1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện tại một số tỉnh miền nam việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

89 328 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi vậy, mỗi quốc gia đều chú trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về việc làm nhằm đảm bảo quyền việc làm của người khuyết tật được thực hiện một cách hiệu quả trên

Trang 1

TRẦN THỊ THUỶ

PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI MỘT SỐ

TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luậ

HÀ NỘI - NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Trần Thị Thủy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu nhà trường, Phòng đào tạo sau đại học, khoa Luật kinh

tế trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

PGS TS Nguyễn Hiền Phương, người cô hướng dẫn đã hết lòng giúp

đỡ, dạy bảo và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Cảm ơn các thầy cô đã trang bị nhiều kiến thức quý báu trong quá trình đào tạo tại trường Đại học Luật Hà Nội

Chân thành cảm ơn gia đình đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi học tập và ủng hộ tôi trong suốt thời gian qua

Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2017

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

CRPD Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết

tật ban hành năm 2006

ACDC Trung tâm Hành động vì sự phát triển cộng đồng

BLĐTBXH Bộ Lao động, Thương binh và xã hội

Luật NKT năm 2010 Luật người khuyết tật Việt Nam ban hành ngày

Tuyên ngôn nhân

quyền Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 Công ước 1966 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa

năm 1966

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu đồ 1 : Tỷ lệ NKT có việc làm 41

Biểu đồ 2: Một số công việc NKT thường làm 42

Biểu đồ 3 : Lý do NKT chưa từng đi làm 43

Biểu đồ 4: Lý do NKT nghỉ việc 44

Biểu đồ 5: Tỷ lệ NKT có việc làm 45

Biểu đồ 6 : Một số việc làm của NKT 46

Biểu đồ 7 : Lý do NKT chưa từng đi làm 47

Biểu đồ 8 : Lý do NKT nghỉ việc 48

Biểu đồ 9 : Tỷ lệ NKT làm việc 50

Biểu đồ 10 : Một số công việc NKT thường làm 51

Biểu đồ 11 : Lý do NKT chưa từng đi làm 52

Biểu đồ 12 : Lý do NKT nghỉ việc 53

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2

4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục tiêu nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa của luận văn 6

6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận 6

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 6

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT 8

1.1 Khái niệm người khuyết tật 8

1.1.1.Định nghĩa người khuyết tật .8

1.1.2.Đặc điểm người khuyết tật 10

1.2 Khái niệm việc làm, quyền việc làm và nội dung quyền việc làm cho người khuyết tật 12

1.2.1.Khái niệm việc làm và việc làm cho người khuyết tật 12

1.2.2 Khái niệm quyền việc làm và nội dung quyền việc làm cho người khuyết tật 15

1.3 Điều chỉnh pháp luật đối với việc làm cho người khuyết tật 16

1.3.1.Sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề việc làm cho người khuyết tật 16

1.3.2.Điều chỉnh của pháp luật quốc tế đối với vấn đề việc làm của người khuyết tật 17

1.3.3.Điều chỉnh của pháp luật Việt Nam đối với vấn đề việc làm của người khuyết tật 19

Kết luận chương 1 22

Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC THI TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM 23

2.1 Quy định pháp luật việc làm đối với người khuyết tật 23

2.1.1 Các chủ thể tham gia vào quan hệ việc làm cho người khuyết tật 23

Trang 7

2.1.2 Quyền việc làm và nội dung quyền việc làm cho người khuyết tật 25

2.2 Thực thi quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật ở một số tỉnh miền Nam Việt Nam 38

2.2.1 Sơ lược tình hình kinh tế, xã hội, lao động việc làm và người khuyết tật

ở ba tỉnh miền Nam Việt Nam (Đồng Nai, Bình Phước, Cần Thơ) 38 2.2.2 Việc làm cho người khuyết tật tại một số tỉnh miền Nam Việt Nam (Đồng Nai, Bình Phước và Cần Thơ) 40 2.2.3 Thực hiện quy định pháp luật về việc làm cho NKT tại ba tỉnh miền Nam Việt Nam (Đồng Nai, Bình Phước và Cần Thơ) 55

Kết luận chương 2 64

Chương 3 NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

VỀ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

THỰC HIỆN TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM 65

3.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật

ở Việt Nam 65

3.1.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật việc làm cho người khuyết tật làm việc theo hợp đồng lao động 65 3.1.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật tự tạo việc làm 71

3.2 Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật việc làm cho NKT tại ba tỉnh Đồng Nai, Bình Phước và Cần Thơ 74

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việc làm nói chung và việc làm cho người khuyết tật nói riêng luôn là vấn

đề quan tâm trong điều chỉnh pháp luật lao động của mỗi quốc gia Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN), không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân là một trong những biểu hiện của đói nghèo và người khuyết tật là đối tượng chịu nhiều rủi ro, dễ dẫn tới đói nghèo hơn những người khác1 Theo quan niệm này, mỗi chúng ta đều

có thể rơi vào tình trạng đói nghèo khi không có nghề nghiệp, trong số đó, người khuyết tật là đối tượng phải đối mặt với tình trạng này nhiều hơn cả Người khuyết

tật từng được nhìn nhận là “người nghèo nhất trong những người nghèo”2 mà biểu hiện rõ nhất là họ không dễ dàng để có việc làm và rất khó khăn để duy trì công việc ổn định Ngoài lý do hạn chế về sức khỏe ảnh hưởng đến cơ hội có việc làm, người khuyết tật còn gặp phải nhiều rào cản từ bên ngoài như thái độ, nhận thức của

xã hội, chính sách pháp luật việc làm, môi trường vật chất, thông tin truyền thông, tài chính Trong số đó, chính sách pháp luật về việc làm là một trong những yếu tố

có ảnh hưởng quan trọng đối với việc làm cho người khuyết tật Bởi vậy, mỗi quốc gia đều chú trọng vào việc xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về việc làm nhằm đảm bảo quyền việc làm của người khuyết tật được thực hiện một cách hiệu quả trên thực tế

Người khuyết tật, ngoài quan tâm số tiền bảo trợ xã hội hàng tháng, họ dành

sự chú tâm đặc biệt đến việc làm bởi tình trạng khuyết tật không ảnh hưởng đến nhu cầu được làm việc của họ Bên cạnh đó, việc làm cho người khuyết tật chưa thực sự được nhìn nhận trong tương quan mối quan hệ giữa người khuyết tật với thị trường lao động; chưa hài hòa lợi ích giữa Nhà nước với các bên liên quan cũng như phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa, xã hội của mỗi vùng miền Việc bảo đảm cơ hội việc làm cho người khuyết tật chủ yếu vẫn thuộc về trách nhiệm của Nhà nước

mà chưa có sự thu hút với các đối tượng liên quan Do đó, việc thực hiện quy định

về việc làm cho người khuyết tật còn nhiều vướng mắc, dẫn đến tình trạng giảm

1 Tuyên bố Liên Hợp quốc, tháng 6/2008, “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng”

2 “NKT ở nông thôn Việt Nam, sinh kế, việc làm và bảo trợ”, truy cập tại địa chỉ:

tro-xa-hoi.htm , ngày truy cập 27/4/2017

Trang 9

https://vnu.edu.vn/eng/?C2422/N11168/Nguoi-khuyet-tat-o-nong-thon-Viet-Nam:-Sinh-ke,-viec-lam-va-bao-hoặc mất cơ hội việc làm, công việc thiếu ổn định https://vnu.edu.vn/eng/?C2422/N11168/Nguoi-khuyet-tat-o-nong-thon-Viet-Nam:-Sinh-ke,-viec-lam-va-bao-hoặc thất nghiệp kéo dài vẫn chưa được giải quyết

Vì vậy, lựa chọn đề tài “Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật và thực

tiễn thực hiện tại một số tỉnh miền Nam Việt Nam”, nghiên cứu hướng tới đánh giá

quy định pháp luật hiện hành về việc làm cho người khuyết tật và thực tiễn thực hiện quy định này tại một số tỉnh miền Nam Việt Nam Trên cơ sở đó đưa ra khuyến nghị, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về việc làm cho người khuyết tật và nâng cao hiệu quả thực hiện tại một số tỉnh miền Nam Việt Nam về việc làm cho người khuyết tật

2 Tình hình nghiên cứu của đề tài

Cho đến nay, vấn đề việc làm nói chung và việc làm cho người khuyết tật nói riêng đã được nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu

ở các mức độ khác nhau

Trên thế giới, một số tổ chức quốc tế như Tổ chức lao động quốc tế đã xuất bản một số ấn phẩm về người khuyết tật3 Tuy nhiên, những ấn phẩm này chủ yếu là tài liệu hướng dẫn cho cơ quan nhà nước về tiêu chuẩn lao động trong lao động, việc làm Hơn nữa, do nội dung phản ánh quá rộng (doanh nghiệp, vấn đề giới trong việc làm, truyền thông, vận động chính sách…) nên chưa thể cô đọng và tập trung chuyên sâu vào các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về việc làm cho người khuyết tật

Ở Việt Nam, có khá nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm nghiên cứu vấn đề khuyết tật như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, đào tạo nghề, hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật Tuy vậy, vấn đề việc làm của người khuyết tật chưa có nhiều công trình nghiên cứu tập trung vào vấn đề này

Trong số ít những công trình nghiên cứu về vấn đề việc làm, có thể kể tới

luận văn thạc sĩ “Pháp luật về việc làm cho người khuyết tật”, Đại học Luật Hà Nội,

2013 của tác giả Hồ Thị Trâm Một số bài báo khoa học được đăng trên tạp chí

cũng đã bắt đầu đề cập tới vấn đề này Có thể kể tới một số bài báo như “Thực trạng

thực hiện các quy định về quyền có việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam

3

“Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật”; “Đào tạo và việc làm cho người tàn tật”; “Phân tích công việc đơn lẻ và công việc tổng thể - hướng dẫn phương pháp tạo việc làm cho người khuyết tật” (Robert Heron); “Quản lý cơ sở vì hòa nhập của người khuyết tật” (Phòng xuất bản, Văn phòng Lao động quốc tế, xuất bản năm 2009)

Trang 10

hiện nay” của tác giả Hoàng Kim Khuyên4, hay “Việc làm đối với người khuyết tật -

Từ pháp luật đến thực tiễn thực hiện” của Trần Thị Thúy Lâm5 đã tiệm cận tới vấn

đề việc làm cho người khuyết tật Trong khuôn khổ các bài báo khoa học, các tác giả đã truyền tải một số nhận định quan trọng về thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn việc thực hiện quy định pháp luật về việc làm Đây là những tài liệu nghiên cứu khái quát, phù hợp cho nhu cầu tìm hiểu cơ bản và trong thời gian ngắn

về vấn đề việc làm cho người khuyết tật

Hầu hết các công trình nghiên cứu trong nước vẫn tiếp cận vấn đề việc làm theo hướng giới hạn người khuyết tật trong phạm vi các công việc phù hợp với dạng khuyết tật Người khuyết tật khá thụ động trong tìm kiếm việc làm và chưa thực sự tham gia được vào thị trường lao động hiện nay Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đều gặp khó khăn khi đưa ra số liệu thực tiễn về vấn đề việc làm cho người khuyết tật Số liệu người khuyết tật được sử dụng trong các nghiên cứu từ năm 2009 đến nay chủ yếu trích từ Báo cáo Tổng điều tra dân số của Tổng cục thống kê năm

2009 hoặc số liệu từ năm 2010 của Bộ Lao động thương binh và xã hội (BLĐTBXH)6 Trong khi đó, tiêu chí rà soát số người khuyết tật từ năm 2009 đến nay đã không còn phù hợp với quy định của Luật người khuyết tật năm 2010 về định nghĩa người khuyết tật

Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài và qua cơ hội được tham gia

vào quá trình làm Báo cáo bổ sung về việc đánh giá, giám sát thực thi Công Uớc

của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật cùng Liên hiệp hội người khuyết

tật Việt Nam, luận văn đã sử dụng số liệu điều tra thực tế vào năm 2016 về tình hình

việc làm của người khuyết tật tại một số tỉnh miền Nam Việt Nam Trên cơ sở đó, phân tích quy định pháp luật hiện hành về việc làm cho người khuyết tật và đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần hoàn thiện quy định về việc làm và thực hiện hiệu quả hơn vấn đề việc làm cho người khuyết tật tại địa phương

4 Hoàng Kim Khuyên (2017), “Thực trạng thực hiện các quy định về quyền có việc làm đối với người khuyết

tật ở Việt Nam hiện nay”, Nhà nước và Pháp luật, số 2/2017, tr 44 - 50

5 Trần Thị Thúy Lâm (2013), “Việc làm đối với người khuyết tật - Từ pháp luật đến thực tiễn thực hiện”, Tạp

chí luật học, Số Đặc san pháp luật người khuyết tật, 2013, tr 68 - 74

6

Báo cáo Tổng điều tra dân số năm 2009 sử dụng Khung Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) để xác định tình trạng sức khỏe cũng như khả năng thực hiện các chức năng của người dân Bộ câu hỏi này không bao phủ tất cả các loại hình khuyết tật Do đó hạn chế trong việc đưa ra một bức tranh toàn diện về tình trạng cũng như mức độ khuyết tật trong từng cộng đồng

Trang 11

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

- Vấn đề lý luận chung về việc làm cho người khuyết tật: Nghiên cứu khái niệm về việc làm và việc làm cho người khuyết tật làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật

- Nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về vấn đề việc làm cho người khuyết tật: Bằng việc phân tích, so sánh, đối chiếu giữa quy định trong nước và quốc tế, luận văn hướng tới việc phản ánh vấn đề việc làm cho người khuyết tật phù hợp với tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia, đồng thời đảm bảo tính tương thích với pháp luật quốc tế về việc làm cho người khuyết tật

- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật ở ba tỉnh miền Nam Việt Nam gồm Đồng Nai, Bình Phước, Cần Thơ: Trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật ở ba tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Cần Thơ

3 Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn chủ yếu nghiên cứu quy định pháp luật Việt Nam về việc làm cho người khuyết tật Nghiên cứu đi theo trình tự trước và sau khi có Luật người khuyết tật năm 2010 và Bộ Luật Lao Động năm 2012 là hai bộ luật quy định trực tiếp tới vấn đề việc làm của người khuyết tật

- Trong một số giới hạn cần thiết, luận văn nghiên cứu pháp luật quốc tế và của một số quốc gia nhằm đánh giá khách quan tính tương thích giữa quy định pháp luật Việt Nam và quốc tế về vấn đề việc làm cho người khuyết tật, đồng thời đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của Việt Nam

- Luận văn nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật việc làm cho người khuyết tật tại ba tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, Cần Thơ Cụ thể, nghiên cứu nhu cầu việc làm thực tế của người khuyết tật, quy định của địa phương liên quan tới bảo đảm việc làm cho người khuyết tật và thực tiễn việc thực hiện các quy định này tại mỗi tỉnh thành được lựa chọn

4 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng thể của luận văn là tiếp cận và nắm rõ pháp luật việc làm cho người khuyết tật thông qua hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam trong sự so sánh với hệ thống pháp luật quốc tế, đồng thời đánh giá thực tiễn thực hiện pháp

Trang 12

luật tại ba tỉnh miền Nam Việt Nam nhằm đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về việc làm cho người khuyết tật và nâng cao hiệu quả thực hiện tại ba tỉnh miền Nam Việt Nam

- Tiếp cận đầy đủ và toàn diện về người khuyết tật và việc làm cho người khuyết tật nhằm trang bị kiến thức lý luận về người khuyết tật và việc làm cho người khuyết tật

- Nghiên cứu tổng quan về quy định pháp luật Việt Nam về việc làm cho người khuyết tật đồng thời phân tích sự tương thích giữa quy định pháp luật Việt Nam và quy định pháp luật quốc tế về vấn đề việc làm cho người khuyết tật

- Đánh giá việc thực hiện pháp luật tại ba tỉnh miền Nam Việt Nam về vấn

đề việc làm cho người khuyết tật nhằm đưa ra những nhận định khách quan về hiệu quả việc thực hiện những quy định này trên thực tế

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, để làm sáng tỏ bản chất của việc làm nói chung và việc làm cho người khuyết tật nói riêng còn cần phải sử dụng quan điểm lịch sử, gắn việc làm với những giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế - xã hội quốc tế và Việt Nam

để nhìn nhận đúng đắn vấn đề này

Số liệu được sử dụng trong luận văn này là các số liệu thứ cấp được phân tích, tổng hợp và so sánh từ hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam và quốc tế liên quan đến vấn đề việc làm cho NKT Đối với mục tiêu đánh giá thực tiễn thực hiện quy định pháp luật việc làm tại 03 tỉnh miền Nam Việt Nam, số liệu được tổng hợp

và phân tích từ nghiên cứu của Liên hiệp hội về người khuyết tật Việt Nam trong

quá trình xây dựng Báo cáo bổ sung về việc đánh giá, giám sát thực thi Công Uớc

của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật năm 2006 dưới sự hỗ trợ kỹ thuật

của Trung tâm Hành động vì sự phát triển cộng đồng (ACDC), trong đó việc làm là một trong những lĩnh vực được đánh giá

Phương pháp phân tích số liệu được sử dụng là phương pháp tiếp cận hệ thống, tổng hợp, so sánh, xã hội học (thống kê, bảng biểu…) Phương pháp phân tích, tổng hợp dùng giúp hiểu bản chất của việc làm Phương pháp tiếp cận hệ thống được sử dụng nhằm tìm hiểu về việc làm của người khuyết tật trong một cấu trúc chặt chẽ Phương pháp so sánh, được sử dụng nhằm phát hiện điểm tương đồng và khác biệt giữa quy định về việc làm của pháp luật Việt Nam và một số văn bản pháp luật quốc tế; pháp xã hội học được sử dụng để thu thập những thông tin, số liệu thực

Trang 13

tiễn thể hiện quan điểm, tâm lý, ý thức của các tổ chức, cá nhân về việc làm của người khuyết tật hiện nay

6 Ý nghĩa của luận văn

6.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Nghiên cứu có ý nghĩa trong việc cung cấp số liệu thực tế, khách quan là

cơ sở đánh giá hiệu quả thực thi quy định pháp luật về việc làm tại ba tỉnh miền Nam Việt Nam Qua đó góp phần kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam

về việc làm cho người khuyết tật

- Nghiên cứu có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện quy

định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật tại ba tỉnh cụ thể Bình Phước, Cần Thơ, Đồng Nai thuộc vùng Đông Nam Bộ và vùng Đồng bằng sông Cửu Long

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn kết cấu gồm 3 chương lớn:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về người khuyết tật và việc làm cho người khuyết tật

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật

và thực tiễn thực hiện tại một số tỉnh miền nam Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về việc làm cho người khuyết tật và nâng cao hiệu quả thực hiện tại địa bàn một số tỉnh miền Nam

Việt Nam

Trang 14

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ PHÁP LUẬT VIỆC LÀM

CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT 1.1 Khái niệm người khuyết tật

1.1.1 Định nghĩa người khuyết tật

“Khuyết tật (Disabilities) là hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác

giữa các tính năng cơ thể và môi trường xã hội nơi người khuyết tật (NKT) sống”7 Nghiên cứu về lịch sử cho thấy, vấn đề khuyết tật được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, tiêu biểu là góc độ xã hội, y tế và pháp luật Trong một thời gian dài các văn kiện quốc tế không trực tiếp đề cập đến “người khuyết tật” Hiến chương và các công ước về quyền con người được các nước phê chuẩn từ giữa những năm 1940 cho đến cuối những năm 1960 – ví dụ Công bố Toàn cầu của Liên hợp quốc về Quyền con người năm 1946, Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Kinh tế, Văn hóa, Xã hội năm 1966, và Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 - đều không quy định đặc thù về người khuyết tật Cho đến đầu năm

1970, tình trạng NKT bị phân biệt đối xử và bị tách biệt khỏi xã hội mới được nhận thức rõ ràng hơn và được nêu thành một vấn đề về quyền của NKT Tuy nhiên, giai đoạn này chưa có định nghĩa thống nhất về NKT

Nhằm mang đến cách hiểu toàn diện về khuyết tật, Liên hợp quốc đã soạn thảo một văn bản quốc tế đề cập riêng về vấn đề này Ngày 13 tháng

12 năm 2006, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã thông qua Công ước Quốc tế về các

quyền của Người Khuyết tật (viết tắt là CRPD năm 2006), tại Điều 1 nêu rõ: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”8 Định nghĩa này có sự lồng ghép giữa các quan điểm về khuyết tật Khuyết tật được tiếp cận với các dạng tật cụ thể Khuyết tật không còn là vấn đề khiếm khuyết của cá nhân mà còn do ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng hòa nhập xã hội trọn vẹn của

7 Marta Pegoiani, Những khác biệt thay đổi thế giới, truy cập trang web:

https://www.google.com.vn/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=2&cad=rja&uact=8&ved=0ahUK Ewjmibmpyr_VAhUETY8KHcjmDuoQFggqMAE&url=http%3A%2F%2Fgvc-

vietnam.org%2Fbrowser_files.php%3Fid%3D406&usg=AFQjCNHkjakcAY5q1NsHY-va7I-6r_aRTQ ; ngày truy cập 5/8/2017

8

Điều 1 Công ước về quyền của NKT do Liên hợp quốc ban hành năm 2006

Trang 15

NKT Hơn nữa, định nghĩa này đã tiếp cận khuyết tật dưới góc độ pháp lý khi chỉ ra quyền được tham gia vào hoạt động xã hội một cách “hữu hiệu” và “bình đẳng” của NKT Theo đó, NKT có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trên cơ sở bình đẳng với người khác Từ năm 2006 với sự ra đời của CRPD cho đến nay, định nghĩa về NKT theo CRPD năm 2006 vẫn là định nghĩa chính thống và đầy đủ nhất về NKT Vì thế các quốc gia dù ban hành luật NKT trước hay sau khi CRPD năm 2006 ra đời, khi đã là thành viên công ước đều phải bảo đảm sự điều chỉnh tương thích trong pháp luật quốc gia về NKT

Tuy Việt Nam chính thức phê chuẩn CRPD năm 2006 vào tháng 02/2015 nhưng từ năm 2010 Luật người khuyết tật (Luật NKT năm 2010) đã được ban hành, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật về

NKT Khoản 1 Điều 2 Luật NKT năm 2010 quy định: “Người khuyết tật là người bị

khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” Định

nghĩa này tuy đã sử dụng từ “khuyết tật” để thay thế từ “tàn tật” trong Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 song chưa thực sự phù hợp với tinh thần của CRPD năm

2006 về khuyết tật Định nghĩa này chủ yếu tiếp cận vấn đề khuyết tật dưới góc độ y

tế Các khiếm khuyết cơ thể của NKT chính là căn nguyên gây nên tình trạng khuyết tật mà không phải là do tác động của môi trường sống Cách tiếp cận này đã xác định khuyết tật là vấn đề cá nhân, loại bỏ ảnh hưởng của môi trường sống Trong khi đó, môi trường sống có thể mang đến điều kiện hòa nhập cho NKT, nhưng cũng có thể tạo ra những rào cản làm trầm trọng hơn tình trạng cô lập của NKT Bên cạnh đó, cách định nghĩa này chưa phản ánh được khuyết tật dưới quan điểm pháp lý, tức là khuyết tật không thể là lý do cản trở quyền được tham gia đầy

