1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình theo pháp luật việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

94 272 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 870,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhóm các bài viết trên tạp chí: Tạp chí tòa án nhân dân, tòa án nhân dân tối cao “Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình và thự

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

- -

HOÀNG THỊ TRANG

CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ

CHỒNG SỐNG CHUNG VỚI GIA ĐÌNH THEO

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI -2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

-  -

HOÀNG THỊ TRANG

CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ

CHỒNG SỐNG CHUNG VỚI GIA ĐÌNH THEO

PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành : Luật dân sự và tố tụng dân sự

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hà Thị Mai Hiên

HÀ NỘI -2017

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Hoàng Thị Trang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG SỐNG CHUNG VỚI GIA ĐÌNH 7

1.1 Khái quát chung chế độ tài sản của vợ chồng 7

1.1.1.Khái niệm tài sản chung của vợ chồng……… .7

1.1.2 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng 9

1.1.3 Nội dung quyền sở hữu của vợ chồng 16

1.2 Mục đích và điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp sống chung với gia đình 21

1.2.1 Khái niệm gia đình 21

1.2.2 Khái niệm sống chung với gia đình 24

1.2.3 Mục đích chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp sống chung với gia đình 25

1.2.4 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp sống chung với gia đình 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

Chương 2: NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP SỐNG CHUNG VỚI GIA ĐÌNH 28

2.1 Căn cứ chia tài sản 28

2.1.1 Căn cứ pháp lý 28

2.1.2 Căn cứ thực tiễn 29

2.2 Xác định tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong tài sản chung của gia đình 29

2.2.1 Căn cứ xác định tài sản của gia đình 29

Trang 5

2.2.2 Căn cứ xác định tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong tài sản chung

của gia đình……… 31

2.3 Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình………… 32

2.3.1 Trong trường hợp tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được……… 32

2.3.2 Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần… 40

2.3.3 Các nguyên tắc thanh toán tài sản chung đặc biệt về chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG KHI CHIA TÀI SẢN LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG SỐNG CHUNG VỚI GIA ĐÌNH 61

3.1 Thực trạng chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 61

3.1.1 Thực trạng xã hội 61

3.1.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 62

3.2 Giải pháp góp phần đảm bảo quyền và nghĩa vụ của vợ chồng khi chia tài sản ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình 74

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về vấn đề chia tài sản khi ly hôn của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình 74

3.2.2 Giải pháp khác 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82

KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS : Bộ luật dân sự BTP : Bộ tư pháp HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TTLT : Thông tư liên tịch

VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi kết hôn, cùng nhau xây dựng gia đình thì vợ, chồng luôn mong muốn một sự bền vững trong quan hệ hôn nhân Tuy nhiên, trong nhiều truờng hợp, do chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, mà quan hệ hôn nhân đã không giữ đuợc ý nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu, cuộc sống chung của vợ chồng đã không còn hạnh phúc Do vậy, pháp luật dự liệu khả năng cho họ quyền đuợc giải phóng khỏi quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn

Thực tế cuộc sống ở Việt Nam cho thấy, phần lớn các trường hợp là cả hai vợ chồng cùng chung sống với gia đình nhà chồng, một số ít trường hợp ở nhà vợ, khi chung sống hòa thuận, vui vẻ, vợ chồng chung tay gây dựng, tạo lập khối tài sản chung của gia đình mà không có sự phân định rạch ròi Đến khi có những bất đồng, xung đột dẫn tới ly hôn và chia tài sản thì người vợ hoặc chồng thường bị thiệt thòi khi gia đình nhà chồng, nhà vợ thường bảo vệ lợi ích của gia đình mình, trong khi người vợ hoặc chồng khó có thể chứng minh được công sức đóng góp, duy trì, phát triển khối tài sản chung, nên quyền lợi của họ thường bị ảnh hưởng

Xuất phát từ thực tiễn đó, quy định về chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình ra đời đã giải quyết được vấn đề trên, bảo

vệ quyền lợi cho vợ, chồng khi sống chung với gia đình

Vốn dĩ, quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, đã rất khó để xác định được công sức đóng góp cụ thể của các bên,

và còn khó khăn hơn nữa khi khối tài sản chung đó của vợ, chồng lại nằm trong khối tài sản chung của cả gia đình (nhà chồng hoặc nhà vợ) Khi xảy ra tranh chấp thì việc phân chia tài sản chung của vợ, chồng trong khối tài sản

Trang 8

của gia đình là tương đối khó khăn, phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong các vụ

án giải quyết ly hôn tại các cấp Tòa án Hiện nay, với xu thế phát triển của xã hội, số lượng các vụ án ly hôn có tranh chấp về tài sản ngày càng tăng, giá trị tài sản tranh chấp giữa vợ chồng với gia đình ngày càng lớn Thực trạng này

đã gây nhiều khó khăn và áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng

Do vậy, nghiên cứu về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc Nó đem tới cái nhìn tổng quan hơn về những quy định của pháp luật, những bất cập của việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn, để từ đó có những giải pháp hoàn thiện hơn về vấn đề này Với những lý do trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài:

“Chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với

gia đình theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc nghiên cứu về các tranh chấp trong quan hệ hôn nhân và gia đình luôn được quan tâm và chú ý, được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập

Một số tài liệu chuyên khảo về hôn nhân và gia đình như: Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam củaTrường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Hôn nhân và gia đình của khoa Luật; tác giả Nguyễn Văn Cừ- Ngô Thị

Hường với “ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”; tác giả Nguyễn Văn Cừ với “Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” Các tài liệu chuyên khảo này

đều đề cập đến các kiến thức pháp lý cơ bản và khái quát về chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

Nhóm các luận văn, luận án: Các công trình tiêu biểu trong nhóm này có:

Trang 9

“ Chế độ tài sản chung vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”

của tác giả Nguyễn Văn Cừ; tác giả Nguyễn Văn Cừ- Ngô Thị Hường với “

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 ;

“Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” của tác giả Nguyễn Thị Lan; “ Một số vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000” của tác giả Nguyễn Thị Bích Vân; “Các trường hợp chia tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” của tác giả Chu Minh Khôi; Tác giả Nguyễn Hồng Hải với đề tài “ Xác định tài sản của vợ chồng, một số vấn đề

lý luận và thực tiễn”; Tác giả Nguyễn Thanh Hà với “ Sở hữu chung của vợ chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng”

