Trước yêu cầu của nhiệm vụ cải cách tư pháp, các quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, đòi hỏi chất lượng đội ngũ nhân lực của các Tòa án phải được nâng cao về
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ MAI ANH
ĐỀ TÀI
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN
THẨM PHÁN TẠI HỌC VIỆN TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ THỊ MAI ANH
ĐỀ TÀI
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN
THẨM PHÁN TẠI HỌC VIỆN TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Long
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Lê Thị Mai Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, cho phép tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành và sâu tới các thầy, cô giáo của trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Tổ bộ môn Lý luận nhà nước và pháp luật đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Lê Văn Long – người đã tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt thời gian hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình Tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành, kính chúc thầy sức khỏe và công tác tốt
Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn ủng
hộ, động viên tôi trong suốt quãng thời gian học tập tại Trường Đại học Luật
Hà Nội, để tôi có thể hoàn thiện luận văn thạc sĩ của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2017
Tác giả Luận văn
Lê Thị Mai Anh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3.Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
4.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn 5
5.Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn 5
7.Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN THẨM PHÁN 7
1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 7
1.2 Đặc điểm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 19
1.3 Mục đích và yêu cầu của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 22
1.4 Nội dung, chương trình giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 26
1.5 Hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 28
1.6 Chủ thể và đối tượng của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 30
1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 33
Chương 2 36
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN THẨM PHÁN TẠI HỌC VIỆN TÒA ÁN 36
2.1 Khái lược về Học viện Tòa án 36
Trang 62.2 Những kết quả đạt được trong giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án 40 2.3 Những hạn chế, tồn tại đối với giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán và những nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 58 Chương 3 67 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ NGUỒN THẨM PHÁN TẠI HỌC VIỆN TÒA ÁN 67 3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 67 3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán 74 3.2 Một số kiến nghị 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lấy pháp luật làm căn cứ để điều chỉnh hành vi của các cá nhân, các nhóm xã hội và các quan hệ xã hội nhằm bảo đảm cho xã hội ổn định và phát triển Cho nên cần phải xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có hệ thống tổ chức chặt chẽ từ Trung ương đến
cơ sở, trình độ văn hóa pháp luật và ý thức pháp luật của mọi người dân phải được nâng cao, ý thức thực thi pháp luật phải nghiêm minh Do đó, việc giáo dục pháp luật cho nhân dân là việc vô cùng quan trọng Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp lý và cán bộ hành chính nhà nước, tạo thành đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao và phẩm chất đạo đức trong sáng, mẫu mực đóng vai trò và ý nghĩa giáo dục pháp luật rất lớn đối với toàn xã hội
Thực hiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân được công nhận tại Điều 2 Hiến pháp
2013 Nhà nước được tổ chức, hoạt động và quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, đề cao giáo dục pháp luật cho công dân, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung đặc trưng cơ bản để xây dựng của Nhà nước pháp quyền Để đảm bảo xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam vững mạnh thì trước tiên cần phải có pháp luật và hệ thống pháp luật hoàn chỉnh với chất lượng cao, tiếp đó là phải có các phương pháp tiến hành giáo dục pháp luật đúng đắn và hiệu quả Để đạt được mục đích giáo dục pháp luật mà trước hết là trang bị tri thức pháp luật cho công dân cần phải sử dụng tổng hợp nhiều hình thức và phương pháp
Các hình thức giáo dục pháp luật được áp dụng trong thực tế rất đa dạng, phong phú và sáng tạo Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử của Tòa án là hình thức giáo dục đặc thù nhất, thông qua hoạt động xét xử của Tòa án làm cho mọi người thấy rằng bất cứ hành vi vi phạm pháp luật
Trang 82
nào cũng đều bị xử lý theo pháp luật, mọi tranh chấp trong xã hội đều được giải quyết công bằng, đúng pháp luật Trong hoạt động tố tụng của Tòa án, Thẩm phán giữ vị trí chủ đạo; chức năng, nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do Thẩm phán thực hiện Với tư cách là người được giao thực hiện chức năng xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán
có vị trí quan trọng và vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực nhà nước - quyền tư pháp Với vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng như vậy, Thẩm phán đòi hòi cần người có đầy đủ về năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị vững vàng và phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp chí công vô tư Để trở thành một Thẩm phán cần phải đạt đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và điều quan trọng phải được giáo dục pháp luật một cách đầy đủ, toàn diện và chuyên sâu nhất
Để tạo nguồn nhân lực cho các cơ quan tư pháp và cho các Tòa án nhân dân, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đã nhấn mạnh đến việc tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, hỗ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, hỗ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức trong sạch
Trước yêu cầu của nhiệm vụ cải cách tư pháp, các quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, đòi hỏi chất lượng đội ngũ nhân lực của các Tòa án phải được nâng cao về mọi mặt, công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, Thẩm phán và các chức danh Tòa án là hết sức cấp thiết, có tính chất quyết định đến kết quả
và chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án Tòa án nhân dân tối cao đã xác định việc đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Tòa án là một trong năm giải pháp đột phá quan trọng của hệ thống Tòa án nhân dân, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động xét xử
Học viện Tòa án ra đời nhằm đáp ứng mục tiêu trên Học viện Tòa án có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cán bộ Tòa án; đào tạo nghiệp vụ xét
Trang 93
xử cho các chức danh tư pháp, nhằm tạo nguồn cán bộ, Thẩm phán có chất lượng cao về cả chuyên môn và phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp và hội nhập quốc tế Hoạt động giáo dục pháp luật tại Học viện Tòa
án thể hiện rõ nét và đặt thù với mục đích, chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và phương pháp
Mặc dù công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định, tuy nhiên
do đặc thù Học viện mới thành lập, cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính còn chưa hoàn thiện, gián tiếp tác động đến hoạt động giáo dục pháp luật cho học viên còn một số hạn chế như: nội dung chương trình, giáo trình tài liệu phục
vụ giảng dạy và nghiên cứu, học tập, về đội ngũ giảng viên còn thiếu về số lượng, khiêm tốn về chất lượng và cần nâng cao hơn nữa cả về trình độ và phương pháp sư phạm; đội ngũ cán bộ quản lý đào tạo cần được bổ sung thêm nhân lực và kiện toàn bộ máy tổ chức…
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Giáo dục pháp luật cho cán bộ
nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án” là vấn đề cần thiết, có ý nghĩa lý luận
và thực tiễn thiết thực đối với xã hội nói chung và ngành Tòa án nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Giáo dục pháp luật được xem là một dạng giáo dục pháp luật có tầm quan trọng đặt biệt để nâng cao nhận thức và ý thức của cán bộ và nhân dân, nên đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực này Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như:
