chủ thểsử dụng, quản lý tiết kiệm, hiệu quả; Quyền của người sử dụng đất được mở rộng tạo tâm lý yên tâm sản xuất, sử dụng đất thêm hiệu quả; Đảm bảo được công bằng, ổn định cơ bản tình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TẠ THỊ VÂN ANH
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TẠ THỊ VÂN ANH
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Đất đai
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thu Thủy
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 3Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Phạm Thu Thủy, giảng viên trường Đại học Luật Hà Nội, người đã trực tiếp hướng dẫn tôi nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn thạc sĩ
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Đào tạo, Khoa Sau Đại học, các thầy cô trong tổ Bộ môn Luật đất đai, khoa Pháp luật Kinh
tế, trường Đại học Luật Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quãng thời gian học tập sau đại học tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi và ủng hộ tôi hoàn thành luận văn này
Do kiến thức của bản thân và kinh nghiệm nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, các cô để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cám ơn./
Hà Nội, ngày 08 tháng 8 năm 2017
Học viên
Tạ Thị Vân Anh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi,
có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ Giảng viên hướng dẫn là TS Phạm Thu Thủy
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Hà Nội, ngày 08 tháng 08 năm 2017
Tác giả Luận văn
Tạ Thị Vân Anh
Trang 5BÀNG DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất : GCNQSDĐ
Trang 6TRANG
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
6
1.1 Lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 6
1.1.3 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 11 1.1.4 Quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 12 1.2 Pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 13 1.2.1 Khái niệm pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 13 1.2.2 Cơ sở xác lập quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở
1.2.3 Nội dung pháp luật điều chỉnh về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ
1.3 Quá trình phát triển của pháp luật đất đai về quyền sử dụng đất nông nghiệp
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN SỬ
2.1 Quy định của pháp luật đất đai về quyền được giao đất, cho thuê đất nông
2.2 Quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, hạn mức giao
đất, cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân 28 2.2.1 Thời hạn sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 28 2.2.2 Hạn mức giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân 30 2.3 Quy định của pháp luật đất đai về quyền được cấp GCNQSDĐ nông
Trang 7nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 39 2.4.1 Quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 40 2.4.2 Quyền chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 43 2.4.3 Quyền tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 44 2.4.4 Quyền thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 45 2.4.5 Quyền được góp vốn quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 45 2.5 Quyền thực hiện các hoạt động khác liên quan đến đất nông nghiệp của hộ
2.5.1 Quyền cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 46 2.5.2 Quyền chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 47 2.5.3 Quyền thế chấp quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 48 2.6 Quy định của pháp luật đất đai về nghĩa vụ tài chính đối với việc sử dụng
2.6.1 Tiền sử dụng đất là tiền thuê đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân 49 2.6.2 Thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất
2.7 Các nghĩa vụ tài chính khác của hộ gia đình, cá nhân khi sử dụng đất nông nghiệp 55 2.8 Quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
2.8.1 Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi
Trang 8CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
3.1 Tình hình thực hiện quy định pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp
3.2 Hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quy định về
3.2.1 Những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền sử
3.2.2 Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và quản lý đất nông nghiệp ở
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thực tế đã chứng minh đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với đời sống con người Đất đai là địa bàn sống mà thiếu nó ta không thể tồn tại và phát triển sự sống Nó
là tài sản đặc biệt của quốc gia, là nguồn nội lực quan trọng và nguồn vốn to lớn của đất nước Đất còn được coi là tài sản và có thể được định giá trên thị trường, được trao đổi, được thừa kế hoặc tặng cho, thế chấp… Đất đai là nguồn tài nguyên quan trọng để phát triển kinh
tế nhất là đối với ngành nông nghiệp, là tư liệu sản xuất chủ yếu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định tính đa dạng, quy mô và hiệu quả của sản phẩm nông nghiệp
Ở nước ta, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế then chốt và ảnh hưởng lớn đến khu vực kinh tế nông thôn Lịch sử phát triển của dân tộc ta từ xưa đến nay cho thấy sự phát triển hưng thịnh của đất nước nói chung và nông nghiệp, nông thôn nói riêng một phần rất lớn phụ thuộc vào chính sách ruộng đất của Nhà nước Ý thức được tầm quan trọng đặc biệt của đất nông nghiệp, Đảng và Nhà nước đã luôn quan tâm đến việc đề ra những chủ trương, chính sách đối với đất nông nghiệp để phù hợp với từng giai đoạn phát triển
và thu được nhiều thành quả Trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay, chính sách và pháp luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp luôn được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quan hệ sử dụng đất trên thực tiễn nhằm khai thác và sử dụng hợp lý đất nông nghiệp, góp phần phát triển kinh tế - xã hội
Bên cạnh tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp với tư liệu sản xuất không thể thiếu là đất nông nghiệp khiến việc xây dựng chế định pháp lý về đất nông nghiệp được quan tâm đặc biệt thì thực trạng sử dụng đất nông nghiệp hiện nay cũng đang tồn tại nhiều bất cập, đòi hỏi sự quan tâm đến việc sử dụng sao cho hiệu quả loại đất này Hiện nay, đất nông nghiệp ngày càng suy giảm nhanh chóng do phải thu hồi nhiều diện tích đất phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ sản xuất công nghiệp, xây dựng đô thị hay vì nhiều mục đích khác nhau Mặt khác nhiều năm gần đây hiện tượng biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, các thảm hoạ thiên tai luôn đe doạ đến diện tích đất đai và ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề an ninh lương thực quốc gia Vì vậy, vấn đề sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp là rất cấp bách và cần thiết
Hộ gia đình, cá nhân là chủ thể sử dụng đất cơ bản, chiếm số lượng lớn trong các chủ thể tham gia các quan hệ liên quan đến đất nông nghiệp, đồng thời hiện đang chiếm giữ, khai thác và sử dụng diện tích lớn đất nông nghiệp Để đảm bảo nguồn tài nguyên đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng được khai thác, sử dụng hợp lý, pháp luật
đã quan tâm xây dựng quy định về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân Thực tế chính sách pháp luật về đất nông nghiệp trong thời gian qua đã đạt được những thành tựu không nhỏ: Đất nông nghiệp đã được Nhà nước giao, cho thuê tới các
Trang 10chủ thểsử dụng, quản lý tiết kiệm, hiệu quả; Quyền của người sử dụng đất được mở rộng tạo tâm lý yên tâm sản xuất, sử dụng đất thêm hiệu quả; Đảm bảo được công bằng, ổn định cơ bản tình hình chính trị, kinh tế, xã hội… Bên cạnh những điểm tiến bộ vẫn còn tồn tại không ít những hạn chế trong quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình cá nhân, trong việc quy định về hạn mức giao đất, thời hạn sử dụng đất; thu hồi và hỗ trợ bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp…cùng nhiều vấn đề có liên quan khác Đứng trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp cần phải có những điều chỉnh sao cho phù hợp với yêu cầu của tình hình thực tế, khắc phục những hạn chế để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh việc sử dụng đất còn tồn tại nhiều bất cập như hiện nay
Xuất phát từ ý nghĩa đặc biệt quan trọng của đất nông nghiệp trong mọi mặt của đời sống xã hội, tác động tới nhiều chủ thể khác nhau trong đó có hộ gia đình, cá nhân; từ thực tế sử dụng đất còn nhiều bất cập cũng như quy định của pháp luật điều chỉnh còn tồn
tại những kẽ hở, tác giả luận văn xin lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân” Với đề tài này, luận văn mong muốn góp phần
phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của chủ thể cụ thể là hộ gia đình, cá nhân Từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện, khắc phục những hạn chế, phát huy những điểm tích cực trong quy định pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp Trên cơ sở đó nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trong bối cảnh tình hình sử dụng đất còn tồn tại nhiều bất cập như hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ vai trò quan trọng của đất nông nghiệp mà những vấn đề pháp lý liên quan đến loại đất này đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến những cuốn sách chuyên khảo đã được xuất bản nghiên cứu về chính sách đất nông nghiệp như:
“Về chính sách đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay” – PGS.TS Trần Thị Minh Châu chủ biên (Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2007); cuốn“Chính sách đất đai nông nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới: Thực trạng và những vấn đề đặt ra” – Ths Nguyễn Mạnh
Tuân (Khoa Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2003-2004); Trung tâm nghiên cứu
nông nghiệp quốc tế của Australia có dự án về “Phát triển nông nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam”, Shally P.Marsh, T.Gordon MacAulay và Phạm Văn Hùng biên tập, năm 2007
Về các đề tài luận văn, luận án nghiên cứu liên quan đến các chế định của pháp luật đất nông nghiệp có thể kể đến: Luận án tiến sĩ luật học của thầy Nguyễn Quang Tuyến
(năm 2003): “Địa vị pháp lý người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai” nghiên cứu về các quy định của pháp luật, địa vị của người sử dụng đất nói chung; Luận án tiến sĩ Luật học của cô Phạm Thu Thủy (năm 2014): “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp” nghiên cứu các chế định pháp lý liên quan đến vấn đề
thu hồi đất nông nghiệp trong sự so sánh giữa Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm
Trang 112013 sắp có hiệu lực… Luận văn thạc sĩ: “Chế định pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Thái Anh Hùng (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 1998) mặc dù ; “Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng tại Nghệ An”,
Hoàng Thị Thu Trang (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2012)… Nhìn chung các đề tài nghiên cứu thường đi sâu vào vấn đề cụ thể có liên quan đến chế định pháp lý về đất nông nghiệp, ít nghiên cứu theo cách tiếp cận từ quyền của chủ thể cụ thể sử dụng đất
Bên cạnh đó, trong những năm qua cũng có nhiều bài nghiên cứu, bài báo về vấn
đề đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp Có thể kể đến: “Chính sách đất nông nghiệp ở Việt Nam” – Trần Thị Minh Châu (Tạp chí Cộng sản, TƯ Đảng cộng sản Việt Nam, số 824 – 06/2011); “Hoàn thiện quy định của Luật đất đai năm 2003 về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp” – Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Ngọc Minh (Tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Số 09/2012); “Pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp” – Lê Ngọc Thạnh (Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư Pháp,
Số 04/2013); “Về hạn mức đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân theo dự thảo Luật đất đai sửa đổi” – Nguyễn Thị Kiều Oanh (Tạp chí Khoa học pháp lý, trường Đại
học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Đặc san 01/2013)…
Mặc dù có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về đất nông nghiệp nói chung cũng như những vấn đề pháp lý cụ thể liên quan đến loại đất này tuy nhiên lại chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu các vấn đề pháp lý đất nông nghiệp dưới góc độ quyền của chủ thể sử dụng đất, mà cụ thể là hộ gia đình, cá nhân Các công trình nghiên cứu về các chế định pháp luật đất đai liên quan đến đất nông nghiệp nêu trên là nguồn tài liệu quý giá để tác giả tham khảo, kế thừa trong công trình nghiên cứu của mình Xuất phát từ tình hình nghiên cứu kể trên có thể thấy đề tài tìm hiểu quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đảm bảo được tính mới khi tiếp cận vấn đề dưới góc độ chủ thể, từ đó làm rõ các vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của chủ thể sử dụng đất nông nghiệp
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định liên quan đến
chế độ pháp lý về quyền sử dụng đất nông nghiệp của nhóm chủ thể hộ gia đình, cá nhân Các nội dung chủ yếu được khai thác phân tích đánh giá như: quy định của pháp luật về giao đất, cho thuê đất nông nghiệp; về cấp GCNQSDĐ nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân; quy định về quyền chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho, chuyển đổi, thừa kế, góp vốn… quyền sử dụng đất, các nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất, cũng như vấn đề thu hồi đất nông nghiệp khi tham gia quan hệ sử dụng đất