Nhóm các bài viết trên tạp chí: Tạp chí tòa án nhân dân, tòa án nhân

dân tối cao “Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật hôn nhân và gia đình và thực tiễn giải quyết” của tác giả Thu Hương, Duy Kiên; Tạp chí tòa án nhân dân, tòa án nhân dân tối cao, “Một số vấn đề liên quan về chia tài sản chung” của tác giả Đặng Mạnh Cẩm Yến;…

Các công trình trên cũng đã có những nội dung nghiên cứu tương đối bao quát về vấn đề chia tài sản của vợ chồng nói chung và trong trường hợp

vợ chồng sống chung với gia đình nói riêng Mặc dù vậy, với xu hướng các vụ

án ly hôn mà chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình hiện nay ngày càng tăng, đồng thời việc Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mới được ban hành và bước đầu đi vào áp dụng trong thực tiễn xét xử thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về về chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình là điều rất quan trọng

Qua nghiên cứu sẽ thấy được những tiến bộ của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng các quy

Trang 10

định của pháp luật để giải quyết tranh chấp về chia tài sản của vợ chồng khi sống chung với gia đình Từ đó, đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật và phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xét xử giải quyết tranh chấp, nhằm đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên vợ, chồng

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình

3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Luật hôn nhân

và gia đình năm 2014 và một số văn bản khác có liên quan về quy định chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

4.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành; cơ sở pháp lý

để giải quyết các tranh chấp; thực trạng xã hội cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật khi giải quyết vấn đề về chia tài sản của vợ chồng khi sống chung với gia đình tại tòa án để từ đó, phát hiện những vấn đề còn bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong công tác xét xử của tòa án để xem xét đề xuất những giải pháp hoàn thiện, nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác xét xử và quyền, lợi chính đáng của vợ, chồng khi sống chung với gia đình

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận pháp luật vể chia tài sản chung trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình;

Trang 11

- Phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề chia tài sản của vợ chồng khi khi ly hôn trong trường hợp sống chung với gia đình;

- Thực trạng chia tài sản của vợ chồng khi sống chung với gia đình

5 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn

- Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, nghiên cứu các tạp chí có giải quyết các tranh chấp về chia tài sản của vợ chồng khi sống chung với gia đình; các bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn đề nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luạn văn

Luận văn là công trình khoa học có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Luận văn đã đưa ra được thực trạng xã hội và thực trạng áp dụng pháp luật về chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình, từ đó đưa ra được những giải pháp nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong trường hợp này

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về chia tài sản khi ly hôn

trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

Chương 2: Nội dung pháp luật hiện hành về chia tài sản khi ly hôn của

vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình

Trang 12

Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp nhằm đảm bảo quyền và

nghĩa vụ của vợ chồng khi chia tài sản ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN TRONG TRƯỜNG HỢP VỢ CHỒNG SỐNG CHUNG VỚI

GIA ĐÌNH 1.1 Khái quát chung chế độ tài sản của vợ chồng

1.1.1.Khái niệm tài sản chung của vợ chồng

Tài sản tuy không phải là một nhân tố hoàn toàn có thể làm nên hạnh phúc nhưng nó lại là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống chung của hai vợ chồng Nếu như sự lãng mạn và yêu thương là phép màu để giữ lửa tình yêu thì tài sản là điều kiện vật chất để nuôi dưỡng tình yêu đó

Tài sản theo nghĩa từ điển Luật học là “của cải, vật chất dùng vào mục đích sản xuất và tiêu dùng”1

Tài sản của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự vì vậy nghiên cứu vấn đề tài sản của vợ chồng cũng phải đặt trong bối cảnh của chế định tài sản trong Luật dân sự nói chung Theo quy định tại Điều 105,

BLDS năm 2015, “ Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”

Trong luật dân sự, nếu như quan hệ tài sản là quan hệ hàng hóa, tiền tệ

và có tính chất đền bù, ngang giá thì quan hệ tài sản trong Luật HN&GĐ không mang tính chất đấy, mặc dù quan hệ tài sản trong quan hệ HN&GĐ Việt Nam cũng cùng một gốc với quan hệ tài sản trong pháp luật dân sự Bởi, khi đã kết hôn, hai vợ chồng cùng chung sức chung lòng, chung tay tạo dựng của cải, vật chất, nên không thể rạch ròi như lý thuyết về tài sản trong quan

hệ pháp luật dân sự cũng như các lý thuyết về tài sản khác Tất nhiên, tính chất đền bù ngang giá trong Luật dân sự không bắt buộc phải có trong mọi

1

Trung tâm Từ điển (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.168

Trang 14

trường hợp Thế nhưng phải nói rằng nếu như đối với Luật HN&GĐ không có tính chất đền bù, ngang giá là về nguyên tắc thì đối với Luật dân sự, đó là trường hợp ngoại lệ 2 Vì thế mà tài sản chung của vợ chồng là hình thức sở hữu đặc biệt xuất phát từ quan hệ hôn nhân

Khác với tài sản chung đơn thuần, tài sản chung do vợ, chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân, có thể là do vợ, chồng lao động tạo ra hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân (thỏa thuận tài sản riêng trở thành tài sản chung, thừa kế, tặng cho) và điểm khác biệt của chế định tài sản chung vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do hai vợ chồng tạo ra ngang bằng nhau Tài sản chung có thể chỉ do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và vợ chồng đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

Do đó, tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất - “sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung”(Khoản 1, Điều 210 BLDS năm 2015)

Như vậy, phần quyền sở hữu của vợ, chồng không được xác định trước, và cũng không xác định được tỉ lệ tài sản của mỗi người Khi hai bên thỏa thuận phân chia xong hoặc có quyết định của Tòa án về phân chia tài sản cho vợ chồng thì phần tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung mới được xác định Như vậy, chia tài sản chung của vợ chồng là phân chia tài sản chung của

vợ chồng thành từng phần thuộc sở hữu riêng của vợ và của chồng

Sự tồn tại của chế độ tài sản chung vợ chồng phụ thuộc vào sự tồn tại của quan hệ hôn nhân và chấm dứt khi một trong hai vợ chồng chết hoặc có bản án, quyết định của Tòa án cho vợ chồng ly hôn Do tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân, vợ chồng cùng chung sức, chung ý chí tạo dựng tài sản

