Thứ ba, nhận thức được tình hình thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, chỉ ra được những kết quả đạt được và các vấn đề tồn tại, hạn
Trang 1TRẦN THỊ HẰNG
PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TỪ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Thị Hoài Thu
HÀ NỘI – NĂM 2017
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
Tác giả Luận văn
Trần Thị Hằng
Trang 3Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn này, bên cạnh sự
cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
Với tấm lòng chân thành, kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin
được gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Hoài Thu -
người đã hết lòng giúp đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành việc nghiên cứu đề tài Luận văn này
Xin gửi lời tri ân tới các thầy cô Khoa Pháp luật Kinh tế nói chung, các thầy cô tổ bộ môn Luật Lao động (Trường Đại học Luật Hà Nội) nói riêng,
đã trang bị cho tôi những kiến thức nền tảng trong suốt hai năm đào tạo Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Hằng
Trang 4ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Trang 5Số Tên bảng Trang
1 Tiền lãi thu từ đầu tư quỹ BHXH qua các năm 51
2 Danh mục tài sản đầu tư từ quỹ BHXH qua các năm 52
3 Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư từ quỹ BHXH qua các năm 53
4 So sánh tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư với tỷ lệ lạm phát, tốc
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Tỷ lệ tăng lãi của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH 52
2 Tỷ suất lợi nhuận vốn đầu tư từ quỹ BHXH, tỷ lệ lạm phát
và tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế qua các năm 58
Trang 6Trang
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TỪ QUỸ
1.1 Quỹ bảo hiểm xã hội và hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội 7
1.1.1 Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội 7
1.1.2 Khái niệm hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội 11
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội 13 1.2 Điều chỉnh pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội 16
1.2.1 Nguyên tắc hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội 16
1.2.2 Nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội 19
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU
2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động đầu tư từ quỹ
2.1.2 Về các hình thức đầu tư 31
2.1.4 Về sử dụng nguồn tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư 45
2.1.5 Về xử lý rủi ro trong hoạt động đầu tư 47 2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt
2.2.1 Những thành tựu đạt được 50
2.2.2 Một số tồn tại, hạn chế 55
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TỪ QUỸ BẢO
3.1 Quan điểm, mục tiêu, yêu cầu hoàn thiện pháp luật về hoạt động
3.1.1 Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện pháp luật 62
Trang 73.2.1 Giải pháp pháp lý 67
3.2.2 Giải pháp tổ chức thực hiện 73
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội được xem là chính sách quan trọng nhất trong hệ thống
an sinh xã hội Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc được bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do
bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất Ở nước ta, bảo hiểm xã hội luôn là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước Quỹ bảo hiểm xã hội đóng vai trò quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội, là nguồn lực vật chất đảm bảo cho việc
tổ chức và thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội
Tuy nhiên thực tế hiện nay đang đặt ra một vấn đề hết sức cấp bách, đó
là sự mất cân đối giữa thu và chi bảo hiểm xã hội, dẫn đến nguy cơ “vỡ quỹ” Theo dự báo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), với các chính sách hiện hành, đến năm 2021, quỹ bảo hiểm xã hội của Việt Nam sẽ mất cân đối thu chi, đến năm 2034, có khả năng sẽ vỡ quỹ bảo hiểm xã hội Để tránh nguy cơ này, phải thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đảm bảo sự cân đối trong thu
- chi quỹ bảo hiểm xã hội Một trong những giải pháp cho vấn đề này là thực hiện có hiệu quả hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
Trong thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động đầu tư
từ quỹ bảo hiểm xã hội vẫn còn một số tồn tại, hạn chế Tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả, không thu hồi được vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội còn xảy ra, tác động đến an toàn tài chính của quỹ Điển hình là vụ việc Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho Công ty cho thuê tài chính I và Công ty cho thuê tài chính II vay nhưng không có khả năng thu hồi số tiền gần 1.500 tỷ đồng1
1 Bích Diệp (2017), “1500 tỷ đồng ALC 1,2 nợ Bảo hiểm Xã hội: Chờ quyết định của Chính phủ”, Báo Dân trí tại địa chỉ http://dantri.com.vn/kinh-doanh/1500-ty-dong-alc-12-no-bao-hiem-xa-hoi-cho-quyet-dinh-cua- chinh-phu-20170206162025107.htm ngày truy cập 20/6/2017
Trang 9Cụ thể hóa các quy định về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, ngày 28/4/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 30/2016/NĐ-CP quy định chi tiết về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp Theo đó pháp luật hiện hành đã có nhiều sửa đổi tiến bộ trong quy định về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư quỹ Mặc dù
có những điểm tiến bộ, song quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội vẫn còn một số hạn chế nhất định, đòi hỏi phải tiếp tục được hoàn thiện Vì vậy việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, cũng như các quy định của pháp luật, nhằm đưa ra giải pháp thực hiện có hiệu quả hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội là một vấn đề rất cấp thiết
Với những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Pháp luật về hoạt động
đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” làm Luận văn Thạc sỹ Luật học