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định pháp lý về
quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên cơ sở các quy định của pháp luật đất đai hiện hành và có sự đối chiếu so sánh với pháp luật đất đai qua các thời kỳ Trong đó đi sâu phân tích, đánh giá và đưa ra những giải pháp liên quan đến quyền sử dụng
Trang 12đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên các phương diện: quyền năng chủ thể (quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế…), các quy định pháp luật về giao đất, cho thuê đất nông nghiệp, hoạt động cấp GCNQSDĐ, việc bảo đảm quyền lợi cho hộ gia đình
cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp được quy định tại Luật Đất đai năm 2013
và các văn bản hướng dẫn thi hành Từ đó đề cập đến thực trạng các quy định pháp luật từ khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực đến nay, đồng thời đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy hiệu quả áp dụng những quy định của pháp luật vào thực tiễn
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Đề tài hướng đến việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá những quy định của pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân:
Thứ nhất, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đất nông nghiệp, quyền sử dụng đất, quyền
sử dụng nông nghiệp nói chung và quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nói riêng
Thứ hai, nghiên cứu một cách hệ thống các quy định của pháp luật về quyền sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trong các văn bản pháp luật đất đai và các luật khác Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật đất đai liên quan đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân xuyên suốt trong tiến trình phát triển để chỉ ra những điểm tích cực tiến bộ, rút ra những hạn chế
Thứ ba, qua việc phân tích đánh giá các quy định của pháp luật đất đai, luận văn
đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật, đồng thời đưa ra những giải pháp, hướng hoàn thiện những hạn chế còn tồn tại trong quy định của pháp luật liên quan đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
5 Phương pháp nghiên cứu luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu:Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin;Phương pháp luận giải, phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử…được sử dụng trong Chương I khi nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận và khái quát chung về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân;Phương pháp phân tích dữ liệu, phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu…được sử dụng trong Chương II khi nghiên cứu quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân;Phương pháp bình luận, phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp… được sử dụng trong chương III khi đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân và tăng cường cơ chế quản lý thực thi của cơ quan Nhà nước
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn Luận văn là sự đóng góp mới mẻ vào hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học những vấn
Trang 13đề pháp lý về quyền sử dụng đất nông nghiệp, làm rõ hệ thống lý luận, những vấn đề pháp lý cơ bản về đất nông nghiệp và quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân Từ đó có những nhận thức mới để sử dụng có hiệu quả đất nông nghiệp trong hoạt động khai thác, nhất là trong điều kiện hội nhập hiện nay Trên thực tế, bằng những đánh giá, kiến nghị, luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo để xây dựng, triển khai những kế hoạch tăng cường hiệu quả thực thi các quy định pháp luật trên thực tế.Qua phân tích thực trạng của vấn đề pháp lý và thực tiễn trong việc sử dụng đất nông nghiệp tạo cơ sở xây dựng chính sách pháp luật, góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động khai thác sử dụng đất nông nghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, bảng các từ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp và pháp luật về
quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Chương 2: Quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của
pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn thi hành pháp luật và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sử
dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Trang 14CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
1.1 Lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại đất nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm đất nông nghiệp
Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người,
là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá tham gia vào tất cả các hoạt động của đời sống kinh
tế, xã hội Dù đóng vai trò nền tảng cơ bản hay bổ trợ thì mọi ngành kinh tế cũng như hoạt động sống của con người đều phụ thuộc vào đất đai Có rất nhiều định nghĩa về đất
đã được thừa nhận trong hệ thống tri thức chung của loài người Theo Từ điển Oxford
Advanced Learner’s Dictionary có định nghĩa: Đất (land) “là phần rắn khô của bề mặt trái đất, đối lập với nước” 1 Từ điển Webster’s New World Dictionary định nghĩa đất
(land): “(1) phần rắn của bề mặt trái đất không bị bao phủ bởi nước; (2) phần cụ thể của
bề mặt trái đất; (3) đất, nước, vùng…cư dân của vùng, người của một quốc gia; (4) mặt đất hoặc phần rắn xét ở khía cạnh tính chất, địa điểm tọa lạc; (5) đất xem xét dưới góc
độ tài sản…” 2 Ở Việt Nam, khái niệm đất được ghi nhận trong Từ điển Bách khoa Việt
Nam I , theo đó: “đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ trái đất, tương đối tơi xốp do các loại
đá phong hóa ra, độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được Đất được hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ Đất có độ phì nhiêu ít hay nhiều và bao gồm các thành phần chất rắn, chất lỏng (dung dịch đất), chất khí và sinh vật (động, thực vật, vi sinh vật) […] Trong nông, lâm nghiệp, đất được phân hạng thành các loại theo khả năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ đất: đất rừng, đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm, đất chăn thả, đất thổ cư, đất chuyên dùng (giao thông, xây dựng, thủy lợi,
du lịch…)”3 Mỗi ngành khoa học lạicó cách tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa về đất đai Đối với ngành khoa học nghiên cứu thổ nhưỡng, đất đai được tiếp cận với tư cách
là đối tượng nghiên cứu nhằm làm rõ quá trình hình thành, quy luật phân bố các loại đất trên địa cầu cùng những đặc tính khác nhau của các loại đất.Đối với ngành luật, đất đai là đối tượng được tiếp cận trên cơ sở nghiên cứu vàquy định những quyền và nghĩa vụ quản
1 Oxford University Press (2015), Oxford Advanced Leaner’s Dictionary, Nxb Oxford University Press, tr 661
2 Michael E Agnes (1996), Webster’s New World Dictionary, Nxb Macmillan, tr 756
3 Hội đồng biên soạn từ điển quốc gia Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam I, Nxb Trung tâm biên
soạn từ điển quốc gia Việt Nam, Hà Nội
Trang 15cho ngành sản xuất nông nghiệp, sử dụng có hệ thống và kiểm soát các hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là chăn nuôi gia súc và sản xuất cây trồng Nó thường đồng nghĩa với đất canh tác hoặc đất trồng trọt…” 4
Còn theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam thì đất nông nghiệp thường được hiểu là đất trồng lúa, cây hoa màu (ngô, khoai, sắn…) và những loại cây được coi là lương thực Tuy nhiên trên thực tế, việc
sử dụng đất nông nghiệp tương đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào những mục đích khác5.Như vậy, thuật ngữ đất nông nghiệp có thể hiểu là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng
Tiếp cận dưới phương diện pháp luật, pháp luật đất đai nước ta qua các thời kỳ cũngcó những định nghĩa về đất nông nghiệp Theo quy định tại Điều 42 Luật Đất đai năm 1993 đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.Việc xác định đất nông nghiệp theo quy định của pháp luật căn cứ vào tiêu
chí mục đích sử dụng chủ yếu.Điều 2 Nghị định số 64/CP năm 1993 quy định: “Đất nông nghiệp giao cho hộ gia đình, cá nhân vào mục đích sản xuất nông nghiệp bao gồm đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản ” Có thể thấy khái niệm này không bao quát hết các loại đất sử
dụng vào mục đích nông nghiệp Chính vì vậy Luật Đất đai năm 2003 ra đời hay sau đó
là Luật đất đai năm 2013 đã mở rộng nội hàm khái niệm đất nông nghiệp, phân loại đất thành ba nhóm căn cứ vào mục đích sử dụng đất
1.1.1.2 Đặc điểm đất nông nghiệp
Thứ nhất, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất đặc biệt và chủ yếu.Tính chất là
một loại tư liệu sản xuất đặc biệt thể hiện ở chỗ đây là tư liệu sản xuất không thể thay thế được của một số ngành nông – lâm nghiệp, là cơ sở tự nhiên và tiền đềcho mọi quá trình sản xuất Đất nông nghiệp vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động Trong một
số trường hợp đất là đối tượng lao động mà con người phải sử dụng tư liệu lao động để tác động tạo ra sản phẩm Chính sự kết hợp của đối tượng lao động là tư liệu lao động làm cho đất nông nghiệp trở thành tư liệu sản xuất đặc biệt Đất nông nghiệp cũng mang đặc điểm của đất đai nói chung là tư liệu sản xuất chủ yếu, cơ bản nhất bởi xây dựng và phát triển hoạt động sản xuất nào cũng phải dựa trên nền tảng là đất
Thứ hai, đất nông nghiệp có vị trí cố định, không thể di chuyển Đất đai nói
chung và đất nông nghiệp nói riêng là tài nguyên thiên nhiên có vị trí cố định Trong khi các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển linh hoạt dựa trên nhu cầu sản xuất thì loại tư liệu đặc biệt này thì không Chính bởi vị trí cố định của nó nên tính chất của đất nông nghiệp gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng, gắn với sự chi phối
Trang 16đặc thù của khí hậu, địa hình, độ màu…của từng vùng mà từ đó có những điều kiện để phát triển riêng từng loại cây trồng, vật nuôi Có thể nói tính chất của từng loại đất nông nghiệp quyết định đến địnhhướng phát triển loại sản phẩm nông nghiệp riêng của từng khu vực
Thứ ba, đất nông nghiệp vừa là sản phẩm tự nhiên, vừa là sản phẩm của sức lao động con người Đất nông nghiệp vốn là sản phẩm của tự nhiên, nó xuất hiện và tồn
tại ngoài ý muốn của con người Đất nông nghiệp được hình thành do những quá trình biến đổi của tự nhiên và do con người tiến hành khai phá, đưa vào sử dụng Tuy nhiên qua một quá trình lịch sử lâu dài, sự lao động của con người qua nhiều thế hệ đã được kết tinh vào đất nông nghiệp Do đó, ngày nay đất nông nghiệp vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động
Thứ tư, đất nông nghiệp có chất lượng không đồng đều Đất nông nghiệp không
đồng nhất về chất lượng do sự khác nhau giữa các yếu tố dinh dưỡng là kết quảcủa quá trình hình thành đất và quá trình canh tác của con người Chính vì vậy, phụ thuộc vào đặc tính vốn có của đất mà con người có thể cải tạo để định hướng phát triển một số loại cây trồng, vật nuôi phù hợp với từng loại đất nhằm đạt hiệu quả kinh tế Chính bởi tính chất không đồng đều về chất lượng đất nông nghiệp khác nhau mà hình thành những vùng nông nghiệp chuyên canh khác nhau
1.1.1.3 Phân loại đất nông nghiệp Theo quan niệm ở Việt Nam, đất nông nghiệp được chia thành các loại như: 1) Đất sản xuất nông nghiệp: sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm 2) Đất lâm nghiệp: đất có rừng tự nhiên hoặc
rừng trồng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới Theo loại rừng lâm
nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng 3) Đất nuôi trồng thuỷ sản: sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thủy sản, gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt 4) Đất làm muối: đất các ruộng để sử dụng sản xuất muối 5)Đất nông nghiệp khác: đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà
kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm…, đất
để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, công cụ sản xuất nông nghiệp 6
Tiếp cận việc phân loại đất có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật về chế độ pháp lý đối với từng loại đất Trước Luật Đất đai năm 1987, các văn bản pháp luật quy định chế độ pháp lý ở nước ta chia đất đai thành 4 loại: đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất chuyên dùng và đất khác Căn cứ vào mục đích sử dụng của các loại đất, Luật Đất đai năm 1987 quy định đất đai được phân thành 5 loại: đất
6 Tổng cục thống kê (2011), Hệ thống chỉ tiêu thống kê ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn – Thông tin
chi tiết về khái niệm, nội dung phương pháp tính chỉ tiêu diện tích đất nông nghiệp
Trang 17nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư; đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng Sau này, tại Điều 11 Luật Đất đai năm 1993 quy định đất đai được chia thành 6 loại: đất nông nghiệp; đất lâm nghiệp; đất khu dân cư nông thôn; đất đô thị; đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng Cách phân loại này vừa dựa vào tiêu chí mục đích sử dụng chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây cho khó khăn cho công tác quản lý đất đai Để khắc phục hạn chế đó, Luật Đất đai năm 2003 đã chia đất đai làm ba nhóm bao gồm: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng Cách phân loại dựa trên tiêu chí duy nhất là mục đích sử dụng chủ yếu của đất tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình cũng như cho các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý đất đai Kế thừa những điểm tích cực đó, đến Luật Đất đai năm 2013 tiếp tục dựa trên căn cứ phân loại này Việc