2 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội, tr 47

Trang 15

chung nhằm bảo đảm nhu cầu đời sống chung của gia đình, Khoản 2, Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định :

“Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng

để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chung”

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng được hiểu là những tài sản được hình thành hoặc tạo ra phù hợp với những căn cứ xác lập tài sản chung vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ

1.1.2 Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng

Tài sản chung của vợ chồng là toàn bộ những quy định của pháp luật về việc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng và quyền nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản ấy Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, nam nữ kết hôn với nhau trên cơ sở tình yêu chân chính, bình đẳng và tự nguyện Khi trở thành vợ chồng, tính chất cộng đồng tài sản giữa họ được xác lập

Theo quy định tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 thì:

“ 1 Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh

từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

2 Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng

Trang 16

3 Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi

Đây là tài sản chủ yếu quan trọng đối với khối tài sản được coi là tài sản chung của vợ chồng Trong cuộc sống vợ chồng có thể tham gia lao động, sản xuất kinh doanh để tạo ra tài sản, nhưng đó phải là những lao động hợp pháp Thu nhập từ lao động là thu nhập cơ bản, chính đáng chủ yếu của người lao động Trong xã hội, lao động vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của mỗi công dân Quyền tự do sản xuất kinh doanh của cá nhân được Nhà nước ghi nhận là một quyền hiến định, Nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho các

cá nhân có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh Bởi nó một mặt vừa mang lại tài sản để duy trì ổn định và phát triển của gia đình, mặt khác góp phần thúc đẩy sự phát triển cũng như làm giàu cho xã hội Việc các bên thu nhập nhiều hay ít, cao hay thấp không phải là căn cứ để phân định công sức đóng góp của các bên vợ chồng Như vậy, dù vợ chồng ở nhiều ngành nghề khác

Trang 17

nhau, mức thu nhập khác nhau, song mọi thu nhập từ lao động nghề nghiệp, sản xuất kinh doanh theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 đều là tài sản chung Ngoài ra, điều Luật cũng quy định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng cũng là tài sản chung của vợ chồng

Đối với căn cứ xác định tài sản của vợ chồng là các thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì theo hướng dẫn tại Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014, nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân và gia đình thì: Thu nhập hợp pháp

khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn có thể là: “1 Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số, tiền trợ cấp, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 11 của Nghị định này ,(đó là các khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng)

2 Tài sản mà vợ, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của

Bộ luật Dân sự đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước

3 Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, chỉ những tài sản có nguồn gốc hợp pháp do vợ chồng cùng tạo ra hoặc được xác lập quyền sở hữu trong thời kỳ hôn nhân mới là tài sản chung của vợ chồng

- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung

Tài sản chung của vợ chồng có nguồn gốc đặc biệt là “ tặng cho” Tài sản này có thể do hai bên gia đình tặng cho vợ chồng được coi như “của hồi môn” hay bạn bè làm quà tặng vợ chồng trong ngày cưới Nó mang ý nghĩa

Trang 18

xã hội sâu sắc, thể hiện sự đùm bọc, che chở yêu thương của những người thân và bạn bè dành cho vợ chồng

Ngoài ra, vợ chồng còn được nhận di sản thừa kế, trừ thừa kế theo di chúc, vợ chồng có quyền lợi ngang nhau trong việc hưởng phần di sản bằng nhau khi thừa kế theo pháp luật

Ngoài ra, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm tài sản riêng của mỗi bên vợ hoặc chồng đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng có thế do vợ chồng thỏa thuận bằng văn bản hoặc mặc nhiên.Việc nhập tài sản riêng của một bên vào khối tài sản chung của vợ chồng nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của một bên thì vô hiệu Đây là quy định rất mềm dẻo, linh hoạt nhằm bảo vệ quyền lợi của người thứ ba tham gia vào quan hệ tài sản đối với vợ hoặc chồng

- Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

Quyền sử dụng đất là một loại tài sản mang những nét đặc thù riêng Thông thường quyền sử dụng đất là tài sản có giá trị lớn hoặc đem lại thu nhập chính cho vợ chồng Vì vậy, để tránh những vướng mắc khi giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất, Luật HN&GĐ năm 2014 đã khẳng định quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của

vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng

Đối với những tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất và các tài sản có giá trị khác thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên cả vợ và chồng

Trang 19

Điều 12 Nghị định Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014, nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân

và gia đình quy định về đăng ký tài sản chung của vợ chồng

1 Tài sản chung của vợ chồng phải đăng ký theo quy định tại Điều 34 của Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm quyền sử dụng đất, những tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sử dụng, quyền sở hữu

2 Đối với tài sản chung của vợ chồng đã được đăng ký và ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì vợ, chồng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất để ghi tên của cả

vợ và chồng

3 Trong trường hợp tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân

mà trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi tên cả vợ và chồng thì bên được chia phần tài sản bằng hiện vật có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký tài sản cấp lại giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở văn bản thỏa thuận của vợ chồng hoặc quyết định của Tòa án về chia tài sản chung

Quy định này đã thể hiện sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quá trình chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung là quyền sử dụng đất Và đây cũng chính là căn cứ pháp lý xác định tài sản chung của vợ chồng khi có tranh chấp

- Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng

để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng

Điều 210 BLDS năm 2015 quy định: “ Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung”