Đề tài khoa học cấp Bộ năm 1994, mã số 92-98-223-ĐT, của Viện
Nghiên cứu Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về giáo dục pháp luật trong thời kỳ đổi mới”;
Các tác giả Trần Ngọc Đường và Dương Thanh Mai (1995), “Bàn về
giáo dục pháp luật”;
Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Thanh Mai (1996), “Giáo dục pháp
luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam”;
Trang 104
Luận án tiến sĩ của tác giả Đinh Xuân Thảo (1996), “Giáo dục pháp luật
trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay”;
Bài viết của tác giả Nguyễn Ngọc Minh (1983), Tạp chí Cộng sản số 10,
tr34-38, “Giáo dục pháp luật cho nhân dân”;
v.v
Ngoài ra còn có những Luận văn Thạc sĩ của các học viên tại các trường đại học, Học viện lớn chuyên đào tạo Luật; các bài nghiên cứu về giáo dục pháp luật trong các đề tài cấp nhà nước, cấp bộ, các tạp chí…
Các công trình nghiên cứu nêu trên đều có những đóng góp quan trọng
cả về lý luận và thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều phương diện và góc độ xã hội Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu, đầy đủ và có hệ thống về giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán nói chung và giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án nói riêng Vì vậy, đây là đề tài nghiên cứu có tính chất chuyên biệt nghiên cứu về hoạt động giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án
3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Về đối tượng: Luận văn nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho cán bộ
nguồn Thẩm phán là những người đáp ứng đủ các tiêu chuẩn và điều kiện của pháp luật, họ được đào tạo nghiệp vụ xét xử và trở thành nguồn cán bộ quy hoạch chức danh Thẩm phán khi đáp ứng đủ yêu cầu Đối tượng nguồn Thẩm phán nghiên cứu chủ yếu là các Thư ký, Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân các cấp, một số là sĩ quan quân đội thuộc nguồn bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án quân sự Một số ít trường hợp là các cán bộ làm công tác pháp luật và có chuyển đổi vị trí công tác
Phạm vi nghiên cứu: Học viên nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho cán
bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án Thông qua công tác giáo dục, đào tạo nghiệp vụ xét xử, đề tài sẽ phân tích và đánh giá thực trạng cũng như đề ra
Trang 115
phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án
Luận văn giới hạn nghiên cứu, lấy số liệu thực tế trong vòng 3 năm (từ
2014 đến 2017) từ khi Học viện Tòa án thành lập trên cơ sở Trường Cán bộ Tòa án trước đây
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích của Luận văn là nghiên cứu về giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án nhằm phân tích nội dung, chương trình giáo dục pháp luật có chất lượng và chuyên sâu, đồng thời lựa chọn những hình thức, phương pháp giáo dục phù hợp đối với đối tượng đặc biệt này
Để đạt được mục đích đó, Luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu, phân tích cơ
sở lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán, nêu ra những kết quả đạt được trong quá trình giáo dục pháp luật tại Học viện Tòa án Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra những mặt hạn chế và tồn tại trong công tác giáo dục
từ đó đề ra phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án
5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, vận dụng quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học thường dùng như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử - cụ thể, thống kê nhằm giải quyết nhiệm vụ đặt ra của đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán; đánh giá thực trạng, nêu ra những hạn chế để từ đó tìm ra phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật tại Học viện Tòa án Đây cũng là vấn đề mang tính xã hội, giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán không chỉ cung cấp, trang bị kiến thức
Trang 126
pháp luật, phương pháp hành nghề, cách giải quyết vụ án và đưa ra phán quyết đúng đắn tại phiên tòa mà còn hình thành cho họ ý thức đạo đức nghề nghiệp, niềm tin nội tâm với khi giải quyết các tình huống pháp luật để xứng đáng trở thành người đại diện cho cán cân công lý, bảo vệ công bằng, lẽ phải
Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho học tập, giảng dạy
về lý luận nhà nước và pháp luật tại các cơ sở đào tạo; đây cũng là nguồn tài liệu chuyên ngành giúp hiểu sâu về chức danh tư pháp của Tòa án – đội ngũ Thẩm phán
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn
Thầm phán
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
tại Học viện Tòa án
Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục pháp
luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán tại Học viện Tòa án
Trang 137
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
CÁN BỘ NGUỒN THẨM PHÁN 1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
1.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật ở nước ta có nhiều cách hiểu khác nhau Để có một cách nhìn nhận đúng đắn, khoa học về giáo dục pháp luật cần phải tiếp cận từ khái niệm giáo dục trong khoa học sư phạm Trong khoa học sư phạm giáo dục được hiểu theo hai nghĩa đó là nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, giáo dục là quá trình ảnh hưởng của những điều kiện
khách quan như chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường sống và của những nhân tố chủ quan như tác động tự giác, có chủ đích và định hướng của nhân tố con người lên việc hình thành những phẩm chất, kỹ năng nhất định của đối tượng giáo dục
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là quá trình tác động định hướng của nhân tố
chủ quan lên khách thể giáo dục, nhằm truyền bá những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội
Giáo dục pháp luật xét về mặt bản chất là quá trình hoàn thiện nhân tố xã hội - pháp lí của con người, nâng cao khả năng sáng tạo của con người trước đời sống thực tiễn Giáo dục pháp luật là quá trình tác động của nhiều hình thức, phương tiện vào ý thức của con người, đó không phải và không thể là sự
áp đặt ý chí chủ quan duy ý chí tới quá trình nhận thức khách quan của các chủ thể
Trước hết giáo dục pháp luật đó là một nhiệm vụ mang tính thường xuyên, liên tục của nhà nước Do đó, nhà nước cần thực hiện việc tổ chức, quản lí, đánh giá kết quả lĩnh vực hoạt động này
Giáo dục pháp luật phải đảm bảo tính kịp thời, sát thực và phù hợp cả về phương diện nội dung, hình thức và đối tượng Tuy nhiên, dưới góc độ tổng
Trang 148
quan cần gắn việc giáo dục pháp luật trong nhà trường, trong các thiết chế chính trị xã hội với giáo dục ở ngoài cộng đồng xã hội và gia đình Kết nối việc phổ biến, giáo dục pháp luật với công tác giáo dục truyền thống lịch sử
và phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Đặc biệt, cần gắn giáo dục pháp luật với quá trình thực thi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước, của từng vùng, miền địa phương và an sinh xã hội
Từ những phân tích trên có thể xác định khái niệm giáo dục pháp luật
như sau: Giáo dục pháp luật là quá trình tác động một cách có hệ thống, có
mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người trình độ pháp lí nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật
1.1.2 Khái niệm cán bộ nguồn Thẩm phán
1.1.2.1 Khái niệm Thẩm phán và tiêu chuẩn, vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán
Khái niệm Thẩm phán
Theo khoản 1, Điều 1 - Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
ngày 04/10/2002 quy định: “Thẩm phán là người được bổ nhiệm theo quy
định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án”
Thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh án Toà án Nhân dân tối cao và là người thực hiện quyền xét
xử chính tại một phiên tòa, có thể là chủ tọa một mình hoặc là một thành phần trong hội đồng xét xử gồm nhiều Thẩm phán Thẩm phán là những người thay mặt cho Nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để đưa ra các phán quyết nhằm giải quyết sự tranh chấp giữa các bên hoặc phán quyết việc áp dụng các chế tài để xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các vụ án thuộc thẩm quyền, đảm bảo sự tôn trọng và thực thi pháp luật trong đời sống xã hội, đảm
Trang 159
bảo bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào cũng bị xử lý nghiêm minh, kịp thời không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội
Tiêu chuẩn đối với chức danh Thẩm phán
Theo quy định của pháp luật, Thẩm phán là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm làm việc trong hệ thống cơ quan Tòa án Tiêu chuẩn đối với chức danh Thẩm phán được quy định tại Điều 67 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 như sau: “Là công dân Việt Nam, trung thành với tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dung cảm và kiên quyết bảo
vệ công lý, liêm khiết và trung thực; Có trình độ cử nhân luật trở lên; Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử; Có thời gian làm công tác thực tiễn pháp luật; Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao”
Vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hệ thống cơ quan tư pháp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2010 thì Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…Do vậy, Thẩm phán trước hết phải là công chức Nhà nước
Thẩm phán ngoài việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định trong Luật Cán bộ, công chức thì Thẩm phán còn phải thực hiện các quyền và nghĩa
vụ trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định Theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp có Chánh án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án
Do vậy, Thẩm phán là chức danh pháp lý không thể thiếu được trong tổ chức
và hoạt động của Tòa án, Thẩm phán là người có vị trí chủ đạo Chức năng, nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do Thẩm phán thực hiện
Trong hoạt động tố tụng của Tòa án, Thẩm phán giữ vị trí chủ đạo; chức năng, nhiệm vụ của Tòa án chủ yếu do Thẩm phán thực hiện Với tư cách là
Trang 1610
người được giao thực hiện chức năng xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán có vị trí quan trọng và vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực nhà nước - quyền tư pháp Hơn nữa, Thẩm phán còn có vị trí, vai trò đặc biệt nếu xét từ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm của họ trong cơ cấu tổ chức cán bộ của Tòa án, trong hoạt động tố tụng khi so sánh Thẩm phán với những người tiến hành tố tụng khác, trong cơ chế bổ nhiệm, giao nhiệm vụ và khi so sánh Thẩm phán với các chức danh công chức khác trong các cơ quan nhà nước Trong số các chức danh cán bộ, công chức nhà nước thì Thẩm phán được xem là chức danh công chức đặc biệt, như các vấn đề về nghĩa vụ và quyền hạn, về những việc họ không được làm và các vấn đề về tổ chức cán bộ, chế
độ chính sách đối với Thẩm phán không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật Cán
bộ, công chức mà còn phải tuân theo các quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, về điều kiện, tiêu chuẩn, thủ tục thi tuyển chọn Thẩm phán và bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Đặc biệt là việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán, điều này khẳng định một trong những thành tựu đã đạt được trong cải cách tư pháp đó là thay thế cơ chế Hội đồng nhân dân bầu Thẩm phán bằng chế định bổ nhiệm Thẩm phán, điều này có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện một cách thống nhất tiêu chuẩn hóa Thẩm phán trên phạm vi toàn quốc, tạo sự chuyển biến mang tính tích cực cả về số lượng và chất lượng đội ngũ Thẩm phán, đồng thời là sự công nhận và thể hiện quan điểm của Nhà nước và nhân dân về vị trí, vai trò quan trọng của Thẩm phán trong việc thực hiện quyền lực nhà nước
Thẩm phán là công chức được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật với chức năng thực hiện nhiệm vụ xét xử các loại vụ án và giải quyết các việc khác thuộc thẩm quyền của Tòa án, Thẩm phán Tòa án có vị trí trung tâm trong cơ cấu cán bộ của cơ quan Tòa án và trong số những người tiến hành tố tụng; có vai trò quyết định không thể thay thế đối với việc thực hiện quyền
Trang 1711
lực nhà nước - quyền tư pháp nói chung và hoạt động tố tụng tư pháp nói riêng1
Trách nhiệm của Thẩm phán
Quy định tại điều 76 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2014, cụ thể:
- Trung thành với Tổ quốc, gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật
- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân
- Độc lập, vô tư, khách quan, bảo vệ công lý trong xét xử; chấp hành quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp Thẩm phán, giữ gìn uy tín của Tòa án
- Giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định của pháp luật
- Học tập, nghiên cứu để nâng cao kiến thức, trình độ chính trị và chuyên môn nghiệp vụ Tòa án
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và các quyết định của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình
sự theo quy định của luật Thẩm phán trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ xét xử có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của luật
Yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức của người Thẩm phán
Phẩm chất, bản lĩnh chính trị là yêu cầu quan trọng, cơ bản nhất đối với đội ngũ Thẩm phán của Tòa án nhân dân Đó là sự trung thành và bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường xã hội chủ nghĩa
mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn; nhiệt tình cách mạng, gương mẫu, tận tuỵ, có tinh thần và ý thức trách nhiệm cao với công việc, hết lòng, hết sức vì
sự nghiệp của nhân dân, tận tâm, tận trí phục vụ nhân dân
1 Học viện Tòa án (2016), Chương trình đào tạo Nghiệp vụ xét xử (Tập bài giảng cho Khóa 3), Nxb CAND,
Hà Nội, tr 83-84
Trang 1812
Đạo đức của người Thẩm phán gồm hai mặt cơ bản: đạo đức cá nhân và
đạo đức nghề nghiệp Đạo đức cá nhân, trước hết thể hiện ở ý thức, niềm tin
vào định hướng xã hội chủ nghĩa; quyết tâm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Ngoài ra, phẩm chất đạo đức cá nhân còn được thể hiện ở tinh thần và ý thức, biết tôn trọng, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh, không tham ô lãng phí, có trách nhiệm cao trong thi hành công vụ, có lòng nhân ái,
vị tha, ứng xử đúng đắn trong quan hệ gia đình, bạn bè và trong xã hội, có
tinh thần hướng thiện, hiếu học Đạo đức nghề nghiệp, đó là ý thức và trách
nhiệm pháp lý đối với nghề nghiệp mà họ theo đuổi Đạo đức nghề nghiệp của người Thẩm phán thể hiện trước hết ở tinh thần trách nhiệm cao và đề cao
kỷ luật trong thi hành công vụ Đó là ý thức luôn cố gắng hoàn thành nhiệm
vụ, công vụ được giao, kể cả khi gặp những điều kiện khó khăn, phức tạp Đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi người Thẩm phán phải tiết kiệm không chỉ cho bản thân mình mà cao hơn, quan trọng hơn là tiết kiệm thời gian, tiền của của nhân dân, tiết kiệm công sản, công quỹ, tiết kiệm tài nguyên của đất nước, nhờ đó chống được bệnh lãng phí thường xảy ra trong các cơ quan nhà nước Đạo đức nghề nghiệp còn được thể hiện ở sự ngay thẳng, công bằng, tận tâm, thực thi công vụ theo pháp luật và kỷ cương phép nước, công tư phân minh Người thẩm phán phải luôn luôn đề cao đạo đức công chức, đạo đức nghề nghiệp, bởi thiên chức của thẩm phán chính là cầm cân, nảy mực, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đúng lương tâm
Từ việc trình bày và phân tích về tiêu chuẩn, vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, yêu cầu về phẩm chất chính trị và đạo đức của Thẩm phán có thể thấy rằng Thẩm phán là người có vị trí quan trọng và vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện chức năng xét xử và giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án Các quy định của pháp luật đặt ra cũng thể hiện tầm quan trọng về vấn đề giáo dục pháp luật đối với đội ngũ
Thẩm phán Một trong các tiêu chuẩn để trở thành Thẩm phán là “đã được
đào tạo nghiệp vụ xét xử” đây là biểu hiện hình thức giáo dục pháp luật Quy
Trang 1913
định về nhiệm vụ và quyền hạn của Thẩm phán cũng nêu rõ “Thẩm phán
phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật” như vậy để thực hiện tốt nhiệm vụ và quyền hạn
mỗi Thẩm phán đã phải hiểu được tầm quan trọng nội dung, mục đích, phương pháp của giáo dục pháp luật để vận dụng trong công việc, trở thành một chủ thể giáo dục pháp luật toàn diện đối với nhân dân Đặt ra trách
nhiệm của Thẩm phán “Học tập, nghiên cứu để nâng cao kiến thức, trình độ
chính trị và chuyên môn nghiệp vụ Tòa án” cũng như “Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và các quyết định của mình” là yêu cầu bắt buộc để trở thành Thẩm phán cần trang bị tri thức pháp