sử dụng thuật ngữ “nhóm đất nông nghiệp” thay cho “đất nông nghiệp” thể hiện sự mở
rộng khái niệm của Luật Đất đai năm 2003 và năm 2013 so với các luật trước đó Theo
đó thuật ngữ nhóm đất nông nghiệp đã bao hàm được đầy đủ các loại đất thuộc đất nông nghiệp nói chung dựa trên sự đa dạng của mục đích sử dụng đất trong ngành nông nghiệp Khoản 1 Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 đã quy định nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất trồng cây lâu năm; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác
1.1.2 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
1.1.2.1 Ưu tiên bảo vệ và phát triển quỹ đất nông nghiệp
Việc bảo vệ đất nông nghiệp từ đâu đã có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ nền sản xuất nông nghiệp, đặc biệt bảo vệ diện tích đất trồng lúa bởi nó có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Chính vì vậy không chỉ ở Việt Nam mà đây trở thành xu hướng của các nước trên thế giới trong việc bảo vệ quỹ đất nông nghiệp, duy trì ở mức độ phù hợp để bảm đảo ngành nông nghiệp trong nước Ở Việt Nam, việc bảo
vệ đất nông nghiệp, phát triển quỹ đất nông nghiệp gắn liền với vấn đề an ninh lương thực trong nhiều năm qua đã được Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm, mang tínhchiến lược phát triển bền vững của quốc gia Nguyên tắc này được thể chế hóa trong các quy định của pháp luật đất đai và cụ thể là Luật Đất đai năm 2013 Theo đó, Nhà nước hạn chế đến mức thấp nhất việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang sử dụng với mục đích khác; ưu tiên hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được Nhà nước giao đất nông nghiệp trong hạn mức thì không phải nộp tiền sử dụng đất; không được tùy tiện mở rộng khu dân cư trên đất nông nghiệp, hạn chế việc lập mới trên diện tích đất trồng lúa; Nhà nước thực hiện chính sách khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức khai hoang, phục hóa, lấn biển, để mở rộng diện tích đất nông nghiệp Những quan điểm này đều được thể hiện ở các điều luật cụ thể trong Luật Đất đai năm 2013, thể hiện sự khuyến khích phát triển quỹ đất nông nghiệp bằng những chính
Trang 18sách ưu đãi về quyền sử dụng đất, nghĩa vụ tài chính khi sử dụng đất,… Đồng thời cũng đưa ra những quy định thể hiện sự ràng buộc chặt chẽ nhằm hạn chế việc sử dụng lãng phí, làm thu hẹp diện tích đất sản xuất nông nghiệp
1.1.2.2 Sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt, hiệu quả, tiết kiệm, bền vững
Sử dụng linh hoạt đất nông nghiệp được hiểu là người sử dụng đất có thể chuyển đổi việc sử dụng đất canh tác vào nhiều mục đích sản xuất nông nghiệpkhác nhau sao cho phù hợp với điều kiện và cơ hội sản xuất nhằm đa dạng hóa cơ cấu cây trồng, vật nuôi và
sử dụng đất áp dụng công nghệ sản xuất thích hợp Việc sử dụng linh hoạt không đồng nhất với việc sử dụng đất nông nghiệp trái với mục đích được giao mà chỉ sử dụng linh hoạt trong hoạt động sản xuất nông nghiệp.Việc sử dụng đất nông nghiệp linh hoạt có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển như hiện nay Bởi nó cho phép hộ nông dân có thể điều chỉnh phù hợp với những biến động của thị trường về giá
cả, xu hướng tiêu dùng, nhu cầu tiêu thụ… Từ đó có điều kiện tiết kiệm chi phí, giảm tổn thất và tăng thu nhập, giảm bớt rủi ro trong sản xuất nông nghiệp Đất đai với quốc gia nào cũng vậy đều là nguồn tài nguyên có hạn, đặc biệt trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước như ở Việt Nam hiện nay thì việc sử dụng đất nông nghiệp còn phải đảm bảo hợp lý, tiết kiệm trên cơ sở Nhà nước có chính sách sử dụng đất đai đúng đắn, bảo đảm cho người nông dân có đất để sản xuất Việc sử dụng tài nguyên đất hiệu quả, tiết kiệm, hợp lý có ý nghĩa quan trọng và nó càng cần thiết hơn đối với đất nông nghiệp xuất phát từ ý nghĩa của loại đất này cũng như thực trạng sử dụng đất có nhiều biến động đáng lo ngại trong thời gian qua Chính vì vậy việc đưa ra nguyên tắc này là hợp lý cho thấy sự quan tâm đúng đắn của Nhà nước trong việc sử dụng hợp lý đất nông nghiệp ở Việt Nam
1.1.3 Khái niệm quyền sử dụng đất nông nghiệp
Trong quá trình phát triển, mỗi quốc gia đều quan tâm đến việc xác lập hình thức
sở hữu đất đai, vấn đề quản lý và sử dụng đất Nói đến “quyền sử dụng” thường gợi ta
nghĩ đến một trong ba quyền năng của chủ sở hữu tài sản bên cạnh quyền chiếm hữu và quyền định đoạt Quyền sử dụng có thể hiểu là quyền khai thác công dụng và được hưởng hoa lợi, lợi tức từ một tài sản Theo quan niệm của các nước, đặc biệt là các nước theo hệ thống châu Âu lục địa, thì quyền sử dụng là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu7
Xét về khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó giúp thoả mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ thể sử dụng trong quá trình sử dụng đất
Ở mỗi nước do điều kiện, hoàn cảnh khác nhau mà cóhình thức sở hữu đất đai và phương thức sử dụng đất khác nhau Ở Anh, đất đai thuộc sở hữu của Nữ hoàng và Nữ hoàng cho dân thuê sử dụng, người sử dụng đất có các quyền năng đối với đất đai (trong
đó có quyền được chuyển nhượng quyền sử dụng đất) Ở Trung Quốc, đất đai thuộc sở
7 PGS TS Trần Thị Cúc, ThS Nguyễn Phúc Thiện (2015), Bảo đảm thực thi quyền sử dụng đất nông nghiệp
trong quá trình hội nhập quốc tế, Dân chủ và Pháp luật
Trang 19hữu nhà nước, gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong đó toàn bộ đất đai thành thị thuộc về sở hữu nhà nước; đất nông thôn và ngoại ô thành phố một bộ phận thuộc sở hữu tập thể Ở Việt Nam, nước ta thừa nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong khi các nước khác trên thế giới ngoài một số nước tồn tại song song sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể về đất đai thì đa phần đều thừa nhận chế độ sở hữu tư nhân về đất đai
Nghiên cứu về khái niệm “quyền sử dụng đất”, khoa học pháp lý nước ta tiếp cận
trên hai phương diện: chủ quan và khách quan
Thứ nhất, khái niệm “quyền sử dụng đất” được tiếp cận trên phương diện
chủ quan Theo phương diện này, quyền sử dụng đất là quyền năng của người sử dụng đất trong việc khai thác, sử dụng các thuộc tính có ích của đất để đem lại một lợi ích vật chất nhất định và được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Từ điển Luật học do Viện Khoa học
pháp lý (Bộ Tư pháp) biên soạn quan niệm: “Quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ việc sử dụng đất được nhà nước giao, cho thuê hoặc được chuyển giao từ những chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho từ những chủ thể có quyền sử dụng;…” Giáo trình Luật Đất đai – Trường Đại học Luật Hà Nội có định nghĩa: “Quyền
sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước…” Như vậy, xét trên phương diện chủ quan,
quyền sử dụng đất là một quyền năng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng nhằm khai thác các thuộc tính có ích của đất đai và mang lại lợi ích vật chất nhất định cho họ Theo phương diện này, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng
Thứ hai, khái niệm “quyền sử dụng đất” được tiếp cận trên phương diện
khách quan Quyền sử dụng đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất Xét trên phương diện này, quyền sử dụng đất với tư cách là một chế định pháp luật bao gồm các quy định làm căn cứ phát sinh, thay đổi và chấm dứt quyền sử dụng đất Pháp luật có các quy định về giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và các quy định về cấp GCNQSDĐ; giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp, xử lý vi phạm pháp luật về quyền sử dụng đất…
Như vậy, quyền sử dụng đất được quan niệm trên hai phương diện Theo phương diện chủ quan, đây là quyền của người sử dụng đất được khai thác các thuộc tính của đất đai để mang lại cho mình một lợi ích vật chất nhất định Theo phương diện khách quan, quyền sử dụng đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai gồm tổng hợp các
quy phạm pháp luật quy định và bảo vệ quyền sử dụng đất của các chủ thể.Nói tóm lại,
quyền sử dụng đất được hiểu là những quyền năng sử dụng đất cụ thể, được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất
Trang 20Từ việc tiếp cận khái niệm chung về quyền sử dụng đất, ta có thể hiểu về quyền sử
dụng đất nông nghiệp trên hai phương diện chủ quan và khách quan Xét trên phương diện chủ quan, quyền sử dụng đất nông nghiệp được hiểu là quyền của một tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân (người sử dụng đất) được chiếm hữu, sử dụng một diện tích đất nhất
định nhằm khai thác công năng có ích của đất vào mục đích nông nghiệp.Xét trên phương diện khách quan, quyền sử dụng đất nông nghiệp được hiểu là một chế định pháp luật đất
đai gồm tổng hợp các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp nhằm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm Như vậy, quyền sử dụng đất nông nghiệp không đơn thuần chỉ là quyền của người sử dụng đất khai thác các thuộc tính có ích của đất trong sản xuất nông nghiệp nhằm tạo ra của cải, vật chất cho xã hội, tiếp cận trên phương diện pháp lý, quyền sử dụng đất nông nghiệp trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của người sử dụng đất, được phép tham gia các giao dịch mang tính chất dân sự, thương mại trên thị trường, được thừa kế cho các đối tượng được hưởng thừa kế theo quy định, được
sử dụng như một phương tiện bảo đảm trong quan hệ vay vốn, bảo lãnh đối với các tổ chức tín dụng, và được sử dụng như một loại tài sản góp vốn Như vậy,quyền sử dụng đất nông nghiệp là những quyền năng sử dụng đất nông nghiệp cụ thể, được Nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện đối với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình sử dụng đất
1.1.4 Quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Tìm hiểu về quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với một chủ thể cụ thể thì vấn đề
cơ bản cần hiểu về chủ thể đó Vậy hộ gia đình là gì? Từ điển Tiếng Việt không có khái
niệm hộ gia đình mà chỉ có khái niệm gia đình, được hiểu là “tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân
và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” Theo định nghĩa của Từ điển Cambridge thì hộ gia đình (household) là: “…một nhóm người, thường là một gia đình, những người sống cùng nhau” 8 Bách khoa toàn thư về Luật Hoa Kỳ định nghĩa hộ gia
đình là “các cá nhân trong một gia đình và cùng chung sống dưới cùng một mái nhà; cá nhân cùng cư trú tại một vị trí; Trong đó, tất cả những thành viên chịu sự kiểm soát của một người chủ hộ”9 Hộ gia đình ở Việt Nam thường được nhắc đến như một thuật ngữ pháp lý mà không được định nghĩa như một từ vựng thông thường Còn cá nhân được Từ
điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia định nghĩa là: “…một sinh vật (cơ thể sống) như con người, có các năng lực và thuộc tính tạo thành nhân vị tính (personhood) Khái niệm nhân vị tính được các tác giả định nghĩa khác nhau trong các chuyên ngành và các nền văn hóa khác nhau…” Còn theo Từ điển British Dictionary định nghĩa cá nhân: “trên phương diện xã hội học: đó là một con người cá nhân, đặc biệt là liên quan đến các mối quan hệ xã hội và các mẫu hành vi được điều chỉnh bởi văn hoá Theo quan điểm Triết
Trang 21học, cá nhân là một trạng thái tự ý thức hay lý trí con người…” Từ điển Tiếng Việt có
định nghĩa cá nhân là một con người riêng lẻ và phân biệt với tập thể, cộng đồng xã hội Tuy nhiên định nghĩa cá nhân nếu được tiếp cận theo quan điểm của những lĩnh vực riêng thì lại có những định nghĩa khác nhau
Nói đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của chủ thể cụ thể là hộ gia đình, cá nhân, xét trên phương diện chủ quan, quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được hiểu là quyền của hộ gia đình, cá nhân trong việc chiếm hữu, sử dụng một diện tích đất nhất định nhằm khai thác công năng có ích của đất vào mục đích nông nghiệp Xét trên phương diện khách quan, quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được hiểu là một chế định pháp luật đất đai gồm tổng hợp các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ sử dụng đất phát sinh trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nhằm hướng tới việc sử dụng đất đúng mục đích, hiệu quả, tiết kiệm Tiếp cận dưới góc độ pháp lý, quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được hiểu là khả năng của hộ gia đình, cá nhân được hưởng các quyền mà Nhà nước trao cho và đảm bảo thực hiện khi tham gia vào quan hệ
sử dụng đất nông nghiệp
1.2 Pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1.2.1 Khái niệm pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình,
cá nhân
Xét trên phương diện pháp luật đất đai ở Việt Nam, hộ gia đình, cá nhân luôn được xác lập địa vị pháp lý là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp được giao đất sử dụng ổn định, lâu dài Theo quy định tại BLDS năm 2005 xác định hộ gia đình là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự Tuy nhiên Bộ luật không đưa ra định nghĩa
cụ thể về hộ gia đình nhưng đã gián tiếp quy định tại Điều 106 Hộ gia đình được quan niệm là chủ thể trong quan hệ pháp luật gồm các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng Đến BLDS năm 2015 cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể về hộ gia đình mà được nhắc đến tại Khoản 29 Điều 3 Luật Đất
đai 2013 thì: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất.”