Trang 20

Xuất phát từ tính chất của quan hệ hôn nhân là cùng chung ý chí, cùng chung công sức trong việc tạo nên khối tài sản nhằm xây dựng gia đình, bảo đảm cho gia đình thực hiện tốt chức năng xã hội của nó như phát triển kinh tế, tạo điều kiện tốt cho nuôi dạy con, pháp luật quy định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng chỉ căn cứ vào nguồn gốc, thời điểm phát sinh Tài sản của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất Tài sản chung đó không nhất thiết phải do công sức của cả hai vợ chồng trực tiếp tạo ra, mà có thể chỉ do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời ký hôn nhân, cũng sẽ là tài sản chung của vợ chồng Khác với tài sản chung đơn thuần, tài sản chung do vợ, chồng có nguồn gốc tạo ra từ thời kỳ hôn nhân, có thể là do vợ, chồng lao động tạo ra hoặc từ những hành vi pháp lý diễn ra trong thời kỳ hôn nhân (thỏa thuận tài sản riêng trở thành tài sản chung, thừa kế, tặng cho) và điểm khác biệt của chế định tài sản chung vợ chồng là tài sản chung của vợ chồng không nhất thiết phải do hai vợ chồng tạo ra ngang bằng nhau Tài sản chung có thể chỉ do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân và vợ chồng đều có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung Quy định này thể hiện sự gắn kết đặc biệt của quan hệ vợ chồng, và dường như đúng với

câu thành ngữ cha ông ta để lại “của chồng công vợ”

Như vậy, tài sản của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, về mặt nguyên tắc vợ, chồng có nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, nó xuất phát từ quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung Tài sản chung của vợ chồng là khối tài sản góp phần đảm

bỏ nhu cầu đời sống của gia đình nhằm duy trì cuộc sống cũng như thỏa mãn các nhu cầu về tinh thần, vật chất của vợ chồng, các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hôn nhân tồn tại

Trang 21

- Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung

Ngoài việc dự liệu nguồn gốc, căn cứ thành phần các loại tài sản thuộc

sở hữu chung của vợ chồng thì nhà làm luật còn căn cứ vào nguyên tắc suy đoán để xác định những tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng đang có tranh chấp, nhưng không đủ cơ sở để xác định tài sản riêng của vợ chồng thì coi là tài sản chung Đây là quy định hoàn toàn phù hợp, nó xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, thông qua công tác xét xử và nhằm hướng tới việc đảm bảo cao nhất quyền và lợi ích của các bên

Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng gồm:

- Thời điểm phát sinh tài sản chung cuả vợ chồng:

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tài sản chung của vợ chồng chỉ hình thành từ khi có sự kiện kết hôn và sẽ không còn khi hôn nhân chấm dứt

- Dựa vào nguồn gốc tài sản

+ Tài sản chung của vợ chồng được xác lập dựa vào nguồn gốc tài sản gồm các tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân: Đây là loại tài sản khá phổ biến trong khối tài sản của vợ chồng

+ Tài sản chung của vợ chồng bao gồm những thu nhập hợp pháp của

vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân: Đây là loại tà sản chủ yếu thuộc tài sản chung của vợ chồng

+ Tài sản chung của vợ chồng bao gồm những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung: Đây là trường hợp xác lập quyền

sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng phụ thuộc và sự định đoạt của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế

Trang 22

+ Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn

+ Tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm những tài sản được thỏa thuận là tài sản chung

+ Tài sản không đủ chứng cứ xác định là tài sản riêng thì nó sẽ được suy đoán là tài sản chung

Pháp luật có những quy định cụ thể như vậy nhằm đảm bảo cho quyền lợi của vợ chồng đối với tài sản chung Đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho các cấp Tòa án nhanh chóng giải quyết các tranh chấp về tài sản của vợ chồng

1.1.3 Nội dung quyền sở hữu của vợ chồng

Vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung Theo tinh thần chung cuả Luật HN&GĐ thì vợ chồng không chỉ bình đẳng trong quá trình taọ lập tài sản chung mà còn bình đẳng

về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung, bình đẳng trong việc phân chia tài sản chung hợp nhất

Trong thời kỳ hôn nhân, không phân biệt mức thu nhập của người này cao hay thấp hơn mức thu nhập của người kia, tài sản không nhất thiết phải do

cả hai vợ chồng tạo ra mà chỉ cần do một bên vợ hoặc chồng tạo ra thì tài sản

đó cũng vẫn là tài sản chung của vợ chồng Do đó, theo quy định tại Khoản 1,

Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014: “Vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”

Bên cạnh đó, Theo quy định tại Điều 213 BLDS năm 2015 thì:

“ 1 Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia

Trang 23

2 Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

3 Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

4 Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án

5 Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này”

Như vậy, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất, về mặt nguyên tắc vợ, chồng có nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, nó xuất phát từ quyền bình đẳng của vợ chồng đối với tài sản chung Quyền bình đẳng của vợ chồng đối với khối tài sản chung thể hiện trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan

đến tài sản chung “Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận” (Khoản 1, Điều 35 Luật HN&GĐ năm 2014)

Còn đối với những trường hợp mà việc định đoạt “tài sản chung của

vợ chồng là bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình thì phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng” (Khoản 2, Điều

35 Luật HN&GĐ năm 2014)

Quy định này không những thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng mà còn thể hiện tính chặt chẽ trong điều luật Với những tài sản là bất động sản , động sản phải đăng ký quyền sở hữu và những tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình có giá trị lớn mà hiện nay tranh chấp ngày càng nhiều thì

Trang 24

việc quy định vợ chồng phải thỏa thuận bằng văn bản sẽ hạn chế được những tranh chấp phát sinh

Với tư cách là đồng chủ sở hữu, vợ chồng bình đẳng với nhau khi thực hiện quyền sở hữu với tài sản chung Quyền sở hữu đối với tài sản chung được thể hiện cụ thể ở ba quyền năng, đó là quyền: Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản Trong gia đình, vợ và chồng đều có quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc sở hữu chung, đều có quyền khai thác công dụng, hưởng lợi ích từ tài sản cũng như quyền định đoạt số phận của tài sản đó Vợ, chồng phải có sự bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản chung nhằm bảo đảm đời sống chung gia đình, sao cho việc sử dụng, định đoạt tài sản chung đem lại lợi ích nhiều nhất cho cuộc sống chung vợ chồng, đảm bảo nghĩa vụ nuôi dưỡng, giáo dục các con, cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình

Quyền chiếm hữu là yếu tố đầu tiên của quyền sở hữu Theo quy định

tại Điều 186 BLDS năm 2015 thì quyền chiếm hữu là quyền mà “Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội”