luật ở trình độ cao cả về chuyên môn và nghiệp vụ, đồng thời phải ý thức đúng đắn về đặc thù nghề nghiệp, xây dựng thói quen xử xự theo chuẩn mực pháp luật Đây là những phương diện biểu hiện rõ nét của vấn đề giáo dục pháp luật
Thẩm phán là những người có trách nhiệm độc lập khi xét xử và chỉ tuân theo pháp luật (Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013, Điều 9 Luật tổ chức Tòa
án nhân dân 2014) Thẩm phán được phân công là chủ tọa phiên tòa có nghĩa
vụ duy trì, điều khiển phiên tòa theo đúng các nguyên tắc và quy định của luật
tố tụng, tham gia trực tiếp vào việc điều tra, xét hỏi công khai tại Tòa, là người duy nhất có quyền kháng nghị và công bố bản án, quyết định – những kết luận cuối cùng kết thúc toàn bộ quá trình xét xử tại tòa Tác động giáo dục pháp luật của Thẩm phán còn được phát huy thông qua việc thực hiện nghĩa
vụ hòa giải theo luật định trong các án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động…Nghĩa là Thẩm phán cùng Hội đồng xét xử chủ động giải thích pháp luật, làm rõ phạm vi quyền và trách nhiệm của các đương sự cũng như những cách thức thân thiện có thể dùng để giải quyết các mâu thuẫn tranh chấp dân sự, lao động, kinh tế giữa họ nhằm giúp họ thông cảm lẫn nhau nhiều hơn, “tự định vị lại” vị trí của mình trong quan hệ với bên kia trên cơ sở hiểu biết pháp luật, từ đó tự điều chỉnh, thương lượng để cùng nhau giải quyết
Trang 2014
vụ việc trước khi Tòa phải ra bản án Đó chính là biểu hiện cụ thể của hiệu quả giáo dục pháp luật tại phiên tòa Các đương sự từ chỗ thụ động chờ phán quyết của Tòa án sau khi được trang bị những hiểu biết cần thiết để định hướng hành động đã tích cực, chủ động tìm lấy phương thức phù hợp bảo vệ quyền, lợi ích của mình trong khuôn khổ pháp luật, hơn thế nữa còn khôi phục được những mối quan hệ tình cảm, quan hệ làm ăn đã bị sứt mẻ do tranh chấp, góp phần ổn định trật tự pháp luật, tăng cường đoàn kết trong xã hội Tác động giáo dục pháp luật có ý nghĩa quyết định của Thẩm phán là ở tính nghiêm minh, đúng đắn, toàn diện của các phán quyết mà họ đưa ra dựa trên những căn cứ vững chắc và được trình bày rõ ràng, khúc chiết Tất cả nỗ lực của các chủ thể khác đều được đánh giá, cân nhắc kĩ càng và thể hiện phần hợp lí, đúng đắn trong bản án Tòa bộ ý thức pháp luật, niềm tin nội tâm, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức chân thực của người Thẩm phán cũng được thể hiện trong bản án và qua đó mà tác động lên ý thức pháp luật của những chủ thể khác cũng như của các đối tượng giáo dục pháp luật tại phiên tòa
1.1.2.2 Cán bộ nguồn Thẩm phán
Theo từ điển tiếng Việt thì từ “Nguồn” có nghĩa là nơi bắt đầu, nơi phát
sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp2
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công
vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các giải thích khác nhau
về các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” và “viên chức”
Để xác định cụ thể những tiêu chí nào là cán bộ thì Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định tại Khoản 1 Điều 4 “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã
2 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội, tr 692
Trang 2115
hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa
và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước, các tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội Theo từ điển Tiếng Việt, “Cán bộ” là người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong
cơ quan nhà nước (cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị) hoặc
là người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ3 Như vậy, thuật ngữ “cán bộ” chỉ chung cho những người mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định Trong quân sự, cán bộ được dùng như từ đồng nghĩa với sĩ quan Thuật ngữ cán bộ cũng thường được những tù nhân trong trại giam gọi những người quản lý trại giam, cai tù, cai ngục ở Việt Nam Cán bộ cũng là danh xưng thường được những người dân chỉ về những người có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán bộ quản lý, cán bộ nguồn ), hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân (cán bộ thuộc dịch vụ công cộng)
Trong ngành Tòa án thuật ngữ “cán bộ” chỉ chung cho những người làm việc tại Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm thực thi pháp luật hoặc những cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý hoạt động tư pháp Cơ sở hình thành từ
tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, sau Cách mạng Tháng Tám, Bác dù bận trăm công nghìn việc do phải lãnh đạo toàn quốc tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, nhưng Người luôn chăm lo, quan tâm đến mọi hoạt động của Tòa án Tháng 2/1948, Hội nghị tư pháp toàn quốc được triệu tập, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh không đến dự Hội nghị được
Bác đã gửi một bức thư đến Hội nghị, ân cần căn dặn: “Tư pháp là một cơ
quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải tinh thành đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó
3 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội, tr.109
Trang 2216
có thể vì quyền lợi nhỏ mà hại đến quyền lợi to và chung, cho cả tư pháp và hành chính
Các bạn là những người phụ trách thi hành pháp luật Lẽ tất nhiên các
bạn cần phải nêu cao cái gương “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”
cho nhân dân noi theo”.4
Từ năm 2008 cho tới nay, ngành Tòa án nhân dân luôn nhắc tới lời dạy của Bác “Phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” trong các văn bản và trong các phong trào thi đua yêu nước, xem đó là một tiêu chuẩn đạo đức cho mỗi cán bộ Tòa án noi theo để rèn luyện trong công tác Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh "mỗi cán bộ, đảng viên phải học lý luận, phải đem lý luận áp dụng vào công việc thực tế Phải chữa bệnh kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông".5 Vì vậy, để lao động đạt hiệu quả cao đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải
có tinh thần học tập không ngừng Từ đó đặt ra yêu cầu đối với mỗi cán bộ Tòa án phải tự mình trau dồi kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình
độ lý luận chính trị, nghiên cứu các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của hệ thống Tòa án Tại Hội nghị cán
bộ ngành tư pháp năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Trong công tác
xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch Như thế cũng chưa đủ Không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án Phải “Gần dân, hiểu dân, giúp dân, học dân” Giúp dân, học dân để giúp mình thêm liêm khiết, thêm công bằng Thêm nữa là phải luôn luôn cố gắng học tập lý luận, học tập đường lối, chính sách của Chính phủ Theo Bác, người cán bộ Tòa án cũng là con người nên không thể tránh được những thiếu sót Muốn làm tốt công tác
xử án thì ngoài phải liêm khiết, trong sạch thì người cán bộ Tòa án phải hiểu được tâm tư, nguyện vọng, khúc mắc của người dân, qua đó sẽ giúp dân, cảm hóa dân và học ở dân những đức tính tốt đẹp, những kinh nghiệm nhằm giúp cho công tác xét xử tốt hơn Do đó, để trở thành Thẩm phán thì những cán bộ nguồn Thẩm phán trước hết phải trang bị cho mình đầy đủ trình độ pháp luật
4
Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch(1958), t.1, Nxb Sự thật , tr.235
5 Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, tr.234-235
Trang 23Từ phân tích về thuật ngữ “cán bộ” và “nguồn” nêu trên có thể đưa ra
khái niệm Cán bộ nguồn Thẩm phán là những người có đủ tiêu chuẩn và điều
kiện theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử và trở thành đội ngũ dự bị Thẩm phán trong tương lai Tuy nhiên để trở thành Thẩm phán họ phải trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán và sau đó được tuyển chọn, bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp theo quy định của pháp luật
Ở Việt Nam, sinh viên tốt nghiệp các trường, cơ sở đào tạo Luật chính quy được nhận bằng cử nhân luật và có cơ hội được tuyển dụng vào các cơ quan tư pháp làm việc Sau một thời gian công tác pháp luật, họ có thể được xét, cử tham gia khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử, sau đó để trở thành Thẩm phán họ phải trúng tuyển kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán trước khi được bổ nhiệm Như vậy, đối tượng đào tạo ở Việt Nam mở rộng hơn một số quốc gia khác, chủ yếu là những cán bộ công tác trong hệ thống Tòa án và còn mở rộng đến các đối tượng là cán bộ công tác pháp luật ở các cơ quan khác trong