của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu được nghiên cứu dưới
góc độ kinh tế, như: Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” năm 2004 của Nguyễn Trọng Thản; Luận văn Thạc sĩ Kinh tế “ Giải pháp tài chính nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội tại Việt Nam” năm 2008 của Nguyễn Thị Hồng Thảo; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của Học viện Tài chính “Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” năm 2015
do Tiến sĩ Đỗ Đình Thu, Tiến sĩ Nguyễn Thùy Linh làm chủ nhiệm đề tài Dưới góc độ nghiên cứu khoa học pháp lý, từ trước đến nay chưa có nhiều công trình tập trung nghiên cứu pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, chỉ có các công trình nghiên cứu pháp luật về quỹ bảo hiểm
xã hội nói chung, như: Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về quỹ bảo hiểm xã hội và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội” của Phạm
Trang 10Thành Công năm 2014; Luận văn Thạc sĩ Luật học năm 2015 của Trần Minh
Hoàng về “Hoàn thiện pháp luật về quản lý và đầu tư nguồn tài chính từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế”; Bài viết “Quỹ bảo hiểm xã hội và một số vấn đề về bảo toàn, phát triển quỹ bảo hiểm xã hội” của tác giả Nguyễn Hữu Chí đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6/2006
Có thể nói đến thời điểm hiện tại, chưa có công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nào để cập một cách toàn diện và có hệ thống, mang tính chuyên sâu về pháp luật trong lĩnh vực hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những khái niệm dưới góc độ pháp lý về quỹ bảo hiểm xã hội, hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội; nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội; các quy định của pháp luật Việt Nam và một số quốc gia về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm
xã hội; thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ nghiên cứu về một số vấn đề lý luận, thực trạng quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng và đề xuất một số kiến nghị trong việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam Luận văn không nghiên cứu các vấn đề về kỹ thuật, nghiệp vụ trong việc đảm bảo thực thi hoạt động này trên thực tế
4 Mục tiêu nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm thực hiện các mục tiêu:
Một là, làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về hoạt động đầu tư từ
quỹ bảo hiểm xã hội và pháp luật về hoạt động động đầu tư từ quỹ bảo hiểm
xã hội
Trang 11Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực
tiễn thi hành pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
Ba là, chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật hiện
hành, việc thực hiện các quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu trên, nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của Luận văn là:
Thứ nhất, nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quỹ bảo hiểm xã hội nói
chung và hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội nói riêng
Thứ hai, tìm hiểu một cách đầy đủ, và có hệ thống các quy định của
pháp luật hiện hành của nước ta về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
Thứ ba, nhận thức được tình hình thực tiễn thực hiện các quy định của
pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, chỉ ra được những kết quả đạt được và các vấn đề tồn tại, hạn chế
Thứ tư, luận giải về quan điểm, mục tiêu, yêu cầu hoàn thiện quy định
của pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội Đồng thời đề ra một số giải pháp khắc phục những tồn tại, bất cập trong các quy định của
pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư quỹ
6 Phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ nội dung, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:
Phương pháp phân tích: Phương pháp này được sử trong việc nêu ra
những khái niệm, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về hoạt
Trang 12động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội Từ đó chỉ ra những tồn tại, bất cập làm
cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
Phương pháp tổng hợp, đánh giá từ nguồn dữ liệu sẵn có Các nguồn
dữ liệu này bao gồm văn bản pháp luật của các cơ quan Nhà nước; nguồn số liệu, dữ liệu do các cơ quan Nhà nước hoặc đơn vị báo chí công bố
Phương pháp tập hợp, hệ thống, logic: Các nội dung cơ bản của pháp
luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội được tập hợp, hệ thống và phân tích để người đọc dễ dàng tiếp cận vấn đề
Phương pháp so sánh: Phương pháp này được ứng dụng trong việc
phân tích, so sánh các quy định cũ với quy định mới của pháp luật để đánh giá mức độ tiếp thu, hoàn thiện pháp luật của cơ quan soạn thảo Đồng thời, phương pháp này cũng được ứng dụng trong việc tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới để từ đó rút ra kiến nghị phù hợp
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm một số khái niệm về quỹ bảo hiểm
xã hội và hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội; tập hợp và hệ thống hóa các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
Luận văn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế khi nghiên cứu các vấn đề về pháp luật về đảm bảo an toàn quỹ bảo hiểm xã hội nói chung và pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm
xã hội nói riêng
8 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương:
Trang 13Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội và
sự điều chỉnh pháp luật
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm
xã hội ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TỪ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ SỰ ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT
1.1 Quỹ bảo hiểm xã hội và hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