Như vậy, quyền chiếm hữu tài sản chung vợ chồng là quyền của vợ chồng trong việc nắm giữ, quản lý tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm giữ tài sản chung Nhưng điều đó không có nghĩa cả hai bên phải là người trực tiếp nắm giữ tài sản mà cho dù chỉ một bên nắm giữ tài sản thì cả hai bên đều có quyền sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản chung đó

Quyền sử dụng theo quy định tại Điều 189 BLDS năm 2015 là: “

Quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản” Trong tài sản

chung của vợ chồng, quyền sử dụng tài sản chung của vợ chồng được hiểu là quyền của vợ chồng trong việc tự mình sử dụng để khai thác công dụng của

Trang 25

tài sản chung, quyền hưởng hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung đó nhằm phục vụ cho lợi ích chung của gia đình, đáp ứng lợi ích chính đáng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

Một tài sản khi đã trở thành tài sản chung của vợ chồng thì cả vợ và chồng đều có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng từ tài sản đó Khi tài sản chung sinh ra hoa lợi, lợi tức thì dù người đã trực tiếp khai thác công dụng từ tài sản đó là vợ hay chồng thì hoa lợi, lợi tức đó vẫn đương nhiên trở thành tài sản chung Cả vợ và chồng đều có quyền hưởng hoa lợi, lợi tức do tài sản chung đó sinh ra mà không phụ thuộc vào việc người nào đã tạo ra hoa lợi, lợi tức đó

Quyền định đoạt được quy định tại Điều 192 BLDS năm 2015 là “

Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản” Trong quan hệ hôn nhân, có thể hiểu

quyền định đoạt tài sản chung vợ chồng là quyền của vợ chồng trong việc đưa

ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt số phận thực tế và số phận pháp lý của tài sản chung theo các quy định của pháp luật Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để đảm bảo nhu cầu chung của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng Vợ chồng có quyền sử dụng tài sản chung

để tham gia các giao dịch dân sự đảm bảo nhu cầu sinh hoạt của gia đình (Mua bán thực phẩm, vật dụng thiết yếu …) Đồng thời, vợ chồng có quyền bình đẳng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình Đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến những tài sản không lớn nhằm đáp ứng những nhu cầu thiết yếu hàng ngày của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ, chồng khi định đoạt tài sản chung đó luôn được coi là

Trang 26

có sự thỏa thuận đương nhiên của vợ và chồng (dù chỉ có một trong hai bên định đoạt)

Mặc dù phân định riêng biệt các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung vợ chồng như vậy, nhưng khi nghiên cứu hay áp dụng trên thực

tế, các quyền trên luôn có sự gắn bó, tương tác, chế ước lẫn nhau Người trực tiếp chiếm hữu sẽ thường là người trực tiếp sử dụng tài sản chung đó và ngược lại Vợ, chồng đều có quyền trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, có quyền ngang nhau trong sở hữu tài sản chung nhưng trên thực tế dường như rất khó để có thể phân định rõ ai, lúc nào, ở đâu sẽ là người trực tiếp chiếm hữu, sử dụng tài sản chung đó Có thể người trực tiếp chiếm hữu, sử dụng chỉ là một trong hai người là vợ hoặc chồng; nhưng tài sản chung đó cũng có thể được chiếm hữu, sử dụng cùng lúc bởi cả vợ lẫn chồng Quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng chính là quyền ảnh hưởng lớn nhất đến quyền sở hữu của vợ chồng đối với tài sản chung Quyền chiếm hữu,

sử dụng tài sản chung không thể làm thay đổi quyền định đoạt tài sản chung

đó, nhưng quyền định đoạt có thể làm thay đổi, chấm dứt quyền chiếm hữu,

sử dụng tài sản chung của vợ chồng Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chính là phương thức để vợ, chồng thực hiện quyền sở hữu của mình đối với khối tài sản chung của vợ chồng

Từ sự phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa quyền sở hữu của vợ chồng chính là quyền của vợ chồng trong việc nắm giữ, quản lý tài sản chung; khai thác công dụng, lợi ích của tài sản chung và hưởng những lợi ích mà tài sản chung đó mang lại; đưa ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản chung đó của vợ chồng trong đời sống hôn nhân nhằm phục vụ cho mục đích chung của gia đình và lợi ích chính đáng của vợ, chồng Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung là các

Trang 27

quyền năng của vợ chồng với tư cách là chủ sở hữu trong việc thực hiện quyền sở hữu tài sản chung của mình3

Bên cạnh việc quy định chế độ tài sản chung của vợ chồng, luật HN&GĐ năm 2014 còn quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng Quy định này góp phần làm lành mạnh hóa các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo

cơ sở để xây dựng những gia đình hòa thuận, hạnh phúc

1.2 Mục đích và điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

trong trường hợp sống chung với gia đình

1.2.1 Khái niệm gia đình

Theo khoản 2, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 thì “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan

hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”

Như vậy, Gia đình là sự liên kết của nhiều người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng

Hôn nhân là mối quan hệ giữa vợ và chồng, là tiền đề để xây dựng gia

đình Khoản 1, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan

hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” Quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam, nữ

được xác lập khi tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về điều kiện kết hôn và phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn Như vậy, khi nam nữ kết hôn với nhau thì giữa hai người này tồn tại quan hệ hôn nhân và hai người trở thành những thành viên của gia đình

Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa cha mẹ và con; ông bà và các cháu; cụ và chắt; cô, dì, chú, bác, cậu và cháu; anh chị em với nhau;… phát sinh do sự kiện sinh đẻ Do những người này có sự kiện là sinh đẻ để tạo ra

3 Nguyễn Thị Hạnh (2012), Chia tài sản chung của vợ chồng theo pháp luật Việt Nam- Thực tiễn áp dụng và

hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ ngành Luật dân sự, Khoa Luật Đại học quốc gia, Hà Nội, tr.35

Trang 28

thế hệ tương lai hoặc cùng được sinh ra từ một gốc, nên giữa họ có quan hệ huyết thống với nhau

Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ phát sinh do sự kiện nuôi con con nuôi