bộ máy nhà nước
Cán bộ nguồn Thẩm phán hầu hết là công chức của hệ thống cơ quan Tòa án nhân các cấp có trình độ cử nhân luật trở lên, có thâm niên công tác pháp luật và có năng lực xét xử như Thư ký, Thẩm tra viên, Chuyên viên…
Ngoài ra, người làm công tác pháp luật của các cơ quan, tổ chức ngoài hệ thống Tòa án cũng có thể là nguồn được bổ nhiệm Thẩm phán khi đáp ứng đủ các yêu cầu theo quy định của Luật chức Tòa án nhân dân năm
2014 và Luật Cán bộ, công chức năm 2008 như Cán bộ lãnh đạo, Cán bộ
Trang 2418
quản lý, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Sỹ quan quân đội tại ngũ, Chấp hành viên, Luật sư…
Khái niệm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
Xuất phát từ định nghĩa giáo dục pháp luật nói chung đã đề cập ở trên, cùng với phân tích tính đặc thù về đối tượng giáo dục pháp luật là cán bộ nguồn Thẩm phán thì có thể hiểu giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm
phán là quá trình tác động một cách có hệ thống, có mục đích tới nhận thức
của cán bộ nguồn Thẩm phán nhằm trang bị cho họ những tri trức, hiểu biết pháp luật nói chung, về các vấn đề pháp luật chuyên ngành, kỹ năng xét xử liên quan đến hoạt động nghiệp vụ nói riêng để từ đó hình thành cho họ có ý thức đúng đắn về nghề nghiệp, nâng cao tri thức pháp luật, rèn luyện bản lĩnh chính trị và có phẩm chất, đạo đức tốt để trở thành Thẩm phán theo quy định của pháp luật
Giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán thông qua chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử là đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo đội ngũ tạo nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán, làm nhiệm vụ xét xử, giải quyết các loại án Đó là quá trình nâng cao trình độ chuyên môn, phương pháp, kỹ năng nghề nghiệp cho người được đào tạo Theo đó, đối tượng đào tạo nghiệp vụ xét xử hầu hết là công chức của hệ thống cơ quan Tòa án nhân dân các cấp đã tốt nghiệp cử nhân luật, có thâm niên công tác pháp luật từ 5 năm trở lên và có khả năng xét xử, được cơ quan chủ quản giới thiệu và vụ Tổ chức – cán bộ phê duyệt danh sách Ngoài ra, người làm công tác pháp luật của các cơ quan, tổ chức ngoài hệ thống Tòa án cũng có thể tham gia lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử để có thể tham gia kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán quốc gia, có thể được bổ nhiệm Thẩm phán Từ các tiêu chuẩn nêu trên của đối tượng đào tạo Thẩm phán, cho thấy đối tượng đào tạo Thẩm phán hiện nay không chỉ bó hẹp là những công chức đang đảm nhận nhiệm vụ như thư kí, thẩm tra viên, chuyên viên…trong các bộ phận của hệ thống Tòa án nhân dân các cấp, mà còn cả những cán bộ, công chức ngoài hệ thống như: kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, luật sư
Trang 2519
1.2 Đặc điểm giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
Giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán cũng là một bộ phận cấu thành giáo dục pháp luật nói chung, nghĩa là cũng tuân theo các quy định chung của quá trình giáo dục pháp luật, phải đáp ứng các yêu cầu về nội dung, hình thức, phương pháp, chủ thể, khách thể Bên cạnh đó, giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán cũng có những đặc điểm riêng xuất phát từ những nét đặc thù về vị trí công tác, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của
họ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Những đặc điểm chính của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán gồm:
Thứ nhất, giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán đòi hỏi tính
chuyên môn, chuyên nghiệp cao cả về phương diện chủ thể giáo dục và nội dung giáo dục pháp luật Bởi vì cán bộ nguồn Thẩm phán là những người đã
có trình độ từ cử nhân luật trở lên, có thâm niên công tác pháp luật như vậy bản thân mỗi người đã được trang bị tri thức pháp luật và có thẩm quyền áp dụng pháp luật Tuy nhiên để trở thành Thẩm phán - người thực hiện chức năng xét xử và có vị trí chủ đạo trong tổ chức và hoạt động của Tòa án thì họ cần phải đáp ứng các yêu cầu cao hơn về kiến thức, hiểu biết pháp luật, trình
độ chuyên môn và các kỹ năng nghiệp vụ cần thiết Do đó, giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán đòi hỏi nội dung giáo dục pháp luật có tính hệ thống, tính chuyên ngành và tính chuyên nghiệp cao mới có thể đảm bảo chất lượng giáo dục pháp luật cho đối tượng này
Nội dung giáo dục pháp luật cần gắn với đặc trưng cơ bản của nghề như tính chuyên nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn xét xử và nhu cầu phát triển của xã hội; phải xuất phát từ yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập, hợp tác quốc tế trong hoạt động tư pháp Yêu cầu nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán không chỉ trang bị và cập nhật đầy đủ những kiến thức mới về pháp lý, chính trị, kinh tế, xã hội mà cần đặc biệt chú trọng rèn luyện kỹ năng nghề, tăng cường thực hành tác nghiệp, nâng cao nhận thức
và trau dồi đạo đức nghề nghiệp, truyền thống cho đối tượng trong quá trình giáo dục
Trang 2620
Từ yêu cầu cao về mặt nội dung tri thức pháp luật trang bị cho mỗi cán
bộ nguồn Thẩm phán, đòi hỏi chủ thể giáo dục pháp luật cũng phải có trình độ cao về chuyên môn, tri thức pháp luật, đồng thời có kỹ năng sư phạm tốt và kinh nghiệm xét xử thực tiễn dày dặn Nói cách khác, chủ thể giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán phải là những nhà giáo dục pháp luật chuyên nghiệp
Thứ hai, giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán đòi hỏi phải
sử dụng phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục pháp luật phù hợp và có hiệu quả cao Để đạt được mục đích giáo dục pháp luật thì chủ thể giáo dục
pháp luật cần lựa chọn phương pháp và hình thức giáo dục phù hợp mang lại hiệu quả Đặc thù của đối tượng giáo dục là những cử nhân luật đã được trang bị hệ thống tri thức cơ bản, cơ sở và chuyên ngành, có thời gian trải nghiệm qua thực tiễn công tác pháp luật Do đó, phương pháp giáo dục truyền thống như độc thoại, nhiều lý thuyết không phù hợp, chủ thể giáo dục cần áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại, tạo được sự chủ động cho đối tượng không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn có khả năng áp dụng kiến thức và nâng cao năng lực tư duy pháp lý, đặc biệt là giải quyết các tình huống cụ thể Chọn các phương pháp giáo dục pháp luật linh hoạt nhằm phát huy cao độ tính tích cực, độc lập sáng tạo của đối tượng giáo dục, gắn “học
đi đôi với hành”, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Thứ ba, giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán phải luôn
gắn bó mật thiết với giáo dục chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp Trên cơ sở tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rất rõ vị trí, vai
trò của cán bộ Người chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”6 Công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán phải gắn với công tác giáo dục chính trị – tư tưởng (đóng vai trò định hướng quan trọng nhất chi phối các nhóm phẩm chất khác) bao gồm những phẩm chất: Trung thành tuyệt
6
Hồ Chí Minh toàn tập (2005), tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 269
Trang 27Thứ tư, giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán là hoạt động
giáo dục, đào tạo nghiệp vụ mang tính chất chuyên ngành hẹp (về đối tượng, phạm vi, nội dung, thời gian)
Giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán là hoạt động nâng cao nhận thức chuyên môn nghiệp vụ của ngành Tòa án Do đó tính chất chuyên ngành không rộng, chủ yếu trang bị cho đội ngũ nguồn để bổ nhiệm Thẩm phán, làm nhiệm vụ xét xử, giải quyết các loại án Nội dung giáo dục chuyên ngành nhằm bổ sung kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp, rèn luyện phẩm chất và đạo đức, trang bị những điều kiện cần để đối tượng giáo dục có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ, trách nhiệm khi trở thành Thẩm phán Đối tượng giáo dục pháp luật không rộng, đa phần là công chức của Tòa án như Thư
