Mặt khác, việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật về đảm bảo lợi ích chung của gia đình, của con cái, dựa trên căn cứ ly hôn, việc gi
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÖC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Cừ
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hương
Trang 4NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Luật HN&GĐ Luật Hôn nhân và gia đình
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 6
1.1 Một số khái niệm cơ bản, đặc điểm, thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 6
1.1.1 Khái niệm ly hôn 6
1.1.2 Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài 8
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật 9
1.1.4 Khái niệm áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 12
1.1.5 Đặc điểm việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 12
1.1.6 Về thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 14
1.1.7 Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 17
1.2 Căn cứ pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 20
1.2.1 Căn cứ pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 20
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 23
Tiểu kết Chương 1 25
Chương 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC 26
2.1 Khái quát chung về thực trạng giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc .26
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài .30
2.2.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 30
Khởi kiện vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 30
2.2.2 Thời hạn xét xử vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 40
2.2.3 Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 42
Trang 62.2.4 Phiên tòa sơ thẩm và các thủ tục sau phiên tòa xét xử vụ án ly hôn có yếu tố
nước ngoài 51
2.2.4.1 Về thời gian mở phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa 51
2.2.4.2.Về xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự .52
2.2.4.3 Về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa .53
2.2.4.4 Nghị án và tuyên án .57
2.2.4.5 Về việc thông báo sửa chữa, bổ sung bản án .58
2.2.4.6 Về thủ tục cấp trích lục bản án, bản án của Tòa án .59
2.2.5 Một số vấn đề trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc cần rút kinh nghiệm 60
2.2.6 Một số vấn đề về ủy thác tư pháp trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài .62
2.2.6.1.Việc ủy thác thu thập chứng cứ 62
2.2.6.2 Về các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài 66
2.2.6.3 Về thời gian thực hiện ủy thác tư pháp 68
2.2.6.4 Về kinh phí thực hiện ủy thác tư pháp 69
2.2.6.5 Về địa chỉ của đương sự ở nước ngoài 70
Tiểu kết Chương 2 72
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÖC HIỆN NAY 73
3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng pháp luật giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc .73
3.1.1 Về thuận lợi 73
3.1.2 Về khó khăn, vướng mắc 74
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đi đôi với sự phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội giữa nước ta với các nước khác trên thế giới ngày càng
mở rộng; phát triển thì cũng kéo theo nó là vấn đề về hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày một gia tăng
Mục tiêu của hôn nhân là cuộc sống gia đình hạnh phúc, hòa thuận Tuy nhiên, không phải lúc nào cuộc sống hôn nhân cũng đạt được mong muốn của đôi bên nam nữ; xuất phát từ lý do này hay lý do khác mà cuộc hôn nhân đã đi đến tan
vỡ dẫn đến việc họ phải lựa chọn giải pháp ly hôn
Do vậy, ly hôn là một hiện tượng xã hội, bất kỳ ở xã hội nào dù muốn hay không vấn đề ly hôn cũng không thể loại trừ ra khỏi đời sống xã hội Mục đích của việc kết hôn là để xây dựng gia đình trên cơ sở sự tự nguyện của vợ chồng, nhưng khi cuộc sống hôn nhân đó không thể tồn tại trên thực tế thì vấn đề ly hôn là điều cần thiết, nó giúp cho chủ thể của quan hệ hôn nhân thoát khỏi sự ràng buộc về mặt pháp lý; bởi ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng trên cơ sở pháp luật bằng bản án hoặc quyết định của Toà án
Vĩnh Phúc là một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, cửa ngõ của Thủ đô, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, là cầu nối giữa các tỉnh phía Tây Bắc với Hà Nội và đồng bằng châu thổ sông Hồng, do vậy tỉnh có vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế khu vực và quốc gia Cùng với sự phát triển các quan
hệ hợp tác, giao lưu quốc tế của cả nước thì vấn đề ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng và phổ biến ở Vĩnh Phúc
Theo pháp luật Việt Nam, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyềngiải quyết việc ly hôn Tuy nhiên, đối với trường hợp giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài pháp luật điều chỉnh quan hệ này không chỉ đơn thuần là các văn bản luật trong nước mà bên cạnh đó nó còn được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp quốc tế
có liên quan như: ĐƯQT, HĐTTTP, Tập quán quốc tế
Trang 82
Ở Việt Nam, trước năm 1959 do vấn đề giao lưu quốc tế chưa phát triển, chúng ta chưa xác định được tầm quan trọng của quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài nên các quy định của pháp luật về vấn đề này chưa được luật quan tâm điều chỉnh Xã hội ngày càng phát triển, quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng gia tăng thì đòi hỏi pháp luật điều chỉnh quan hệ này ngày càng cấp thiết Nhận thức được vai trò đặc biệt quan trọng của quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài nên lần đầu tiên Luật HN&GĐ năm 1986 đã có những quy định điều chỉnh quan hệ này; đây là sự điều chỉnh kịp thời của pháp luật nước ta trong quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài Cùng với Luật HN&GĐ năm 1986 thì các văn bản pháp luật tiếp theo lần lượt ra đời và điều chỉnh quan hệ này; đó là kết quả cao của quá trình pháp điển hoá những quy định của pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài của Việt Nam
Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, quan hệ hợp tác giao lưu quốc tế cũng ngày một phát triển hơn, tính chất các vụ án
ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp hơn thì pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài hiện hành vẫn chưa dự liệu hết những trường hợp, tình huống xảy ra trên thực tế Khi áp dụng vào thực tế công tác xét xử còn nhiều quan điểm trái ngược nhau nên đã xảy ra tình trạng không nhất quán trong cách hiểu cũng như cách giải quyết Bên cạnh đó cũng có nhiều vấn đề trong quan hệ này mà pháp luật chưa điều chỉnh kịp thời dẫn đến trong công tác xét
xử của ngành Tòa án trong thời gian qua còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc
Bên cạnh đó trong bối cảnh hội nhập quốc tế, với thực trạng nền kinh tế thị trường và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì vấn đề ly hôn có yếu
tố nước ngoài ngày càng phong phú và cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp phức tạp Qua nghiên cứu tình hình thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua cho thấy, hàng năm TAND tỉnh Vĩnh Phúc đã thụ lý và giải quyết hàng trăm vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài Nhiều vụ án phải xét xử nhiều lần mà tính thuyết phục chưa cao, có những bản án, quyết định của Toà án vẫn bị coi là chưa "thấu tình, đạt lý", có nhiều vụ án còn để kéo dài Sở dĩ còn tồn tại những bất cập trên là do nhiều nguyên nhân, có nguyên
Trang 93
nhân khách quan, có nguyên nhân chủ quan
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề: "Thực tiễn áp dụng
pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc” để làm đề tài luận văn thạc sĩ Luật học của mình Đây là một đề tài có ý
nghĩa quan trọng, cấp bách cả về phương diện lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là vấn đề rộng và phức tạp, có lịch sử hình thành và phát triển khá phong phú, quan hệ này không chỉ được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp trong nước mà còn được điều chỉnh bởi hệ thống luật pháp quốc tế
có liên quan Do vậy, liên quan đến vấn đề này nhiều nhà khoa học pháp lý đã quan tâm nghiên cứu trong nhiều năm qua, cụ thể:
- Luận án tiến sĩ luật học: Với đề tài “Pháp luật điều chỉnh quan hệ gia đình
có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” của Tiến sĩ Nguyễn Hồng Bắc, năm 2003
- Luận văn thạc sĩ luật học: Với đề tài “Thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Toà án Việt Nam” của Thạc sĩ Võ Thị Ngọc Dung, năm 2011
- Luận văn thạc sĩ luật học: Với đề tài “Một số quy định pháp luật Việt Nam
về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ hội nhập” của Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Phương, năm 2015
- Luận văn thạc sĩ luật học: Với đề tài “Giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội” của Thạc sĩ Đỗ Thị Vân Anh, năm 2014
Tuy nhiên đề tài về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử tại Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc chưa được đi sâu nghiên cứu Vì vậy, có thể khẳng định rằng, luận văn này là một công trình khoa học đầu tiên, nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá thực tiễn công tác áp dụng pháp luật và hoàn thiện pháp luật về giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là sau khi Luật HN&GĐ năm 2014 và BLTTDS năm 2015 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực pháp luật, đây là một đề tài hoàn toàn độc lập, không có sự trùng lắp với bất kỳ một công trình nào
Trang 104
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nhằm mục đích làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc, trên cơ
sở đó, rút ra được những kinh nghiệm và nêu lên những quan điểm cá nhân, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài ở TAND tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Góp phần nâng cao nhận thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn trong việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài của những người làm công tác xét xử
* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài là một vấn đề rộng, do vậy trong luận văn này tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu một số vấn đề như lý luận về giải quyết ly hôn có yếu
tố nước ngoài qua thực tiễn xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc, bên cạnh đó tác giả đưa ra một số kiến nghị về bổ sung, sửa đổi một số quy định của pháp luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, để luận văn có độ sâu, rộng cần thiết, trong một chừng mực nhất định, tác giả cũng đề cập đến một số quy định trong tư pháp quốc tế về lĩnh vực HN&GĐ
có yếu tố nước ngoài nói chung; các văn bản pháp luật liên quan để so sánh và đưa
ra những kết luận, kiến nghị có tính tham khảo nhất định
Đối với các vấn đề khác như thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài, công tác thi hành án dân sự, thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm đối với các bản án ly hôn
có yếu tố nước ngoài tác giả không đề cập nghiên cứu trong luận văn này
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật Đặc biệt là về quan hệ ly hôn
có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ đổi mới, mở cửa và hội nhập quốc tế
Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp khoa học chuyên ngành như: phương pháp lịch sử; phương pháp logíc; phương pháp phân tích;
Trang 115
phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp để làm sáng tỏ các nội dung cần nghiên cứu
5 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn giải quyết, xét xử sơ thẩm các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc
- Tìm ra những điểm bất cập còn tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam nói chung và TAND tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng
- Từ nhận xét, đánh giá thực tiễn giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, tác giả đưa ra một số quan điểm, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài ở nước ta hiện nay
6 Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm cơ sở lý luận cho việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài Đồng thời luận văn còn là tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập của cán bộ, giáo viên và sinh viên chuyên ngành Luật và không chuyên Luật cũng như việc giảng dạy, học tập môn Nhà nước và pháp luật Bên cạnh đó luận văn đề ra các giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật về HN&GĐ có yếu tố nước ngoài sẽ có ý nghĩa thiết thực góp phần giúp cho những người làm công tác xét xử trong giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được bố cục 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 2: Thực tiễn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
Trang 126
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1.1 Một số khái niệm cơ bản, đặc điểm, thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.1 Khái niệm ly hôn
Ly hôn là hiện tượng xã hội gắn liền với quyền tự do hôn nhân Quyền ly hôn là quyền cơ bản được luật pháp quốc gia và quốc tế công nhận Tuy nhiên, quyền ly hôn là quyền riêng tư Có việc ly hôn hay không trước hết phải dựa trên sự
tự nguyện của ít nhất một bên vợ hoặc chồng Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ kết hôn, do vậy cũng không thể bằng pháp luật bắt buộc họ phải tiếp tục chung sống khi đời sống chung vợ chồng thực sự không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được Vì thế ly hôn là một giải pháp cần thiết để chấm dứt quan
hệ hôn nhân thật sự tan vỡ trên cơ sở thực tế và về mặt pháp lý "Ly hôn là một mặt
của quan hệ hôn nhân Nếu kết hôn là hiện tượng bình thường nhằm xác lập quan
hệ vợ chồng, thì ly hôn là hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, hôn nhân (trong đó có ly hôn)
là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp sâu sắc Trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử, ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua Nhà nước, bằng pháp luật (hay tục lệ) quy định chế độ hôn nhân phù hợp với ý chí của Nhà nước Tức là Nhà nước bằng pháp luật quy định những điều kiện nào xác lập quan
hệ vợ chồng, đồng thời xác lập trong những điều kiện căn cứ nhất định mới được phép xóa bỏ (chấm dứt) quan hệ hôn nhân Đó chính là căn cứ ly hôn được quy định trong pháp luật của Nhà nước Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết (điều kiện) được quy định trong pháp luật và chỉ khi có những tình tiết (điều kiện) đó, Tòa án mới được xử cho ly hôn
1 Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân, Hà Nội, tr.251
Trang 137
Pháp luật Việt Nam ghi nhận và tôn trọng quyền ly hôn và có những công cụ đảm bảo thực hiện quyền tự do ly hôn của cá nhân Quyền ly hôn là quyền tự do về dân sự Tuy nhiên, việc thực hiện quyền ly hôn gắn liền với thủ tục, thẩm quyền và
sự kiểm soát giải quyết việc ly hôn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Mặt khác, việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài phải dựa trên cơ sở những quy định của pháp luật về đảm bảo lợi ích chung của gia đình, của con cái, dựa trên căn cứ ly hôn, việc giải quyết ly hôn không dựa vào lỗi của các bên, mà
dựa vào bản chất của quan hệ hôn nhân, bởi: “Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự
kiện, cuộc hôn nhân này là một cuộc hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả dối Đương nhiên, không phải sự tùy tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của những cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được là cuộc hôn nhân này đã chết hoặc chưa chết Bởi vì việc xác nhận sự kiện chết là tùy thuộc vào thực chất của vấn đề chứ không phải vào nguyện vọng của những bên hữu quan Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện trong
đó hôn nhân được phép tan vỡ, nghĩa là trong đó, về thực chất hôn nhân tự nó đã bị phá vỡ rồi, việc Tòa án cho phép phá bỏ hôn nhân chỉ có thể là việc ghi biên bản sự
Theo pháp luật Việt Nam tại khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải
thích thuật ngữ ly hôn như sau:“Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản
án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”, đây là cơ sở để chấm dứt quan hệ