Bên cạnh hộ gia đình thì cá nhân cũng là một chủ thể trong quan hệ sử dụng đất nông nghiệp Khác với thành viên của hộ gia đình, chủ thể này có tư cách pháp lý độc lập, được Nhà nước trực tiếp giao đất sử dụng và tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình Trong khi đó thành viên của hộ gia đình là người đồng sử dụng đất đối với đất Nhà nước giao cho hộ gia đình Thành viên hộ gia đình liên đới chịu trách nhiệm đối với các giao dịch dân sự trong sử dụng đất nông nghiệp do chủ hộ gia đình thực hiện Để tham gia quan hệ pháp luật về sử dụng đất nông nghiệp, hộ gia đình, cá nhân phải đảm bảo
Trang 22những điều kiện: Thứ nhất, có sự tham gia vào quan hệ pháp luật đất nông nghiệp bằng việc được Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất để sản xuất phát triển kinh tế Thứ hai, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi khi tham gia quan hệ pháp luật đất đai
Năng lực pháp luật đất đai là khả năng chủ thể được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ khi tham gia vào quan hệ sử dụng đất đai Khả năng này chỉ có được khi thỏa mãn các điều kiện do pháp luật quy định như: có GCNQSDĐ nông nghiệp; Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp… Như vậy, trên thực tế năng lực pháp luật của hộ gia đình, cá nhân xuất hiện khi Nhà nước cho phép và trao quyền sử dụng đất cho họ và buộc người sử dụng đất chấp hành đúng pháp luật và làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước Năng lực hành vi đất đai là khả năng của một chủ thể bằng hành vi của mình tham gia vào quan
hệ pháp luật đất đai, có quyền và nghĩa vụ nhất định
Nhà nước nào trên thế giới cũng sử dụng pháp luật làm công cụ để thực hiện quyền năng quản lý xã hội Hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia có sự khác biệt xuất phát từ những điểm riêng trong nhận thức của nhà cầm quyền Dù có những quan điểm khác nhau trong tư tưởng thì nhìn chung bản chất pháp luật của mỗi quốc gia đều có sự tương đồng Pháp luật là hệ thống các quy định do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước và là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thiết lập và gìn giữ trật tự xã hội Định nghĩa pháp luật về quyền sử dụng đất
nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân: là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, quy định các quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân khi được Nhà nước trao quyền sử dụng đất nông nghiệp và những vấn đề pháp lý liên quan đến quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trên cơ sở chế độ
sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu
Đất nông nghiệp có vị trí quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là ở Việt Nam khi mà tỉ lệ lớn dân cư vẫn sinh sống dựa vào các ngành nông nghiệp.Việt Nam thừa nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, trao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thông qua hoạt động giao đất, cho thuê đất để chủ thể này trực tiếp sử dụng, khai thác hiệu quả các nguồn lợi từ loại đất này.Với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, Nhà nước đã xây dựng hệ thống các quy phạm pháp luật với các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được Nhà nước giao quyền sử dụng đất Tùy thuộc vào từng thời điểm lịch sử với những điều kiện cụ thể về kinh tế - xã hội mà Nhà nước có những quy định phù hợp cho các chủ thể được giao quyền sử dụng đất nông nghiệp khác nhau ở mỗi giai đoạn Hiện nay, nước ta đang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Việc quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông nghiệp vừa phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường, vừa đảm bảo đúng định hướng chính trị cho thấy việc hướng tới sự quản lý thống nhất của Nhà nước về đất nông nghiệp, khuyến khích các hộ
Trang 23gia đình, cá nhân khai thác có hiệu quả, hợp lý đất nông nghiệp nhằm phát triển kinh tế -
xã hội ở nông thôn là một yêu cầu mang tính khách quan Có thể nói, tư tưởng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước từ khi mới thành lập là đảm bảo ruộng đất cho mọi người dân có nhu cầu sản xuất nông nghiệp Khi đất nước thống nhất, Nhà nước thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, giữ vững nguyên tắc đảm bảo cho người làm nông nghiệp phải
có đất để sản xuất Điều này được ghi nhận trong các chế định pháp luật đất đai từ trước năm 1975 và đến Luật đất đai năm 2013 hiện hành.Pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp được coi là chế định có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật đất đai
1.2.2 Cơ sở xác lập quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam
1.2.2.1 Đường lối, chính sách của Đảng về giao đất cho hộ gia đình, cá nhân
sử dụng ổn định, lâu dài
Xuyên suốt trong quá trình hình thành và phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc phát triển nông nghiệp nông thôn là mối quan tâm hàng đầu Vấn đề này luôn được ghi nhận như một trong những quyết sách quan trọng tại các Văn kiện Đại hội Đảng và Nghị quyết Ban chấp hành TƯ Đảng Trong những Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯĐại hội Đảng lần II, III, Đảng ta đã đưa ra chủ trương phát triển hợp tác xã nông nghiệp làm tiền đề để định hướng cải tạo xã hội chủ nghĩa Việc thực hiện theo chủ trương của Đảng đã gặt hái những thành quả nổi bật, thúc đẩy năng suất lao động và gia tăng sản lượng nông nghiệp Tuy nhiên trong thời gian dài thực hiện, cơ chế quản lý đã bộc lộ những hạn chế khiến chính sách không còn đạt được những mục đích như ban đầu, người dân không quan tâm đến ruộng đất canh táckhiến ruộng đất bị bỏ hoang ở nhiều nơi Nhận thấy những điểm hạn chế trong đường lối trên, Đảng ta đã có chủ trương thực hiện chế độ khoán sản phẩm cho xã viên các hợp tác xã Chủ trương này ra đời đã tạo sức bật cho hoạt động sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, chế độ khoán này chưa thực hiện một cách triệt để nên vẫn chưa giải phóng được sức sản xuất của người lao động
Nhận thức rõ việc duy trì cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp sẽ cản trở sự phát triển của đất nước khi cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đặt ra mục tiêu thực hiện ba chương trình lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng
và hàng xuất khẩu Để thực hiện các mục tiêu này, các Hội nghị TƯ tiếp theo đã từng bước khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, từng bước thực hiện việc giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài Hàng loạt nghị quyết, chỉ thị của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp nói chung và xác định vai trò của hộ gia đình, cá nhân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm nghiệp nói riêng đã lần lượt được ra đời với việc thực hiện giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; đồng thời mở rộng các quyền năng của người sử dụng đất (trong đó có quyền thừa kế quyền sử dụng đất) Điều này được thể hiện tại những văn kiện của Đảng:
Trang 24- Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp đã khẳng định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp và tiến hành giao khoán ruộng đất sản xuất Bằng việc xác lập cơ chế khoán đến từng hộ gia đình, lần đầu tiên hộ gia đình được giao quyền sử dụng ruộng đất của các hợp tác xã để sử dụng ổn định Đây là bước đột phá lớn nhất làm thay đổi cơ bản hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp ở nước ta thời kỳ đổi mới
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) đã ghi nhận: “Trên
cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, ruộng đất được giao cho nông dân sử dụng lâu dài Nhà nước quy định bằng luật pháp các vấn đề thừa kế, chuyển quyền sử dụng ruộng đất” 10 Quan điểm này tiếp tục được khẳng định tại Nghị quyết các Hội nghị TƯ tiếp theo, đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị TƯ lần thứ 2 (khóa VII tháng 12 năm 1991) và Nghị quyết
Hội nghị TƯ lần thứ 5 (khóa VII, tháng 6/1992): “Ruộng đất được trao cho nông dân sử dụng lâu dài Nhà nước quy định bằng pháp luật việc thừa kế, chuyển quyền sử dụng đất”
- Vấn đề sử dụng đất ổn định, lâu dài và thừa kế quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân được ghi nhận trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến
năm 2000: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Các hộ nông dân được Nhà nước giao quyền
sử dụng ruộng đất lâu dài và cấp giấy chứng nhận…” 11
- Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TƯ Đảng khóa XI năm 2003 ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước đã chỉ rõ: “Người được giao quyền sử dụng đối với đất trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản và đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, được thực hiện quyền thừa kế, quyền sử dụng đất theo pháp luật về thừa kế như các tài sản khác” 12
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TƯ Đảng khóa XI năm 2012 đã ghi nhận một trong những nội dung cần quan tâm, hoàn thiện trong chính sách pháp luật
đó là: “Tiếp tục giao đất, cho thuê đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng có thời hạn theo hướng kéo dài hơn quy định hiện hành để khuyến khích nông dân gắn bó hơn với đất và yên tâm đầu tư sản xuất…”
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ số 06/NQ-TW Ban chấp hành TƯ Đảng Khóa XII năm
2016 tiếp tục ghi nhận đường lối tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, trong đó vai trò chủ chốt là tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển
Như vậy, đường lối chính sách của Đảng đã cho thấy sự ghi nhận mang tính xuyên suốt quan điểm giao ruộng đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài để tạo điều kiện ổn định đời sống, phát triển sản xuất nông nghiệp với tư cách là đơn vị kinh tế
10Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội,
tr.275
11 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội tr.343
12 Đảng Cộng sản Việt Nam (2003),Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TƯ khóa IX về tiếp tục đổi mới
chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội, tr 175
Trang 25tự chủ Đây là những định hướng quan trọng để Nhà nước thể chế hóa thành các quy định pháp luật, thừa nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của chủ thể là hộ gia đình, cá nhân
1.2.2.2 Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai
Chế độ sở hữu đất đai là cơ sở thiết lập chế độ quản lý và sử dụng đất, quyết định nội dung, tính chất, phạm vi quyền sử dụng đất và chi phối toàn bộ quá trình sử dụng đất
Ở nước ta, mỗi giai đoạn lại tồn tại một chế độ sở hữu khác nhau về đất đai Trong thời kì phong kiến (trước Cách mạng tháng 8 năm 1945), các triều đại phong kiến thừa nhận sự tồn tại của sở hữu công và sở hữu tư nhân về đất đai Sở hữu công gồm sở hữu Nhà nước
và sở hữu làng xã Vào thế kỉ XVIII, sở hữu tư nhân phát triển nhanh chóng và bao trùm
