chính
- Xây dựng chương trình, kế hoạch, đề án chung về cải cách thủ tục hành chính, kiểm soát thủ tục hành chính trong từng giai đoạn để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định; hướng dẫn, đôn đốc các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện
- Chủ trì, phối hợp các đơn vị liên quan th m tra và theo dõi, đôn đốc, tổng hợp việc thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan th m tra các đề án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch, báo cáo và công việc thường xuyên khác về cải cách hành chính nhà nước; hệ thống quản lý chất lượng vào hoạt động của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống hành chính nhà nước
Trang 36- Tổ chức, hướng dẫn, triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thủ tục hành chính; kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính và cải cách thủ tục hành chính trong phạm vi cả nước; tổ chức rà soát, đánh giá thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật
- Phối hợp với các đơn vị liên quan th m tra các đề án, dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thủ tục hành chính
- Phối hợp với Vụ Tổ chức hành chính nhà nước và Công vụ th m tra các đề
án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước và chế độ công chức, công vụ
- Chủ trì, phối hợp các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức, hướng dẫn, triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính (trừ các phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp về cơ chế, chính sách, pháp luật hoặc khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh do Vụ Đổi mới doanh nghiệp chủ trì, xử lý; các đơn, thư phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân do Vụ I chủ trì, xử lý)
- Chủ trì, phối hợp với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, Trung tâm Tin học xây dựng, quản lý, vận hành về nội dung đối với Hệ thống quản lý và đánh giá
về kiểm soát thủ tục hành chính; Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; Hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính; Trang thông tin điện tử tổng hợp của Cục iểm soát thủ tục hành chính
- Chủ trì, phối hợp với Vụ hoa giáo - Văn xã và đơn vị liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của các
bộ, ngành, địa phương
- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan kiến nghị Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nghiên cứu, đề xuất hoặc chủ động nghiên cứu, đề xuất các chủ trương, chính sách, giải pháp, sáng kiến cải cách thủ tục hành chính và quy định có liên quan; nhân rộng những mô hình mới, cách làm hay trong cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính trình cấp có th m quyền quyết định
Trang 37- Giúp việc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính
- Chủ trì, phối hợp với Vụ Quan hệ quốc tế, Vụ Tổ chức cán bộ trong hợp tác quốc tế, huy động và sử dụng các nguồn tài trợ trong và ngoài nước để tăng cường công tác cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính
- Chủ trì, phối hợp với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan thông tin đại chúng triển khai công tác truyền thông về cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính
- Tổ chức hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, giao ban định kỳ, đột xuất
về công tác cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính đối với các bộ, ngành, địa phương để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao
- Báo cáo định kỳ (hàng quý, một năm) hoặc đột xuất về tình hình, kết quả thực hiện công tác cải cách, kiểm soát thủ tục hành chính theo yêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ nhiệm
- Lựa chọn và ký hợp đồng với chuyên gia tư vấn trong, ngoài khu vực nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao sau khi được Bộ trưởng, Chủ nhiệm đồng ý
- Quản lý tài chính, tài sản và tổ chức thực hiện dự toán ngân sách được giao theo quy định của pháp luật và phân cấp của Văn phòng Chính phủ
2.1.2.2 Phòn Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc Bộ cơ quan n an Bộ
- Tham mưu, giúp Chánh Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ:
+ Xây dựng chương trình, kế hoạch hàng năm về kiểm soát thủ tục hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ, trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ phê duyệt;
+ iểm soát quy định về thủ tục hành chính theo quy định tại Chương II của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;
+ iểm soát việc thực hiện thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản
lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định tại Chương III của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;
+ Tiếp nhận, nghiên cứu và phân loại các phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ để giao cho các cục,
Trang 38vụ, đơn vị liên quan thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ xử lý theo quy định tại Nghị định
số 20/2008/NĐ-CP; đôn đốc, kiểm tra và kịp thời báo cáo Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ biện pháp cần thiết để chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính tại
Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức;
+ iểm soát chất lượng và nhập dữ liệu thủ tục hành chính, văn bản liên quan đã được công bố vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính pháp lý của thủ tục hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã được công bố, nhập dữ liệu và đăng tải vào Cơ sở
dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; tổ chức thực hiện tạo đường kết nối về các dịch vụ công trực tuyến cung cấp cho cá nhân, tổ chức từ các cổng thông tin điện tử của Bộ, cơ quan ngang Bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;