1.1.1 Khái niệm quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH) hình thành, phát triển gắn liền với sự hình thành, phát triển của các chính sách về bảo hiểm xã hội, và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội Để đảm bảo thực hiện các chế độ BHXH, phải sử dụng nguồn tài chính từ quỹ BHXH, do đó quỹ BHXH chính là nguồn lực vật chất không thể thiếu nhằm đảm bảo cho việc tổ chức và thực hiện tốt chính sách BHXH Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về quỹ BHXH
Có quan điểm cho rằng, quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của người tham gia bảo hiểm xã hội, hình thành một quỹ tiền tệ tập trung
để chi trả cho người được bảo hiểm xã hội và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc
bị mất thu nhập do bị giảm, mất khả năng lao động hoặc mất việc làm2
Quan điểm khác định nghĩa quỹ BHXH là khoản tài chính dự trữ được lập dùng để chi trả cho các đối tượng được hưởng BHXH theo quy định của pháp luật3
Cũng có quan điểm cho rằng, quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia quan hệ BHXH và dùng để chi cho các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật4
Trang 15Có quan điểm lại cho rằng quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung được tập hợp từ những đóng góp bằng tiền của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả cho những người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do các rủi ro trong quá trình lao động5
Có thể thấy, các quan điểm trên đều xây dựng khái niệm “quỹ bảo hiểm
xã hội” gồm các nội dung sau: (1) Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ/tài chính tập trung; (2) nội dung về nguồn hình thành quỹ BHXH; và (3) nội dung về việc
sử dụng quỹ BHXH Tuy nhiên, các khái niệm “quỹ BHXH” nêu trên, còn có
sự khác biệt trong việc xác định các nguồn hình thành và các khoản chi từ quỹ BHXH Chưa có khái niệm nào thể hiện đầy đủ các nguồn hình thành quỹ và các khoản sử dụng của quỹ BHXH, vì:
Về nguồn hình thành quỹ: Quỹ BHXH được hình thành từ nhiều nguồn
khác nhau Trong đó, nguồn cơ bản là đóng góp của các bên tham gia BHXH, gồm người lao động và người sử dụng lao động (gọi là phí BHXH) Ngoài ra, quỹ BHXH còn được hình thành từ những nguồn khác, như: từ sự hỗ trợ của nhà nước; thu lợi từ hoạt động đầu tư của quỹ; tiền do các cơ quan, tổ chức
hỗ trợ cho quỹ; tiền phạt do các cơ quan, đơn vị vi phạm pháp luật về BHXH theo quy định
Về việc sử dụng quỹ BHXH: Quỹ BHXH chủ yếu được sử dụng để chi
trả các chế độ BHXH6 Ngoài ra, quỹ BHXH còn được sử dụng để chi trả chi phí cho bộ máy quản lý, chi cho hoạt động đầu tư từ quỹ
5
Đỗ Đình Thu, Nguyễn Thùy Linh (chủ nhiệm đề tài) (2015), Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư quỹ bảo
hiểm xã hội ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện, Học viện Tài chính, Hà Nội, tr 3
6 Theo Công ước số 102 Công ước về quy phạm tối thiểu về an sinh xã hội của ILO, có 9 chế độ BHXH là Chăm sóc y tế; trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp thai sản; trợ cấp tàn tật; trợ cấp tiền tuất Tùy thuộc vào điều kiện của mình, mỗi nước thực hiện các chế độ này ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất phải thực hiện được 3 chế độ Trong đó ít nhất phải có 1 trong 5 chế độ: Trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật, trợ cấp tiền tuất
Trang 16Từ những phân tích trên, có thể hiểu khái niệm quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung được hình thành từ nguồn đóng góp của các bên tham gia BHXH
và các khoản thu hợp pháp khác, chủ yếu được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH theo quy định của pháp luật
Quỹ BHXH có một số đặc trưng cơ bản sau:
Một là, quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập ngoài ngân sách nhà nước, nhưng sự an toàn về tài chính của quỹ được Nhà nước đảm bảo Quỹ BHXH
có nguồn thu và nhiệm vụ chi riêng, không do ngân sách nhà nước đảm bảo Tuy nhiên, sự an toàn về tài chính của quỹ được Nhà nước đảm bảo Điều này xuất phát từ tính chất quan trọng của quỹ đối với cuộc sống của người lao động Sự an toàn của quỹ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi, cuộc sống của người lao động khi gặp phải những hoàn cảnh khó khăn dẫn đến suy giảm hoặc mất khả năng lao động Mỗi người lao động luôn cần đến sự chi trả của quỹ BHXH trong suốt cuộc đời Trường hợp không rơi vào những hoàn cảnh ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì người lao động hướng đến quyền lợi được chi trả lương hưu lúc về già
Sự an toàn của quỹ BHXH được đặt ra cũng xuất phát từ tính chất quan trọng của quỹ trong hệ thống BHXH Vì quỹ BHXH là nguồn lực vật chất không thể thiếu giúp đảm bảo cho việc tổ chức và thực hiện tốt các chính sách BHXH Để đối phó với những rủi ro mang tính ngẫu nhiên làm giảm hoặc mất khả năng lao động thì cần có một lượng tiền dự trữ đủ lớn được hình thành và sử dụng trong một thời gian nhất định trên cơ sở những tính toán xác suất nảy sinh và mức độ nhu cầu bảo hiểm hiểm xã hội trong phạm
vi quỹ phục vụ
Do đó, yêu cầu đặt ra đối với quỹ BHXH là phải được bảo toàn về giá trị và hạn chế tối đa các rủi ro về tài chính, trong đó đặc biệt là giữ được giá trị (sức mua) của các khoản trợ cấp Một chế độ bảo hiểm với mức trợ cấp không thích ứng kịp thời với sự thay đổi về giá trị đồng tiền thì không đạt
Trang 17được mục đích đặt ra, nhất là trong điều kiện nền kinh tế phải đối mặt với nguy cơ lạm phát gia tăng Do đặc thù về đối tượng đảm bảo, bản chất, ý nghĩa của hoạt động bảo hiểm xã hội mà Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo an toàn về tài chính cho quỹ7
Hai là, về bản chất quỹ BHXH vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội Về mặt kinh tế, quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung, được tạo lập để
phân phối lại thu nhập cho người lao động, bảo đảm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi có sự kiện bảo hiểm xuất hiện Về mặt xã hội,
do có sự “san sẻ rủi ro” của BHXH, người lao động chỉ phải đóng góp một phần nhỏ trong thu nhập của mình cho quỹ BHXH, nhưng xã hội sẽ có một lượng vật chất đủ lớn để trang trải những rủi ro xảy ra Như vậy, quỹ BHXH