vợ chồng về mặt pháp lý Vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn Quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân, gắn liền với vợ chồng,
do vợ chồng tự mình thực hiện mà không thể chuyển giao cho người khác, vì vậy quyền yêu cầu ly hôn của vợ chồng là cơ sở để Toà án xem xét việc giải quyết ly hôn, nhưng Tòa án có giải quyết cho vợ chồng ly hôn hay không phải dựa vào căn
cứ ly hôn được pháp luật quy định
2
Các Mác-Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập,tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.234
Trang 148
1.1.2 Khái niệm ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ly hôn có yếu tố nước ngoài thực chất là giải pháp để chủ thể trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài lựa chọn để yêu cầu Tòa án giải phóng cho bản thân khỏi cuộc sống hôn nhân thực sự không tồn tại trên thực tế, hôn nhân không có hạnh phúc Bởi vậy, ly hôn không phải hoàn toàn mang nghĩa tiêu cực mà nó còn mang một ý nghĩa tích cực, đó là bảo vệ quyền tự do của con người, giúp con người
thoát khỏi những ràng buộc trong quan hệ hôn nhân thật sự tan vỡ
Quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là“Quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” (khoản 25
Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014)
Ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam là:
“1 Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này
2 Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam
3 Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó” (Điều 127 Luật HN&GĐ năm 2014)
Như vậy, theo các quy định trên, ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể hiểu bao gồm các trường hợp sau:
- Trong vụ án ly hôn có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài Khoản
1 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Quốc tịch nước ngoài là
quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam”; Khoản 2 Điều 3
Trang 159
Luật này cũng quy định: “ Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt
Nam và cũng không có quốc tịch nước ngoài” Người nước ngoài là người không có
quốc tịch Việt Nam, người nước ngoài bao gồm người có quốc tịch nước ngoài (họ
có thể có một hoặc nhiều quốc tịch nước ngoài) và người không có quốc tịch
Khoản 3 Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định: “Người Việt
Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”
- Quan hệ trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đó có thể xuất phát từ việc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan
hệ đó theo pháp luật nước ngoài Ví dụ: giữa hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau tại Mỹ, theo pháp luật Mỹ, chung sống với nhau tại Mỹ Nay họ về Việt Nam xin ly hôn tại Tòa án Việt Nam, trường hợp này Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam có thể thụ lý vụ án để giải quyết trên cơ sở thừa nhận việc kết hôn của họ ở
Mỹ và tài sản của họ ở Mỹ là hợp pháp, việc kết hôn của họ không trái với các quy định của pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn
- Trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đó có tài sản tranh chấp ở nước ngoài Trường hợp này có thể là các bên đương sự đều là người Việt Nam nhưng tài sản tranh chấp ở nước ngoài nhưng cũng có thể là giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài có tài sản ở nước ngoài Đối với việc giải quyết vụ án ly hôn mà giải quyết về tài sản là bất động sản ở nước ngoài thì khi ly hôn giải quyết về bất động sản sẽ tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó
Như vậy: Ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc Toà án chấm dứt quan hệ vợ
chồng có yếu tố nước ngoài theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
1.1.3 Khái niệm và đặc điểm áp dụng pháp luật
Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật là tuân theo, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật thì áp dụng pháp luật là hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất, phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thể được thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền
“Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các
cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành
Trang 16+ Hoạt động áp dụng pháp luật chỉ do các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật tiến hành và mỗi chủ thể đó cũng chỉ được phép áp dụng pháp luật trong một phạm vi nhất định theo quy định của pháp luật Chẳng hạn, trong hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước thì chỉ Toà án mới có quyền xét xử để định tội và định hình phạt cho người phạm tội cũng như để giải quyết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình…chỉ Uỷ ban nhân dân mới có quyền xem xét để cấp giấy khai sinh cho trẻ em, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng… Chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật chủ yếu là các
cơ quan, tổ chức nhà nước, song cũng có thể là chủ thể được Nhà nước trao quyền hoặc cho phép
+ Trong quá trình áp dụng pháp luật, chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để ban hành ra những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các
tổ chức và cá nhân có liên quan Các mệnh lệnh, quyết định này luôn thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền, được xây dựng trên cơ sở pháp luật, căn cứ vào pháp luật và phù hợp với pháp luật áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể là đối tượng áp dụng Các mệnh lệnh, quyết định áp dụng pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước
+ Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức rất cao vì nó vừa là hình thức thực hiện pháp luật vừa là hình thức nhà nước tổ chức cho các chủ thể thực hiện các quy định của pháp luật
3
Nguyễn Thị Hồi (2009), Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.13
Trang 1711
- Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội hay là hoạt động nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể
Các đặc điểm trên làm cho áp dụng pháp luật khác hoàn toàn với các hình thức thực hiện pháp luật khác
Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:
+ Khi quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể không mặc nhiên phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt mà cần phải có sự can thiệp của nhà nước thông qua hoạt động của các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
+ Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể mà họ không tự giải quyết được với nhau và yêu cầu có sự can thiệp của một chủ thể có thẩm quyền Chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật sẽ đóng vai trò là trọng tài
để giải quyết tranh chấp đó
+ Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các chủ thể vi phạm pháp luật Để bảo đảm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh
và tự giác bởi mọi chủ thể trong xã hội, nhiều quy phạm pháp luật đã quy định các biện pháp cưỡng chế nhà nước cần áp dụng với người vi phạm trong phần chế tài của nó
+ Khi cần áp dụng sự cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể không vi phạm pháp luật mà chỉ vì lợi ích chung của xã hội
+ Khi cần áp dụng các hình thức khen thưởng đối với các chủ thể có thành tích theo quy định của pháp luật
+ Khi cần kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong một số quan hệ pháp luật nhất định theo quy định của pháp luật
+ Khi cần phải xác nhận sự tồn tại của một sự kiện thực tế cụ thể nào đó theo quy định của pháp luật Hoạt động chứng thực của Uỷ ban nhân dân, của cơ quan công chứng nhằm tạo ra cơ sở pháp lý cho các giấy tờ, văn bằng nhất định… là sự
áp dụng các quy định của pháp luật công chứng trong thực tế
Trang 1812
1.1.4 Khái niệm áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Từ khái niệm áp dụng pháp luật đã nêu ở trên thì có thể định nghĩa áp dụng pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do Tòa án và cá nhân có thẩm quyền áp dụng các quy phạm pháp luật hiện hành giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Ở Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Toà án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết, xét xử các vụ án ly hôn Khi giải quyết các vụ