Đó là kết quả của chính sách lộc điền, chính sách thưởng ruộng khi khai hoang cũng như mua bán ruộng đất của triều đình phong kiến Tuy nhiên, với tính chất tập quyền, Nhà nước không ngừng xâm phạm, can thiệp, thậm chí tước đoạt ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân làm kìm hãm sự phát triển Điển hình là chính sách cải cách ruộng đất của triều Nguyễn, chia lại ruộng đất chọn Bình Định – nơi tư hữu hóa diễn ra triệt để với nông dân làm địa bàn thực hiện Theo đó những thôn ấp nào có ruộng tư điền cao hơn ruộng công điều thì ruộng công để nguyên, ruộng tư cắt 50% sung công điều quan cấp
Khi nước ta bị thực dân Pháp đô hộ, chế độ thực dân tiếp tục duy trì sở hữu công cộng (được xác lập đối với tài sản vắng chủ và vô chủ, lòng sông các con sông ở mức nước chảy đầy bờ tự nhiên, bãi biển ở mức triều cao nhất)và sở hữu tư nhân về ruộng đất (được tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất).Khi kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, do điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nên Hiến pháp năm 1959 vẫn ghi nhận nhiều hình thức sở hữu bao gồm Nhà nước (sở hữu toàn dân), sở hữu của hợp tác xã (sở hữu tập thể) và
sở hữu tư nhân (sở hữu của người lao động riêng lẻ, sở hữu của nhà tư sản dân tộc)
Kể từ Hiến pháp năm 1980 và các bản Hiến pháp sau này của nước ta đều ghi nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu Điều 17
Hiến pháp năm 1992 có quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác
mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân” Điều 53 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”
Trên cơ sở đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước tiến hành giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài để sản xuất nông nghiệp theo hình thức không thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất có thu tiền sử dụng đất Chính sự đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai đã chi phối đến quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân Do đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà
Trang 26nước đại diện chủ sở hữu nên việc hộ gia đình, cá nhân có được quyền sử dụng đất nông nghiệp hay không phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước Khi giao đất, cho thuê đất nông nghiệp, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cấp GCNQSDĐ như một sự công nhận quyền chiếm hữu, sử dụng đối với đất nông nghiệp Như vậy, quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân phát sinh trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và được Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp Do đó, những thay đổi trong quan điểm về thực hiện chế độ sở hữu toàn về đất đai sẽ dẫn đến việc thay đổi những quy định
về quyền của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp
1.2.2.3 Chủ trương phát triển kinh tế hộ gia đình làm nền tảng phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới
Kể từ thời điểm Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 10/NQ-TW ngày 05 tháng
04 năm 1988 về Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, với mục đích giải phóng sức sản
xuất trong nông nghiệp nông thôn, chuyển giao đất đai và các tư liệu sản xuất khác cho
hộ nông dân quản lý và sử dụng lâu dài, các hộ nông dân đã trở thành những đơn vị tự chủ trong sản xuất nông nghiệp, thừa nhận hộ gia đình là đơn vị kinh tế cơ sở (gọi là kinh
tế hộ gia đình) Sự tồn tại của kinh tế hộ gia đình chủ yếu dựa vào lao động gia đình để khai thác đất đai và tài nguyên khác nhằm phát triển sản xuất, giảm nghèo bền vững, cải thiện đời sống Tại Việt Nam, kinh tế hộ gia đình chủ yếu là kinh tế của các hộ gia đình nông dân tại khu vực nông thôn, trong đó hơn 70% là hộ thuần nông (phát triển kinh tế trong lĩnh vực nông – lâm – ngư nghiệp) Nhận thức được vị trí quan trọng của kinh tế hộ gia đình trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc gia nói chung, Nghị quyết Hội nghị số 06/NQ-TW Ban chấp hành TƯ Đảng Khóa XII năm 2016 tiếp tục ghi nhận đường lối tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, trong đó vai trò chủ chốt là tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển
Để phát triển kinh tế hộ gia đình với tỉ lệ lớn là các hộ thuần nông, khi mà việc phát triển kinh tế gắn liền với đất nông nghiệp thì việc quan tâm đến những chính sách về giao đất nông nghiệp phục vụ sản xuất là điều kiện tiên quyết để thực hiện được định hướng này Chính vì vậy mà việc giao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân là hệ quả của sự nhận thức được tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế hộ gia đình trong nền kinh tế nói chung cũng như nhằm hoàn thiện chính sách phát triển nông thôn mới, phát triển ngành nông nghiệp nói riêng
1.2.3 Nội dung pháp luật điều chỉnh về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Trong thực tiễn khoa học pháp lý, khi phân chia các nội dung hay cấu trúc pháp luật điều chỉnh một quan hệ xã hội có thể dựa vào nhiều tiêu chí phân chia cho phù hợp như: dựa vào cấu trúc về hình thức hoặc cấu trúc về nội dung của pháp luật điều chỉnh Điều chỉnh pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân là tổng thể thống nhất hệ thống quy phạm pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan, ràng buộc
Trang 27lẫn nhau cùng điều chỉnh các vấn đề về quyền sử dụng đất nông nghiệp Có thể khẳng định rằng, dù mỗi quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực pháp luật khác nhau song khi được
áp dụng để điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp quan hệ về quyền sử dụng đất nông nghiệp thì chúng có mối liên hệ thống nhất và gắn bóvới nhau, cùng hướng tới việc đảm bảo các quyền của người sử dụng đất khi tham gia quan hệ và lợi ích của Nhà nước khi trao quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân
Về cơ bản, người sử dụng đất nói chung và hộ gia đình, cá nhân đều có các quyền
cơ bản khi tham gia vào quan hệ sử dụng đất như: Quyền được cấp GCNQSDĐ Đây là hoạt động thể hiện sự ghi nhận của Nhà nước đối với quyền của người sử dụng đất, cũng
là căn cứ để người sử dụng đất được Nhà nước bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp trong quan hệ về quyền sử dụng đất; Quyền được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất, đây là quyền cơ bản của người sử dụng đất vì suy cho cùng mục đích của sử dụng đất là tạo ra lợi ích vật chất và hưởng dụng nó, phục vụ cuộc sống của người sử dụng đất; Hưởng các lợi ích do công trình công cộng của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo đất mang lại; Quyền được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp Việc đảm bảo kiến thức trong việc sử dụng đất đối với các chủ thể được giao đất, cho thuê đất là hoạt động có ý nghĩa tích cực nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất cũng như bảo vệ được nguồn tài nguyên đất; Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện
về những hành vi xâm phạm quyền sử dụng đất hợp pháp và những hành vi vi phạm pháp luật đất đai; Người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước tiến hành thu hồi đất
Trong lĩnh vực sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, pháp luật tập
trung quy định một số nội dung: Một là, quy định về giao đất, cho thuê đất nông
nghiệpvà thẩm quyền thực hiện hoạt động này của cơ quan Nhà nước đối với hộ gia đình,
cá nhân Đây chính là điều kiện phát sinh quyền sử dụng đất đối với chủ thể được Nhà
nước trao quyền, sau được ghi nhận bằng hình thức là GCNQSDĐ;Hai là, quy định về
thời hạn, hạn mức giao đất, cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân Đây chính là quy định nhằm đảm bảo quyền lợi được cân bằng giữa các chủ thể có nhu cầu sử
dụng, đồng thời giúp Nhà nước quản lý việc sử dụng đất một cách hiệu quả;Ba là, các
quy định liên quan đến nghĩa vụ tài chính đối với hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp Đây là nghĩa vụ chung của các chủ thể đã được Nhà nước trao quyền sử dụng đất, không chỉ dừng lại ở việc khai thác lợi ích cho cá nhân mà cần phải thực hiện các nghĩa
vụ để đóng góp một phần lợi ích đó cho Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai.Bốn là,
quy định về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân.Việc thu hồi đất bao giờ cũng làm ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân bị thu hồi Chính vì vậy pháp luật quy định chặt chẽ về các trường hợp thu hồi đất, nguyên tắc thu hồi đất, cũng như nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất Đồng thời các quy định cần cụ thể về cơ chế bảo đảm
Trang 28quyền lợi cho người bị thu hồi đất của Nhà nước về ổn định đời sống, ổn định về việc làm nguồn thu nhập, bồi thường diện tích đất đã thu hồi…
Nhìn chung, tìm hiểu nội dung pháp luật điều chỉnh về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân là tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành, trên cơ sở đối chiếu pháp luật qua các thời kỳ liên quan đến mọi hành vi phát sinh trong quá trình sử dụng đất
1.3 Quá trình phát triển của pháp luật đất đai về quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân ở Việt Nam
1.3.1 Thời kỳ từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975
Việt Nam trải qua quãng thời gian dài lịch sử với những biến thiên chính trị, kéo theo đó đời sống xã hội và nền kinh tế cũng có nhiều thay đổi Ở mỗi thời kỳ khác nhau thì quy định pháp luật về quyền của người sử dụng đất lại có sự khác biệt Thời kỳ thực dân chiếm đóng, chính sách cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền của thực dân Pháp đã đẩy hàng vạn nông dân Việt Nam rơi vào cảnh mất hoặc thiếu ruộng đất buộc phải lĩnh canh hay trở thành tá điền cho các chủ đất Nạn đói năm 1945 để lại hậu quả nặng nề, chế độ điền chủ không rõ ràng gây tâm lý hoang mang, giá thóc rẻ mạt khiến người nông dân không muốn sản xuất, vì vậy mà đất nông nghiệp bị hoang hóa nhiều Ở thời kỳ này, chính quyền đô hộ không thừa nhận quyền sử dụng đất của người dân
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng chỉ đạo xây dựng Hiến Pháp với
mục tiêu người cày có ruộng Điều 12 Hiến pháp năm 1946 quy định “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”.Hiến pháp năm 1946 lần đầu tiên khẳng định
địa vị của người dân Việt Nam về quyền sở hữu đối với đất đai Đây là nền tảng cơ bản trong tổ chức chính quyền và quyền tự do của nhân dân trong đó ghi nhận quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam, tạo cơ sở cho sở hữu tư nhân, giúp cho giai cấp nông dân chủ động trong sản xuất, thúc đẩy nông nghiệp phát triển
Trong văn kiện Hội nghị TƯ Đảng lần thứ IV tháng 01 năm 1953 đã nêu rõ: “Tiêu diệt chế độ sở hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của bọn đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xoá bỏ chế độ phong kiến sở hữu ruộng đất của địa chủ Việt Nam và ngoại kiều, thực hiện chế
độ sở hữu ruộng đất của nông dân” 13 Lúc này Đảng ta đưa ra đường lối thực hiện chế độ “sở hữu ruộng đất của nông dân”, đây là bước tiến mới trong việc hình thành các quy phạm pháp
luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta Ngày 04/12/1953 Quốc hội đã thông qua Luật Cải cách ruộng đất, đây là văn bản có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong chính sách ruộng đấtnhằm mục đích thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ,