đã thực hiện nguyên tắc “lấy của số đông bù cho số ít”, điều này thể hiện sự tương thân, tương ái lẫn nhau giữa các thành viên trong xã hội
Ba là, quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH vừa mang tính chất bồi hoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn: Tính chất bồi hoàn của quỹ thể
hiện ở chỗ người lao động là đối tượng tham gia và đóng góp để hình thành quỹ BHXH, đồng thời, họ cũng là đối tượng được BHXH chi trả các chế độ khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra Tính không bồi hoàn thể hiện ở chỗ, cùng tham gia đóng góp BHXH nhưng có người được hưởng, có người không được hưởng (người sử dụng lao động phải đóng góp vào quỹ BHXH nhưng không được hưởng bất cứ khoản hỗ trợ nào); có người hưởng ít, có người hưởng nhiều (tùy thuộc vào sự kiện bảo hiểm xảy ra)
Bốn là, quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, tồn tại trong thời gian dài, luôn vận động và có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn: Quỹ BHXH được tạo lập
chủ yếu từ sự đóng góp, tham gia của người lao động và người sử dụng lao động và có tính chất phân phối lại lao động giữa những người tham gia
7 Nguyễn Hữu Chí (2006), Quỹ bảo hiểm xã hội và một số vấn đề về bảo toàn, phát triển quỹ bảo hiểm xã
hội, Nhà nước và Pháp luật (06), tr 63-64
Trang 18BHXH Khoảng thời gian kể từ khi đóng BHXH đến khi hưởng các chế độ BHXH thường tương đối dài Mặt khác, vì số người tham gia BHXH đông nên quỹ BHXH có nguồn lực tài chính mạnh, cùng với tính chất “đóng tiền trước hưởng sau” nên quỹ luôn có nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi
1.1.2 Khái niệm hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
Theo nghĩa chung nhất, hoạt động đầu tư được hiểu là quá trình bỏ vốn
để tạo ra một tài sản đem lại lợi nhuận8
Từ đó, trên cơ sở phân tích khái niệm
quỹ BHXH như trên, có thể hiểu hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội là quá trình sử dụng nguồn tài chính từ quỹ BHXH để thực hiện các hoạt động đầu tư, nhằm mục đích bảo toàn và tăng trưởng quỹ Hoạt động đầu tư từ quỹ
bảo hiểm xã hội mang những đặc điểm chung của hoạt động đầu tư, như: Yếu tố tiên quyết của hoạt động đầu tư đó là nguồn lực, bao gồm nguồn lực vật chất và con người Trong đó, yếu tố vật chất là nền tảng của hoạt động đầu tư bởi lẽ nếu không có nguồn vốn bằng tiền hay tài sản thì không thể tiến hành các hoạt động đầu tư; yếu tố con người là yếu tố quyết định tới quá trình cũng như kết quả của hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư nhằm hướng tới một mục tiêu nhất định Khi tiến hành hoạt động đầu tư, nhà đầu tư luôn đặt trước cho mình một kỳ vọng nào đó được gọi là mục tiêu Sau đó nhà đầu tư sẽ sử dụng nguồn lực vật chất và con người của mình để tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện được những mục tiêu ban đầu đã đề ra
Hiệu quả của hoạt động đầu tư phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Tuỳ thuộc vào sự chi phối của các tác động bên ngoài mà hoạt động đầu tư có thể thu được những hiệu quả tốt hoặc xấu Không phải lúc nào khi tiến hành các hoạt động đầu tư nhà đầu tư cũng thu được lợi ích lớn hơn so với ban đầu
mà có thể chịu những rủi ro do không sử dụng và quản lý tốt các nguồn lực
8 Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam tập I, Nxb Từ
điển bách khoa, Hà Nội, tr 761
Trang 19cũng như dự báo và xử lý tốt những nhân tố ảnh hưởng trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư thường mang tính lâu dài Để thu được kết quả như đã
đề ra ban đầu, nhà đầu tư thường phải tiến hành nhiều khâu, nhiều bước khác nhau Quá trình này thường diễn ra trong một khoảng thời gian tương đối dài Ngoài các đặc điểm chung của hoạt động đầu tư như trên, hoạt động đầu
tư từ quỹ bảo hiểm xã hội còn mang một số đặc trưng riêng, cụ thể như sau:
Thứ nhất, vốn đầu tư là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi: Nguồn tài chính
của quỹ BHXH nhằm thực hiện trách nhiệm của BHXH đối với người lao động chứ không phải là nguồn vốn kinh doanh Vì vậy, trong thời gian chưa
sử dụng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động thì khoản tiền này
“nhàn rỗi” Do nguồn vốn đầu tư là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi nên hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH không phải chịu sức ép về lãi suất nhưng phải
đảm bảo bảo toàn được nguồn vốn bỏ ra (đảm bảo khả năng thu hồi vốn) Thứ hai, hình thức đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội thường kém đa dạng hơn so với các hoạt động đầu tư khác: Điều này xuất phát từ bản chất nguồn
vốn của hoạt động đầu tư là khoản tiền nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm xã hội Do nguồn vốn của quỹ bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo các quyền lợi an sinh xã hội cho người lao động nên quỹ luôn phải có một khoản tiền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ này Để đảm bảo an toàn cho quỹ, phục vụ việc chi trả các chế
độ, chính sách của BHXH nên việc đầu tư từ quỹ BHXH thường được thực hiện vào một số lĩnh vực nhất định, có độ rủi ro thấp Vì vậy, hình thức đầu
tư từ quỹ BHXH thường kém đa dạng hơn so với các hoạt động đầu tư khác
Thứ ba, mục đích của hoạt động đầu tư là nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ Khác với các hoạt động đầu tư thông thường, mục đích cuối cùng
hướng tới là lợi nhuận Quỹ BHXH được hình thành nhằm bảo đảm bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi có những sự kiện bảo hiểm xảy ra, như: ốm đau, tai nạn lao động, thai sản…làm giảm hoặc mất hẳn các khoản
Trang 20thu nhập thường xuyên từ lao động nhằm duy trì và ổn định cuộc sống của người lao động Vì thế , mục đích chủ yếu của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội không phải nhằm tìm kiếm lợi nhuận, mà nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ Nói cách khác, bên cạnh mục tiêu lợi nhuận, mục tiêu xa hơn mà hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội hướng đến đó chính là mục tiêu xã