Do việc nhận nuôi con nuôi, người nhận con nuôi được gọi là cha mẹ nuôi và người được nhận làm con nuôi được gọi là con nuôi Người con nuôi trở thành thành viên gia đình của người nhận nuôi, bình đẳng với những người con đẻ của người nuôi Khoản 1 điều 24 Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy

định: “Kể từ ngày giao nhận con nuôi, giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có đầy

đủ các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con, giữa con nuôi và các thành viên khác của gia đình cha mẹ nuôi cũng có các quyền, nghĩa vụ đối với nhau theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan” Theo quy định trên, người con nuôi

có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật hôn nhân và gia đình Người con nuôi sẽ bình đẳng với mọi người con khác trong gia đình về quyền và nghĩa vụ Những người này có quan hệ với nhau

do cùng quan tâm, chăm sóc và giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, cùng nhau xây dựng kinh tế gia đình và cùng nhau vun đắp phát triển khối tài sản chung của gia đình Trong trường hợp, nếu một trong số những người này

có khối tài sản riêng thì người đó phải đóng góp tài sản để duy trì đời sống chung phù hợp với thu nhập, khả năng thực tiễn của mình Những thành viên gia đình là những người tích cực trong việc giúp đỡ nhau về mặt tinh thần, là chỗ dựa tinh thần của nhau, là nơi động viên an ủi thành viên khác tốt nhất khi gặp khó khăn, thất bại trong cuộc sống

Theo Từ điển Luật học thì: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm

Trang 29

phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam”4

Gia đình sẽ thường bao gồm nhiều thế hệ cùng chung sống như: ông bà, cha mẹ, con cháu… Họ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau về vật chất và tinh thần, sinh đẻ hay nuôi dậy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam

Giải thích trên về gia đình tương đồng với Khoản 2, Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 Từ điển Luật học đã giải thích ngắn gọn về gia đình Việt Nam trong đó có các thành viên của nhiều thế hệ chung sống, chăm sóc và giúp đỡ nhau, cùng với đó là nêu lên chức năng cơ bản của gia đình

Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình của trường Đại học Luật Hà Nội

đã đưa khái niệm về gia đình theo Luật hôn nhân và gia đình như sau: “ Gia đình theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết của nhiều người dựa trên cơ sở hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng, có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau, cùng quan tâm giúp đỡ lẫn nhau về vật chất và tinh thần, xây dựng gia đình, nuôi dạy thế hệ trẻ dưới sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội” 5

Khái niệm trên theo Luật hôn nhân và gia đình, mục đích để giảng dạy môn Luật hôn nhân và gia đình trong phạm vi trường học, do đó khái niệm này phù hợp với quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình

Tuy nhiên, các khái niệm gia đình nêu trên thật sự chưa bao quát được các trường hợp trong thực tiễn khi nghiên cứu về thành viên gia đình Trong

4 Trung tâm Từ điển (1994), Từ điển tiếng Việt, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.78.

5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội, tr.56

Trang 30

thực tiễn, gia đình không chỉ tồn tại ba mối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng mà còn có những mối quan hệ khác phát sinh từ ba mối quan hệ trên

Và trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình thì có thể hiểu theo nghĩa như vậy Vợ chồng kết hôn là mối quan hệ hôn nhân Nhưng vợ, chồng sống chung với gia đình nhà chồng, nhà vợ tuy không có quan hệ huyết thống và nuôi dưỡng nhưng có thể hiểu từ mối quan hệ kết hôn của vợ, chồng

mà làm nảy sinh quan hệ gia đình Giữa vợ, chồng và những người trong gia

đình nhà chồng, nhà vợ “ bố, mẹ anh, chị” đều là thành viên của một gia đình

Như vậy từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm gia đình trong

trường hợp này đó là: Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng hay những người không có ba mối quan hệ trên nhưng từ ba mối quan hệ đó mà cùng sống chung với nhau, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa những người này với nhau theo quy định của pháp luật 6

1.2.2 Khái niệm sống chung với gia đình

Như phân tích ở trên thì: Vợ, chồng sống chung với gia đình nhà chồng, nhà vợ được coi là những thành viên của một gia đình Họ cùng chung sống dưới một mái nhà, cùng nhau chung tay góp sức chia sẻ những công việc của gia đình, yêu thương, quan tâm, giúp đỡ nhau trong cuộc sống

Như vậy: Sống chung với gia đình được hiểu là vợ chồng có một khoảng thời gian ổn định cùng chung sống, cùng sinh hoạt với gia đình nhà chồng, nhà vợ dưới một mái nhà Họ cùng nhau chia sẻ những công việc của gia đình, quan tâm, tương trợ cho nhau cả về vật chất và tinh thần để cùng nhau tạo lập, duy trì, phát triển gia đình

6 Lê Văn Trung (2015), Thành viên gia đình- một số lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học

Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.24

Trang 31

1.2.3 Mục đích chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường

hợp sống chung với gia đình

Kế thừa và phát triển Luật HN&GĐ năm 2000, Luật HN&GĐ năm

2014 cũng quy định về việc chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình tại Điều 61

Căn cứ vào thực tiễn hiện nay, các cặp vợ chồng khi kết hôn thường sống chung với gia đình nhà chồng hoặc nhà vợ, và trong quá trình sống chung, khi cuộc sống gia đình hòa thuận, không có mâu thuẫn thì các thành viên trong gia đình cùng nhau góp sức xây dựng tài sản của cả gia đình Nhưng khi có mâu thuẫn xảy ra, nếu không có quy định về chia tài sản của vợ chồng khi sống chung với gia đình của Luật hiện hành thì phải chăng không đảm bảo được lợi ích của người vợ hoặc chồng khi trước đó đã có những đóng góp nhất định vào tài sản chung của cả gia đình

Như vậy, quy định này của Luật ra đời nhằm bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của vợ, chồng khi ly hôn mà có tài sản chung với gia đình nhà chồng, nhà vợ, giúp cho họ đảm bảo được cuộc sống khi rời khỏi gia đình