ký, Thẩm tra viên đã có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên, có năng lực xét xử và được Vụ tổ chức – cán bộ của Tòa án nhân dân tối cao phê duyệt trên cơ sở sự giới thiệu của Tòa án các cấp Ngoài ra, người làm công tác pháp luật của các cơ quan, tổ chức ngoài hệ thống Tòa án cũng có thể tham gia lớp đào tạo nghiệp vụ xét xử để có thể tham gia kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán quốc gia Thời gian giáo dục pháp luật, đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ
Trang 2822
nguồn Thẩm phán hiện nay áp dụng tại Học viện Tòa án là 06 tháng, không quá dài và đủ để truyền tải kiến thức cần thiết cho đối tượng đào tạo nghề, thời gian không quá lâu tránh gây gián đoạn thời gian công tác và làm việc tại cơ quan chủ quan của các cán bộ
1.3 Mục đích và yêu cầu của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
1.3.1 Mục đích của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
Mục đích của giáo dục pháp luật được xem xét trên nhiều góc độ tùy thuộc vào đối tượng giáo dục, cấp độ giáo dục cũng như hình thức giáo dục Nhìn chung, mục đích giáo dục có thể mang tính lâu dài hoặc trước mắt nhưng đều hướng tới ba vấn đề cơ bản:
Một là giáo dục pháp luật nhằm nâng cao khả năng nhận thức pháp lí, sự
hiểu biết pháp luật, hình thành tri thức pháp luật cần thiết cho các chủ thể (với tính cách là đối tượng nhận thức hay là đối tượng của giáo dục) Đây là mục đích hàng đầu của giáo dục pháp luật bởi lẽ sự hiểu biết pháp luật có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự phát triển của tư duy pháp lí, định hướng các hành vi của chủ thể trên thực tế
Tri thức pháp luật tạo nên cơ sở khẳng định lòng tin vào các giá trị của pháp luật, các chuẩn mực pháp lí cần thiết giúp cho các chủ thể chủ động xác lập hành vi và chịu trách nhiệm về hành vi Tri thức pháp luật không thể là sự hiểu biết đơn giản, phiến diện về một vài khía cạnh pháp luật nào đó mà nó mang tính hệ thống, logic Do đó, giáo dục pháp luật là hoạt động có vai trò quan trọng đối với quá trình mở rộng khối lượng tri thức pháp lí, nâng cao khả năng hiểu biết pháp luật một cách toàn diện, thống nhất đối với chủ thể
Hai là giáo dục pháp luật nhằm khơi dậy tình cảm, lòng tin và thái độ
đúng đắn đối với pháp luật Để hình thành lòng tin và đem lại thái độ đúng đắn, tích cực đối với pháp luật ở mỗi người cần phải giải quyết nhiều vấn đề
có liên quan, trong đó giáo dục pháp luật là hoạt động cơ bản Chúng ta biết rằng lòng tin vào pháp luật là lòng tin vào công lí, lẽ công bằng được tạo lập
Trang 2923
bởi chính pháp luật Lòng tin chỉ có giá trị đích thực khi nó đem lại thái độ chủ động trong xử sự phù hợp với pháp luật và được hình thành trên tri thức pháp luật cần thiết (nếu không sẽ là niềm tin mù quáng, phản tác dụng) Giáo dục pháp luật không đơn thuần là chỉ để hiểu biết về các quy định của pháp luật mà cao hơn nữa là để pháp luật được “sống” trong tư duy, hành vi của mọi người, để khơi dậy tình cảm, lòng tin và thái độ đúng đắn ở mỗi người đối với pháp luật, cần giáo dục tình cảm công bằng, khoan dung, ý thức trách nhiệm, thái độ không khoan nhượng trước các hành vi vi phạm pháp luật và thái độ tôn trọng pháp luật, pháp chế
Ba là giáo dục pháp luật nhằm hình thành thói quen xử sự theo pháp luật
với động cơ tích cực Tri thức pháp luật không thể là những nội dung lí luận thuần tuý mà nó phải được hiện thực hoá thông qua các hoạt động pháp lí thực tiễn Mục đích của giáo dục pháp luật không chỉ cung cấp những kiến thức lí luận hoặc các quy định pháp luật cụ thể mà quan trọng hơn là tạo lập được thói quen xử sự theo pháp luật ở mỗi loại chủ thể trong xã hội Thói quen này được hình thành không phải là thụ động, vô thức mà dựa trên nền tảng của động cơ về hành vi hợp pháp, tích cực Trên thực tế, để có thói quen
xử sự hợp pháp không những đòi hỏi con người phải thu nạp lượng kiến thức pháp lí cần thiết mà còn trải qua quá trình chuyển hoá chủ quan về mặt tâm lí Giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán hướng tới mục đích là đào tạo nguồn cán bộ bổ nhiệm Thẩm phán, trang bị cho họ các phẩm chất, kỹ năng và năng lực của người Thẩm phán, cụ thể như sau:
- Nâng cao nhận thức pháp lý, sự hiểu biết pháp luật chuyên sâu về hình
sự, dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động, hành chính nhằm củng cố, bổ sung, nâng cao tri thức pháp luật cho các cán bộ nguồn Thẩm phán từ đó hình thành tri thức pháp luật cần thiết cho các cán bộ Tòa án để làm nghiệp vụ chuyên môn, đồng thời trang bị kỹ năng nghiệp vụ
cơ bản của một người Thẩm phán, như: khả năng tư duy, khả năng diễn đạt, khả năng viết, khả năng điều hành phiên tòa trong hoạt động xét xử…
Trang 3024
- Nâng cao nhận thức nghề nghiệp, rèn luyện bản lĩnh chính trị và đạo
đức nghề nghiệp của một người Thẩm phán Thẩm phán cần có khả năng đưa
ra các quyết định cứng rắn, kịp thời trong xét xử; độc lập trong hoạt động xét xử; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm…;
Người Thẩm phán cần có những đức tính sau: công bằng, khách quan và
vô tư; lương tâm và nhân đạo; bản lĩnh nghề nghiệp; tinh thần trách nhiệm cao Có lập trường tư tưởng vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, có tinh thần trách nhiệm cao, công bằng, khách quan, vô tư và trung thực trong xét xử, có ý thức tự lực, tự cường vượt qua khó khăn trở ngại
để hoàn thành nhiệm vụ
- Hình thành thói quen xử xử theo pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán khi trở thành Thẩm phán với động cơ giáo dục pháp luật tích cực tới nhân dân Thẩm phán cần làm tấm gương sống và làm việc theo pháp luật, có lối sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
Văn hóa pháp luật của những cán bộ nguồn Thẩm phán là sự kết hợp cả hai yếu tố: ý thức pháp luật và hành vi phù hợp với yêu cầu của pháp luật Văn hóa pháp luật của Thẩm phán thể hiện qua ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ chủ yếu là kỹ năng xét xử và khả năng giải quyết đúng đắn các nhiệm vụ của họ trong thực tiễn hoạt động công vụ
Thẩm phán đều là những người có đủ các tiêu chuẩn nghề nghiệp được quy định chặt chẽ, cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật Họ không những chỉ có một mức học vấn pháp luật tối thiểu trong quá trình đào tạo cơ bản tại các trường luật mà còn phải luôn làm mới, cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ và các kỹ năng của mình theo kịp với yêu cầu của vị trí công tác
và thực tiễn xã hội Chỉ trên nền tảng kiến thức đó và qua thực tiễn làm công tác xét xử các Thẩm phán mới rèn luyện được thói quen tư duy pháp luật chuyên sâu, phương pháp và khả năng xử lý nhạy bén với với các tình huống pháp lý phức tạp một cách tự chủ, độc lập, không bị ảnh hưởng của các tác
Trang 3125
động bên ngoài Không những thế, Thẩm phán còn có bổn phận giải thích pháp luật sao cho những người dân bình thường nhất khi tham gia các hoạt động tư pháp cũng hiểu được và tuân thủ các quy định pháp luật, đồng thời giáo dục pháp luật cho người dân hiểu được các quy định pháp luật để nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật, xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo duy trì ổn định an ninh trật tự xã hội
1.3.2 Yêu cầu của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
Yêu cầu của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán là cấp độ cao nhất của giáo dục pháp luật Bởi vì những hiểu biết và thái độ, cư xử của những đối tượng nguồn Thẩm phán là chuẩn mực của ý thức và hành vi tuân thủ pháp luật Tri thức của đối tượng này bao gồm cả những quan điểm, học thuyết về Nhà nước và pháp luật trong lịch sử và hiện tại Họ có hiểu biết tương đối toàn diện về hệ thống pháp luật trong nước và quốc tế và trong lĩnh vực chuyên sâu như dân sự, hình sự, hành chính, kinh tế Kỹ năng của họ không chỉ dừng lại ở việc tuân thủ mà chủ yếu là áp dụng pháp luật một cách linh hoạt, chính thức để giải quyết, xử lý hoặc tư vấn cho việc giải quyết, xử
lý các tranh chấp, vi phạm pháp luật trong các mối quan hệ xã hội Kỹ năng quan trọng và đặc thù của đối tượng này là kỹ năng xét xử và có khả năng tham gia vào việc hoàn thiện pháp luật
Tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6- 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò trung tâm của Tòa án và Thẩm phán cùng với việc đề ra các yêu cầu về xây dựng, củng cố đội ngũ Thẩm phán để đáp ứng tốt hơn nữa yêu cầu nhiệm vụ
mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho trong tình hình hội nhập quốc tế của đất nước hiện nay