án ly hôn Tòa án phải thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục và những nguyên tắc cơ bản được quy định trong luật tố tụng dân sự như nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng4
Vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng phát sinh tại Tòa án từ khi vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thuộc ít nhất một trong các trường hợp: một bên chủ thể là người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
1.1.5 Đặc điểm việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Khi giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, Tòa án phải tiến hành theo trình tự, thủ tục được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự, một mặt phải đảm bảo lợi ích của chủ thể tham gia quan hệ đó, một mặt phải đảm bảo thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm việc mở rộng và phát triển quan hệ hợp tác quốc tế tốt đẹp giữa nước ta với các nước khác
4
Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014: “2.Tòa án nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội, áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành…”
5
Khoản 25 Điều 3, Điều 127 Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 1913
Việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài có những đặc điểm sau:
- Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nếu vợ chồng trong quan hệ đó đã đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam, tuân theo pháp luật Việt Nam hoặc việc đăng ký kết hôn của họ được công nhận trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc việc kết hôn của họ đã được hợp pháp hóa lãnh sự
và đã được ghi chú vào sổ các thay đổi về hộ tịch theo quy định của pháp luật
- Đơn khởi kiện xin ly hôn của đương sự ở nước ngoài phải được chứng thực hợp pháp, tức là phải được hợp pháp hóa lãnh sự nếu đương sự là người nước ngoài, hoặc phải được xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi công dân đó đang cư trú nếu đương sự là công dân Việt Nam đang ở nước ngoài Thực tế giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm qua cho thấy: không có trường hợp khi đương sự ở nước ngoài có đơn xin ly hôn nhưng đơn của họ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự hay chưa được xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi công dân đó đang cư trú nhưng Tòa án vẫn phải xem xét giải quyết Ví dụ trường hợp công dân Việt Nam ra nước ngoài du lịch rồi ở lại sinh sống ở nước ngoài trái phép, họ không về Việt Nam để giải quyết ly hôn mà gửi đơn về Việt Nam qua đường bưu điện hoặc qua thân nhân của họ ở Việt Nam Do họ ở nước ngoài là bất hợp pháp nên đơn của họ chưa được hợp pháp hóa lãnh sự, chưa được xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài nơi công dân
đó đang cư trú.Trường hợp này thực tiễn xét xử thì sau khi nhận được đơn của họ
và trên cơ sở yêu cầu của đương sự Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký trong đơn với tài liệu mẫu (nếu có), nếu xác định là đúng thì Tòa án vẫn giải quyết cho ly hôn Như vậy việc giải quyết này đã góp phần tháo gỡ vướng mắc trong việc để án tồn đọng, kéo dài
- Việc tiến hành các bước tố tụng như lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, việc điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài phải được thực hiện qua các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, con đường ngoại giao, Tòa án UTTP theo quy định chung của Tư pháp quốc tế
Trang 2014
- Thủ tục hòa giải và mở phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ trong vụ
án ly hôn có yếu tố nước ngoài đối với đương sự đang ở nước ngoài, tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc thường không tiến hành được do vắng đương sự ở nước ngoài Tuy nhiên đối với đương sự ở nước ngoài về nước trong thời gian Tòa án ấn định hòa giải và mở phiên họp kiểm tra, công khai chứng cứ thì Tòa án vẫn tiến hành hòa giải đối với họ theo thủ tục chung
- Tòa án thông báo cho đương sự ở nước ngoài thời gian mở phiên tòa lần thứ nhất, lần thứ hai (nếu có căn cứ hoãn phiên tòa lần thứ nhất) từ khi Tòa án thụ
lý vụ án
- Sau khi Tòa án xét xử thì việc Tòa án tống đạt bản án, quyết định của Tòa
án cho đương sự ở nước ngoài cũng được thực hiện qua các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài, con đường ngoại giao, UTTP
- Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng các ĐƯQT mà Việt Nam ký kế hoặc tham gia; người nước ngoài tại Việt Nam được hưởng các quyền và có nghĩa vụ tố tụng như công dân Việt Nam, bên cạnh đó nhà nước ta cũng bảo hộ quyền lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, pháp luật của nước sở tại và Tập quán quốc tế trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài
1.1.6 Về thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về thẩm quyền giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau:
- Ở Việt Nam Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam (Điều 470 BLTTDS năm 2015):
+ Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
Trang 2115
+ Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam
Điều 469 BLTTDS năm 2015 quy định về thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, gồm những trường hợp sau đây:
+ Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
+ Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
+ Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
+ Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam
Sau khi xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam theo quy định trên, Tòa
án áp dụng các quy định tại Chương III của BLTTDS để xác định thẩm quyền của Tòa án cụ thể giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Theo qui định tại khoản 3, 4 Điều 35 Chương III BLTTDS năm 2015 thì: Những tranh chấp, yêu cầu mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải UTTP cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện Trừ trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và
Trang 2216
con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú
ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam
Hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn quy định tại Điều 35 BLTTDS năm 2015 nhưng khi giải quyết Tòa án vẫn vận dụng quy định tại phần I, mục 4 Nghị quyết 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC và Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP TANDTC hướng dẫn về khoản 3 Điều 33 của BLTTDS năm 2011 để xác định đương sự ở nước ngoài6
Do quan hệ ly hôn là quan hệ đặc biệt nên ngoài tuân thủ các thủ tục tố tụng chung thì thẩm quyền giải quyết các vụ việc HN&GĐ có yếu tố nước ngoài tại Tòa
án được thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với
Đây là một quy định kế thừa Luật HN&GĐ năm 2000, xuất phát từ thực tế một số khu vực biên giới nước ta mặc dù ở đây có yếu tố nước ngoài nhưng khi giải quyết ly hôn không máy móc phải giải quyết ở Tòa án cấp tỉnh mà trường hợp này
để tạo điều kiện cho các đương sự tham gia vào quá trình tố tụng, khắc phục được
6“Đương sự ở nước ngoài bao gồm:
a Đương sự là cá nhân không phân biệt là người nước ngoài hay người Việt Nam mà không có mặt tại Việt Nam vào thời điểm Toà án thụ lý vụ việc dân sự đương sự là người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập,công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam để nộp đơn khởi kiện vụ án dân sự hoặc đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Toà án…
b Cơ quan, tổ chức không phân biệt là cơ quan, tổ chức nước ngoài hay cơ quan, tổ chức Việt Nam mà không có trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại điện tại Việt Nam vào thời điểm Toà án thụ lý
vụ việc dân sự
Tài sản ở nước ngoài: Tài sản ở nước ngoài là tài sản được xác định theo quy định của Bộ luật dân
sự ở ngoài biên giới lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại thời điểm Toà án thụ lý vụ việc dân sự”
7
Khoản 2 Điều 123 Luật HN&GĐ năm 2014
Trang 2317
những khó khăn trong quá trình tố tụng đối với các bên đương sự cũng như đối với