1.2.4 Điều kiện chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trong trường

hợp sống chung với gia đình

Khi hôn nhân xảy ra mâu thuẫn thì vợ chồng xảy ra tranh chấp về khối tài sản mà trước đó đã đóng góp chung Nếu không có tài sản đóng góp chung thì chắc chắn sẽ không có mâu thuẫn nào xảy ra Như vậy, điều kiện để được chia tài sản trong khối tài sản chung của gia đình đó là vợ chồng phải có tài

sản đã đóng góp vào khối tài sản chung của cả gia đình

Nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập,

Trang 32

duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Còn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của

vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định về nguyên tắc về chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chế độ tài sản vợ chồng là một trong những nội dung quan trọng của luật hôn nhân và gia đình Sau khi kết hôn, xuất hiện sự phức tạp trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng vợ chồng cũng như các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với khối tài sản này Tài sản giữa vợ chồng khi đó bao gồm khối tài sản được người vợ hoặc người chồng tạo lập trước thời kỳ hôn nhân, khối tài sản được vợ chồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, khối tài sản được tặng cho riêng, được tặng cho chung và các hoa lợi lợi tức phát sinh từ các khối tài sản này Trong chế độ tài sản của vợ chồng thì tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của vợ chồng cũng là một vấn đề cần lưu tâm Bởi vấn đề này tồn tại chủ yếu tại các gia đình ở Việt Nam, đó là

vợ chồng thường sống chung với gia đình nhà chồng, số ít ở nhà vợ, do vậy tìm hiểu được mục đích và điều kiện của việc chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình khi ly hôn là một điều quan trọng, giúp các bên đương sự hiểu được quyền, nghĩa vụ của mình một cách chính xác hơn

Trang 34

Chương 2 NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CHIA TÀI SẢN KHI LY HÔN CỦA VỢ CHỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP SỐNG CHUNG VỚI

GIA ĐÌNH 2.1 Căn cứ chia tài sản

được đặt ra như một giải pháp để giải phóng cho vợ chồng

Nếu kết hôn là một hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan hệ vợ chồng thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được7

Trong những năm gần đây, các vụ án ly hôn có chiều hướng gia tăng đặc biệt là những án kiện về việc giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng

và đặc biệt là chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình chiếm tỉ lệ khá cao Để điều chỉnh một cách chính xác, hợp lý, hợp tình, Luật HN&GĐ năm 2014 đã kế thừa Luật HN&GĐ năm 2000 để có những quy định về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn mà sống chung với gia đình tương đối cụ thể, rõ ràng Điều này được thể hiện qua Điều 61

7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân

dân, Hà Nội, tr 76

Trang 35

2.1.2 Căn cứ thực tiễn

Thực tế cuộc sống ở Việt Nam cho thấy, phần lớn các trường hợp là cả hai vợ chồng cùng chung sống với gia đình nhà chồng (một số ít trường hợp ở rể) khi chung sống hòa thuận, vui vẻ, vợ chồng chung tay gây dựng, tạo lập khối tài sản chung của gia đình mà không có sự phân định rạch ròi Đến khi

có những bất đồng, xung đột dẫn tới ly hôn và chia tài sản thi người vợ, chồng thường bị thiệt thòi khi gia đình nhà chồng, vợ thường bảo vệ lợi ích của gia đình mình, trong khi người vợ, chồng khó có thể chứng minh được công sức đóng góp, duy trì, phát triển khối tài sản chung, nên quyền lợi thường bị ảnh hưởng (Ví dụ: Trường hợp cha mẹ giúp con làm nhà ở riêng, lúc bình thường không có vấn đề gì nhưng khi vợ chồng các con ly hôn cha mẹ lại coi là nhà của mình để đòi lại)

Xuất phát từ thực tiễn đó, quy định về chia tài sản của vợ chồng trong trường hợp sống chung với gia đình ra đời đã giải quyết được vấn đề trên, bảo

vệ quyền lợi cho người vợ hoặc người chồng khi sống chung với gia đình nhà chồng, nhà vợ

2.2 Xác định tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong tài sản chung của gia đình

2.2.1 Căn cứ xác định tài sản của gia đình

Theo quy định tại Điều 212 BLDS năm 2015 quy định: “Tài sản của

các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan”

Các thành viên gia đình được hiểu theo điều luật là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và sống chung với nhau Tuy nhiên, như phân tích phần trên thì thành viên của một gia đình không hoàn

Trang 36

toàn bó chặt trong phạm vi đó, bởi, tuy các thành viên không có ba mối quan

hệ trên, nhưng lại từ ba mối quan hệ đó mà cùng chung sống với nhau và làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ theo quy định của pháp luật, thì trong trường hợp này, họ cũng được coi là thành viên của gia đình Chính vì thế, căn cứ xác định tài sản của gia đình trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình cũng sẽ được áp dụng Điều luật trên

Như vậy theo quy định, thì tài sản của gia đình gồm tài sản của các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của pháp luật Như vậy, căn cứ để xác định tài sản gia đình là dựa vào sự đóng góp tài sản của các thành viên trong gia đình

đó Là tài sản chung của cả gia đình nên việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt

tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận

Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác Tuy nhiên, trong thực tiễn xác lập các giao dịch loại này thì các chủ thể phải chứng minh là mục đích của giao dịch vì lợi ích của những người mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên nếu trong gia đình có những người như thế Nếu nguyên tắc thỏa thuận không áp dụng được thì quyền sở hữu của mỗi thành viên gia đình được

thực hiện tương ứng phần quyền sở hữu của mình

Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần được quy định tại Bộ luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp quy định tại Điều 213 của BLDS năm 2015

Trang 37

2.2.2 Căn cứ xác định tài sản của vợ chồng khi ly hôn trong tài sản chung của gia đình

Ở Việt Nam, không phải tất cả các cặp vợ chồng đều có gia đình hộ của riêng mình Rất nhiều và hầu hết cặp vợ chồng sống chung với thành viên khác của gia đình bên chồng hoặc bên vợ Trong cuộc sống chung, giữa vợ và chồng và những thành viên khác nảy sinh nhiều mối quan hệ như quan hệ về kinh tế, quan hệ về tài sản Pháp luật Việt Nam hiện hành, khi nói về quan hệ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, hầu như không quy định nhiều đến trường hợp vợ chồng chung sống với nhiều người khác dưới cùng một mái nhà, dù trường hợp này còn khá phổ biến ở Việt Nam; nhưng khi nói về các quan hệ tài sản giữa vợ chồng sau khi hôn nhân chấm dứt do ly hôn lại có ghi nhận trường hợp đó Điều 61 Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đã quy định

về trường hợp chia tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình Theo quy định của Điều luật thì có hai trường hợp để chia phụ thuộc vào tình trạng tài sản của vợ chồng