Chủ trương, đường lối cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 08 – NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị là xác định“Tòa án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng
tâm” Theo đó, nhiệm vụ mới đối với hệ thống Tòa án nhân dân là phải có
chiến lược phát triển toàn diện, trong đó việc xây dựng đội ngũ Thẩm phán là
Trang 3226
nhiệm vụ quan trọng cấp thiết lâu dài và liên tục của hoạt động tư pháp Người Thẩm phán phải có bản lĩnh chính trị, hiểu biết pháp luật, kỹ năng thực hành giải quyết các vụ việc, đặc biệt là kỹ năng nghiên cứu, xây dựng hồ sơ, điều hành phiên tòa, ra bản án “thấu tình, đạt lý” Để đẩy mạnh công tác trên, ngày 27/12/2012, Bộ Chính trị có thông báo kết luận số 116-TB/TW về đào tạo cán bộ với nội dung đồng ý để Tòa án nhân dân tối cao được đào tạo nghiệp vụ xét xử cho Thẩm phán, đồng thời bồi dưỡng nâng ngạnh cho các chức danh Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.7
Yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án nhân dân nói chung, mà nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và đội ngũ Thẩm phán
là phải được đào tạo để có kiến thức, kỹ năng và trình độ chuyên môn nghiệp
vụ giỏi; chuyên môn hoá phải đi đôi với trí tuệ hoá, làm cho mỗi Thẩm phán, cán bộ, công chức trong từng lĩnh vực có trình độ cao, vừa có kiến thức, vừa
có năng lực và trình độ chuyên môn sâu Bên cạnh đó phải tạo được một lực lượng chuyên gia đầu ngành của từng lĩnh vực, những người có trình độ, năng lực chuyên môn sâu sắc hơn và uyên thâm hơn về lý thuyết, tinh thông, thành thạo hơn về nghiệp vụ và cao hơn về năng lực thực tiễn
Do đó, yêu cầu của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán là rất cần thiết và có tính xã hội cao, đặt ra yêu cầu giáo dục pháp luật cần có tính toàn diện, cung cấp tri thức pháp luật ở trình độ cao và kỹ năng nghiệp vụ linh hoạt, thuần thục Khi những đối tượng này trở thành Thẩm phán họ đã được trang bị tốt sự hiểu biết pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp nền tảng
1.4 Nội dung, chương trình giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
Để hoạt động giáo dục pháp luật được tiến hành thuận lợi, có hiệu quả cần xác định nội dung cơ bản, phù hợp với đối tượng giáo dục, loại hình và cấp độ giáo dục Theo nguyên lí chung thì nội dung và mục đích của giáo dục
7 Học viện Tòa án (2015), Tài liệu diễn án, phiên họp và thực hành tình huống (dùng cho các khóa đào tạo nghiệp vụ xét xử), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.5-6
Trang 3327
có quan hệ hữu cơ với nhau, vì vậy giáo dục pháp luật phải nhằm định hướng
cả về tri thức, tình cảm và hành vi cho đối tượng giáo dục Nhìn chung, nội dung của giáo dục pháp luật tương đối rộng, mang tính đặc thù riêng cho từng chương trình đào tạo Chẳng hạn, kiến thức lí luận về pháp luật, các quy định pháp luật hiện hành, các thông tin về thực hiện, bảo vệ pháp luật, các số liệu
về xã hội học pháp luật, giáo dục mô thức hành vi pháp luật…Các nội dung
cơ bản này lại được thể hiện phù hợp với kết cấu của mỗi chương trình giảng dạy khác nhau, theo yêu cầu cụ thể khác nhau
Ngoài những thông tin, kiến thức pháp luật chung, nội dung giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ nguồn Thẩm phán là những người có thẩm quyền áp dụng pháp luật được tập trung chuyên sâu vào lĩnh vực chuyên ngành liên quan đến hoạt động chuyên môn nghiệp vụ bao gồm các lĩnh vực:
- Lĩnh vực kiến thức chung về pháp luật: giáo dục pháp luật đối với cán
bộ nguồn Thẩm phán gồm các quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức ; các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành, cập nhật kiến thức pháp luật mới phù hợp với tình hình hiện tại; các điều ước quốc tế
mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thoả thuận quốc tế
- Lĩnh vực pháp luật chuyên ngành: các quy phạm xác định cơ chế, trình
tự, thủ tục, hình thức pháp lý từ điều tra, truy tố, xét xử Các luật hình thức sử dụng để giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán chủ yếu là Tố tụng dân sự, tố tụng hành sự, tố tụng hành chính Nội dung giáo dục pháp luật là cách thức thực hiện hành vi tố tụng, điều hành hoạt động tố tụng của Thẩm phán và phân tích pháp lý để đưa ra các phán quyết, quyết định trong phạm vi quyền hạn của Thẩm phán
- Kỹ năng nghiệp vụ xét xử: kỹ năng phân tích và áp dụng pháp luật, kỹ
Trang 3428
năng thụ lý vụ án, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án, điều khiển phiên tòa, tranh tụng, kỹ năng soạn thảo bản án, văn bản tố tụng (viết bản án, ra quyết định…)
- Ngoài ra do tính chất đặc biệt của đối tượng giáo dục pháp luật nội
dung giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán còn cung cấp các kỹ năng nghiệp vụ xét xử cơ bản, đồng thời nâng cao nhận thức nghề nghiệp, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức xây dựng và bảo vệ pháp luật; rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của một người Thẩm phán
Chương trình giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán đòi hỏi không chỉ ở tính tổng thể, bao quát những kiến thức pháp luật, kỹ năng cơ bản, nền tảng mà còn đặt ra các yêu cầu cụ thể cho từng phần kỹ năng chuyên môn Chương trình cần xây dựng và thực hiện theo hướng thực hành, thực nghiệm
1.5 Hình thức giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
Hình thức giáo dục pháp luật là cách thức mà nhà nước sử dụng để tác động vào ý thức và tâm lí của các chủ thể Do nội dung giáo dục, đối tượng giáo dục khác nhau nên cần đa dạng hoá các hình thức giáo dục, phương pháp giáo dục mới có hiệu quả Việc sử dụng một hình thức giáo dục pháp luật nào cho phù hợp và có hiệu quả trên thực tế tùy thuộc vào từng đối tượng và yêu cầu mục đích đặt ra Hơn nữa, việc lồng ghép các hình thức giáo dục pháp luật khác nhau cho cùng một đối tượng, chương trình cũng hết sức cần thiết Mặt khác, việc xã hội hoá các hình thức giáo dục pháp luật nhằm thúc đẩy, kích hoạt ý thức và khả năng tham gia của nhiều loại chủ thể đối với việc từng bước đưa pháp luật vào đời sống xã hội Trên thực tế, chúng ta không nên coi trọng hoặc xem nhẹ một hình thức nào đó của hoạt động giáo dục pháp luật Hiện nay, theo quy định của pháp luật các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật ở nước ta bao gồm: “Họp báo, thông cáo báo chí; phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp
Trang 3529
luật; thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin điện tử, niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư; tổ chức thi tìm hiểu pháp luật; thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của các cơ quan trong
bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải ở cơ sở; lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức chính trị
và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác ở
cơ sở; thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của
hệ thống giáo dục quốc dân; các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả.” (Căn cứ Điều 11 Luật phổ biến giáo dục pháp luật số 14/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2012)
Có thể thấy hình thức giáo dục pháp luật được áp dụng trong thực tế rất
đa dạng, phong phú Trong đó, mỗi hình thức giáo dục pháp luật có những ưu điểm riêng Việc áp dụng pháp luật sẽ đạt hiệu quả nếu chúng ta sử dụng các hình thức giáo dục pháp luật phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, chủ thể và đối tượng nhất định
Dó đó, các đối tượng là cán bộ nguồn Thẩm phán cần có hình thức giáo dục pháp luật đặc biệt và có tính chuyên ngành, chuyên nghiệp cao như:
- Thông qua chương trình đào tạo trong các cơ sở giáo dục pháp luật chuyên nghiệp như Học viện Tư Pháp, Học viện Tòa án, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Luật Hà Nội…
- Các chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên ngành do các cơ quan có thẩm quyền thực hiện quyền tư pháp tổ chức như Tòa án nhân dân Tối cao,
Bộ Tư pháp…
- Thông qua công tác xét xử, tham dự các phiên tòa thực tế, phiên tòa lưu động
Trang 3630
- Thông qua hoạt động công vụ như giải quyết, xử lý các vụ án, tư vấn pháp luật, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động trao đổi nghiệp vụ với các cơ quan, tổ chức khác trong bộ máy nhà nước
- Tổ chức, tham gia các hội thảo chuyên đề, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, các đề tài nghiên cứu pháp luật cấp Nhà nước, cấp Bộ, ban, ngành liên quan