hội
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH có vai trò hết sức quan trọng đối với sự ổn định kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, bởi quỹ này được sử dụng chủ yếu để chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động, tạo ra sự san sẻ, tương trợ giữa những người lao động
Xuất phát từ bản chất “đóng tiền trước hưởng sau”, người tham gia BHXH đóng phí trong một thời gian dài và thường là rất lâu sau họ mới được hưởng các chế độ trợ cấp dài hạn (như hưu trí, tuất ) Đồng thời số người tham gia đóng phí và hưởng tại một thời điểm thường có chênh lệch dương (đôi khi khá lớn) nên quỹ BHXH tại một thời điểm nhất định có số tiền kết
dư lớn.Tuy nhiên, nếu chỉ giữ nguyên số tiền này mà không thực hiện các hoạt động đầu tư thì sẽ dẫn đến nguy cơ không bảo toàn được quỹ Bởi trong nền kinh tế thị trường luôn có một yếu tố tác động rất lớn đến các quỹ tài chính nói chung và quỹ BHXH nói riêng đó là lạm phát Lạm phát trong nền kinh tế dẫn đến nguy cơ mất giá của đồng tiền nếu chỉ cất giữ trong két mà không thực hiện các hoạt động đầu tư Đặc biệt, đối với nguồn tài chính thuộc quỹ BHXH có đặc trưng là khoảng thời gian kể từ khi đóng vào đến khi được hưởng là tương đối dài Vì vậy, hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH góp phần bảo toàn và tạo ra sự tăng trưởng của quỹ
Mặt khác, quỹ BHXH cũng luôn phải đối mặt với những nguy cơ rủi ro, như việc tính toán mức đóng - mức hưởng của đối tượng không khoa học; những biến động xã hội đặc biệt dẫn đến việc bội chi quỹ; bị giảm giá trị do
Trang 21lạm phát thông thường, do lạm phát từ các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và nước ngoài tác động
Những đặc thù đó đòi hỏi quỹ BHXH phải được chú trọng đến hoạt động đầu tư tăng trưởng để tránh bị bội chi Sự quay vòng bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH là một đặc trưng cơ bản của hoạt động BHXH trong nền kinh tế thị trường Hoạt động đầu tư quay vòng vốn để bảo toàn và tăng trưởng giá trị quỹ BHXH là một yêu cầu thiết yếu, khách quan, đảm bảo cho
sự tồn tại, phát triển và phát huy tác dụng của chính sách BHXH trong việc bảo đảm an sinh xã hội và hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển bền vững Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quỹ BHXH, với Nhà nước và đối với toàn xã hội, cụ thể:
Đối với quỹ bảo hiểm xã hội: Hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
trước hết giúp mang lại lợi ích cho chính quỹ bảo hiểm xã hội Thông qua hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội vào các lĩnh vực có khả năng sinh lời của nền kinh tế, khoản tiền nhàn rỗi từ quỹ bảo hiểm xã hội có khả năng sinh lời tạo ra nguồn tài chính tương đối lớn bổ sung vào quỹ, từ đó tăng quy mô
và sức mạnh cho quỹ bảo hiểm xã hội Khi hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm
xã hội tạo ra được nguồn tài chính bổ sung cho quỹ, sẽ giúp quỹ bảo hiểm xã hội tăng trưởng, đồng thời đảm bảo khả năng chi trả thường xuyên cho các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội Điều này tạo dựng tâm lý an tâm cho người tham gia, từ đó quy mô số người tham gia bảo hiểm xã hội ngày
càng tăng cũng tạo nên sự tăng trưởng cho quỹ
Đối với Nhà nước: Nguồn vốn lớn có được từ hoạt động đầu tư từ quỹ
bảo hiểm xã hội sẽ là nguồn hỗ trợ quan trọng trong việc đầu tư phát triển một số dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, giúp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu vốn cho đầu tư không ngừng tăng nhanh thì bên cạnh việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và nước ngoài, việc cung ứng vốn từ
Trang 22nền kinh tế thông qua các tụ điểm tài chính như quỹ bảo hiểm xã hội có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là tạo ra sự tự chủ và thế chủ động trong việc phát triển kinh tế đất nước
Mặt khác, thông thường Nhà nước phải hỗ trợ một phần ngân sách Nhà nước để cân bằng thu - chi quỹ bảo hiểm xã hội Do đó, nếu quỹ bảo hiểm xã hội đầu tư hiệu quả, đem lại nguồn tài chính ổn định, đảm bảo được khả năng chi trả sẽ giúp Ngân sách Nhà nước giảm được gánh nặng phải bù đắp cho quỹ bảo hiểm xã hội
Đối với xã hội: Hiện nay, quỹ BHXH thường được đầu tư vào các lĩnh
vực như: mua các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương hoặc trái phiếu công ty; gửi tiết kiệm ở ngân hàng, mua kỳ phiếu ngân hàng; mua cổ phiếu; cho các công ty vay vốn; trực tiếp liên doanh hoặc uỷ thác kinh doanh; kinh doanh bất động sản Trong đó, mua trái phiếu Chính phủ và gửi ngân hàng là an toàn hơn cả và được hầu hết các nước áp dụng
Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH góp phần thúc đầy sự phát triển của nền kinh tế, qua đó tạo thêm việc làm, đảm bảo đời sống, thu nhập cho người lao động Đặc biệt, ở những nước có hệ thống BHXH trưởng thành và hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, Nhà nước một mặt để hệ thống BHXH tự chủ về tài chính, mặt khác luôn hậu thuẫn để BHXH dám đầu tư vào lĩnh vực có thể ít lãi hơn nhưng có mục tiêu xã hội quan trọng (như cho vay xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, các công trình giáo dục hay chăm sóc sức khoẻ) Một số nước lập ngân hàng riêng trong hệ thống BHXH để đầu tư vào các xí nghiệp với mục tiêu chính là tạo công ăn việc làm
Như vậy, có thể thấy hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần cân đối thu chi quỹ BHXH, giúp bảo toàn và tăng trưởng quỹ, từ đó sẽ góp phần ổn định nền kinh tế - xã hội
Trang 231.2 Điều chỉnh pháp luật về hoạt động đầu tƣ từ quỹ bảo hiểm xã hội
Pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư từ quỹ
BHXH, bao gồm các quy định về: nguyên tắc đầu tư; hình thức đầu tư; phương án đầu tư; sử dụng nguồn tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư và xử lý rủi ro trong hoạt động đầu tư
1.2.1 Nguyên tắc hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