chia lại ruộng đất cho nông dân nhằm thực hiện triệt để mục tiêu “người cày có ruộng” qua đó
giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và mở đường cho công thương nghiệp phát triển Nhờ chính sách này mà đại bộ phận nông dân nhất là bần nông đều
có ruộng đất để canh tác sản xuất nông nghiệp Kể từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng
13
Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, năm 2011
Trang 29hòa được thành lập, hệ thống pháp luật nước ta đã được quan tâm xây dựng theo hướng mới, thừa nhận hai hình thức sở hữu chủ yếu về đất đai thay thế cho sáu hình thức sở hữu về đất đai
đó là sở hữu của người nông dân và sở hữu của Nhà nước Điều 14 Hiến pháp năm 1959 ghi
nhận: “Nhà nước chiếu theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu về ruộng đất và các tư liệu sản xuất khác của nông dân” Hiến pháp năm 1959 một lần nữa khẳng định quan điểm của Đảng
và Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu ruộng đất của nông dân, thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng”, đã ghi nhận đa quyền sở hữu về đất đai, quy định khuyến khích sự phát triển của kinh
tế hợp tác xã.Điều này có ý nghĩa lớn khi thay đổi địa vị người làm thuê trở thành người chủ sở hữu tư liệu sản xuất là đất đai của người nông dân Như vậy ở giai đoạn này, người nông đân đãbước đầu được trao quyền sử dụng đối với ruộng đất
Trong những năm 1960 ở miền Bắc, sở hữu tư nhân về đất đai dần bị thủ tiêu do
phong trào “Hợp tác hóa nông nghiệp” Sau năm 1975 phong trào này được tiến hành ở
miền Nam Nông dân vẫn được phép hoạt động dưới hình thức thị trường tự do đến tận năm 1977 – 1978, sau đó cũng từng bước đi theo tập thể hoá
1.3.2 Thời kỳ từ năm 1975 – năm 1992
Sau khi đất nước thống nhất, phong trào “Hợp tác hóa nông nghiệp” được tiến
hành trên cả nước Vì vậy đến cuối những năm 70 ở nước ta chỉ còn tồn tại hai hình thức
sở hữu đất đai căn bản: Sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể Do sự thay đổi này nên nhìn một cách tổng quát vào cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 ở nông thôn Việt Nam đã bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt giữa lợi ích của người nông dân với lợi ích của toàn xã hội mà nguyên nhân sâu xa bắt nguồn từ chủ trương tập thể hóa triệt để ruộng đất, các tư liệu sản xuất và sức lao động Chủ trương này đã gây ra hậu quả trầm trọng lên sự phát triển kinh
tế và ổn định xã hội của đất nước Đổi mới trở thành một yêu cầu cấp thiết và Hiến pháp năm 1980 ra đời là dấu mốc trong quá trình phát triển các quy định của pháp luật về quyền của người sử dụng đất
Hiến pháp năm 1980 quy định: “Đất đai là của Nhà nước – đều thuộc sở hữu toàn dân” Tuy nhiên chế độ sử dụng đất đai thời kỳ này mang nặng tính quan liêu, bao cấp
của cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung Pháp luật trong thời kỳ này chủ yếu ghi nhận quyền sử dụng đất của cơ quan, tổ chức sử dụng đất của Nhà nước, còn quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác hầu như chưa được quan tâm Chính sự chưa thỏa đáng và đầy đủ về quyền của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất của nước ta thời điểm này cộng thêm việc quản lý quá lỏng lẻo, sử dụng lãng phí kém hiệu quả, không coi trọng giá trị kinh tế của đất dẫn đến khủng hoảng kinh tế của những năm đầu của thập kỷ 80
Luật Đất đai năm 1987 ra đời thể chế hóa đường lối đổi mới được ghi nhận tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 và các quy định của Hiến pháp năm 1980 Bên cạnh việc khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý đã
Trang 30có những quy định cụ thể về quyền của người sử dụng đất, góp phần khuyến khích người
sử dụng đất yên tâm đầu tư và cải tạo nhằm sử dụng đất hiệu quả Luật đã quy định một cách cụ thể có hệ thống quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Nhà nước giao đất và ghi nhận các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất để khai thác công dụng
và hưởng lợi từ việc sử dụng đất Luật đất đai năm 1987 đã bước đầu tạo cơ sở phát huy quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai, thiết lập được sự ổn định nhất định trong việc sử dụng đất Tuy nhiên Luật Đất đai năm 1987 quy định cho phép chuyển nhượng, thừa kế nhà trên đất, thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất được giao nhưng không cho thừa kế và chuyển nhượng đất đai Đây là điểm vô lý và không phù hợp với thực tế hoạt động sử dụng đất Có thể nhận thấy, sự vận động của quan hệ đất đai và việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phụ thuộc nhiều vào trình độ phát triển của nền kinh tế, nhất
là trong bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường thì việc ghi nhận các quyền của người sử dụng đất với nhau là cần thiết Tuy nhiên pháp luật đất đai thời điểm đó lại chưa giải quyết được đòi hỏi này Sau Luật đất đai năm 1987, Thông tư liên bộ số 05-TT/LB ngày 18/12/1991 của Bộ Thủy sản và Tổng cục Quản lý ruộng đất hướng dẫn giao những
ao nhỏ, mương rạch trong vườn nằm gọn trong đất thổ cư cho hộ gia đình; ao lớn, hồ lớn thì giao cho một nhóm hộ gia đình Với những mặt nước chưa sử dụng có thể giao cho tổ chức, cá nhân không hạn chế Ngày 15/07/1992, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 327/CT chính sách sử dụng ruộng đất đồi núi trọc, rừng, bãi bồi ven biển và mặt nước với nội dung: lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất để giao đất rừng, giao đất bãi bồi với những điều kiện rộng rãi Tuy nhiên, nhìn chung chính sách vẫn chủ yếu điều chỉnh trong các đơn vị tập thể như nông, lâm trường, hợp tác xã, quyền sử dụng đất ổn định lâu dài của cá nhân vẫn chưa được quan tâm
1.3.3 Thời kỳ từ năm 1993 – năm 2003
Luật Đất đai năm 1993 ra đời giải quyết được những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống và thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992 Nhiều quyền năng mới của
hộ gia đình, cá nhân được pháp luật quy định cụ thể Nhà nước cho phép hộ gia đình, cá nhân thuê đất sử dụng ổn định, lâu dài bên cạnh hình thức giao đất; cho phép hộ gia đình,
cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất… Trong Luật Đất đai năm 1993, nếu so sánh với các chủ thể
sử dụng đất khác thì quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân được quan tâm, chú trọng và mở rộng hơn cả Chúng được quy định chính thức ngay trong văn bản pháp luật
và được thể hiện hiện bằng những quyền cụ thể Luật Đất đai năm 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và ghi nhận nguyên tắc giao đất sử dụng ổn định lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân Một điểm đáng chú ý là văn bản pháp luật đất đai thời kỳ này cho phép hộ gia đình, cá nhân chuyển quyền sử dụng đất Đây là một bước đột phá trong quy định của pháp luật về quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân và đáp ứng đòi hỏi của việc sử dụng đất đai trong nền kinh tế thị trường
Trang 31Tiếp tục quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998
và năm 2001 cùng các văn bản pháp luật có liên quan như Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 1999 về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất và các nghị định khác của Chính phủ đã ra đời bổ sung và hoàn thiện các quyền sử dụng đất của
hộ gia đình, cá nhân tương thích với từng hình thức sử dụng đất Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung vào năm 1998 và năm 2001 theo hướng làm rõ trách nhiệm pháp lý của người sử dụng đất trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và thể hiện
sự đa dạng trong các hình thức sử dụng đất Đối với đất nông nghiệp không có sự thay đổi về thời hạn sử dụng và diện tích hạn điền so với Luật Đất đai năm 1993, tuy nhiên lần
đầu tiên đất đai được chính thức xem như “hàng hoá đặc biệt” có giá trị và có thể
chuyển nhượng Cá nhânvà các tổ chức kinh tế được quyền tham gia vào thị trường giao dịch quyền sử dụng đất Nói tóm lại quy định của pháp luật đất đai trong giai đoạn từ năm 1993 đến trước năm 2003 đã từng bước giải quyết được những vướng mắc trong thời kỳ đổi mới, theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế đồng thời giải quyết kịp thời những bất cập trong sử dụng đất
1.3.4 Thời kỳ từ năm 2003 – hiện nay
Trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước thì việc quản lý và sử dụng đất đai luôn đặt ra những yêu cầu mới mà Luật Đất đai năm 1993 mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tế áp dụng Để khắc phục những hạn chế đó, Luật Đất đai năm 2003 được ban hành, bao gồm các nội dung mới mẻ: Luật Đất đai đã có một chương riêng quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (Chương IV) – mọi chủ thể đều được hưởng các quyền chung của người sử dụng đất; sửa đổi bổ sung về quyền của người sử dụng đất căn cứ vào hình thức sử dụng đất là giao đất hay cho thuê đất Như vậy, chính sách đất đai giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003 quyền sử dụng đất lâu dài của cá nhân đã được thừa nhận và đảm bảo thực hiện; đồng thời, có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn Tuy nhiên, việc xây dựng pháp luật đất đai còn thiếu tầm chiến lược, không có khả năng dự báo dài hạn, thay đổi thường xuyên thể hiện tính đối phó trong xử lý tình huống nên đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện hơn nữa
Trong thời gian thi hành Luật Đất đai năm 2003 đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, gây khó khăn cho chủ thể sử dụng đất trong đó có hộ gia đình, cá nhân Khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, nhu cầu sử dụng, chuyển nhượng, kinh doanh đất đai ở các lĩnh vực, các vùng ngày càng lớn đã phát sinh nhiều vấn đề mà chính sách đất đai khó giải quyết Luật Đất đai năm 2013 ra đời đã có những sửa đổi mang tính bước tiến, theo đó ngày càng mở rộng quyền của chủ thể sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân, xác định đây
là chủ thể có vai trò quan trọng trong quan hệ sử dụng đất Riêng đối với các quy định liên quan đến pháp luật về quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân, Luật Đất đai năm
Trang 322013 đã có những sửa đổi theo hướng tạo điều kiện tối đa cho chủ thể này trong việc sử dụng đất nông nghiệp, thể hiện sự khuyến khích của Nhà nước nhằm thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển
Trang 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Bằng việc trả lời các câu hỏixác định ở phần mở đầu, chương I đã tập trung làm rõ các khái niệm, đặc điểm, phân loại về đất và đất nông nghiệp nói riêng để có cái nhìn cụ thể về đối tượng của quyền sử dụng đất Luận văn tiếp tục làm rõ các nội dung liên quan đến quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất nông nghiệp đồng thời định nghĩa nó gắn với chủ thể cụ thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất Quyền sử dụng đất nông nghiệp nói chung và quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nói riêng là khả năng của hộ gia đình, cá nhân được hưởng các quyền mà Nhà nước trao cho và đảm bảo thực hiện khi tham gia vào quan hệ sử dụng đất nông nghiệp Quyền năng này được ghi nhận trong pháp luật, chính là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong quá trình sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên đất Chương I tập trung