đủ và bình đẳng của NKT vào các hoạt động xã hội

Như vậy, dù định nghĩa về khuyết tật được tiếp cận dưới góc độ nào, cần thiết phải phản ánh thực tế là NKT có khiếm khuyết về sức khỏe và họ gặp phải rào cản từ yếu tố xã hội, môi trường và con người NKT phải được đảm bảo quyền và nghĩa vụ trong quy định pháp luật và trong quá trình thực thi Với cách tiếp cận đó, định nghĩa về NKT theo CRPD năm 2006 (Điều 1) hiện nay là định nghĩa đầy đủ và phù hợp nhất:

“Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể

chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác

Trang 16

nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác”9

1.1.2 Đặc điểm người khuyết tật

Người khuyết tật trước hết là một thành phần trong xã hội đa dạng ngôn ngữ, màu da, tôn giáo, sắc tộc Họ cũng là những con người nên trước hết họ mang những đặc điểm chung về mặt kinh tế - xã hội, đặc điểm tâm sinh lý như mọi người Tuy nhiên, với đặc thù riêng về mặt sức khỏe nên NKT nói chung lại có nét đặc thù

so với người không khuyết tật và mỗi dạng khuyết tật lại có nét đặc trưng riêng so với các dạng khác Trên phương diện pháp lý, việc nhận diện các đặc điểm của NKT là một trong những cơ sở, căn cứ khoa học ảnh hưởng đến việc quy định, thực thi, áp dụng và giám sát việc thực hiện pháp luật về NKT Theo đó, có thể nhận diện NKT thông qua một số đặc thù sau:

- Người khuyết tật là người có khiếm khuyết về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan gây suy giảm sức khỏe và việc thực hiện chức năng của họ

“Khiếm khuyết” là sự không toàn vẹn, với cơ thể người đó có thể là một sự thiều hoặc thiếu bộ phận, hoặc có bộ phận nhưng không hoàn chỉnh theo cấu tạo cơ thể người Khiếm khuyết này có thể biểu hiện dưới dạng tật có thể quan sát hoặc không quan sát được từ bên ngoài Khiếm khuyết dẫn đến khuyết tật có thể là về cấu tạo thể chất (tay, chân …), giác quan (nghe, nói, nhìn), hoặc tâm thần, trí tuệ (nhận thức và khả năng hiểu biết, học tập) Những khiếm khuyết này ảnh hưởng trực tiếp tới tình trạng sức khỏe và việc thực hiện chức năng của NKT Một người

có thể chỉ gặp một dạng khuyết tật nhưng cũng có thể có đa tật, tức là có nhiều hơn một dạng khiếm khuyết trên cơ thể10

Việc xác định có tồn tại tình trạng khuyết tật hay không không phụ thuộc vào nguyên nhân dẫn đến khuyết tật Bởi lẽ, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng khuyết tật song ảnh hưởng chung của nó đều làm suy giảm sức khỏe của NKT Một số nguyên nhân chính dẫn đến khuyết tật như bẩm sinh, chi chứng chiến tranh, ảnh hưởng của chất độc hại, di chứng từ bệnh hiểm nghèo, tai nạn giao thông, tai nạn lao động… Trong thời gian gần đây, số NKT do tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, tai nạn lao động ngày càng nghiêm trọng

9

Điều 1 Công ước về quyền của NKT do Liên hợp quốc ban hành năm 2006

10 ACDC (2016), “Định nghĩa khuyết tật, dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật được quy định trong luật người khuyết tật Việt Nam và pháp luật về người khuyết tật của một số nước trong khu vực ASEAN (Thái Lan, Philippin, Indonesia, Malaysia, Singapore”, nghiên cứu quy định pháp luật một số nước ASEAN

Trang 17

- Người khuyết tật gặp nhiều khó khăn, rào cản từ môi trường xung quanh, ảnh hưởng đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào các hoạt động xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác

Bên cạnh những hạn chế về sức khỏe, NKT phải đối mặt với những rào cản

từ môi trường xã hội Các rào cản này có thể là nhận thức xã hội, môi trường vật chất, thông tin truyền thông, thể chế chính sách và tài chính đã góp phần gây ra sự tổn thương cho NKT và tách biệt họ khỏi xã hội11 Có những rào cản đều tác động chung tới tất cả các dạng khuyết tật như rào cản về thái độ, nhận thức của xã hội về NKT hay chính sách pháp luật đều ảnh hưởng chung tới mọi đối tượng là NKT Tuy nhiên, có một số rào cản lại chỉ gây khó khăn cho những dạng khuyết tật đặc thù Việc xác định các rào cản, khó khăn mà NKT phải đối mặt giúp đưa ra những giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn hỗ trợ cho NKT tham gia hiệu quả vào hoạt động của cộng đồng

Một số rào cản ảnh hưởng trực tiếp tới NKT như: Rào cản nhận thức của xã hội không chỉ dừng lại ở sự phân biệt đối xử, kỳ thị NKT mà còn ở thái độ nhìn nhận NKT là đối tượng yếu thế, không có năng lực Rào cản môi trường vật chất có thể hiểu là các yếu tố đến từ thiết kế xây dựng, giao thông, công trình, các phương tiện thiết bị mà NKT không thể sử dụng được một cách thuận lợi, linh hoạt Mỗi dạng khuyết tật lại gặp khó khăn riêng đối với rào cản này Rào cản thông tin truyền thông cũng cản trở sự tham gia đầy đủ của NKT vào hoạt động xã hội Khó khăn khi tiếp cận thông tin truyền thông của NKT thường là xuất phát từ cách thức truyền thông chưa tiếp cận với các dạng khuyết tật nghe, nói, nhìn Ngoài ra, NKT còn gặp rào cản về thể chế chính sách, đó là những quy định pháp luật liên quan tới khuyết tật như chế độ bảo trợ, lao động, việc làm, y tế, giáo dục chưa thực sự phù hợp và bảo đảm việc thực thi trên thực tế cho NKT Vì vậy, việc nhận diện các rào cản mà NKT đang phải đối mặt giúp đưa những biện pháp gỡ bỏ rào cản, giúp NKT thực sự hòa nhập xã hội một cách hiệu quả và hữu hiệu

- Về tâm lý của người khuyết tật, phần lớn người khuyết tật thường tự ti mặc cảm về tình trạng khuyết tật của họ

Trong nhiều rào cản mà NKT đang gặp phải, một rào cản vô hình khó vượt qua đó chính là sự mặc cảm của NKT về sự khiếm khuyết cơ thể Do hạn chế về thể chất hoặc giác quan nên họ dễ có tâm lý tự ti, mặc cảm về khuyết tật của mình,

11 Cẩm nang hòa nhập khuyết tật, hướng dẫn nhanh về hòa nhập khuyết tật trong chương trình phát triển, CBM Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội 2015

Trang 18

thường gặp khó khăn trong giao tiếp và trên một số lĩnh vực thì hiệu suất công việc không cao hoặc không thể tham gia Do hoàn cảnh khuyết tật hoặc do yếu tố khác

về kinh tế, môi trường… nên nhiều người không có điều kiện để học tập, rèn luyện

kỹ năng nên họ rơi vào vụng về, lúng túng Điều này dễ khiến họ cảm thấy thiếu tự chủ, thiếu tự tin trong giao tiếp với mọi người xung quanh Tỉnh trạng này sẽ tồi tệ hơn nếu NKT vấp phải thái độ giễu cợt hoặc thiếu kiên nhẫn của mọi người Tuy vậy, không phải tất cả NKT đều có tâm lý mặc cảm, tự ti Đại bộ phận trong số NKT đều có ý chí, khát vọng vươn lên để khắc phục những khiếm khuyết của mình12

Vì vậy, để áp dụng hiệu quả các biện pháp bảo đảm việc làm cho NKT, bên cạnh việc tác động tới các chủ thể, cần thay đổi nhận thức cho chính NKT và gia đình NKT về vị thế của NKT và quyền việc làm của họ trên thực tế Bởi lẽ, chính NKT mới là người bằng năng lực hành vi pháp lý của mình tiến hành thực hiện các quyền năng mà pháp luật trao cho họ

1.2 Khái niệm việc làm, quyền việc làm và nội dung quyền việc làm cho người khuyết tật

1.2.1 Khái niệm việc làm và việc làm cho người khuyết tật

 Khái niệm việc làm

Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm

là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia Hiện nay, không có định nghĩa chung về việc làm Dưới góc độ lịch sử, việc làm có liên quan đến phương thức lao động,

kiếm sống của con người và xã hội loài người Dưới góc độ kinh tế xã hội, hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm Dưới góc độ pháp lí,

hiện nay chưa có định nghĩa thống nhất về việc làm được ghi nhận trong văn kiện quốc tế Tổ chức lao động thế giới (ILO) có đề cập về định nghĩa người có việc làm,

người không có việc làm mà không trực tiếp quy định “việc làm là gì”.13

Đối với mỗi quốc gia, việc định nghĩa “việc làm” cũng có đặc trưng riêng

Bộ luật lao động Việt Nam năm 2012 (BLLĐ năm 2012) và Luật việc làm năm

2013 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị

Trang 19

pháp luật cấm” Từ những phân tích trên, có thể hiểu việc làm là những hoạt động

lao động hợp pháp, tạo ra thu nhập ổn định, thường xuyên cho người thực hiện

Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về việc làm nhưng về cơ bản việc làm

có các dấu hiệu đặc trưng như sau: Thứ nhất, việc làm là những hoạt động lao động

Lao động là quyền của mỗi người song không phải mọi người lao động đều có việc làm.14 Thứ hai, các hoạt động đó phải tạo ra thu nhập.15 Thứ ba, các hoạt động lao

động phải hợp pháp Tính hợp pháp được thể hiện ở việc làm không bị pháp luật cấm.T uy nhiên, việc làm là vấn đề có tính xã hội sâu sắc, mỗi hành vi lao động của người này đều có ảnh hưởng đến trật tự, lợi ích chung của xã hội

Từ định nghĩa chung về việc làm có thể thấy việc làm cho người khuyết tật hiện nay cũng chưa có định nghĩa thống nhất Một số văn bản pháp luật quốc tế cũng đã ghi nhận quyền việc làm là một trong những quyền cơ bản của người lao động nói chung và của NKT nói riêng như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (Điều 23) Theo đó NKT cũng có quyền được lao động để nuôi sống bản thân, được tham gia vào hoạt động phát triển kinh tế bằng cách làm việc như người không khuyết tật Ở Việt Nam, tuy chưa có định nghĩa riêng về việc làm cho NKT song

trên cơ sở nghiên cứu khoa học, “Việc làm cho người khuyết tật được hiểu là các

hoạt động lao động của người khuyết tật tạo ra thu nhập, hợp pháp và phù hợp với người khuyết tật”

Từ định nghĩa này cho thấy việc làm cho NKT cũng đảm bảo các dấu hiệu của việc làm nói chung song bên cạnh đó, với đối tượng đặc thù lao động đặc thù

này, việc làm cho NTK còn có thêm một số đặc đặc riêng như:

Thứ nhất, việc làm cho người khuyết tật cần phải phù hợp với người khuyết

tật, tức là phù hợp với dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật

NKT là những người bị suy giảm về thể chất, trí tuệ, tâm thần hoặc giác quan được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho việc học tập, sinh hoạt và lao động gặp nhiều khó khăn và cản trở việc tìm kiếm và duy trì việc làm của NKT Tuy nhiên, nếu họ được tạo điều kiện làm việc cần thiết và phù hợp, họ có thể tự vươn lên, làm việc và tự chủ cuộc sống Vì vậy, khuyết tật không phải là lý do cản trở NKT có việc làm Tuy nhiên, việc làm cho NKT cần phải phù hợp với dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật cũng như tình hình kinh tế, xã hội tại thời điểm đó

Trang 20

Thông thường những NKT có cùng dạng tật có xu hướng tập trung lại để cùng làm một công việc nhất định Những cơ sở việc làm có số đông là NKT thông thường do chủ của cơ sở đó là NKT hoặc đó là một nhóm NKT thành lập lên Sự phù hợp với dạng tật và công việc mà NKT lựa chọn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo hứng thú cho NKT làm việc và duy trì việc làm cũng như đảm bảo tính hiệu quả của công việc Vì vậy, yêu cầu đầu tiên để NKT có việc làm là công việc phù hợp với dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật của NKT

Thứ hai, việc làm cho người khuyết tật phải bảo đảm sự công bằng trong

tương quan với các đối tượng khác

Xuất phát từ lý do NKT là lao động đặc thù, việc tìm kiếm công việc và duy trì việc làm với họ khó khăn hơn so với người không khuyết tật Để họ có việc làm

và duy trì được công việc, cần phải có sự hỗ trợ, điều chỉnh hợp lý cho NKT Những hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo ra cơ hội bình đẳng và đối xử bình đẳng giữa lao động khuyết tật với những lao động khác tại nơi làm việc không bị coi là phân biệt đối xử Đó cũng không phải là sự ưu tiên mà chỉ là tạo điều kiện để NKT được bình đẳng ngang bằng với những lao động khác, giúp họ tái hòa nhập cộng đồng Sự công bằng cần được duy trì ở cả quá trình làm việc như từ lúc NKT tìm việc làm, tham gia tuyển dụng, làm việc và chấm dứt việc làm chứ không chỉ cục bộ trong một giai đoạn

Thứ ba, Nhà nước và cộng đồng có trách nhiệm trong vấn đề việc làm và bảo

đảm việc làm cho người khuyết tật

NKT là một trong những đối tượng lao động đặc thù, cẩn phải có hỗ trợ từ phía Nhà nước và các chủ thể liên quan, đặc biệt là nâng cao trách nhiệm của Nhà nước và cộng đồng đối với việc hỗ trợ cho NKT Tuy vậy, sự hỗ trợ này không có nghĩa tạo ra gánh nặng cho các đơn vị có sử dụng lao động là NKT Nhà nước với

tư cách, vai trò là chủ thể quyền lực phải chịu trách nhiệm chính trong việc hỗ trợ, điều chỉnh này Bản thân NKT cũng phải có những cố gắng nhất định và người sử dụng lao động (NSDLĐ) cũng có trách nhiệm hỗ trợ một phần Trách nhiệm của các bên tạo ra thế kiềng ba chân vững chắc trong việc bảo đảm cơ hội làm việc của NKT Trong đó, Nhà nước có vai trò chính trong việc hỗ trợ việc làm cho NKT, cộng đồng xã hội tham gia vào việc này ở các mức độ khác nhau và bản thân NKT phải nỗ lực cố gắng Như vậy, NKT mới có thể tìm được việc làm và duy trì việc làm nuôi sống bản thân trong bối cảnh thị trường lao động đang diễn ra sôi động, cạnh tranh gay gắt

Trang 21

1.2.2 Khái niệm quyền việc làm và nội dung quyền việc làm cho người khuyết tật

 Quyền việc làm của người khuyết tật

Xuất phát từ khái niệm về quyền - là các khả năng mà mỗi người được xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật không cấm Theo đó, quyền việc làm của NKT là các khả năng mà NKT được xử sự theo cách thức nhất định theo quy định của pháp luật trong quan hệ việc làm

 Nội dung quyền việc làm cho người khuyết tật

Trên cơ sở nội dung của quan hệ pháp luật thường phản ánh về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chur thể trong quan hệ pháp luật cụ thể, đối với quan hệ việc làm của NKT, nội dung của quan hệ pháp luật này cũng tập trung quy định về quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật việc làm cho NKT như quyền và nghĩa vụ của NKT, NSDLĐ, Nhà nước… Theo đó, pháp luật ghi nhận và quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ việc làm cho NKT gồm việc làm phát sinh từ hợp đồng lao động và trong quá trình NKT tự tạo việc làm

Trong quan hệ giữa NSDLĐ và NKT, pháp luật Việt Nam quy định một số nội dung cụ thể như: NKT có quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm; NKT được tuyển dụng một cách bình đẳng như những lao động khác NSDLĐ không được đặt ra các điều kiện tuyển dụng không phù hợp nhằm loại bỏ NKT trong quá

trình tuyển dụng; NKT được sắp xếp công việc phù hợp, bảo đảm điều kiện làm

việc, an toàn, vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe thường xuyên; quy định một số hành vi NSDLĐ bị cấm khi sử dụng lao động là NKT (cấm sử dụng NKT làm việc ban đêm, làm thêm và làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tại Điều 178 BLLĐ năm 2012); quy định về một số ưu đãi, hỗ trợ cho cơ sở sản xuất, kinh doanh

sử dụng lao động là NKT (Điều 34 Luật NKT năm 2010)

Trong quan hệ việc làm do NKT tự tạo lập, pháp luật ghi nhận và quy định một số nội dung như: NKT được đào tạo nghề để có thể chủ động tạo việc làm hoặc gia nhập vào thị trường lao động; NKT được cung cấp các thông tin về dạy nghề, việc làm; NKT được hỗ trợ vay vốn để sản xuất kinh doanh; quy định về trách nhiệm của cơ sở đào tạo nghề, trung tâm giới thiệu việc làm; Trình tự thủ tục làm

hồ sơ hỗ trợ vay vốn, hưởng ưu đãi khi học nghề

Nhìn chung nội dung về quyền việc làm của NKT không tách rời quyền việc làm của mọi chủ thể NKT khi tham gia vào quan hệ việc làm sẽ phát sinh quyền và

Trang 22

nghĩa vụ tương ứng và các chủ thể khác như NSDLĐ, Nhà nước, các cơ sở đào tạo nghề, trung tâm giới thiệu việc làm Tuy nhiên, do đặc thù người lao động là NKT nên trong quan hệ việc làm nên pháp luật sẽ có những quy định mang tính chất ưu đãi, hỗ trợ nhiều hơn cho NKT trong một số trường hợp cụ thể Bên cạnh đó, một số quốc gia đặt ra những nghĩa vụ cụ thể cho NSDLĐ nhằm mục đích bảo đảm cơ hội

có việc làm của NKT

1.3 Điều chỉnh pháp luật đối với việc làm cho người khuyết tật

1.3.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh vấn đề việc làm cho người khuyết tật

Ngoài lý do chức năng của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xã hội, sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật đối với việc làm cho NKT còn bởi những lý do sau:

Thứ nhất, NKT là đối tượng yếu thế do những khiếm khuyết về thể chất hoặc

tinh thần gây ảnh hưởng đến sức khỏe, việc thực hiện chức năng Khiếm khuyết này khi gặp phải các rào cản từ môi trường xã hội có thể hạn chế sự tham gia hữu hiệu, bình đẳng của NKT Trong quan hệ việc làm, sức lao động của NKT bị suy giảm và tâm lý của họ bị chi phối bởi các yếu tố bên ngoài môi trường sống Vì vậy, ngoài thực hiện những tác động nhằm thay đổi nhận thức chung của xã hội về năng lực của NKT như truyền thông, tập huấn thay đổi hành vi, cần có khung chính sách pháp luật ổn định, tiến bộ quy định về quyền làm việc, quyền có việc làm, các biện pháp xử lý khi vi phạm quyền có việc làm của NKT bằng pháp luật

Thứ hai, việc điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề việc làm cho người khuyết

tật còn nhằm bảo đảm việc thực hiện quyền của NKT một cách hữu hiệu và bình

đẳng Quyền việc làm là quyền con người cơ bản mà lý do khuyết tật không cản trở

việc được hưởng đầy đủ quyền này của NKT Trên cơ sở quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ việc làm được ghi nhận và bảo

đảm thực hiện

Thứ ba, bảo đảm việc làm cho người khuyết tật không chỉ là vấn đề quốc gia

mà còn là vấn đề chung của quốc tế Pháp luật quốc tế từ lâu đã ghi nhận các quyền

con người cơ bản trong các văn kiện như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (gọi là Tuyên ngôn nhân quyền); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 và một số công ước của ILO về việc làm Trong xu thế hội nhập phát triển toàn cầu, để đẩy mạnh quá trình hợp tác, các quốc gia cần chủ động hoàn thiện hệ thống pháp lý quốc gia và tham gia một số công ước quốc tế theo định

Trang 23

hướng phát triển riêng Với lĩnh vực việc làm, các quốc gia có thể tham gia vào các

điều ước quốc tế về quan hệ việc làm

1.3.2 Điều chỉnh của pháp luật quốc tế đối với vấn đề việc làm của người khuyết tật

Trước khi có Công ước về quyền của NKT (CRPD năm 2006) ban hành ngày 13/12/2006, một số văn kiện quốc tế đã ghi nhận về quyền việc làm của con người nói chung như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (gọi là Tuyên ngôn nhân quyền); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 và một số công ước của ILO Tuy các văn kiện này đều chưa trực tiếp quy định về quyền việc làm của NKT nhưng cơ bản đều đề cập tới 02 nội dung sau: Một là khẳng định quyền có việc làm là quyền con người, quyền công dân cơ bản và NKT

có đầy đủ quyền này Hai, xác định nội dung việc làm mọi đối tượng trong đó có NKT gồm quyền được có cơ hội làm việc, tự do lựa chọn việc làm, làm việc trong điều kiện an toàn và lành mạnh, công bằng, thuận lợi, được trả lương tương xứng, công bằng…

Thứ nhất, một số văn bản quốc tế ghi nhận về NKT có quyền việc làm bình

đẳng với các chủ thể khác

Tuyên ngôn nhân quyền là văn kiện đầu tiên của luật quốc tế về quyền con người Điều 23 Tuyên ngôn nhân quyền thừa nhận mọi người sinh ra có quyền làm việc Tuy không nêu cụ thể về quyền việc làm của NKT nhưng Tuyên ngôn không loại trừ bất cứ đối tượng nào vì lý do khuyết tật Về vấn đề việc làm của NKT cũng

đề cập một cách trực tiếp tại Khuyến nghị số 99 (năm 1955) về việc tái thích ứng nghề nghiệp cho NKT, trong đó nêu rõ những biện pháp hỗ trợ đặc biệt nhằm tạo điều kiện cho NKT hòa nhập vào thị trường lao động Năm 1983, một năm sau khi thực thi Chương trình hành động toàn cầu liên quan đến NKT và hai năm sau - năm quốc tế về NKT, ILO đã phê chuẩn Công ước số 159 và Khuyến nghị số 168 về tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của NKT Tuy nhiên, đáng nói nhất là Công ước

số 111 về phân biệt đối xử trong nghề nghiệp lại không đề cập đến khuyết tật là một

trong những lý do cần bảo vệ để chống lại tình trạng phân biệt đối xử

Năm 2006, Công ước của Liên hợp quốc về quyền của NKT ra đời là mốc dấu quan trọng chính thức ghi nhận đầy đủ quyền của NKT trong một văn kiện quốc tế Đây là văn kiện quốc tế đầu tiên và duy nhất đến thời điểm hiện nay quy định các vấn đề liên quan đến NKT Điều 27 CRPD năm 2006 quy định về vấn đề việc làm cho NKT về cơ bản có sự tiếp nối tinh thần của các Công ước trước đó khi