cơ quan tiến hành tố tụng, giúp tiết kiệm được thời gian và công sức đi lại và cũng
để tránh tình trạng vụ án kéo dài nên Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những vụ việc thuộc trường hợp này
Qua thực tiễn công tác xét xử của hệ thống Tòa án trong thời gian qua cho thấy việc quy định TAND cấp huyện khu vực biên giới có thẩm quyền giải quyết các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài ở khu vực biên giới như trên là hoàn toàn phù hợp với công tác xét xử của hệ thống Tòa án, đồng thời còn tạo điều kiện cho việc giải quyết một số các vụ án ly hôn được nhanh chóng, kịp thời, bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự, giảm nhẹ gánh nặng công việc cho TAND cấp tỉnh, tạo điều kiện để TAND cấp tỉnh tập trung vào giải quyết theo thủ tục phúc thẩm các vụ án
Như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc TAND cấp tỉnh trừ trường hợp đã nêu tại khoản 3 Điều 123 Luật HN&GĐ năm
2014 thì TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết Trong quá trình giải quyết theo quy định về thẩm quyền của BLTTDS năm 2015 thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết có sự thay đổi quốc tịch, nơi cư trú, địa chỉ của các đương sự hoặc có tình tiết mới làm cho vụ việc dân sự đó thuộc thẩm quyền của Tòa án khác của Việt Nam hoặc của Tòa án nước ngoài (Điều 471 BLTTDS năm 2015)
1.1.7 Trình tự, thủ tục giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Khi giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài Tòa án tiến hành giải quyết qua nhiều trình tự, thủ tục tố tụng khác nhau như: nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải, mở phiên họp công khai chứng cứ, đưa vụ án ra xét xử, ra bản án, quyết định
Sau khi xem xét đơn khởi kiện của người khởi kiện, Tòa án kiểm tra đơn cùng các tài liệu kèm theo để nghiên cứu, nếu thấy đủ điều kiện thụ lý thì Tòa án thông báo cho họ để họ tiến hành nộp tạm ứng án phí ly hôn Sau khi người khởi kiện đã nộp tạm ứng án phí ly hôn và nộp biên lai cho Tòa án, trong thời hạn luật
Trang 2418
định Tòa án phải cho tiến hành thụ lý vụ án để giải quyết Tòa án chỉ thụ lý giải quyết các vụ việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và tiến hành các hoạt động tố tụng theo trình tự, thủ tục chung
Trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thì việc xác định thẩm quyền giải quyết, quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện, tư cách đương sự
là rất quan trọng, tiền đề cho các giai đoạn tố tụng tiếp theo
Về xác định tư cách người tham gia tố tụng theo BLTTDS năm 2015:
- Nguyên đơn: là người khởi kiện, như đã phân tích ở trên trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải là vợ hoặc chồng, Tòa án chỉ thụ lý vụ án ly hôn trên cơ sở sự
tự nguyện yêu cầu ly hôn của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng Nếu thiếu sự tự nguyện yêu cầu ly hôn thì Tòa án không giải quyết cho ly hôn vì có thể là do bị cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, thuận tình ly hôn giả để che dấu một nội dung khác…
- Bị đơn: là người bị nguyên đơn khởi kiện, trong vụ án ly hôn bị đơn có thể
là vợ hoặc chồng bị nguyên đơn khởi kiện
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: là trường hợp những người tham gia tố tụng trong vụ án ly hôn tuy không có đơn khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án ly hôn có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ mà Tòa án đưa họ vào tham gia tố tụng Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan pháp luật chia thành người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập và người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập
- Người đại diện của đương sự: cũng giống như các vụ án dân sự khác, trong
vụ án ly hôn có thể xuất hiện tư cách của người đại diện của đương sự có thể là đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật Khi vợ chồng ly hôn thì họ có thể
ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết một số quan hệ như về con cái hay quan hệ tài sản Ly hôn là một quan hệ đặc biệt, do vậy có 3 quan hệ trong vụ án ly hôn đó là quan hệ nhân thân, quan hệ con cái và quan hệ tài sản thì ở quan hệ thứ nhất vợ chồng không được phép ủy quyền cho người khác thay mặt họ để giải quyết
mà họ phải tự tham gia, bởi đó là quyền nhân thân không thể tách rời, do vậy đối
Trang 2519
với việc ly hôn, đương sự phải tự mình tham gia mà không được ủy quyền cho
ngoài mà có ủy quyền cho người khác thay mặt họ tham gia tố tụng thì Tòa án cũng phải kiểm tra xem thủ tục ủy quyền đúng chưa, giấy ủy quyền đó đã được hợp pháp hóa lãnh sự chưa, nội dung ủy quyền đến đâu để xác định người được ủy quyền có thực hiện đúng nôi dung được ủy quyền không, thực hiện có vượt quá phạm vi được
ủy quyền hay không Trong thực tiễn xét xử cho thấy có trường hợp đương sự chỉ
ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng người được ủy quyền lại thực hiện hành vi vượt quá phạm vi được ủy quyền như rút đơn khởi kiện… có trường hợp đương sự ủy quyền chết, quá trình giải quyết vụ án Tòa
án chỉ báo gọi người đại diện theo ủy quyền của họ đến để giải quyết vụ án và vẫn xác định người đã chết trong vụ án là đương sự, đây là những trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng
Về trình tự, thủ tục giải quyết được quy định tại Phần thứ 8 của BLTTDS năm 2015 về thủ tục giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Phần này quy định rất rõ về trình tự, thủ tục, thời hạn, cách thức tống đạt, xử lý đối với trường hợp tống đạt được và không tống đạt được… cụ thể tại Điều 476 BLTTDS năm
2015 Tòa án phải gửi thông báo thụ lý vụ án, trong đó nêu rõ thời gian, địa điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (sau đây gọi chung là phiên họp hòa giải), mở lại phiên họp hòa giải, mở phiên tòa và mở lại phiên tòa trong văn bản thông báo thụ lý vụ án cho đương sự ở nước ngoài
- Thời hạn mở phiên tòa, phiên họp hòa giải được xác định như sau:
Phiên họp hòa giải phải được mở sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án Ngày mở lại phiên họp hòa giải (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên họp hòa giải chậm nhất là 01 tháng;
Phiên tòa phải được mở sớm nhất là 09 tháng và chậm nhất là 12 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý vụ án Ngày mở lại phiên tòa (nếu có) được ấn
8
Khoản 4 Điều 85 BLTTDS: “Đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác
thay mặt mình tham gia tố tụng Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện”
Trang 26Phiên họp phải được mở sớm nhất là 06 tháng và chậm nhất là 08 tháng, kể từ ngày ra văn bản thông báo thụ lý việc dân sự Ngày mở lại phiên họp giải quyết việc dân sự (nếu có) được ấn định cách ngày mở phiên họp lần đầu chậm nhất là 01 tháng
1.2 Căn cứ pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
1.2.1 Căn cứ pháp luật giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Việc giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài có thể được điều chỉnh bởi nhiều hệ thống pháp luật khác nhau, do vậy khi Tòa án giải quyết từng vụ việc
cụ thể Tòa án cần phải xác định hệ thống pháp luật được áp dụng Bên cạnh việc áp dụng pháp luật trong nước để giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng nảy sinh vấn đề xung đột pháp luật Để giải quyết vấn đề này nước ta đã tích cực tham gia ký kết hay gia nhập các ĐƯQT để giải quyết Khi giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài một số kiểu hệ thuộc cơ bản áp dụng đó là:
- Luật nhân thân: bao gồm luật nơi cư trú và luật quốc tịch và được áp dụng theo thứ tự:
+ Pháp luật nơi cư trú của đương sự, như trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài mà hai vợ chồng xin ly hôn họ không có quốc tịch Việt Nam nhưng họ cùng thường trú tại Việt Nam thì việc ly hôn của họ được giải quyết theo pháp luật Việt Nam Trường hợp một trong hai người là công dân Việt Nam nhưng họ không thường trú tại Việt Nam mà nơi thường trú chung của họ là ở nước ngoài thì áp dụng pháp luật của nước nơi họ thường trú chung để giải quyết Khoản 2 Điều 24
HĐTTTP giữa Việt Nam và Ba Lan năm 1993 quy định: "nếu vợ chồng không cùng