Nguyên tắc hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH là những tư tưởng chỉ đạo, xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH Nội dung các nguyên tắc hoạt động đầu tư thể hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư từ quỹ
BHXH
Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động bảo hiểm là thu tiền trước chi tiền sau dẫn tới một bộ phận tiền vốn trong quỹ BHXH ở trạng thái tạm thời nhàn rỗi Thêm vào đó, tính chất trong hoạt động phân phối của bảo hiểm là vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn, đồng thời tính bồi hoàn của bảo hiểm là hoàn toàn bất ngờ Vì thế, đầu tư tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ là tất yếu đối với việc quản lý tài chính của quỹ, hướng tới đảm bảo cân đối trong dài hạn cũng như tăng cường năng lực tài chính của quỹ BHXH Tuy nhiên, cũng vì chính những đặc điểm riêng có của bảo hiểm nên việc đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội phải thực hiện trên cơ sở những nguyên tắc nhất định9, bao gồm:
Một là, đầu tư từ quỹ BHXH phải đảm bảo an toàn Mục tiêu của quỹ
BHXH là đảm bảo an toàn thu nhập cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội cho dân cư, do đó quỹ BHXH phải luôn duy trì năng lực tài chính để sẵn
9 Trường Đại học Lao động - Xã hội (2016), Giáo trình Bảo hiểm xã hội, Nxb Lao động - Xã hội, tr.236 –
238
Trang 24sàng chi trả, hỗ trợ cho người lao động xử lý rủi ro và các tổn thất do rủi ro gây ra nếu có Những rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào, với đặc điểm đó, quỹ BHXH luôn phải tồn tích một lượng tiền cần thiết để đáp ứng Nếu đầu
tư không an toàn sẽ dẫn đến nguy cơ thâm hụt quỹ, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động, đẩy người lao động vào hoàn cảnh khó khăn, tạo thêm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Điều này sẽ gây ra những bất
ổn về kinh tế, xã hội của quốc gia, làm giảm sút lòng tin của người dân đối với Nhà nước Vì vậy, nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH là đảm bảo an toàn
Để đảm bảo nguyên tắc này, pháp luật thường quy định quỹ BHXH ít được đầu tư vào những lĩnh vực rủi ro cao, mạo hiểm lớn; không tập trung đầu tư vào một hoặc một số dự án, công trình mà thường phân tán đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau (cả trong nước và nước ngoài) để giảm thiểu rủi ro trong đầu tư Đồng thời, để tránh được những rủi ro khi đầu tư, pháp luật quy định về chính sách đầu tư, cơ chế giám sát đầu tư chặt chẽ (quy định cụ thể
về hạn mức đầu tư, chỉ định lĩnh vực đầu tư, bảo hộ trong quá trình đầu tư )
Hai là, đầu tư từ quỹ BHXH phải hiệu quả Hiệu quả đầu tư được hiểu là
khả năng sinh lời từ kết quả đầu tư của quỹ BHXH Dưới góc độ kinh tế, bất
kỳ hoạt động đầu tư nào cũng phải có lãi, tức là phải thu được lợi nhuận, sau khi đã trừ đi các chi phí đầu tư Mặc dù mục tiêu hoạt động của quỹ BHXH là phi lợi nhuận, nhưng để đảm bảo cho quỹ BHXH có độ an toàn cao, có thể chi trả cho những người thụ hưởng cả ở hiện tại và trong tương lai, quỹ BHXH không những phải bảo toàn được giá trị mà còn phải có sự tăng trưởng Để thực hiện được mục tiêu tăng trưởng quỹ, đòi hỏi hoạt động đầu
tư từ quỹ BHXH phải có hiệu quả, mang lại lợi nhuận Lợi nhuận thu được từ các hoạt động đầu tư phải được tiếp tục tái đầu tư và một phần để bù đắp những chi phí tăng thêm trong việc quản lý quỹ BHXH
Trang 25Nguyên tắc này không hề mâu thuẫn với nguyên tắc đầu tiên về tính an toàn trong hoạt động đầu tư Vì đầu tư an toàn không có nghĩa là không mang lại lợi nhuận; đầu tư có hiệu quả cũng không có nghĩa là đầu tư không an toàn Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH phải đảm bảo hài hòa giữa hai nguyên tắc này thì mới đạt được mục đích là bảo toàn và tăng trưởng quỹ
Để thực hiện được nguyên tắc này, pháp luật quy định danh mục đầu tư, các lĩnh vực đầu tư chủ yếu, trên cơ sở đó, các cơ quan có thẩm quyền quyết định các hình thức đầu tư cụ thể Đối với từng dự án đầu tư, BHXH phải cân nhắc, đánh giá cẩn thận về những rủi ro có thể gặp phải, khả năng sinh lời của dự án để hạn chế thiệt hại có thể xảy ra, hoặc quyết định có tiếp tục đầu
tư nữa hay không
Ba là, đầu tư từ quỹ BHXH phải đảm bảo thuận tiện khi thu hồi vốn
Hoạt động chi trả trợ cấp BHXH, mặc dù phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, liên quan đến các rủi ro xã hội và các sự kiện được bảo hiểm với những quy mô và mức độ khác nhau, nhưng nhìn chung, diễn ra thường xuyên Mặt khác, những rủi ro dẫn tới việc chi trả từ quỹ BHXH có tính chất bất ngờ Vì vậy, quỹ BHXH phải luôn duy trì khả năng thanh toán cao nhất cho các đối tượng thụ hưởng
Do vậy, đầu tư quỹ vào lĩnh vực nào, dưới hình thức nào cũng phải đảm bảo sự thuận tiện khi thu hồi vốn (tính thanh khoản cao), nghĩa là phải đảm bảo khả năng chuyển đổi các tài sản đầu tư thành tiền mặt để thực hiện nghĩa
vụ chi trả cho người lao động Do đó, khi đầu tư, quỹ BHXH phải thực hiện một trong những tiêu chuẩn lựa chọn tài sản đầu tư là tính “lỏng” cao, tức là
có khả năng chuyển đổi từ tài sản đầu tư sang tài sản thanh toán nhanh và không phải chịu những phí tổn lớn
Bốn là, hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH nhằm phục vụ những lợi ích công cộng Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan trọng
của Nhà nước Mục đích của bảo hiểm xã hội là đảm bảo thu nhập cho người
Trang 26lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội Mục đích xa hơn của bảo hiểm xã hội là nhằm góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao mức sống chung của dân cư Vì vậy, song song với các yêu cầu về hiệu quả kinh tế nhằm tăng trưởng quỹ, việc đầu tư quỹ bảo hiểm
xã hội cũng cần phải đạt hiệu quả về mặt xã hội, đảm bảo được các lợi ích xã hội
Đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội phải luôn gắn liền với các chính sách về xã hội như dân số, lao động, việc làm, cải thiện môi trường lao động và môi trường sống Việc đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội cần chú trọng tới các dự án phục vụ công cộng và các mục tiêu xã hội thực sự, mặc dù lợi nhuận (hiệu quả kinh tế) đầu tư có thể thấp Các dự án đầu tư phải là động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, phải phục vụ trước hết là lợi ích trực tiếp của những người tham gia BHXH và những lợi ích công cộng khác; phục vụ gián tiếp người lao động , như tạo việc làm, cải thiện nhà ở, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của dân cư Vì vậy, khi lựa chọn các dự án đầu tư, nhà đầu tư BHXH phải tuân thủ hài hòa hai mục tiêu là lợi nhuận và lợi ích công cộng
1.2.2 Nội dung pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
Tùy vào đặc điểm chính trị, kinh tế, xã hội riêng của mỗi nước mà pháp luật có các quy định khác nhau Nhưng nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định nội dung hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH gồm: hình thức đầu tư, phương án đầu tư, sử dụng nguồn tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư và xử lý
rủi ro trong hoạt động đầu tư
Hình thức đầu tƣ
Về mặt lý thuyết, quỹ BHXH là một quỹ tài chính, do đó, quỹ BHXH
có thể sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư vào tất cả các lĩnh vực, tất cả các thị trường có thể mang lại lợi nhuận Quỹ BHXH có thể đầu tư vào các lĩnh vực như: Mua trái phiếu Chính phủ; cho ngân sách Nhà nước vay; đầu tư chứng khoán của các công ty do Chính phủ bảo lãnh phát hành; trái phiếu
Trang 27doanh nghiệp; cho vay và gửi tiền tại các ngân hàng để hưởng lãi; kinh doanh bất động sản; đầu tư vào thị trường chứng khoán; đầu tư vào các công trình quốc gia do Chính phủ quyết định10… Trong đó, mỗi hình thức đầu tư đều có
những ưu điểm và hạn chế nhất định, cụ thể:
Thứ nhất, mua trái phiếu Chính phủ, cho ngân sách nhà nước vay: Đây
là những hình thức đầu tư an toàn, đảm bảo khả năng thu hồi vốn cao Tuy nhiên, hạn chế của hình thức đầu tư này là lãi suất thu được từ hoạt động đầu
tư thường không lớn
Thứ hai, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng: Đây là hình thức đầu tư ngắn
hạn và đơn giản nhất, BHXH thực hiện việc ký thác nguồn vốn của mình tại các tổ chức tín dụng và hưởng lãi suất Ưu điểm của hình thức này là, kỹ thuật tính toán đơn giản, mức độ an toàn vốn cao Tuy nhiên, điểm bất lợi của hình thức đầu tư này là lãi suất không ổn định (phụ thuộc vào sự điều chỉnh
vĩ mô nền kinh tế bằng chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương)
Thứ ba, đầu tư cho vay: Về nguyên tắc, BHXH có thể cho tất cả các đối
tượng là tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn vay Tuy nhiên,để đảm bảo an toàn, việc cho vay phải tiến hành theo hình thức cho vay có bảo đảm, một số nước quy định việc cho vay từ quỹ BHXH bắt buộc phải có thế chấp Với hình thức đầu tư cho vay, quỹ BHXH có thể thu được lãi suất cao, đảm bảo
sự an toàn vốn và thời hạn đầu tư dài Song BHXH khó có thể cạnh tranh được với các ngân hàng thương mại - những tổ chức cho vay chuyên nghiệp Mặt khác, trong điều kiện thị trường mua bán nợ chưa phát triển thì tính thanh khoản trong hoạt động đầu tư cho vay là tương đối thấp
Thứ tư, đầu tư vào chứng khoán: Đầu tư vào chứng khoán bao gồm đầu
tư vào các chứng khoán vốn là cổ phiếu, chứng khoán nợ là trái phiếu và các
Trang 28chứng khoán khác của thị trường tiền tệ (tín phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, các loại chứng chỉ tiền gửi…)
Đầu tư vào cổ phiếu có một số ưu điểm: Đầu tư vào cổ phiếu có thể
mang lại lợi nhuận rất cao, có thể tái đầu tư để tối đa hóa lợi nhuận; cổ phiếu
có khả năng tăng vốn trong dài hạn, có khả năng chống lại lạm phát; trong điều kiện thị trường chứng khoán phát triển, việc mua bán, chuyển nhượng cổ phiếu diễn ra dễ dàng nên khả năng chuyển thành tiền mặt, đảm bảo tính thanh khoản cao Tuy nhiên, bất lợi lớn nhất của hình thức đầu tư này là tính mạo hiểm lớn Thực tế thị trường chứng khoán cho thấy giá cổ phiếu luôn có
sự biến đổi liên tục, khó có thể đoán trước được
Vì vậy, cổ phiếu được coi là những tài sản rủi ro nhất trên thị trường chứng khoán Để đảm bảo nguyên tắc an toàn, một số nước quy định quỹ BHXH không được đầu tư vào lĩnh vực này; các quốc gia cho phép đầu tư vào chứng khoán thì luôn có quy định về tỷ lệ hạn chế trên tổng số vốn đầu
tư
Đầu tư vào trái phiếu có lợi thế là: Tỷ lệ lãi suất thường được ấn định từ
đầu nên người đầu tư biết được dòng thu nhập dự kiến trong tương lai, do đó, nguồn thu nhập thường xuyên được đảm bảo Tính rủi ro thấp vì trái phiếu trên thị trường thường do Chính phủ, hoặc các doanh nghiệp, ngân hàng thương mại lớn, có uy tín phát hành nên việc thanh toán vốn và lãi khi đáo hạn là tương đối chắc chắn hơn so với các loại hình cho vay khác Tuy nhiên, việc đầu tư vào trái phiếu không chống được lạm phát Nếu tỷ lệ lạm phát diễn ra không theo dự kiến có thể làm cho việc đầu tư trái phiếu bị thiệt hại
về giá trị vốn, do lãi suất thực âm
Đầu tư vào các chứng khoán của thị trường tiền tệ: Các công cụ của thị
trường tiền tệ là những chứng khoán nợ ngắn hạn được mua bán trên thị trường tiền tệ Loại chứng khoán này thường có kỳ hạn là 01 năm hoặc ngắn hơn, và thường trả lãi cho nhà đầu tư dưới hình thức bán thấp hơn mệnh giá
Trang 29(đến ngày đáo hạn, người sở hữu chứng khoán sẽ nhận được số tiền bằng mệnh giá chứng khoán) Người mua chứng khoán có thể giữ chứng khoán đến ngày đáo hạn hoặc bán nó ở thị trường thứ cấp trước khi đến hạn Các loại chứng khoán này thường ít rủi ro, có tính thanh khoản cao Tuy nhiên do
kỳ hạn ngắn, nên chỉ thích hợp để đầu tư nguồn vốn nhàn rỗi ngắn hạn
Thứ năm, đầu tư vào bất động sản: Đầu tư quỹ BHXH vào lĩnh vực bất