Trang 24

thừa nhận “NKT được làm việc trên cơ sở bình đẳng như những người khác bao

gồm quyền có cơ hội để kiếm sống bằng công việc do chính họ tự do lựa chọn hay chấp nhận trong thị trường lao động và trong môi trường làm việc cởi mở, hoà nhập và tiếp cận cho NKT”

Thứ hai, người khuyết tật có quyền làm việc và được tự do lựa chọn việc làm

Tuyên ngôn nhân quyền khẳng định mọi người đều có quyền làm việc, quyền được tự do lựa chọn việc làm trong đó có NKT Nội dung này tiếp tục được cụ thể hóa và mở rộng tại Điều 7 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 (Công ước năm 1966) Ngoài những nội dung đã nêu trong Tuyên ngôn nhân quyền, Công ước này còn bổ sung thêm quy định về NKT có cơ hội bình đẳng với người không khuyết tật trong việc được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc Tuy nhiên, Công ước này cũng chưa

đề cập trực tiếp tới lao động khuyết tật (chỉ đề cập nhiều tới vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động)

Đến CRPD năm 2006, NKT không chỉ được đảm bảo quyền làm việc bình đẳng và thuận lợi trong môi trường doanh nghiệp mà còn được hỗ trợ trong quá trình tự tạo làm cũng như được khuyến khích vào làm việc trong lĩnh vực công Đây

là nội dung mới, lần đầu được cụ thể hóa trong CRPD khi tiếp cận vấn đề việc làm cho NKT không chỉ trong giai đoạn lao động mà ngay từ khâu tuyển dụng đến làm việc, chấm dứt hợp đồng lao động và thúc đẩy các chương trình phục hồi chức năng nghề nghiệp, duy trì việc làm và quay trở lại làm việc dành cho NKT

Thứ ba, NKT được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi

như đối tượng khác trong xã hội Công ước số 1966 tuy không trực tiếp quy định về

việc làm của NKT nhưng cũng đã nêu rõ, điều kiện làm việc Nội dung này, đến CRPD đã được cụ thể hóa quy định điều kiện làm việc cho NKT như: được làm việc trong những điều kiện an toàn và lành mạnh bao gồm cả việc được bảo vệ khỏi

sự lạm dụng, và được bồi thường cho những tổn thất về tinh thần của NKT, trên cơ

Trang 25

Thứ tư, người khuyết tật có quyền được trả lương công bằng và không bị

phân biệt đối xử Khi cùng vị trí làm việc, NKT được trả lương công bằng, không

phân biệt đối xử Công việc và mức lương họ được nhận tương xứng, công bằng và bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống phù hợp ILO kêu gọi sự bình đẳng

về về cơ hội học nghề, được làm việc trong điều kiện làm việc vảo đảm và được trả lương tương xứng với vị trí công việc Ngoài ra, ILO còn ban bành một số công ước

về chống phân biệt đối xử trong lao động như Công ước ILO số 100 về Trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị như nhau (1951), Công ước ILO số 111 về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp (1958), và Công ước ILO số 118 về Đối xử bình đẳng trong vấn đề an toàn xã hội (1962) được ban hành nhằm đảm bảo hội bình đẳng khi làm việc

Ngoài ra, văn bản quốc tế cũng đề cập tới vai trò, trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo đảm việc làm cho NKT Hai văn kiện trên đã bắt đầu đề cập tới vai trò của quốc gia thành viên trong việc bảo đảm quyền việc làm cho người lao động Tuy nhiên, Tuyên ngôn nhân quyền và Công ước năm 1966 chỉ dừng lại ở việc quy định các quốc gia “thừa nhận” quyền được hưởng của người lao động mà chưa nêu rõ vai trò, trách nhiệm và cam kết thực hiện các nội dung trong Công ước

mà quốc gia này đã phê chuẩn Cho đến CRPD năm 2006, Công ước đã nêu rõ trách nhiệm của các quốc gia thành viên trong việc thực thi công ước bằng việc quy định các nước ngày cần “cam kết và bảo đảm thực hiện CRPD về bảo đảm việc làm cho NKT nói riêng và các quyền năng khác được quy định trong văn bản này CRPD năm 2006 đã nêu rõ về trách nhiệm thực thi của các nước nh viên và cơ chế báo cáo việc thực thi công ước lên cơ quan Liên hợp quốc nhằm giám sát và can thiệp kịp thời đối với các nước đã phê chuẩn CRPD Theo đó, bằng

1.3.3 Điều chỉnh của pháp luật Việt Nam đối với vấn đề việc làm của người khuyết tật

Vấn đề lao động việc làm được ghi nhận trong trong các bản Hiến pháp Việt Nam Tuy nhiên đến Hiến pháp năm 2013, quyền việc làm nói riêng và các quyền liên quan tới lao động, thu nhập, an sinh xã hội nói chung mới được tiếp cận, ghi nhận trong mối quan hệ mật thiết với quyền con người và cụ thể tại Khoản 1

Điều 35 chương II quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: “Công

dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc” Khác với

các bản hiến pháp trước đây, Hiến pháp năm 2013 dựa trên cơ sở quyền tự nhiên, quyền con người để ghi nhận quyền việc làm của công dân

Trang 26

Trước khi Luật NKT năm 2010 được ban hành, nhà nước đã thông qua văn bản Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 Pháp lệnh có 35 điều, 8 chương quy định

về trợ giúp chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, tạo việc làm cho NKT Cùng với đó, BLLĐ năm 1994 được ban hành đã bắt đầu có riêng 03 điều quy định về lao động tàn tật Tuy nhiên, giai đoạn này các chính sách vẫn tập trung chủ yếu vào hỗ trợ các cơ sở sản xuất kinh doanh của thương bệnh binh và đối tượng thương binh Các quy định về NKT nói chung còn rất hạn chế Tuy vậy, các quy định về giải quyết việc làm cho người tàn tật chủ yếu mang tính chất bảo trợ của nhà nước như gây quỹ việc làm, ưu đãi tài chính, ưu tiên tuyển dụng, giảm giờ làm cho NKT Quy định này không còn thực sự phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay khi mà thị trường lao động đang có nhiều biến động với tính cạnh tranh, đào thải lao động cao

Góp phần hoàn thiện hơn về hệ thống quy định pháp luật dành cho NKT, Nhà nước đã ban hành Luật NKT năm 2010 với 10 chương, 52 điều Khác với quy định trước đó về NKT, Luật NKT đã làm nổi bật các quyền của NKT trong đó có quyền việc làm, thay đổi quan niệm trước đây về việc làm của NKT là sự bảo trợ và

hỗ trợ nhân đạo Đặc biệt, BLLĐ năm 2012 ra đời, dành một Mục IV để quy định

về lao động là NKT và đã có sự điều chỉnh các thuật ngữ liên quan tới khuyết tật, lao động khuyết tật (trước đó sử dụng từ tàn tật) Điều này thể hiện sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức của Đảng, Nhà nước và xã hội về quyền việc làm của NKT Nếu như BLLĐ, giới hạn đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh trong quan hệ lao động theo hợp đồng lao động (chủ - thợ) thì Luật việc làm năm 2013 lại

quy định chung về vấn đề việc làm dành cho mọi đối tượng “có liên quan đến việc

làm” trong đó có NKT Luật việc làm năm 2013 quy định về hỗ trợ tạo việc làm;

thông tin thị trường lao động; đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; tổ chức, hoạt động dịch vụ việc làm; bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm Như vậy, về cơ bản pháp luật việc làm cho NKT của Việt Nam hiện nay đã tập trung vào nghiên cứu một số nội dung như:

- Quy định vai trò, trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ việc làm cho người khuyết tật, cụ thể là Nhà nước, NSDLĐ, cộng đồng và NKT

- Ghi nhận và quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ việc làm cho NKT gồm việc làm phát sinh từ Hợp đồng lao động và trong quá trình NKT tự tạo việc làm

Trong quan hệ giữa NSDLĐ và NKT, pháp luật Việt Nam quy định một số nội dung cụ thể như: NKT có quyền làm việc và tự do lựa chọn việc làm; NKT

Trang 27

được tuyển dụng một cách bình đẳng như những lao động khác NSDLĐ không được đặt ra các điều kiện tuyển dụng không phù hợp nhằm loại bỏ NKT trong quá

trình tuyển dụng; NKT được sắp xếp công việc phù hợp, bảo đảm điều kiện làm

việc, an toàn, vệ sinh lao động, chăm sóc sức khỏe thường xuyên; quy định một số hành vi NSDLĐ bị cấm khi sử dụng lao động là NKT (cấm sử dụng NKT làm việc ban đêm, làm thêm và làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tại Điều 178 BLLĐ năm 2012); quy định về một số ưu đãi, hỗ trợ cho cơ sở sản xuất, kinh doanh

sử dụng lao động là NKT (Điều 34 Luật NKT năm 2010)

Trong quan hệ việc làm do NKT tự tạo lập, pháp luật ghi nhận và quy định một số nội dung như: NKT được đào tạo nghề để có thể chủ động tạo việc làm hoặc gia nhập vào thị trường lao động; NKT được đào tạo nghề để có thể chủ động tạo việc làm hoặc gia nhập vào thị trường lao động; NKT được cung cấp các thông tin

về dạy nghề, việc làm…

Nhìn chung pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam đều quy định về việc làm cho NKT, trong đó quan tâm tới quyền có việc làm và quyền bình đẳng trong việc làm cho NKT Trong khuôn khổ pháp luật quốc tế, các công ước đã ban hành một số nguyên tắc và quy định chung về việc làm cho NKT làm cơ sở để các quốc gia tiến hành nội luật hóa Sự nội luật hóa các quy định quốc tế về việc làm của mỗi quốc gia được thực hiện trên cơ sở sự phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và sự tương thích với pháp luật quốc tế Mục đích cuối cùng là hướng tới bảo đảm việc làm cho NKT

Trang 28

Kết luận chương 1

Mặc dù còn tồn tại nhiều quan điểm liên quan đến khái niệm người khuyết tật và việc làm cho người khuyết tật nhưng hiện nay có thể thấy rằng, người khuyết tật được công nhận là công dân có đầy đủ quyền bình đẳng, trong đó quyền việc làm

là quyền cơ bản cần được tôn trọng và bảo vệ Việc đảm bảo quyền việc làm cho người khuyết tật không chỉ đem lại lợi ích cho cá nhân người khuyết tật mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội của quốc gia Ngoài ra, văn bản pháp luật của Việt Nam và quốc tế đều ghi nhận quyền việc làm của người khuyết tật và trách nhiệm của các bên liên quan trong việc đảm bảo quyền này được thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuy nhiên trong quá trình quy định và thực thi các văn bản liên quan đến quyền việc làm của người khuyết tật tại Việt Nam, một số hạn chế vẫn còn tồn tại

Trang 29

Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT VÀ THỰC THI TẠI MỘT SỐ TỈNH MIỀN NAM VIỆT NAM

Mỗi văn bản pháp luật có phạm vi điều chỉnh rộng, hẹp khác nhau về vấn

đề việc làm cho NKT Có thể kể đến ba văn bản luật đang điều chỉnh trực tiếp vấn

đề việc làm của NKT hiện nay gồm: Luật người khuyết tật năm 2010 là văn bản đặc thù quy định riêng về quyền của NKT trong đó có quyền việc làm, BLLĐ năm