Thứ nhất: Nếu như tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của vợ chồng căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình Tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được là cách mô tả ngắn gọn một tình trạng mà trong đó việc thiết lập bằng chứng về sự đóng góp của vợ chồng, cho phép xác định chính xác sự đóng góp đó bằng con số, là không thể được

Ví dụ như trong trường hợp cả gia đình làm các công việc thủ công và mỗi người đóng một vai trò nhất định trong một công đoạn của quá trình sản xuất Như vậy, sẽ xác định công sức của mỗi người để tạo ra sản phẩm như

Trang 38

thế nào? Công sức không xác định được bằng một hiện vật hay bằng một số tiền cụ thể mà nó là thời gian, là công lao, sức lực của một người đóng góp để tạo ra của cải vật chất Điều này rất khó để xác định và pháp luật trước hết tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng với gia đình, nếu không thỏa thuận được thì mới yêu cầu Tòa án giải quyết Và Tòa án căn cứ vào nhiều yếu tố để có thể đưa ra được những phán quyết vừa “thấu tình” lại vừa “đạt lý”

Thứ hai: Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần tức là tài sản của vợ, chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể được xác định bằng hiện vật là các tài sản hiện hữu mà vợ chồng đóng góp khi sống chung với gia đình như các vật dụng thiết yếu cho cuộc sống như hàng ngày: bàn ghế, lò vi sóng, hay bằng một số tiền nhất định thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

2.3 Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

2.3.1 Trong trường hợp tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được

Khoản 1, Điều 61, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường

hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được, thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như dựa vào đời sống chung của gia đình Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết”

Trang 39

Vấn đề “tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được” chỉ là cách mô tả ngắn gọn một tình trạng mà trong đó

việc thiết lập bằng chứng về sự đóng góp của vợ, chồng, cho phép xác định chính xác sự đóng góp đó bằng con số, bằng hiện vật là không thể được Một khi có một hoặc nhiều tài sản được trích từ khối tài sản chung của gia đình để chia cho vợ hoặc chồng, luôn có thể thiết lập được một tỷ lệ so sánh giữa giá trị của các tài sản đó và giá trị của toàn bộ khối tài sản của gia đình; song tỷ lệ

đó chỉ là kết quả xác định một cách tương đối, chấp nhận được, phần đóng góp của vợ hoặc chồng vào khối tài sản chung

Trong trường hợp tất cả các thành viên gia đình đều hoạt động kinh tế chung, thì thông thường mỗi người có một phần ngang nhau đối với khối tài sản chung của gia đình Song, trong các trường hợp ly hôn, thời gian chung sống của người vợ, chồng rời khỏi gia đình với những thành viên khác trong gia đình thường không đủ dài để có thể nói rằng người này có đóng góp như những người khác và do đó, được hưởng một phần bằng với phần của những người khác

“Tương đối, chấp nhận được” là những cụm từ để chỉ những điều kiện

cần thiết tối thiểu cho việc ổn định cuộc sống của vợ hoặc chồng rời khỏi gia đình để định cư ở một nơi khác, những điều kiện mà việc đáp ứng được giải quyết trong phạm vi khả năng của gia đình mà vợ, chồng đã sống Điều kiện

và khả năng đáp ứng điều kiện đồng thời cũng là tiêu chí đánh giá tính hợp lý, thoả đáng của sự thoả thuận giữa vợ hay chồng rời khỏi gia đình và các thành viên còn lại của gia đình, cũng như, trong trường hợp không có thoả thuận, thì

đó cũng là những yếu tố mà thẩm phán có thể dựa vào để ra quyết định về việc chia tài sản chung của gia đình cho vợ, chồng Vợ hay chồng rời khỏi gia đình, có thể được giao cả một căn nhà, nếu gia đình sung túc; nhưng có thể

Trang 40

chỉ nhận được một số tiền hoặc một số tài sản thiết yếu cho thời kỳ đầu của cuộc sống riêng, nếu gia đình chỉ có thể cung cấp chừng đó Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi sống chung với gia đình dựa vào đời sống chung của gia đình là như vậy

Đối với các gia đình ở Việt Nam thì có thể thấy một thực trạng đó là:

vợ, chồng cùng các thành viên khác của gia đình như bố mẹ vợ, bố mẹ chồng, chị em ruột của vợ hoặc chồng… cùng nhau lao động, sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và mọi thu nhập thường tập trung vào khối tài sản chung của gia đình mà không xác định được tài sản của mỗi người trong khối tài sản ấy Vì vậy, khi vợ chồng ly hôn, vấn đề chia tài sản chung rất khó khăn Để xác định tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình, trước hết coi tài sản chung của gia đình là tài sản chung hợp nhất của các thành viên, dựa vào nguyên tắc xác định đó thì khối tài sản chung của gia đình được chia cho các thành viên dựa vào công sức đóng góp, cũng như dựa vào đời sống chung của gia đình để tạo nên khối tài sản đó Theo đó, mỗi suất tài sản của các thành viên sẽ được xác định, vậy tài sản chung của vợ chồng cũng được xác định8

Khi đã tách biệt được phần tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình, phần quyền đó được cụ thể hóa bằng hiện vật hoặc bằng tiền thì tiếp theo các hiện vật và tiền đó sẽ được nhập vào các tài sản chung khác của vợ chồng Và toàn bộ khối tài sản ấy là tài sản của vợ chồng cuối cùng được phân chia

Trong điều kiện không có quy định rõ ràng của luật, các hình thức đóng góp được ghi nhận và dùng làm căn cứ để tính toán công sức đóng góp của vợ ,chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng giống như trong trường hợp thanh toán tài sản chung của vợ chồng theo luật chung: lao

8 Nguyễn Thanh Hà (2015), Sở hữu chung của vợ chồng và việc chia tài sản chung của vợ chồng, Luận văn

thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 40

Ngày đăng: 24/11/2018, 16:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w