+ Tổ chức thực hiện việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ, cơ quan ngang Bộ theo quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;
+ iểm tra, tổng hợp, xây dựng báo cáo về tình hình và kết quả thực hiện việc kiểm soát thủ tục hành chính và việc tiếp nhận, xử lý các phản ánh, kiến nghị
về quy định hành chính theo định kỳ hoặc đột xuất để trình Bộ trưởng, Thủ trưởng
cơ quan ngang Bộ báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định tại Điều 35 của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và quy định tại khoản 1 Điều 22 của Nghị định số 20/2008/NĐ-CP;
+ Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ, công chức làm đầu mối thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính theo hướng dẫn của Cục iểm soát thủ tục hành chính;
+ Đôn đốc các vụ, cục, đơn vị liên quan thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện việc thống kê các thủ tục hành chính mới ban hành, thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế, thủ tục hành chính bị hủy bỏ hoặc bãi bỏ; thực hiện các chương trình, dự án, đề án về kiểm soát thủ tục hành chính do Bộ, cơ quan ngang Bộ hoặc cơ quan nhà nước cấp trên ban hành;
+ Chủ trì, phối hợp với các cơ quan thông tấn báo chí để thông tin, tuyên truyền về hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính và kết quả tiếp nhận, xử lý phản ánh kiến nghị về các quy định hành chính;
Trang 39+ Trong quá trình hoạt động tùy theo yêu cầu, nhiệm vụ được giao, trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ việc huy động cán bộ, công chức của các vụ, cục, đơn vị liên quan thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính; trường hợp cần thiết, trình cấp có th m quyền ký hợp đồng và
sử dụng chuyên gia tư vấn trong và ngoài khu vực nhà nước đến làm việc theo chế
độ hợp đồng khoán việc phù hợp với quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ:
+ Hướng dẫn, kiểm tra việc điền biểu mẫu đánh giá tác động và tính toán chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của các đơn vị được phân công chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật; đánh giá độc lập tác động của thủ tục hành chính quy định trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật thuộc th m quyền ban hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ theo hướng dẫn của Cục iểm soát thủ tục hành chính;
+ Phối hợp với các đơn vị chức năng thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ kiểm tra lần cuối về sự cần thiết, tính hợp pháp, hợp lý của quy định về thủ tục hành chính và việc lấy ý kiến theo quy định tại Nghị định số 63/2010/NĐ-CP đối với các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định thủ tục hành chính trước khi trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ xem xét, quyết định;
+ Tham gia tập huấn nghiệp vụ do Cục iểm soát thủ tục hành chính tổ chức; + Trong quá trình kiểm tra, tổng hợp tình hình và kết quả thực hiện, nếu phát hiện cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức không thực hiện, thực hiện không đúng yêu cầu hoặc vi phạm quy định về kiểm soát thủ tục hành chính, kịp thời kiến nghị cơ quan, người có th m quyền áp dụng các hình thức, biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật;
+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh Văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ giao
2.1.2.3 Phòn Kiểm soát thủ tục hành chính thuộc UBND tỉnh thành phố trực thuộc TW
- Tham mưu, giúp Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh:
Trang 40+ Xây dựng chương trình, kế hoạch hàng năm về kiểm soát thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;
+ iểm soát quy định thủ tục hành chính theo quy định tại Chương II của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;
+ iểm soát việc thực hiện thủ tục hành chính thuộc phạm vi, th m quyền quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Chương III của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;
+ Tiếp nhận, nghiên cứu và phân loại các phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính thuộc phạm vi, th m quyền quản lý của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để giao cho các sở, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan xử lý theo quy định tại Nghị định số 20/2008/NĐ-CP; đôn đốc, kiểm tra
và kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biện pháp cần thiết để chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính trong việc xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức;
+ iểm soát chất lượng và nhập dữ liệu thủ tục hành chính, văn bản liên quan đã được công bố vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính pháp lý của thủ tục hành chính và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đã được công bố, nhập dữ liệu và đăng tải vào Cơ sở
dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính; tổ chức thực hiện tạo đường kết nối về các dịch vụ công trực tuyến cung cấp cho cá nhân, tổ chức từ các cổng thông tin điện tử của các sở, ngành, cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh với Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính theo chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
+ Tổ chức thực hiện việc rà soát, đánh giá thủ tục hành chính thuộc phạm vi
th m quyền giải quyết của các cấp chính quyền trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP;
+ Tham gia ý kiến b ng văn bản về việc thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính đối với sở, ngành, cơ quan, đơn vị, công chức liên quan trong quy trình xét thi đua, khen thưởng thuộc th m quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các trường hợp đề nghị cấp trên khen thưởng;