2012, Luật việc làm năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Trên cơ sở này, các văn bản luật chuyên ngành như luật việc làm, luật đất đai, luật thuế…có sự điều chỉnh phù hợp về chế định liên quan đến NKT

2.1 Quy định pháp luật việc làm đối với người khuyết tật

2.1.1 Các chủ thể tham gia vào quan hệ việc làm cho người khuyết tật

Quan hệ pháp luật việc làm nói riêng, các quan hệ pháp luật khác nói chung đều chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển giữa các chủ thể theo quy định của pháp luật

Vì thế, khi quy định về việc làm của NKT, Chính phủ đã xác định các chủ thể chủ yếu tham gia vào quan hệ này, cụ thể gồm Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân và bản thân NKT Đây là những chủ thể chính tham gia vào quan hệ việc làm với vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng khác nhau và đều được quy định trong Luật NKT năm 2010 cũng như các văn bản pháp luật liên quan

- Chủ thể là Nhà nước

Điều 33, Luật NKT năm 2010 quy định cụ thể về vai trò trách nhiệm của Nhà nước và tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong việc đảm bảo việc làm cho NKT Điều này nêu rõ Nhà nước có trách nhiệm trong việc tạo điều kiện để NKT có việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của NKT Có thể thấy, Luật NKT năm 2010 đã đề cập khá đầy đủ các chủ thể có vai trò tham gia vào quan hệ này Đặc biệt, Luật NKT năm 2010 đã quy định vai trò của Nhà nước dưới góc độ là chủ thể tạo điều kiện nhiều hơn là đứng ra bảo đảm việc NKT có việc làm

- Chủ thể là người sử dụng lao động

Sau khi Luật NKT năm 2010 và Bộ luật lao động năm 2012 có hiệu lực, NSDLĐ không còn trách nhiệm bắt buộc phải nhận NKT vào làm việc Khoản 1

Điều 35 Luật NKT năm 2010 quy định: “Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức

” So với quy định trong Luật NKT năm 2010, BLLĐ năm 2012 đã dành riêng Mục 4

Trang 30

Chương XI quy định về lao động là NKT Tuy nhiên, luật này cũng không quy định NSDLĐ có nghĩa vụ tiếp nhận NKT vào làm việc Khoản 1 Điều 176, BLLĐ năm

2012 lại quy định rằng Nhà nước “khuyến khích và ưu đãi NSDLĐ tạo việc làm và

nhận lao động là NKT vào làm việc…” Xét trên phương diện hiệu lực của văn bản

quy phạm pháp luật, BLLĐ năm 2012 ra đời sau năm Luật NKT nên cần đảm bảo tinh thần của văn bản chuyên ngành trước đó về NKT

Có thể thấy pháp luật Việt Nam chỉ quy định khuyến khích NSDLĐ tuyển dụng NKT vào làm việc NSDLĐ không bắt buộc tiếp nhận NKT vào làm việc và không cần thực hiện việc góp một số tiền vào quỹ việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho NKT không có cơ hội làm việc tại doanh nghiệp Trong khi đó, theo quy định của Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 NSDLĐ có trách nhiệm tiếp

nhận NKT vào làm việc, cụ thể: “Việc nhận người tàn tật vào làm việc tại các

doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi hình thức sở hữu được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động” Theo đó, tại Khoản 3 Điều 125 BLLĐ năm

1994 “Chính phủ quy định tỷ lệ lao động là người tàn tật đối với một số nghề và

công việc mà doanh nghiệp phải nhận; nếu không nhận thì doanh nghiệp phải góp một khoản tiền theo quy định của Chính phủ vào quỹ việc làm để góp phần giải quyết việc làm cho người tàn tật…” Việc bãi bỏ quy định này trong Luật NKT năm

2010 đã dẫn tới thực tế khi thi hành Luật NKT, vấn đề cải thiện, tăng cường cơ hội việc làm cho NKT ở Việt Nam không những không tiến triển tốt hơn mà còn có xu hướng đi xuống Quỹ việc làm cho NKT cũng bị giảm nguồn bổ sung

- Chủ thể là người khuyết tật

Luật NKT năm 2010 dành riêng chương V gồm 4 Điều để quy định vấn đề dạy nghề và việc làm cho NKT Trong các điều khoản này đều chủ yếu đề cập tới nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước, NSDLĐ và toàn xã hội trong việc đảm bảo

NKT có việc làm tại Khoản 4 Điều 33: “Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân

sử dụng lao động là NKT phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về lao động đối với lao động là NKT” Tuy nhiên Luật NKT năm 2010 chưa quy định cụ thể về

nghĩa vụ của NKT khi tham gia vào quan hệ lao động việc làm Luật hiện hành chỉ

dừng lại ở việc ghi nhận quyền năng của NKT: “NKT học nghề, giáo viên dạy nghề

cho NKT được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật” (Khoản 4

Điều 32 Luật NKT năm 2010) Bên cạnh đó, BLLĐ năm 2012 tuy có đề cập tới nghĩa vụ của người lao động nói chung song chưa thực sự đầy đủ Tại Mục 4 Chương XI của Bộ luật này có 03 điều quy định riêng về lao động là NKT song lại

Trang 31

dừng lại ở việc đề cập tới trách nhiệm của NSDLĐ đối với lao động là NKT mà không đề cập tới nghĩa vụ của NKT Trong khi đó, để NKT có thể hòa nhập bình đẳng, độc lập vào các hoạt động xã hội, NKT cần hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của mình và của các chủ thể khác Bản thân NKT cần tôn trọng các quy định, nguyên tắc tại nơi làm việc

2.1.2 Quyền việc làm và nội dung quyền việc làm cho người khuyết tật

Trong quá trình lao động, NKT không chỉ làm việc cho NSDLĐ mà còn tự tạo việc làm cho bản thân và cho NKT cũng như người không khuyết tật khác Vì vậy, pháp luật việc làm hiện nay ban hành các quy định nhằm điều chỉnh các quan

hệ việc làm phát sinh trong cả hai trường hợp này

2.1.2.1 Quyền việc làm và nội dung việc làm cho người khuyết tật khi làm việc theo hợp đồng lao động

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 33 Luật NKT năm 2010, quyền việc làm của NKT là việc NKT được phục hồi chức năng lao động để tham gia rộng rãi, chủ động vào quá trình lao động sản xuất; NKT được tư vấn việc làm miễn phí, được có việc làm; NKT được làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của NKT Tuy Luật NKT năm 2010 được ban hành trước khi Việt Nam phê chuẩn CRPD (ngày 28/11/2014) nhưng về cơ bản vẫn có những điểm phù hợp với quy định của CRPD Với nội dung quyền việc làm của NKT, pháp luật NKT đã nêu ra một số vấn đề chính, phù hợp với tinh thần của Công ước như NKT được tư vấn, giới thiệu việc làm; được hỗ trợ phục hồi chức năng lao động; được làm việc phù hợp với sức khỏe

và tình trạng khuyết tật Tuy vậy, nội dung này chưa bao gồm vấn đề khác như mức lương, điều kiện nâng lương, ký hợp đồng dài hạn mà NSDLĐ cần bảo đảm cho NKT

Trên cơ sở việc ghi nhận quyền có việc làm của NKT, pháp luật việc làm hiện hành đã quy định một số nội dung quyền việc làm cho NKT như sau:

Thứ nhất, người khuyết tật được tuyển dụng một cách bình đẳng như những

lao động khác NSDLĐ không được đặt ra các điều kiện tuyển dụng không phù hợp

nhằm loại bỏ người khuyết tật trong quá trình tuyển dụng

Trường hợp NKT có nguyện vọng làm việc cho một NSDLĐ, pháp luật nêu

rõ trách nhiệm của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đối với NKT tại Khoản 2 Điều

33 Luật NKT năm 2010 như sau: “Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân không

được từ chối tuyển dụng NKT có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng trái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc

Trang 32

của NKT” Theo đó, việc từ chối tuyển dụng NKT là vi phạm quy định pháp luật

nếu NKT đáp ứng đủ điều kiện tuyển dụng Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự chặt chẽ bởi, tiêu chuẩn tuyển dụng thường do NSDLĐ tự đặt ra và họ có quyền quyết định việc tuyển dụng hay loại bỏ ứng cử viên Do vậy, để không vi phạm quy định của Luật NKT năm 2010 về việc từ chối NKT đủ tiêu chuẩn vào làm việc, NSDLĐ có thể đặt ra những tiêu chuẩn tuyển dụng cao, yêu cầu bằng cấp chuyên môn, kỹ thuật, để tự động loại NKT ra khỏi danh sách Đây là một trong những lý

do, NSDLĐ không trực tiếp loại NKT mà NKT tự động nghỉ bỏ, dẫn đến tình trạng

NKT chưa có việc làm vẫn cao

Tuy vậy, cần lưu ý với những công việc đặc thù yêu cầu các điều kiện cụ thể đã được pháp luật quy định thì người ứng tuyển phải đáp ứng các điều kiện này

Ví dụ như luật sư, kỹ sư, công an, cảnh sát, kế toán, kiểm toán… là những nghề cần phải đảm bảo tiêu chuẩn tuyển dụng theo quy định của pháp luật Sự bất hợp lý trong tuyển dụng sẽ được xem xét nếu NSDLĐ chỉ dựa vào lý do khuyết tật để loại

bỏ NKT mà không cân nhắc tới các điều kiện khác Vì thế, trong trường hợp này, việc NKT không đáp ứng được điều kiện tuyển dụng là điều bất khả kháng do tính chất yêu cầu của công việc và yêu cầu hiệu quả của công việc được đặt lên hàng đầu Vì thế, không thể cho rằng mọi trường hợp từ chối NKT vào làm việc đều là phân biệt đối xử mà cần xem xét thêm về ngành nghề mà họ ứng tuyển để có thể đưa ra tư vấn hoặc hỗ trợ hợp lý

Thứ hai, người khuyết tật được sắp xếp công việc phù hợp, bảo đảm điều kiện làm việc phù hợp

NKT với những đặc thù về sức khỏe khi làm việc cần được sự hỗ trợ, tạo

điều kiện từ phía NSDLĐ Khi được tạo điều kiện làm việc phù hợp với dạng khuyết tật và mức độ khuyết tật, NKT có thể phát huy năng lực làm việc, đóng góp vào năng suất chung của doanh nghiệp Vì vậy, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có

một số quy định cụ thể như sau:

- NKT được sắp xếp công việc phù hợp

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 152 BLLĐ năm 2012, NSDLĐ có trách

nhiệm sắp xếp công việc phù hợp cho người lao động: “Người sử dụng lao động

phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại công việc để tuyển dụng và sắp xếp lao động” Người lao động nói chung và lao động là NKT nói

riêng khi được tiếp nhận vào làm việc đều cần phải được sắp xếp công việc phù hợp Với đặc thù về sức khỏe, NKT thường khó khăn khi tìm kiếm công việc phù

Trang 33

hợp Vì thế, pháp luật đặt ra yêu cầu bố trí công việc phù hợp cho lao động là NKT Căn cứ để bố trí công việc là dựa vào tiêu chuẩn sức khỏe cho từng loại công việc Theo đó, tiêu chuẩn về sức khỏe là căn cứ duy nhất để NSDLĐ dựa vào đó sắp xếp lao động Có thể thấy, nếu chỉ dựa vào tiêu chuẩn sức khỏe cho từng loại công việc thì NKT không có nhiều công việc phù hợp Trong khi đó, bản thân NKT đã có hạn chế về sức khỏe, đây có thể là lý do để NSDLĐ từ chối nhận NKT vào làm việc hoặc không bố trí được công việc thích hợp cho NKT Vì thế, cần bổ sung tiêu chí