- Hợp tác quốc tế với các nước phát triển có hệ thống pháp luật tiên tiến, vững mạnh thông qua những buổi hội thảo, hội nghị, những khóa đào tạo ngắn hạn, trung hạn ở nước ngoài để trao đổi, giao lưu kinh nghiệm về pháp luật
- Nghiên cứu tài liệu, xem phim tư liệu về pháp luật và nghiệp vụ
1.6 Chủ thể và đối tƣợng của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
1.6.1 Chủ thể giáo dục pháp luật
Theo lý luận giáo dục học thì chủ thể giáo dục là thầy, cô giáo và tất cả những người làm công tác giáo dục khác Dưới góc độ nghiên cứu lý luận về giáo dục pháp luật: Chủ thể giáo dục pháp luật là tất cả những người mà theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội phải tham gia vào việc thực hiện các mục đích giáo dục pháp luật
Các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã xác định có hai loại chủ thể giáo dục pháp luật: Chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp Chủ thể chuyên nghiệp là những người mà chức năng, nhiệm vụ chủ yếu trực tiếp thực hiện các mục đích giáo dục pháp luật (đó là các giáo viên giảng dạy pháp luật trong các nhà trường, các báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, biên tập viên của các báo, đài phát thanh, truyền hình phụ trách chuyên mục pháp luật, cán bộ chỉ đạo, thực hiện công tác giáo dục pháp luật ở các cơ quan tư pháp, các tổ chức pháp chế…)
Chủ thể không chuyên nghiệp là những người mà tuy chức năng chính không phải là giáo dục pháp luật nhưng một trong các nhiệm vụ của họ là bằng hoặc thông qua các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện các
Trang 3731
mục đích giáo dục pháp luật Họ làm việc ở nhiều lĩnh vực, cơ quan khác nhau như các đại biểu Quốc hội; đại biểu Hội đồng nhân dân; các cán bộ, công chức, viên chức ở các cơ quan thực thi pháp luật như Tòa án, Viện kiểm sát, Công an, Cảnh sát, Hải quan, Thanh tra, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng…; các luật sư, công chứng viên, chuyên viên pháp lý, tư vấn viên pháp lý; hòa giải viên cơ sở, thành viên Ban Công tác mặt trận Tuy là chủ thể không chuyên nghiệp nhưng với vị trí, uy tín nghề nghiệp, kinh nghiệm nghề nghiệp
và trình độ ý thức pháp luật cao nên họ có khả năng và trên thực tế họ vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn, giúp đỡ các chủ thể khác thực hiện mục tiêu giáo dục pháp luật
Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ cán bộ nguồn Thẩm phán là giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc biệt Bản thân họ đã có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm làm việc thực tiễn pháp luật, do đó đòi hỏi chủ thể giáo dục pháp luật cho những đối tượng này cần phải là những cán bộ, giảng viên, chuyên gia pháp lý có trình độ cao về lĩnh vực pháp luật chuyên ngành và có kinh nghiệm thực tiễn dày dặn, phong phú, có kỹ năng sư phạm giỏi, biết cách hấp dẫn, lôi cuốn đối tượng bằng những phương pháp khoa học, hiện đại, chuyên nghiệp Chủ thể của giáo dục pháp luật cho đối tượng cán bộ nguồn Thẩm phán cũng được chia thành hai loại là chủ thể chuyên nghiệp và chủ thể không chuyên nghiệp
+ Chủ thể chuyên nghiệp: là các giảng viên cơ hữu đang công tác,
nghiên cứu pháp luật tại cơ sở đào tạo pháp luật uy tín, chất lượng Họ thực hiện nhiệm vụ, công tác giáo dục pháp luật thường xuyên, liên tục cho học viên tại cơ sở hoặc đào tạo ngoại khóa, đào tạo từ xa
+ Chủ thể không chuyên nghiệp: là các giảng viên kiêm chức, thỉnh
giảng hiện đang công tác tại các Tòa án nhân dân các cấp Họ là những cán
bộ, công chức Tòa án có thời gian làm việc lâu năm tại các Tòa án giữ các chức vụ chủ chốt như Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán với kiến thức pháp luật chuyên ngành chuyên sâu, dày dặn kinh nghiệm thực tiễn xét xử Họ vận dụng tri thức pháp luật đã tích lũy cùng với kỹ năng nghề nghiệp để truyền
Trang 3832
tải, cung cấp hiểu biết, tri thức pháp luật và kinh nghiệm cho những thế hệ cán bộ, công chức sau, đặc biệt là cán bộ nguồn Thẩm phán
1.6.2 Đối tượng giáo dục pháp luật
Đối tượng của giáo dục pháp luật là những cá nhân, công dân hay những nhóm, cộng đồng xã hội cụ thể tiếp nhận tác động của các hoạt động giáo dục pháp luật do các chủ thể giáo dục pháp luật tiến hành nhằm đạt được các mục đích đề ra
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Mỗi cán bộ, viên chức nhà nước phải xác định rõ việc học tập, nghiên cứu để hiểu biết pháp luật, thi hành nghiêm chỉnh pháp luật là trách nhiệm của mình Cán bộ, viên chức nhà nước phải là những người gương mẫu trong việc giữ gìn kỷ cương, phép nước và góp phần thực hiện giáo dục pháp luật trong nhân dân” Cán bộ, công chức, viên chức Tòa án và những cán bộ thực hiện pháp luật khác có vai trò đặc biệt trong giáo dục pháp luật, vì họ vừa là đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật đồng thời cũng là chủ thể của giáo dục pháp luật Đối tượng giáo dục pháp luật là các cán bộ nguồn Thẩm phán, họ hầu hết là công chức của hệ thống cơ quan Tòa án nhân các cấp đã tốt nghiệp
cử nhân luật, có thâm niên công tác pháp luật và có khả năng xét xử Ngoài
ra, người làm công tác pháp luật của các cơ quan, tổ chức ngoài hệ thống Tòa án cũng có thể là đối tượng giáo dục pháp luật để thành đối tượng nguồn Thẩm phán, tham gia kỳ thi tuyển chọn Thẩm phán quốc gia, có thể được bổ nhiệm Thẩm phán khi đạt đủ các yêu cầu theo luật định Từ các tiêu chuẩn nêu trên của đối tượng đào tạo Thẩm phán, cho thấy đối tượng đào tạo Thẩm phán hiện nay không chỉ bó hẹp là những công chức đang đảm nhận nhiệm vụ như thư kí, thẩm tra viên, chuyên viên, sĩ quan quân đội tại ngũ…trong các bộ phận của hệ thống Tòa án nhân dân các cấp, mà còn cả những cán bộ, công chức ngoài hệ thống như: cán bộ lãnh đạo, cán
bộ quản lý làm công tác pháp luật, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên, luật sư…
Trang 3933
Với tư cách là đối tượng của giáo dục pháp luật, quá trình giáo dục pháp luật cung cấp cho cán bộ nguồn Thẩm phán những niềm tin, kiến thức, hiểu biết pháp luật nói chung, pháp luật liên quan đến nghiệp vụ của họ nói riêng, đồng thời làm hình thành và củng cố ý thức pháp luật nghề nghiệp khi trở thành Thẩm phán
1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán
Hiệu quả của giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Có thể chia thành ba nhóm chính:
- Yếu tố pháp luật: Yếu tố này thể hiện mức độ hoàn thiện của pháp luật nội dung, pháp luật hình thức làm cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động tố tụng, hoạt động xét xử và giáo dục pháp luật cho đội ngũ nguồn Thẩm phán Yếu tố pháp luật còn thể hiện qua các quy định của pháp luật về đảm bảo tăng cường giáo dục pháp luật, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp, hỗ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn Nội dung giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán cần là tri thức pháp luật toàn diện, có tính chuyên ngành cao, cập nhật được những quy định, văn bản pháp luật mới để giúp cho họ thực hiện nhiệm vụ công tác pháp luật một cách phù hợp, đúng đắn với tình hình của xã hội
- Yếu tố tổ chức: Yếu tố này thể hiện trình độ tổ chức hợp lý, khoa học
về bộ máy, phân công công việc và cơ chế phối hợp công việc đảm bảo tiến hành hoạt động xét xử và hoạt động giáo dục pháp luật đúng hướng, đúng mục đích và đạt hiệu quả cao Yếu tố tổ chức còn thể hiện ở việc bảo đảm các yêu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị, chương trình, kinh phí để đáp ứng được yêu cầu giáo dục pháp luật có hiệu quả và chuyên nghiệp cho cán bộ nguồn Thẩm phán Các cơ sở giáo dục pháp luật cho các bộ nguồn Thẩm phán cần có sự tổ chức, liên kết chặt chẽ với cơ quan chủ quan cũng như trong nội
bộ cơ sở để đảm bảo chất lượng giáo dục pháp luật đạt hiệu quả cao
Trang 4034
- Yếu tố con người: Trình độ pháp luật của chủ thể tiến hành giáo dục pháp luật cho cán bộ nguồn Thẩm phán cần đạt được yêu cầu cao cả về kiến thức, kỹ năng, hiểu biết và kinh nghiệm làm công tác pháp luật thực tiễn, cũng như phương pháp sư phạm chuyên nghiệp, lôi cuốn, hấp dẫn Bản thân mỗi cán bộ nguồn Thẩm phán cũng cần có ý thức tự trau dồi, nghiên cứu, học hỏi để nâng cao trình độ pháp luật, kinh nghiệm xét xử; rèn luyện tu dưỡng bản thân về phẩm chất, đạo đức, lối sống, trở thành tấm gương có ý thức pháp luật cao và cũng là chủ thể giáo dục pháp luật cho nhân dân