quốc tịch, quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật của nước ký kết nơi họ đang thường trú hoặc đã cùng thường trú lần cuối cùng”
Trang 2721
+ Luật quốc tịch: là pháp luật nước mà đương sự mang quốc tịch Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khi giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài việc xác định luật áp dụng căn cứ vào quốc tịch Việt Nam, nếu vợ chồng không có nơi thường trú chung và một trong hai người có quốc tịch Việt Nam thì áp dụng pháp luật của Việt Nam để giải quyết việc ly hôn
+ Luật nơi có tài sản: trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài nhiều trường hợp khi giải quyết vụ án đó mặc dù có thể đương sự không ở nước ngoài nhưng tài sản tranh chấp ở nước ngoài, nên khi giải quyết cần phải xem xét để áp dụng pháp luật một cách chính xác
Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài liên quan đến nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ này, do đó cơ sở pháp lý mà Tòa án áp dụng để giải quyết vụ án
ly hôn có yếu tố nước ngoài tuỳ từng trường hợp cụ thể Toà án áp dụng hệ thống pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp
- Điều ước quốc tế: Trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thì ĐƯQT được coi là nguồn quan trọng điều chỉnh các quan hệ này Theo quy định tại khoản
3 Điều 2 BLTTDS năm 2015 và khoản 1 Điều 122 Luật HN&GĐ năm 2014 đều thể hiện: trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó
- Tập quán quốc tế: Trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thì tập quán quốc tế thường áp dụng khi trong trường hợp các văn bản pháp luật trong nước, ĐƯQT mà chúng ta ký kết hoặc gia nhập không quy định, nhưng việc áp dụng này cũng không được trái với pháp luật trong nước
- Pháp luật quốc gia: Hiến pháp là văn bản pháp luật có giá trị cao nhất, trong đó các nguyên tắc cơ bản về mặt pháp luật đối với các quyền cơ bản nhất của con người được quy định, về quan hệ hôn nhân gia đình Khoản 1 Điều 36Hiến
pháp 2013 quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn Hôn nhân theo nguyên
tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau”
Trên cơ sở của nguyên tắc đó, các văn bản đã cụ thể hóa các nguyên tắc này
Trang 2822
trong quan hệ hôn nhân Trong giải quyết ly hôn bắt buộc phải tuân thủ nguyên tắc hiến định này, đặc biệt là chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vợ chồng bình đẳng được thể hiện rõ nét nhất; BLDS cũng là nguồn pháp luật quan trọng để điều chỉnh quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài; Luật HN&GĐ năm 2014 đã dành chương XIII để quy định về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài Ngoài ra các văn bản pháp luật khác cũng là nguồn quan trọng trong đó có các quy định điều chỉnh quan
hệ này như: Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014; Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật HN&GĐ; Thông tư số 02a/2015/TT-BTP ngày 23/02/2015 về hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân dân tối cao và Bộ tư pháp về hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ; Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP- BNG-TANDTC ngày 19/10/2016 của
Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, TANDTC quy định về trình tự, thủ tục tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự; Hướng dẫn số 33/TANDTC-HTQT ngày 24/02/2017 của Tòa án nhân dân tối cao; HĐTTTP; các ĐƯQT mà Việt Nam ký kết, tham gia; đặc biệt là ngày 01/10/2016 Công ước Lahay năm 1965 về tống đạt ra nước ngoài giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự hoặc thương mại có hiệu lực với Việt Nam Công ước này quy định việc tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án và giấy tờ của cơ quan, tổ chức khác từ một nước thành viên Công ước này cho đương
sự ở nước thành viên khác của Công ước theo kênh tống đạt chính thức và các kênh tống đạt thay thế và một số văn bản pháp luật liên quan khác
Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài trong đó việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam chúng ta áp dụng Luật HN&GĐ Đối với trường hợp bên là công dân Việt Nam nhưng thời điểm ly hôn họ ở nước ngoài thì khi giải quyết ly hôn phải tuân thủ pháp luật nước nơi thường trú chung của vợ chồng, nếu họ không có nơi thường trú chung thì áp dụng pháp luật Việt Nam Việc giải quyết ly hôn mà có yêu
Trang 29ký kết các HĐTTTP để điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài kịp thời, mặt khác nhằm tăng cường và củng cố các mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các quốc gia với nhau
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng luật trong giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài
Áp dụng luật trong giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài thường nảy sinh các quan hệ đa dạng, phức tạp Do vậy, khi giải quyết trong từng vụ việc
cụ thể đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải đặc biệt linh hoạt để áp dụng pháp luật cho phù hợp với quan hệ đó
Thực tiễn qua công tác giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian qua cho thấy việc áp dụng luật trong giải quyết các vụ án
ly hôn có yếu tố nước ngoài còn nhiều vướng mắc và bất cập như:
- Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, không tương thích như việc xác định thế nào là "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" rất khó Theo khoản 2 Điều 4
Luật Quốc tịch thì "người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và
người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn sinh sống lâu dài ở nước ngoài", nhưng để xác
định thời hạn bao lâu là lâu dài thì chưa có giải thích Hay trường hợp người Việt Nam đi công tác, học tập, du lịch nhưng họ không về nước khi hết thời hạn có được coi là người Việt Nam định cư ở nước ngoài hay không? Điều này cũng ảnh hưởng đến việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp tỉnh hay Tòa án cấp huyện
- Trong thực hiện UTTP: Toà án cũng gặp nhiều vướng mắc, đó là việc Tòa
án Việt Nam UTTP cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài kể cả đối với
Trang 3024
các nước mà Việt Nam đã ký kết, gia nhập ĐƯQT kết quả trả lời cũng rất chậm, thậm chí nhiều trường hợp không nhận được sự trả lời dẫn đến việc lấy lời khai, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án hoặc xác định tài sản ở nước ngoài không thực hiện được làm cho vụ án kéo dài Bên cạnh đó thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự đối với các việc mà Tòa án Việt Nam yêu cầu thì nhiều Tòa án nước ngoài chưa đáp ứng kịp thời cũng gây khó khăn cho công tác xét xử của hệ thống TAND
- Việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài có những trường hợp khi một quan hệ pháp luật chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật của hai nước khác nhau dẫn đến việc xung đột pháp luật Vấn đề là khi áp dụng vào vụ việc cụ thể Tòa
án không thể cùng một lúc áp dụng cả hai hệ thống pháp luật đó, nhưng vấn đề đặt
ra là xác định pháp luật sẽ được áp dụng trong trường hợp đó là pháp luật nước nào, vấn đề này không phải đơn giản đối với tất cả các Thẩm phán Việc nghiên cứu các HĐTTTP trong đó xác định quy phạm pháp luật được áp dụng trong các trường hợp
cụ thể là vô cùng quan trọng trong công tác xét xử của Tòa án
Trang 3125
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã trình bày tổng quát về cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, theo đó các khái niệm cơ bản, đặc điểm, thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết cơ bản được phân tích làm rõ Bên cạnh
đó cơ sở pháp luật hiện hành và các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài Để có cái nhìn cụ thể hơn trong việc áp dụng pháp luật ta đi xem xét chương 2 “Thực tiễn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 3226
Chương 2 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT LY HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
TẠI TÕA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÖC 2.1 Khái quát chung về thực trạng giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