để bố trí công việc cho NKT, bên cạnh tiêu chí sức khỏe nên bổ sung tiêu chí về trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc để bảo đảm tính công bằng cho lao động đặc thù này

- Về điều kiện làm việc cho NKT

Luật NKT năm 2010 quy định: “Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân

sử dụng lao động là NKT tùy theo điều kiện cụ thể bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho NKT” (Khoản 3 Điều 33) Theo

quy định này, việc bố trí sắp xếp công việc, bảo đảm điều kiện và môi trường làm việc phù hợp cho NKT không phải là trách nhiệm bắt buộc của NSDLĐ Họ có

quyền xem xét, cân nhắc “điều kiện cụ thể” để quyết định việc hỗ trợ cho NKT Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là “điều kiện cụ thể” chưa được pháp luật quy định hay hướng

dẫn nên tạo ra khoảng trống pháp lý để NSDLĐ dựa vào đó để từ chối việc thực hiện Cùng với quy định việc hỗ trợ cần “phù hợp” cho NKT cũng là quy định chung chung, mang tính định tính rất khó để xác định NSDLĐ đã bảo điều kiện và môi trường thuận lợi theo tình trạng khuyết tật cho NKT

Các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, nghỉ lễ, tết cùng các chế độ khác trong quá trình làm việc được quy định chung cho mọi lao động, không

có quy định riêng cho NKT Khác với quy định trước đó của BLLĐ năm 1994 quy định NKT không làm việc quá 7h/ngày và 42h/tuần (Khoản 4 Điều 125) Quy định NKT làm việc 7h/ngày khiến nhiều doanh nghiệp ngại tuyển dụng NKT vì không đảm bảo hoạt động sản xuất bình thường Vì vậy, để NKT thực sự có sự công bằng, bình đẳng với lao động còn lại, pháp luật đã nâng thời gian làm việc của NKT lên bằng với lao động là người không khuyết tật

Như vậy, việc không phân biệt đối xử trong việc làm cho NKT không chỉ thể hiện ở việc ban hành những quy định ưu tiên cho NKT (giảm nghĩa vụ hoặc tăng quyền lợi) mà đó còn là quy định ngang bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ như các lao động khác Tuy vậy, để đảm bảo điều kiện làm việc phù hợp cho NKT cần

Trang 34

phải nêu rõ tiêu chí đánh giá sự phù hợp như phù hợp với dạng khuyết tật (vận động, nghe, nói, thể thấp lùn …) và mức độ khuyết tật (nhẹ, nặng, đặc biệt nặng)

Thứ ba, quy định một số hành vi NSDLĐ bị cấm khi sử dụng lao động là

người khuyết tật (cấm sử dụng NKT làm việc ban đêm, làm thêm và làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tại Điều 178 BLLĐ năm 2012)

Mục đích của việc ban hành quy định này nhằm bảo vệ NKT khỏi nguy cơ

bị lạm dụng sức lao động cũng như ảnh hưởng hoặc làm tăng nguy cơ khuyết tật của bản thân họ Tuy nhiên, khoản 1 và 2 của Điều 178, BLLĐ năm 2012 còn có những điểm hạn chế sau trong quá trình thực hiện:

- Khoản 1, Điều 178 BLLĐ năm 2012 quy định cấm NSDLĐ sử dụng NKT giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm, làm đêm

Mức độ khuyết tật theo Luật NKT năm 2010 làm căn cứ xác định khả năng

tự phục vụ hay làm việc của NKT không tương đồng với là tỷ lệ suy giảm khả năng lao động (51%) quy định tại Khoản 1 Điều 178 BLLĐ năm 2010 Luật NKT năm

2010 quy định về mức độ khuyết tật (nhẹ, nặng, đặc biệt nặng) mà sự suy giảm khả năng lao động chỉ là một yếu tố ảnh hưởng tới mức độ này Mức độ khuyết tật của

một người được xác định bằng phương pháp “quan sát trực tiếp NKT thông qua

thực hiện hoạt động đơn giản phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày, sử dụng bộ câu hỏi theo tiêu chí về y tế, xã hội và phương pháp khác theo quy định để xác định mức độ khuyết tật trừ trường hợp NKT đã có kết luận của Hội đồng giám định y khoa khả năng tự phục vụ, mức độ suy giảm khả năng lao động” (Khoản 1

Điều 4 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật NKT) Kết luận về mức độ khuyết tật là dựa vào khả năng tự phục vụ nhu cầu sinh hoạt của bản thân NKT hơn

là đánh giá khả năng lao động của NKT Vì vậy, mức độ khuyết tật theo Luật NKT năm 2010 không tương đồng với là tỷ lệ suy giảm khả năng lao động quy định tại Khoản 1 Điều 178 BLLĐ năm 2010

Bộ Luật Lao Động quy định tỷ lệ suy giảm lao động thấp nhất là 51%16 Tỷ

lệ này được xác định bởi Hội đồng giám định y khoa Lao động là NKT dưới tỷ lệ 51% này có thể tham gia làm thêm hoặc làm đêm Tuy nhiên, Luật NKT năm 2010 quy định việc xác định mức độ khuyết tật phụ thuộc vào khả năng tự phục vụ bản

thân với các mức độ khuyêt tật là nhẹ, nặng và đặc biệt nặng Ví dụ, “NKT nhẹ khi

được Hội đồng giám định y khoa kết luận có khả năng tự phục vụ sinh hoạt hoặc

16

Thông tư 15/2016/TT-BYT Quy định về bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm xã hội

Trang 35

suy giảm khả năng lao động dưới 61%; NKT nặng khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận có khả năng tự phục vụ sinh hoạt nếu có người, phương tiện trợ giúp một phần hoặc suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%; NKT đặc biệt nặng khi được Hội đồng giám định y khoa kết luận không còn khả năng tự phục vụ hoặc suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên” (Khoản 3 Điều 4 Nghị định số

28/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật NKT) Trên thực tế, lao động là NKT không thể dựa vào giấy xác định mức độ khuyết tật để được xem xét việc tham gia làm thêm, làm đêm tại nơi làm việc mà cần phải được giám định tỷ lệ suy giảm khả năng lao động Vì vậy, các tỷ lệ được quy định trong Luật NKT năm 2010 và BLLĐ năm

2012 là không tương thích với nhau mặc dù đều xét trên một vấn đề chung là khả năng làm việc của NKT

- Khoản 2 Điều 178 BLLĐ năm 2012: quy định cấm sử dụng lao động là NKT làm những công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục luật định

Việc cấm sử dụng NKT làm các công việc theo danh mục nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm quy định tại Khoản 2 Điều 178 không phù hợp với mục đích của việc quy định danh mục công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong pháp luật lao động Mục đích của việc ban hành danh mục này là hướng tới việc bảo đảm quyền lợi ưu tiên hơn cho người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại Tức là họ được hưởng điều kiện làm việc, các ưu đãi đặc biệt hơn so với làm các công việc khác Bộ luật lao động năm 2012 quy định rõ, khi người lao động làm các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm sẽ được hưởng ưu đãi, hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe cao hơn Ví dụ, làm công việc nặng nhọc, độc hại sẽ được nghỉ hằng năm

là 14 ngày so với 12 ngày khi làm công việc khác (Khoản 1 Điều 11 BLLĐ năm 2012); được chăm sóc sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần (Khoản 2 Điều 152 BLLĐ năm 2012) Có thể thấy, danh mục này không nhằm hạn chế quyền làm việc của bất

cứ người lao động nào nếu như họ đáp ứng được yêu cầu công việc Vì vậy, việc hạn chế NSDLĐ sử dụng NKT làm các công việc trong danh mục này đang đi ngược lại với ý nghĩa của việc ban hành danh mục nghề của Chính phủ

Thiết kế của danh mục này không thể hiện có sự loại bỏ NKT ra khỏi các công việc này Thiết kế của danh mục gồm hai phần chính là phần tên công việc và phần mô tả đặc điểm, điều kiện lao động của công việc mà không quy định loại trừ người lao động nào nếu đáp ứng được yêu cầu công việc Do đó, việc quy định cấm chung đối với tất cả NKT không được làm các công việc này là không phù hợp

Trang 36

NKT có các mức độ khuyết tật khác nhau (nhẹ, nặng, đặc biệt nặng) và khả năng làm việc của họ cũng không giống nhau Vì thế, không thể bảo vệ sức khỏe cho NKT bằng cách cấm NKT làm các công việc Nhà nước quy định17

Xoay quanh vấn đề này, có hai quan điểm đang tồn tại song song:

- Quan điểm thứ nhất là tiến tới xóa bỏ hoàn toàn việc quy định danh mục công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cho lao động là NKT Quan điểm này được hiểu rằng lao động là NKT được tham gia bình đẳng vào quan hệ lao động mà không bị giới hạn trong bất cứ ngành nghề nào, miễn là phù hợp với dạng khuyết tật Đây cũng là tinh thần của CRPD năm 2006 khi quy định tại Điều 27 như sau:

“(a) Nghiêm cấm phân biệt đối xử trên tất cả các mặt có liên quan đến vấn đề việc

làm bao gồm điều kiện tuyển dụng, công tác tuyển dụng và việc làm, quá trình làm việc, cơ hội thăng tiến trong nghề nghiệp và các điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh” Việc cấm NSDLĐ sử dụng NKT làm việc nặng nhọc, độc hại theo danh

mục là quy định không phù hợp với thực tế việc làm của NKT hiện nay Trên thực

tế, có những công việc nằm trong danh mục nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm nhưng NKT vẫn có thể làm và đạt được thành tựu như: vận động viên cử tạ, bơi lội, điền kinh

- Quan điểm thứ hai là vẫn cần phải có danh mục quy định công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cho lao động là NKT Xét một cách toàn diện, nhận thức

về quyền và khả năng của bản thân NKT trong quan hệ lao động mà họ tham gia vẫn còn nhiều hạn chế Hơn nữa, với mức độ và tình trạng phát triển của Việt Nam

so với quốc tế, việc không giới hạn loại hình công việc dành cho NKT sẽ đem lại nhiều bất cập trong vấn đề quản lý liên quan đến lao động là NKT

Thứ tư, một số ưu đãi, hỗ trợ cho cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng lao động là người khuyết tật (Điều 34 Luật NKT năm 2010)

Để NSDLĐ sẵn sàng tiếp nhận NKT vào làm việc, Nhà nước đã ban hành

một số quy định về việc ưu đãi, hỗ trợ dành cho cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng lao động là NKT Theo đó, khi NSDLĐ đáp ứng các điều kiện này sẽ được hưởng

một số ưu đãi nhằm khuyến khích NSDLĐ tự nguyện nhận NKT vào làm việc

Trang 37

Về đối tượng được hưởng ưu đãi: Điều 34 Luật NKT năm 2010 quy định đối tượng được hưởng ưu đãi là các cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ

ộng trở lên là NKT Tuy pháp luật không quy định cụ thể về các cơ sở này nhưng có thể thấy đây phải là cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh Tức là phải được thành lập hợp pháp, có hoạt động sản xuất hoặc kinh doanh một hoặc một số mặt hàng trên thực tế mà cơ quan nhà nước có thể quản lý và có một số lượng người lao động nhất định mà trong đó tổng số NKT chiếm tối thiểu 30%

Về điều kiện để được hưởng ưu đãi: Ngoài điều kiện về cơ sở sản xuất, kinh doanh thành lập và hoạt động hợp pháp còn cần điều kiện là phải sử dụng từ 30% tổng số lao động là NKT Đối với quy định này, còn tồn tại một số hạn chế như sau:

- Pháp luật không quy định cụ thể là tỷ lệ 30% này áp dụng với doanh nghiệp có tối thiểu bao nhiêu người lao động mà chỉ quy định chung chung với mọi doanh nghiệp Điều này dẫn tới việc có những doanh nghiệp quy mô nhỏ, ít người lao động sẽ không thể đáp ứng điều kiện này trừ khi đó là doanh nghiệp của riêng NKT Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất, kinh doanh cần có tư cách pháp nhân, được thành lập hoặc cho phép thành lập theo quy định của nhà nước Ngoài những mô hình công ty thành lập theo quy định của Luật doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, những cơ sở sản xuất nhỏ lẻ theo hộ gia đình không ổn định, hoặc dưới hình thức truyền nghề, hoặc chỉ lớp dạy nghề nhỏ của NKT rất khó khăn để được công nhận

là một tổ chức có tư cách pháp nhân Vì thế, còn nhiều cơ sở của chính NKT chưa được hưởng những ưu đãi này

Với cơ quan nhà nước, Luật NKT giới hạn phạm vi NKT có thể tham gia làm việc đó là trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp Do đặc thù của hệ thống cơ quan nhà nước có một số cơ quan yêu cầu điều kiện sức khỏe đầy đủ để thực hiện nhiệm vụ nên không thể tiếp nhận NKT (cơ quan công an, bộ đội ) Với đơn vị hành chính sự nghiệp sử dụng từ 10 NKT làm việc ổn định được hưởng chính sách ưu đãi, hỗ trợ theo luật định18 Tuy vậy việc đánh giá NKT được vào làm việc ổn định thường không đơn giản Hơn nữa, việc thi tuyển vào cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp thường đòi hỏi những điều kiện về tiêu chuẩn sức khỏe đối với người ứng tuyển Tiêu chuẩn sức khỏe được đưa ra dựa trên đánh giá tổng thể về cơ thể của người ứng tuyển Vì vậy, NKT không vượt qua được điều kiện này sẽ không được vào làm việc tại đây

18 Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP hướng dẫn Luật người khuyết tật năm 2010

Trang 38

- Việc ấn định một tỷ lệ NKT làm việc nhất định trong cơ sở sản xuất, kinh doanh là điều kiện hưởng ưu đãi không đảm bảo tính khả thi trên thực tế Bởi lẽ, Luật NKT năm 2010 không đặt ra yêu cầu bắt buộc NSDLĐ phải nhận NKT vào làm việc, đồng thời không yêu cầu NSDLĐ không tiếp nhận NKT vào làm việc phải

có nghĩa vụ đối ứng nhằm bảo đảm hỗ trợ việc làm với NKT (đóng tiền vào quỹ việc làm) (tại Khoản 1 Điều 35 Luật NKT năm 2010) Do đó, NSDLĐ có quyền từ chối nhận NKT nhận vào làm việc dẫn tới không có nhiều doanh nghiệp đạt được tỷ

lệ này trên thực tế Vì vậy, quy định ưu đãi này không thực sự hấp dẫn và hiệu quả khi thực hiện trừ các doanh nghiệp do NKT tự làm chủ hoặc doanh nghiệp chuyên làm các lĩnh vực về NKT

Về các loại ưu đãi: Khi đáp ứng các điều kiện luật định, cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng lao động là NKT có thể được hưởng các ưu đãi sau: Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về thuế; Vay vốn ưu đãi theo dự

án phát triển sản xuất kinh doanh từ Ngân hàng Chính sách xã hội; Ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước theo quy định của pháp luật…19 Tuy nhiên, thực tế số lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh có số lượng NKT lớn không nhiều, chủ yếu là của chính những NKT tự tạo lập lên Hoặc có doanh nghiệp đạt về số lượng NKT làm việc nhưng không đảm bảo các điều kiện làm việc cho NKT trong khi có doanh nghiệp tiếp nhận ít NKT nhưng lại bảo đảm các điều kiện này lại không được hưởng

ưu đãi, hỗ trợ Vì vậy, các ưu đãi, hỗ trợ này chưa phát huy hiệu quả thu hút NSDLĐ tiếp nhận NKT vào làm việc trên thực tế

Thứ năm, người khuyết tật có quyền được tham gia và biểu đạt ý kiến tại

nơi làm việc và cử đại diện hợp pháp của họ tham gia vào một số vấn đề liên quan trực tiếp tới quyền lợi của họ

Về việc tham vấn ý kiến của NKT: Bên cạnh việc bảo đảm điều kiện làm

việc phù hợp cho NKT, Khoản 2 Điều 177 BLLĐ năm 2012 quy định: “Người sử

dụng lao động phải tham khảo ý kiến lao động là NKT khi quyết định những vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích của họ” Trong quá trình làm việc, NKT được hưởng

đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một người lao động Việc tham khảo ý kiến của người lao động trong các vấn đề liên quan tới lợi ích của họ không chỉ dành riêng cho lao động là NKT Tuy nhiên, với lao động là NKT cần phải bảo đảm quyền được tham khảo ý kiến nhiều hơn Bởi lẽ, khi đưa ra một quyết định có ảnh hưởng

19

Khoản 1 Điều 9 Nghị Định số 28/2012/NĐ-CP của Chính Phủ hướng dẫn Luật NKT năm 2010

Trang 39

trực tiếp tới NKT để bảo đảm sự phù hợp với họ cần ưu tiên lấy ý kiến của NKT trước Một trong những nguyên tắc khi làm việc với đối tượng này là “không suy đoán chủ quan” Cùng với đó, để bảo đảm lợi ích cho NKT cần thực hiện quy tắc

“không có gì về chúng tôi mà không có chúng tôi”20

Tuy nhiên, pháp luật lao động chưa quy định chi tiết về cách thức lấy ý kiến của NKT (khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn…) Mỗi dạng khuyết tật lại ảnh hưởng NKT ở mức độ khác nhau nên cần phải có cách thức lấy ý kiến phù hợp Ngoài ra, để bảo đảm NKT được lấy ý kiến đầy đủ, NSDLĐ có thể thông qua các tổ chức đại diện cho người lao động như công đoàn Để làm được vậy cần bảo đảm cho NKT có thể thực hiện quyền tham gia công đoàn, nghiệp đoàn trên cơ sở bình đẳng với những người khác (Điểm c Khoản 1 Điều 27 CRPD) Như vậy, pháp luật nên đặt ra yêu cầu đối với NSDLĐ khi lấy ý kiến của NKT đó là phải có cách thức lấy ý kiến phù hợp với dạng khuyết tật của NKT

Về việc cử người đại diện hợp pháp của NKT tham gia vào một số hoạt động liên quan trực tiếp tới quyền lợi của họ: Pháp luật hiện hành chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về người đại diện cho NKT tham gia vào các vấn đề liên quan tới quyền lợi trực tiếp của họ Việc bảo vệ quyền lợi cho người lao động nói chung tại doanh nghiệp hiện đang do tổ chức công đoàn đảm nhiệm Tuy vậy, do NKT là lao động đặc thù nên sự hỗ trợ của công đoàn cũng cần phải bảo đảm sự phù hợp với lao động này Hiện nay pháp luật chưa quy định về thành phần của công đoàn cần phải có người có thể hiểu và làm việc với lao động là NKT Ví dụ là người có thể sử dụng ngôn ngữ ký hiệu hoặc đọc được chữ nổi Braille Vì vậy khi NKT cần sự hỗ trợ thì việc họ có nhận được sự hỗ trợ phù hợp hay không lại phụ thuộc vào công đoàn Trong khi đó, người đại diện cho NKT có thể là người đứng đầu của Hội NKT, câu lạc bộ NKT hoặc người giám hộ, đại diện cho NKT Họ là những người

có điều kiện hiểu rõ về tình trạng khuyết tật và có thể hỗ trợ kịp thời cho NKT nhưng chưa được ghi nhận vai trò một cách rõ ràng trong văn bản pháp luật

Thứ sáu, Khoản 4 Điều 33 Luật NKT năm 2010 quy định rằng “…NKT

phải thực hiện đầy đủ quy định của pháp luậ ộng đối với lao động là NKT”

Tuy nhiên, đây là quy định chưa cụ thể về quyền của lao động là NKT Khi nói tới quyền của người lao động sẽ bao gồm việc được bảo đảm tiền lương, vị trí làm việc,

20 Không có gì về chúng tôi mà không có chúng tôi (James I Charlton, 2000, Nothing About Us Without Us- Disability Oppression and Empowerment, truy cập tại địa chỉ:

http://www.ucpress.edu/book.php?isbn=9780520224810 , ngày 15/7/2017)

Trang 40

cơ hội thăng tiến, đào tạo nghề, luân chuyển công việc, sửa đổi hợp đồng lao động, chấm dứt hợp đồng lao động… Việc quy định chưa rõ ràng này tạo ra khoảng trống pháp lý dẫn tới NKT chưa được bảo đảm các quyền hợp pháp của người lao động trên thực tế Pháp luật việc làm chỉ dừng lại ở việc bảo đảm cơ hội cho NKT khi tuyển dụng, các điều kiện làm việc trong quá trình lao động song chưa quy định về việc được hưởng lương bình đẳng, được thăng tiến không phân biệt đối xử hay được chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp

2.1.2.2 Quyền việc làm và nội dung việc làm đối với người khuyết tật tự tạo việc làm

Là một trong lực lượng lao động của thị trường kinh tế Việt Nam, NKT khi

được tạo điều kiện đều bằng khả năng của họ để đạt được sự độc lập, chủ động trong công việc Bên cạnh hình thức làm việc cho chủ sử dụng lao động, NKT vẫn

có thể tự làm chủ kinh tế, tự tạo việc làm cho mình Vì thế, pháp luật hiện hành đã

có một số quy định về hỗ trợ NKT tự tạo việc làm nhằm khuyến khích, động viên NKT nâng cao năng lực, tự chủ cuộc sống

Thứ nhất, người khuyết tật được đào tạo nghề để có thể chủ động tạo việc

làm hoặc gia nhập vào thị trường lao động

NKT cũng như các đối tượng khác, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ khi tham

gia vào các quan hệ xã hội NKT có quyền được học nghề để có năng lực nghề nghiệp, tự tạo lập việc làm Việc học nghề của NKT hiện nay đã được Nhà nước quan tâm với việc đặt ra các chính sách hỗ trợ cụ thể như mở các chương trình dạy nghề ngắn hạn cho NKT; hỗ trợ kỹ thuật, tài chính cho NKT tạo lập việc làm; hỗ trợ vốn vay ưu đãi …Qua quá trình học nghề, NKT có thể tự tạo việc làm bằng những

gì đã học hoặc có việc làm do cơ sở dạy nghề cam kết hỗ trợ Tuy nhiên, chính sách đào tạo nghề cho NKT hiện nay vẫn còn một số hạn chế dẫn tới việc NKT học xong cũng không thể tạo được việc làm từ nghề này hoặc bỏ dở quá trình học nghề

- NKT phải đảm bảo các điều kiện để được hỗ trợ đào tạo quy định tại Điều

4 Thông tư 152/2016/TT-BTC quy định quản lý và sử dụng kinh phí hỗ trợ đào tạo

trình độ sơ cấp và đào tạo dưới 3 tháng như quy định về độ tuổi lao động (nữ từ đủ

15-55 tuổi; nam từ đủ 15-60 tuổi), có nhu cầu học nghề, có trình độ học vấn; trường hợp học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động thì phải đủ

14 tuổi; 2 Có phương án tự tạo việc làm sau học nghề đảm bảo tính khả thi theo xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc được đơn vị sử dụng lao động cam kết tuyển dụng hoặc có đơn vị cam kết bao tiêu sản phẩm sau học nghề” Có thể thấy,

Ngày đăng: 24/11/2018, 15:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w