là rõ khái niệm về hộ gia đình, cá nhân là gì, từ đó trình bày cơ sở hình thành quyền sử dụng đất nông nghiệp của chủ thể này ở Việt Nam với những nội dung cơ bản: đường lối, chính sách của Đảng về giao đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài; chế
độ sở hữu toàn dân về đất đai và chủ trương phát triển kinh tế hộ gia đình làm nền tảng phát triển nông thôn mới Chính từ những cơ sở này mà pháp luật đã có những quy định ghi nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, thể hiện qua các nội dung về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; về hạn mức, thời hạn giao đất, cho thuê đất; về các quyền của người sử dụng đất, việc được cấp GCNQSDĐ; việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính hay giải quyết các chế độ, quyền lợi khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của chủ thể này… Những nội dung cụ thể sẽ tiếp tục được đi sâu phân tích ở Chương II của luận văn
Trang 34CHƯƠNG II QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
NÔNG NGHIỆP CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
2.1 Quy định của pháp luật đất đai về quyền được giao đất, cho thuê đất nông
nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Giao đất, cho thuê đất nông nghiệp là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho người được giao đất, cho thuê đất để sử dụng Tùy th uộc vào đối tượng được Nhà nước giao đất, cho thuê đất nông nghiệp mà áp dụng các hình thức giao đất, cho thuê đất khác nhau Luật Đất đai cho phép người sử dụng đất lựa chọn hình thức sử dụng đất phù hợp với năng lực tài chính và nhu cầu sử dụng đất của bản thân
Thứ nhất, Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với trường hợp:
“Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối được giao đất nông nghiệp trong hạn mức quy định tại Điều 129 của Luật này”
Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hiểu là “…hộ gia đình, cá nhân
đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp; nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp và có nguồn thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất đó”(Khoản 30 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013) Đây là hình thức giao đất mà người sử
dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước Hình thức này nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, bảo vệ tốt quỹ đất đồng thời phục
vụ chương trình an ninh lương thực quốc gia Mặc dù Luật Đất đai năm 2013 có thu hẹp các đối tượng được giao đất không thu tiền sử dụng đất tuy nhiên vẫn ghi nhận hộ gia đình,
cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thuộc đối tượng giao đất không thu tiền sử dụng đất Điều này cho thấy sự ưu tiên của Nhà nước, ghi nhận họ là đối tượng có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp đồng thời có khả năng bảo vệ đất nông nghiệp và sử dụng hợp
lý nó nên cần tạo điều kiện tối đa khi giao quyền sử dụng đất
Thứ hai, Nhà nước cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trong các trường hợp: Một là, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối Hai là, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu sử dụng
đất nông nghiệp vượt hạn mức được giao theo quy định tại Điều 129 Luật Đất đai năm
2013 (Điểm a,b Khoản 1 Điều 56 Luật Đất đai năm 2013) Luật Đất đai năm 2013 trên cơ
sở kế thừa Luật Đất đai năm 2003 đã bỏ quy định về quyền được lựa chọn hình thức giao đất hay cho thuê đất mà thay vào đó là quyền lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm hoặc thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê Trước đây, Luật Đất đai năm 2003 quy định hộ gia đình, cá nhân chỉ được thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm không được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê Quy
Trang 35định này đã gây ra sự bất tiện đối với những hộ gia đình, cá nhân có năng lực tài chính tốt
và muốn hoàn thành một lần nghĩa vụ tài chính khi được Nhà nước cho thuê đất Việc thay đổi này cho thấy sự thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong tiến trình nỗ lực xây dựng môi trường bình đẳng giữa các chủ thể khi sử dụng đất
Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể việc giao đất, cho thuê đất phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện, thay cho các căn cứ chung gồm: Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn như quy định của Luật Đất đai năm 2003 Lần đầu tiên vai trò của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được thể hiện rõ nét trong Luật Nếu trước đây,
để giao đất, cho thuê đất khi không có quy hoạch sử dụng đất có thể căn cứ quy hoạch của xây dựng đô thị, điểm dân cư nông thôn hoặc quy hoạch khác, thì nay phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của huyện đã được UBND cấp tỉnh phê duyệt.Việc nhấn mạnh vai trò của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cần thiết và là bước tiến của Luật Đất đai năm 2013, vì đó là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại việc
sử dụng đất đai, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất nông nghiệp, ngăn ngừa được các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội và rất nhiều các hiện tượng nguy hại khác Hơn nữa quy hoạch sử dụng đất đai còn tạo điều kiện để sử dụng đất đai hợp lý hơn Bởi khi người sử dụng đất đai hiểu rõ được phạm vi ranh giới và quyền về các loại đất thì họ yên tâm đầu tư khai thác phần đất đai của mình, do vậy hiệu quả sử dụng sẽ cao
hơn Dẫn đến, trong “Nội dung kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện” (Khoản
4 Điều 40) Luật Đất đai năm 2013 quy định phải “Xác định vị trí, diện tích đất phải thu hồi để thực hiện công trình, dự án sử dụng đất vào mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này trong năm kế hoạch đến từng đơn vị hành chính cấp xã Đối với dự
án hạ tầng kỹ thuật, xây dựng, chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn thì phải đồng thời xác định vị trí, diện tích đất thu hồi trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án nhà ở, thương mại, dịch vụ, sản xuất, kinh doanh” (Điểm c Khoản 4 Điều 40) và “Lập bản đồ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện” (Điểm đ
Khoản 4 Điều 40) đảm bảo đủ căn cứ để giao đất, cho thuê đất 14
Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất được quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 59
Luật Đất đai năm 2013: “UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất […] đối với hộ gia đình, cá nhân Trường hợp cho hộ gia đình, cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 héc ta trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định”
14 Th.s Lê Hồng Hạnh (2016), Những quy định mới về giao đất, cho thuê đất của Luật Đất đai năm 2013, Dân
chủ và pháp luật
Trang 362.2 Quy định của pháp luật về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp, hạn mức giao đất, cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân
2.2.1 Thời hạn sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Trước năm 1993, pháp luật quy định ba mức thời hạn giao đất là giao đất ổn định, lâu dài; giao đất có thời hạn (trên 5 năm) hoặc giao đất tạm thời (dưới 5 năm) Đến Luật Đất đai năm 1993 (Điều 20) và sau là Luật đất đai sửa đổi, bổ sung năm 1998 thì chỉ những người sử dụng đất ở (trong đó có hộ gia đình, cá nhân) mới được sử dụng ổn định, lâu dài Đến Luật Đất đai năm 2003 đã phân loại đất thành từng nhóm, và nhóm đất nông nghiệp gồm nhiều loại đất khác nhau, trong đó có quy định về thời giao đất, cho thuê đất cũng có sự rõ ràng, cụ thể đối với từng loại đất Đối với đất nông nghiệp, tùy thuộc vào từng loại đất mà có thời hạn sử dụng ổn định, lâu dài hoặc sử dụng có thời hạn Kế thừa tinh thần của Luật Đất đai năm 2003, Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định thời hạn giao đất, cho thuê đất theo thời hạn sử dụng ổn định lâu dài và có thời hạn15 Cụ thể như sau:
Thứ nhất, quy định của pháp luật đất đai về đất sử dụng ổn định, lâu dài
Điều 125 Luật đất đai năm 2013 quy định những loại đất được sử dụng ổn định, lâu dài, trong đó đất thuộc nhóm đất nông nghiệp gồm: đất nông nghiệp do cộng đồng dân cư sử dụng; đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên Về cơ bản quy định này cũng giống như quy định tại Điều 66 Luật Đất đai năm
2003, có bổ sung thêm loại đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên cũng thuộc nhóm các loại đất có thời hạn giao đất sử dụng ổn định, lâu dài Xuất phát từ đặc tính của đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng…là thời gian phát triển lâu, ngoài mục tiêu kinh tế còn nhằm bảo vệ đất, điều hòa khí hậu, bảo tồn nguồn sinh vật cũng như hạn chế các hiểm họa thiên tai (lũ lụt, sạt lở đất…) cho nên việc duy trì ổn định loại đất này có vai trò quan trọng trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Chính vì vậy mà đối với loại đất này, việc quy định thời hạn sử dụng ổn định, lâu dài là hợp lý và mang nhiều ý nghĩa tích cực.Lần đầu tiên trong Luật Đất đai năm 2013 quy định đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên thuộc đối tượng có thời hạn giao đất ổn định, lâu dài, đồng thời, hộ gia đình, cá nhân cũng có thể được giao loại đất này trong trường hợp được quy định tại Điều 45a Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 sửa đổi Nghị định hướng dẫn Luật Đất đai:Hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng sản xuất là rừng tự nhiên nơi chưa có tổ chức quản lý rừng, có nhu cầu và khả năng bảo vệ, phát triển thì được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất và được kết hợp khai thác các lợi ích theo quy định; và hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất, cho thuê đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên trước ngày 01/07/2004 được tiếp tục sử dụng đất trong thời hạn còn lại và được xem xét gia hạn khi có nhu cầu
Thứ hai, quy định của pháp luật đối với đất sử dụng có thời hạn
15
Điều 125, Điều 126 Luật Đất đai năm 2013
Trang 37Nếu tại Điều 67, Điều 68 Luật Đất đai năm 2003 quy định đối với các loại đất khác thuộc nhóm đất nông nghiệp, tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà pháp luật đất đai quy định thời hạn sử dụng đất khác nhau Theo đó, thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với
hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối là 20 năm; đối với đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất là không quá 50 năm Tuy nhiên đến Luật đất đai năm 2013 đã có sự thay đổi cơ bản theo hướng tăng thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân Cụ thể, thời hạn cho thuê đất; giao đất, công nhận quyền sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp tăng lên 50 năm thay vì 20 năm như quy định tại Luật Đất đai năm 2003 (Khoản 1 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013) Thời hạn cho thuê đối với các loại đất thuộc nhóm đất nông nghiệp nói chung đều