Trong bối cảnh chung của thế giới có ảnh hưởng không nhỏ đến số lượng các
vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài ở trong nước, tỉnh Vĩnh Phúc không là ngoại lệ Vĩnh Phúc thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ và vùng Thủ đô, phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, phía Tây giáp Phú
số khoảng 1.029.412 người Cùng với sự phát triển của các khu công nghiệp, lượng người nước ngoài đến làm việc, sinh sống tại Vĩnh Phúc cũng chiếm số lượng không nhỏ, bên cạnh đó số lượng người Việt Nam ở Vĩnh Phúc ra nước ngoài học tập, làm việc, định cư ngày càng tăng và đa dạng Từ đó dẫn đến việc kết hôn giữa người Việt Nam với người nước ngoài ở Vĩnh Phúc cũng diễn ra càng nhiều Tuy nhiên vấn đề hôn nhân thời mở cửa bên cạnh những mặt tích cực như quan hệ xã hội ngày càng mở rộng, phát triển thì sự phát triển của kinh tế thị trường cũng tác động không nhỏ đến đời sống gia đình, sự mất thăng bằng trong đời sống gia đình diễn ra, đặc biệt là các trường hợp nhiều cặp vợ chồng xin ly hôn chỉ sau một thời gian ngắn kết hôn, sợi dây bền chặt cho hạnh phúc gia đình bị nới lỏng, số lượng các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng ngày một tăng
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến số lượng các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài ngày một tăng, như có nhiều trường hợp nhiều người kết hôn với người nước ngoài chỉ với mục đích nhập quốc tịch để ra nước ngoài, họ coi việc kết hôn như một bản hợp đồng, hôn nhân thật sự không tồn tại, khi mục đích kết hôn đã đạt được thì họ buộc phải chấm dứt bản hợp đồng đó để không còn sự dàng buộc về mặt thực tế và về mặt pháp lý Cũng có nhiều trường hợp nguyên nhân ly hôn là do các cô gái người Việt Nam kết hôn với người chồng ngoại quốc không xuất phát từ tình yêu thực sự mà có người kết hôn theo trào lưu xính lấy chồng ngoại quốc, hay
do sự khó khăn về kinh tế, nhiều cô gái người Việt Nam muốn được đổi đời một
Trang 3327
cách nhanh chóng nên họ dễ dàng chấp nhận kết hôn với người chồng ngoại quốc cho dù người chồng ấy hơn họ rất nhiều tuổi nhưng khi bước vào cuộc sống hôn nhân đã phát sinh nhiều vấn đề như bất đồng về ngôn ngữ, văn hóa, lối sống, chêch lệch về tuổi tác Cuộc sống hôn nhân không như mong muốn nên họ đã lựa chọn giải pháp ly hôn để giải phóng cho mình
Số các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tăng cùng với mức độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội và hội nhập quốc tế ở địa bàn đó Khi đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao cũng là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng tới gia đình truyền thống của người Việt Nam, sự phát triển của nền kinh
tế thị trường dẫn đến trong gia đình người phụ nữ kiếm tiền tạo ra thu nhập không thua kém nam giới, quan hệ vợ chồng bình đẳng hơn đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến ly hôn, bởi khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra người phụ nữ cũng sẵn sàng tự giải phóng cho mình mà không chịu sự ràng buộc, phụ thuộc vào người chồng Đây là sự khác biệt rõ rệt giữa gia đình hiện đại và gia đình truyền thống, đặc biệt là người phụ nữ ở xã hội phong kiến trước đây
Qua thực tiễn giải quyết sơ thẩm các tranh chấp HN&GĐ tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây cho thấy số lượng các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong số các vụ việc ly hôn nói chung
Theo báo cáo tổng kết công tác xét xử của TAND tỉnh Vĩnh Phúc trong 5 năm (từ năm 2012 đến năm 2016) và báo cáo tổng kết 6 tháng đầu năm 2017, việc giải quyết theo trình tự sơ thẩm các vụ án HN&GĐ của TAND tỉnh Vĩnh Phúc như sau:
+ Năm 2012: thụ lý và giải quyết tổng số 473/474 vụ án các loại, trong đó án HN&GĐ sơ thẩm là 74 vụ, vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài là 63 vụ, chiếm tỉ lệ 85,1%9
+ Năm 2013: thụ lý và giải quyết tổng số 551/557 vụ án các loại, trong đó án HN&GĐ sơ thẩm là 87, vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 82 vụ, chiếm tỉ lệ 94,3%10
+ Năm 2014: thụ lý và giải quyết tổng số 585/588 vụ án các loại, trong đó án
9 TAND tỉnh Vĩnh Phúc (2012), Báo cáo tổng kết công tác xét xử năm 2012 và phương hướng,
nhiệm vụ năm 2013, Vĩnh Phúc, tr.2
10
TAND tỉnh Vĩnh Phúc (2013),Báo cáo tổng kết công tác xét xử năm 2013 và phương hướng,
nhiệm vụ năm 2014, Vĩnh Phúc, tr.2
Trang 34+ Năm 2016: thụ lý và giải quyết tổng số 574/581 vụ án các loại, trong đó án HN&GĐ sơ thẩm là 111, vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 103 vụ, chiếm tỉ lệ 92,8%13
+ Năm 2017 (số liệu 06 tháng đầu năm): thụ lý và giải quyết tổng số 425/489
vụ án các loại, trong đó án HN&GĐ sơ thẩm là 73, vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài 71 vụ, chiếm tỉ lệ 97,3%14
Trong đó số lượng giải quyết các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các vụ án HN&GĐ sơ thẩm nói chung Nguyên đơn có thể là người Việt Nam ở trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài ly hôn với bị đơn là người Việt Nam trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài hay người nước ngoài, tập trung chủ yếu vào các nước: Đài Loan (chiếm 25%), Trung Quốc (chiếm 20%), Đức (chiếm 15%), Malaysia (15%),Cộng hòa Séc (chiếm 8%) và một số nước khác như Hàn Quốc, Nga, Thái Lan, Darussalam, Lào, Angola, Nhật Bản, Ả rập, Balan…
Nhìn vào số lượng án tổng kết trong 05 năm 06 tháng ở TAND tỉnh Vĩnh Phúc có thể thấy rằng số lượng các loại án nói chung và án ly hôn có yếu tố nước ngoài đều tăng qua các năm, chỉ duy nhất năm 2015 giảm xuống, nhưng tỉ lệ án ly hôn có yếu tố nước ngoài vẫn chiếm phần lớn trong tổng số án HN&GĐ Cùng với
xu hướng gia tăng các loại vụ án thì các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng có
11TAND tỉnh Vĩnh Phúc (2014),Báo cáo tổng kết công tác xét xử năm 2014 và phương hướng,
TAND tỉnh Vĩnh Phúc (2017),Báo cáo tổng kết công tác xét xử 06 tháng đầu năm 2017 và
phương hướng, nhiệm vụ 06 tháng cuối năm, Vĩnh Phúc, tr.1.
Trang 3529
tính chất, mức độ phức tạp hơn, đặc biệt có những vụ án còn tồn từ năm 2011, 2012
có một số vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài đương sự yêu cầu giải quyết cả về phân chia tài sản chung, khoản nợ chung, khoản vay chung vẫn còn tồn đọng đến nay chưa được giải quyết dứt điểm
và triển khai tháo gỡ nhờ những quy định mới của BLTTDS năm 2015
Như trên đã phân tích, Nhà nước ta không hạn chế quyền tự do kết hôn của công dân và do vậy cũng không bằng pháp luật hạn chế quyền ly hôn của họ, nhưng việc kết hôn và ly hôn đều phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật Dựa vào các quy định của pháp luật Nhà nước điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, việc quản lý đó nhằm ổn định trật tự xã hội, bên cạnh đó củng cố các mối quan hệ trong gia đình, nâng cao trách nhiệm của các thành viên trong gia đình Mặt khác nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong vấn đề hôn nhân để hội nhập quốc tế
Qua nghiên cứu thực tiễn giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài tại TAND tỉnh Vĩnh Phúc trong những năm gần đây cho thấy, nguyên nhân dẫn đến ly hôn rất
Trang 36Như vậy công tác xét xử của Tòa án đóng một vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do của công dân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng, của gia đình và xã hội Để chất lượng xét xử của Tòa án đạt hiệu quả, chất lượng xét xử tốt đỏi hỏi đội ngũ Thẩm phán, cán bộ hệ thống TAND và những người làm công tác xét xử khi giải quyết các vụ việc ly hôn phải hết sức công tâm, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng, tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của vợ chồng, của các thành viên trong gia đình đồng thời tích cực hòa giải để giúp các chủ thể trong quan hệ đó hàn gắn những rạn nứt, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân, tìm ra bản chất sự việc để đưa ra những phán quyết đúng đắn, chính xác Đối với những quan hệ vợ chồng chưa đáng phải ly hôn thì việc Tòa