ở mức tối đa không quá 50 năm mà không phân biệt thành nhiều loại thời hạn như trước đây (Khoản 2 Điều 123 Luật Đất đai năm 2013) Việc tăng thời hạn giao đất, cho thuê đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân nhằm mục đích khiến nông dânyên tâm đầu tư tâm trí, tiền bạc và sức lực để tạo nên những vùng sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao Đây chính là động lực mới từ chính sách đất đai để phát triển kinh tế nông nghiệp Việc giải phóng thời hạn sử dụng đất đồng nghĩa với việc giải phóng tâm lý của nông dân, để họ yên tâm đưa ra một kế hoạch đầu tư dài hạn Bên cạnh đó, việc quy định thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với đất trồng cây lâu năm qua nhiều năm thực hiện vẫn cho thấy sự phù hợp với đặc tính cây trồng, thời gian thu hoạch để thu hồi vốn Chính vì vậy việc giữ nguyên thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với loại đất này là hợp lý Việc trao quyền sử dụng đất chỉ đảm bảo cho các chủ thể
có quyền sử dụng đất trong thời hạn lâu dài, sử dụng ổn định mà không phải có quyền sử dụng vĩnh viễn Điều này cũng góp phần sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất nông nghiệp, tránh tình trạng đầu cơ đất, khiến người có nhu cầu không có đất sản xuất, đồng thời tạo điều kiện cho Nhà nước quản lý hiệu quả vốn đất nông nghiệp Với thời hạn đủ dài cho việc sử dụng đất và được cấp GCNQSDĐ thì hộ gia đình, cá nhân cũng sẽ có cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay để phát triển kinh tế
Thứ ba, thời hạn sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
Luật Đất đai năm 2003 quy định trường hợp chuyển mục đích sử dụng giữa các loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất được tiếp tục sử dụng đất đó theo thời hạn đã được giao, cho thuê (Khoản 1 Điều 68 Luật Đất đai năm 2003) Khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình
sử dụng và việc sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt Đến Luật Đất đai năm 2013, tại Khoản 1 Điều 127 cũng quy định trên tinh thần của Luật
Trang 38Đất đai năm 2003 Theo đó, pháp luật quy định thời hạn sử dụng đất đối với hộ gia đình,
cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất:
- Trường hợp chuyển đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng sang mục đích khác: được xác định theo thời hạn của loại đất sau khi được chuyển mục đích sử dụng
- Trường hợp chuyển đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất nuôi trồng thủy sản, làm muối sang trồng rừng phòng hộ, đặc dụng thì sử dụng đất ổn định, lâu dài
- Trường hợp chuyển mục đích sử dụng giữa các loại đất bao gồm đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, nuôi trồng thủy sản, làm muối thì tiếp tục sử dụng đất đó theo thời hạn đã được giao, cho thuê
Không chỉ riêng đối với đất nông nghiệp mà đối với bất cứ loại đất nào, vấn đề chuyển đổi mục đích sử dụng đất là khá nhạy cảm, liên quan mật thiết đến việc bảo vệ, duy trì ổn định cơ cấu diện tích các loại đất đang sử dụng Chính vì vậy mà pháp luật quy định trình tự, thủ tục thực hiện tương đối chặt chẽ để đảm bảo hoạt động này diễn ra trong tầm kiểm soát, không ồ ạt gây mất cân bằng trong cơ cấu diện tích đất sử dụng vào các mục đích khác nhau
Thứ tư, thời hạn sử dụng đất nông nghiệp khi nhận chuyển quyền sử dụng
Điều 69 Luật Đất đai năm 2003 hay Điều 128 Luật Đất đai năm 2013 đã quy định thời hạn cụ thể ở hai điều khoản Thời hạn sử dụng đất khi nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với loại đất có quy định thời hạn là thời gian sử dụng đất còn lại của thời hạn sử dụng đất trước khi nhận chuyển quyền sử dụng đất Trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với loại đất được sử dụng ổn định lâu dài thì tiếp tục được sử dụng đất ổn định lâu dài
2.2.2 Hạn mức giao đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân
Ở Việt Nam, Luật Đất đai năm 1993 quy định mức sử dụng đất nông nghiệp của
hộ gia đình, cá nhân được hiểu là diện tích đất tối đa mà một hộ gia đình, cá nhân được phép sử dụng dưới hình thức giao (bao gồm cả đất được giao và đất nhận chuyển quyền…) Còn theo Luật Đất đai năm 2003, nhà nước không hạn chế diện tích mà hộ gia đình, cá nhân được phép sử dụng, chỉ hạn chế diện tích đất được giao hoặc được nhận chuyển nhượng, tặng cho… Quy định của Luật Đất đai năm 2013 cụ thể như sau:
Thứ nhất, hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Luật Đất đai năm 2013 quy định hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, làm muối đối với hộ gia đình, cá nhân về cơ bản vẫn giữ nguyên tinh thần của Luật Đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành theo hướng quy định cụ thể hạn mức theo từng khu vực dựa trên sự phát triển của nền sản xuất nông
nghiệp ở khu vực đó Tại Khoản 1 Điều 70 Luật Đất đai năm 2003 quy định chung: “Hạn mức giao đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá ba héc ta đối với mỗi loại đất”, tức là đưa ra mức tối đa đối với
Trang 39loại đất này được cấp cho hộ gia đình, cá nhân Khoản 1 Điều 129 Luật Đất đai năm 2013
quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân theo khu vực:“a) Không quá 03 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực đồng bằng sông Cửu Long;b) Không quá 02 héc ta cho mỗi loại đất đối với tỉnh, thành phố trực thuộc TƯ khác”
Nhiều ý kiến cho rằng hạn mức này thấp so với nhu cầu sử dụng thực tế của một
bộ phận dân cư Tuy nhiên nếu xét trên nhiều yếu tố có thể thấy con số này là phù hợp Trong bối cảnh diện tích đất canh tác của Việt Nam thuộc loại thấp nhất trong khu vực, với diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, mức quy định 2-3 ha là hợp lý
để mỗi hộ dân sản xuất nông nghiệp đều có đất để sản xuất Mức 3ha cũng vừa đủ cho nông dân muốn kinh doanh theo mô hình kinh tế trang trại, khi ở Việt Nam trang trại gia đình quy mô nhỏ (từ 03-05 ha) được coi là mô hình phát triển hiệu quả nhất Điều này cho thấy Nhà nước đã định hướng cho kinh tế trang trại phát triển đúng hướng, đồng thời
không để nhiều hộ nông dân không có đất sản xuất
Quy định hạn mức đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối đồng nhất với quy định đất trồng cây hàng năm là có cơ sở Về hạn mức đất nuôi trồng thủy sản và làm muối cũng còn một số tranh cãi Thực tế cho thấy nuôi trồng thủy sản đem lại cho người nông dân mức lợi nhuận vượt trội so với canh tác cây hàng năm Chính vì vậy mà có ý kiến cho rằng với mức lợi nhuận chênh lệch như thế, không thể quy định hạn mức đất trồng cây hàng năm và đất nuôi trồng thủy sản như nhau, vô hình chung làm phát sinh tranh chấp ở những vùng vừa
có đất canh tác, vừa có nước nuôi trồng thủy sản16
Tuy nhiên, nhận thấy rằng việc đồng nhất một mức hạn mức là hoàn toàn có cơ sở vì nó tạo thuận lợi trong công tác quản lý, đồng thời đảm bảo không có sự phát triển thiên lệch các ngành nông nghiệp, tránh ảnh hưởng đến sản lượng trồng cây hàng năm do việc phát triển ngành khác
Từ Luật đất đai năm 1993 nước ta đã quy định về hạn mức giao đất khác nhau giữa các vùng trong cả nước Cụ thể Điều 5 Nghị định 64/CP quy định hạn mức đất trồng cây hàng năm cho mỗi hộ gia đình các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh thuộc Đông Nam Bộ (Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và TP Hồ Chí Minh) là 3
ha, các tỉnh thành trực thuộc TƯ khác là 2 ha Mặc dù bản chất không thay đổi nhưng quy định cụ thể theo tỉnh thành tồn tại nhiều bất cập khi có sự thay đổi địa giới hành chính và chưa tạo sự phát triển đồng đều cho cả vùng kinh tế Sau 10 năm thực hiện, Nghị định 181/2004/NĐ-CP đã khắc phục nhược điểm này bằng cách quy định hạn mức chung cho cả vùng Việc quy định có sự khác nhau giữa các khu vực trong cả nước cũng được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 129 Luật Đất đai năm 2013 thể hiện những điểm phù hợp với thực tế ở Việt Nam Quy định hạn mức đất nuôi trồng thủy sản và làm muối của Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là 3 ha trong khi các tỉnh thành khác là 2 ha
16 Nguyễn Thị Kiều Oanh (2013), Về hạn mức đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân theo dự thảo Luật Đất
đai sửa đổi, Khoa học pháp lý, (01), tr 53 – 58
Trang 40là hợp lý do đặc thù địa lý của đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ là vùng sông nước vàcó khả năng mở rộng diện tích nuôi trồng trên biển, người nông dân năng động, biết nắm bắt thời cơ để đạt hiệu quả sản xuất cao Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản nhiều nhất cả nước (310.841 ha – chiếm 82,4% tổng diện tích chuyển đổi của cả nước), trong đó 297.187 ha chuyển đổi từ diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả 17 Các con số thống kê cho thấy đây là vùng có tiềm năng lớn trong sản xuất nông nghiệp hàng năm, có những lợi thế về diện tích đất nông nghiệp (diện tích đất nông nghiệp của Đồng bằng sông Cửu Long cao gấp 3 lần so với Đồng bằng sông Hồng) Tuy Đồng bằng sông Hồng là vựa lúa thứ 2 của cả nước tuy nhiên đây cũng là khu vực điển hình của sức ép dân số, với mức bình quân đất nông nghiệp 0,05 ha/người (thấp nhất cả nước) Với tình trạng thiếu đất sản xuất như vậy thì việc giới hạn ở mức 2 ha là cần thiết Khi quy định như vậy, Nhà nước muốn tạo điều kiện cho người nông dân tập trung đất để phát triển trang trại với quy mô hợp lý Việc quy định hạn mức nhiều gấp rưỡi so với các vùng khác chính là tạo điều kiện cho sự phát triển của hai vùng kinh tế có đất canh tác rộng và quan hệ chuyển nhượng khá linh hoạt
Tuy nhiên vẫn có những ý kiến trái chiều về quy định này của pháp luật Cũng không thể phủ nhận rằng quy định này còn mang tính cứng nhắc, nặng tư tưởng cào bằng tất cả năng lực sản xuất của từng hộ gia đình, cá nhân ở từng vùng sản xuất… Những vấn
đề này tương đối phức tạp nên cần sự nghiên cứu và đưa ra giải pháp cụ thể để giải quyết những hạn chế nhất định
Thứ hai, hạn mức giao đất nông nghiệp trồng cây lâu năm cho hộ gia đình, cá nhân
Luật Đất đai năm 1993 chỉ quy định: “…mức đất nông nghiệp trồng cây lâu năm…do Chính phủ quy định”, và chỉ đến Nghị định 64/CP hướng dẫn mới đưa ra mức
cụ thể: “…các xã đồng bằng không quá 10 ha, các xã trung du miền núi không quá 30ha” Mặc dù Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 không có sự thay đổi
về hạn mức và khu vực địa chính áp dụng, nhưng lần đầu tiên những quy định này đã được đưa trực tiếp vào ngay trong điều luật, cho thấy sự hợp lý vẫn được phát huy sau
quá trình áp dụng gần 20 năm.Khoản 2 Điều 129 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hạn mức giao đất trồng cây lâu năm cho mỗi hộ gia đình, cá nhân không quá 10 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở đồng bằng; không quá 30 héc ta đối với xã, phường, thị trấn ở trung du, miền núi” Qua thực tế thực hiện thấy rằng quy định về hạn mức đất nông nghiệp đối với đất trồng cây lâu năm vẫn hợp lý bởi những lý do sau: Một là, xuất phát từ
đặc tính cây trồng lâu năm là loại cây có thời kỳ sinh trưởng trên 365 ngày, trồng một lần, cho thu hoạch nhiều năm và phải trải qua một thời kỳ xây dựng cơ bản mới có thể thu hoạch, bên cạnh đó việc trồng cây lâu năm còn phải đáp ứng những điều kiện về khoảng cách, diện tích để đảm bảo cây có thể phát triển sinh trưởng Hơn nữa, nếu là cây
http://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/7431802-.html