án hòa giải giúp họ có khả năng đoàn tụ là vô cùng quan trọng Bên cạnh đó thông qua công tác xét xử của Tòa án chúng ta còn đề cao chính sách pháp luật của Nhà nước và giáo dục quần chúng nhân dân về ý thức pháp luật trong quan hệ HN&GĐ
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
2.2.1 Khởi kiện và thụ lý vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Khởi kiện vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
Tòa án thụ lý vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài dựa trên cơ sở ban đầu là đơn khởi kiện của vợ hoặc chồng hoặc của cả hai vợ chồng Vợ, chồng khi xác định
Trang 3731
thấy cuộc sống hôn nhân của họ không thể tồn tại được nữa thì họphải thể hiện ý chí bằng việc làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết choly hôn Trên cơ sở đơn khởi kiện của vợ, chồng Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật để giải quyết:
- Đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đơn khởi kiện
Khi vợ hoặc chồng hoặc cả hai có đơn khởi kiện xin ly hôn thì phải làm đơn
và tự mình ký vào đơn khởi kiện Ngoài đơn khởi kiện người khởi kiện trong vụ án
ly hôn phải gửi kèm theo các giấy tờ, tài liệu cần thiết để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp Các tài liệu cần thiết đối với vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm: đăng ký kết hôn, bản sao giấy khai sinh của con (nếu có), các giấy tờ chứng minh nhân thân của họ (giấy chứng minh nhân dân hoặc
hộ chiếu) các giấy tờ chứng minh tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng tài liệu
mà đương sự giao nộp cho Tòa án phải được thể hiện bằng ngôn ngữ tiếng Việt, nếu
là tài liệu bằng tiếng nước ngoài thì phải được dịch sang tiếng Việt và phải được công chứng chứng thực hợp pháp
Để áp dụng thống nhất về hình thức và nội dung đơn khởi kiện, Điều 189 BLTTDS năm 2015 và Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn về hình thức và nội dung đơn khởi kiện cũng như mẫu đơn khởi kiện
Khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo Tòa án phải xem xét để xác định nếu đơn khởi kiện không đúng, không đầy đủ các nội dung và hình thức như hướng dẫn thì phải thông báo bằng văn bản ngay cho người khởi kiện biết
để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn theo quy định tại Điều 193 BLTTDS Nếu hết thời hạn do Tòa án ấn định mà người khởi kiện vẫn không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu theo thông báo của Tòa án thì Tòa án đã nhận được đơn khởi kiện căn cứ khoản
2 Điều 193 BLTTDS trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo cho họ Việc Tòa
án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự phải được thể hiện bằng văn bản
Theo quy định tại khoản 2 Điều 189, Điều 190 BLTTDS năm 2015 thì cá nhân người khởi kiện có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ
Trang 3832
án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc
điểm chỉ
Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người
có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp
đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;
Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện
có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau: Nộp trực tiếp tại Tòa án; Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)
Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn
BLTTDS năm 2015 đã bổ sung chế định tiếp nhận đơn và thu thập chứng cứ bằng phương pháp trực tuyến, tạo thuận lợi cao nhất cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đặc biệt là vụ án ly hôn mà người khởi kiện ở nước ngoài Tuy nhiên quy định này đã bước đầu gặp phải những vướng mắc, bất cập như khó xác định “ngày đương sự gửi đơn khởi kiện”
Trước thực tế hiện nay, hệ thống mạng Internet vẫn còn nhiều bất cập, vấn
đề an ninh mạng vẫn chưa được giải quyết triệt để, hiện tượng mạng nội bộ bị
Trang 3933
“treo” nên đương sự không thể truy cập để thực hiện được thao tác gửi đơn; hoặc có trường hợp đương sự đã gửi văn bản đến đúng địa chỉ cổng thông tin của Tòa án, nhưng bộ phận tiếp nhận đơn không thể nhận, xử lý được dữ liệu Dẫn đến việc, văn bản được gửi đi nhưng cấp có thẩm quyền không tiếp nhận được nên không có căn
cứ để giải quyết; còn đương sự vẫn tiếp tục chờ đợi thông tin với tâm trạng hoài nghi, bức xúc Mặt khác để có căn cứ chấp nhận hay bác đơn khởi kiện của đương
sự, trong suốt quá trình giải quyết kể từ lúc tiếp nhận đơn khởi kiện, Thẩm phán phải thu thập chứng cứ là các tài liệu kèm theo đơn khởi kiện do người khởi kiện giao nộp Trong trường hợp đơn khởi kiện và tài liệu kèm theo đơn được gửi trực tuyến bằng phương tiện điện tử qua cổng thông tin Tòa án, điều luật quy định Thẩm phán phải in ra bản giấy vào sổ nhận đơn Nhưng BLTTDS năm 2015 chưa quy định hoạt động tiếp theo ngay sau khi Thẩm phán in tài liệu ra bản giấy Việc quy định này rất thuận lợi cho người dân thực hiện quyền khởi kiện, nhưng gây khó khăn cho Thẩm phán khi xét xử trong việc đánh giá tính khách quan của chứng cứ,
vì Thẩm phán không thể đánh giá chứng cứ trên cơ sở tài liệu được sao chép lại, không phải là bản gốc
Thực trạng xảy ra khá nhiều ở TAND tỉnh Vĩnh Phúc, đó là đối với vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài, việc người khởi kiện gửi đơn khởi kiện qua bưu điện còn mang tính hình thức và khả năng thực hiện gặp phải những bất cập, đặc biệt là đối với đương sự đang ở nước ngoài gửi đơn khởi kiện qua đường bưu điện cho Tòa án nhưng sau khi nhận đơn khởi kiện Toà án cần yêu cầu họ bổ sung nội dung đơn khởi kiện, bổ sung tài liệu chứng cứ cho yêu cầu khởi kiện hay khi cần thông báo cho người khởi kiện để họ nộp tạm ứng án phí thì Toà án báo cho họ như thế nào là hết sức khó khăn và chưa có hướng dẫn cụ thể
Tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thì chủ yếu các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
là người Việt Nam đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài theo hợp đồng lao động dài hạn, hết thời hạn hợp đồng nhưng vẫn ở lại nước ngoài trái phép để tiếp tục lao động, nhiều trường hợp đi biệt tích nhiều năm liền, người vợ hay chồng ở trong nước không biết làm cách nào để có địa chỉ chính xác và mong muốn có cơ hội tạo
Trang 4034
lập cuộc sống mới nhưng rất khó khăn để Tòa án giải quyết cho họ Chính vì vậy vợ hoặc chồng của người đó chỉ có thể cung cấp địa chỉ theo Hợp đồng lao động ban đầu mà không biết chính xác địa chỉ hiện tại của bị đơn ở đâu Hiện nay Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 để hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án Theo đó nếu người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là người nước ngoài, người Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài thì nơi cư trú của họ được xác định căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do người khởi kiện cung cấp hoặc theo tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thấm quyền cấp, xác nhận Trường hợp này thường xuyên gặp phải ở TAND tỉnh Vĩnh Phúc, thông thường thì Tòa án coi là người khởi kiện
đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 Quy định này đã tạo thuận lợi cho đương sự thực hiện quyền khởi kiện
Đối với các trường hợp vụ việc không thuộc thẩm quyền của Tòa án; chưa
đủ điều kiện khởi kiện thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện biết để trả lại đơn khởi kiện cho họ mà không tiến hành thụ lý vụ án: Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện trong các trường hợp được quy định tại Điều 192 BLTTDS
Một số trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện cho đương sự trong vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài (Điều 472 BLTTDS năm 2015, Luật HNGĐ năm 2014),
cụ thể:
Tòa án Việt Nam phải trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nếu vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Các đương sự được thỏa thuận lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và
đã lựa chọn Tòa án nước ngoài giải quyết vụ việc đó
Trường hợp các bên thay đổi thỏa thuận lựa chọn Tòa án nước ngoài bằng thỏa thuận lựa chọn Tòa án Việt Nam hoặc thỏa thuận lựa chọn Trọng tài hoặc Tòa án nước