động sản có thể mang lại nguồn lợi nhuận lớn, có khả năng chống lại lạm phát do việc tăng giá bất động sản Tuy nhiên, bất động sản cũng là lĩnh vực đầu tư nhiều mạo hiểm bởi tương tự như giá cả chứng khoán, quy luật của sự biến động giá cả bất động sản là không theo quy luật nào Do đó sự lên xuống giá cả của các loại bất động sản rất thất thường và khó đoán trước Mặt khác, việc mua bán, chuyển nhượng các loại bất động sản như nhà ở, đất đai, văn phòng… luôn phải tuân theo những trình tự thủ tục pháp lý nhất định nên khả năng chuyển đổi thành tiền mặt trong thời gian ngắn của loại tài sản này là không cao, không đảm bảo được tính thanh khoản của quỹ BHXH
Nhìn chung, mỗi loại tài sản đầu tư đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định Để phát huy hiệu quả, giảm rủi ro trong đầu tư cách tối ưu nhất là đầu tư vào nhiều loại tài sản với các mức độ khác nhau Tùy theo điều kiện của mỗi nước, pháp luật quốc gia sẽ quy định cụ thể các hình thức đầu tư từ quỹ BHXH
Về hình thức đầu tư, pháp luật Trung Quốc cho phép quỹ BHXH được đầu tư đối với cả tài sản trong nước và tài sản ở nước ngoài Trong đó, danh mục đầu tư của quỹ này chủ yếu giới hạn ở tiền gửi vào các tổ chức tín dụng, trái phiếu chính phủ và những công cụ tài chính có tính thanh khoản tốt, bao gồm: cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, trái phiếu doanh nghiệp Cụ thể, tỷ lệ đầu tư của quỹ BHXH quốc gia được quy định như sau: tỷ lệ tiền gửi ngân hàng và trái phiếu chính phủ không ít hơn 50% (trong số đó, tỷ lệ tiền gửi ngân hàng không được thấp hơn 10%); tỷ lệ đầu tư trái phiếu doanh nghiệp
Trang 30tối đa không quá 10%; tỷ lệ mua cổ phiếu, chứng chỉ quỹ không được vượt quá 40%.11
Quỹ Hưu trí Quốc gia Hàn Quốc được thành lập từ năm 1988 và do cơ quan quản lý hưu trí quốc gia quản lý Hiện nay, quỹ Hưu trí Quốc gia Hàn Quốc là một trong 20 quỹ hưu trí lớn nhất thế giới Để có được kết quả đó, quỹ này đã trải qua rất nhiều lần cải cách, sửa đổi cả về hệ thống quản lý và
cơ chế đầu tư quỹ với mục tiêu thu gọn bộ máy quản lý và tăng tính hiệu quả trong công tác đầu tư quỹ.12
Về hình thức đầu tư, pháp luật Hàn Quốc đã thay đổi theo hướng thực hiện đa dạng hóa các hình thức đầu tư: chuyển dần từ đầu tư trái phiếu sang đầu tư thêm cổ phiếu; chuyển dần một phần tài sản đầu
tư ở trong nước sang đầu tư ở nước ngoài; dịch chuyển một phần tài sản đầu
tư với lãi suất cố định sang đầu tư vào các tài sản khác có lãi suất cao hơn Còn ở Malaysia, hoạt động BHXH được thực hiện bởi hai quỹ là quỹ
do tổ chức BHXH Malaysia (SOCSO) quản lý và Quỹ phòng xa dành cho người lao động (EPF) do Bộ Tài chính quản lý Trong bộ máy tổ chức của hai quỹ này đều có bộ phận chuyên trách về đầu tư tăng trưởng quỹ.Quỹ BHXH thuộc SOCSO thực chất là quỹ BHXH ngắn hạn, chủ yếu được dùng để chi trả các chế độ: Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; y tế; phục hồi, tuất Các hình thức đầu tư từ quỹ này gồm: Trái phiếu Chính phủ Malaysia; Các khoản đầu tư hoặc chứng khoán phát hành bởi các tổ chức tín dụng có tín nhiệm; và các khoản đầu tư khác do Chính phủ quy định.Quỹ EPF là quỹ BHXH dài hạn, chủ yếu được dùng để chi trả các chế độ BHXH: hưu trí, tử tuất và người sống phụ thuộc Các hình thức đầu tư của quỹ này gồm: trái phiếu Chính phủ; đầu tư vào thị trường tiền tệ; các khoản vay và giấy nợ; cổ phiếu không có lãi cố định và đầu tư khác
11
Lê Quốc Công, “Kinh nghiệm phát triển nhà đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, Hàn
Quốc và Nhật Bản” tại địa chỉ
Trang 31Quỹ phòng xa của Singapore (CPF) được thành lập năm 1955 với mục đích cung cấp các đảm bảo tài chính cho người lao động trong trường hợp họ nghỉ hưu Dần dần, quỹ này không chỉ cung cấp các chế độ BHXH mà còn cung cấp sự bảo vệ về mặt tài chính cho các thành viên CPF và gia đình họ thông qua hệ thống bảo hiểm của CPF Theo pháp luật của Singapore, quỹ CPF chủ yếu đầu tư vào trái phiếu Chính phủ Ngoài ra, CPF còn đầu tư vào các lĩnh vực sau: Các chứng khoán có thu nhập cố định phát hành tại Singapore của bất kỳ công ty nào được pháp luật thừa nhận; Các khoản tiền gửi sinh lãi bằng đồng đôla Singapore tại Ngân hàng Nhà nước hoặc tại các ngân hàng thương mại và các công ty tài chính ở Singapore; Các chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển nhượng bằng đồng đôla Singapore do các ngân hàng thương mại phát hành và các cổ phần do các công ty đầu tư tài chính phát hành.Quỹ CPF cũng được đầu tư ra nước ngoài nhưng giới hạn tối đa là 30% tổng số tiền của quỹ và chỉ được mua các chứng khoán loại A do các Chính phủ nước ngoài phát hành
Theo quy định của pháp luật Thái Lan, các hình thức đầu tư từ quỹ BHXH bao gồm: Gửi tiền tại Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại tư nhân; Đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp; Trái phiếu Chính phủ
Do ý nghĩa xã hội của BHXH, những nguyên tắc của BHXH đã được ILO khuyến nghị các nước thành viên mà việc quản lý, sử dụng quỹ BHXH
có hiệu quả cần phải đảm bảo tính dân chủ, công khai, minh bạch và trên cơ
Trang 32sở của cơ chế ba bên13 Vì vậy, việc xây dựng, quyết định phương án đầu tư thường do đại diện của người sử dụng lao động, đại diện người lao động và Nhà nước cùng thảo luận, quyết định
Theo pháp pháp luật BHXH Trung Quốc14, quỹ BHXH được quản lý trực tiếp bởi Hội đồng Quốc gia quản lý quỹ BHXH Hội đồng quốc gia quản
lý quỹ là cơ quan có trách nhiệm phát triển nguồn vốn đầu tư của quỹ, và đưa
ra chiến lược đầu tư cũng như kế hoạch thực hiện chiến lược đó Hội đồng này có thể lựa chọn tự mình đầu tư (trong phạm vi cho phép của các cấp có thẩm quyền) hoặc giao cho bên thứ ba quản lý đầu tư và giám sát hoạt động của tổ chức này; đồng thời thực hiện công tác kế toán, chuẩn bị các báo cáo tài chính định kỳ; công bố tới công chúng các báo cáo về tình trạng tài chính của quỹ, bao gồm các thông tin về tài sản, đầu tư, dòng tiền…
Pháp luật Hàn Quốc cũng quy định mở rộng cơ chế quản lý quỹ bằng cách thuê các công ty quản lý quỹ bên ngoài quản lý một phần tài sản của quỹ Ngoài ra, Hàn Quốc hình thành sự chuyên nghiệp hóa công tác quản lý đầu tư quỹ thông qua cải cách quản lý và thành lập đối tác chiến lược đối với các công ty quản lý đầu tư quỹ trong và ngoài nước
Phương án đầu tư được xây dựng dựa trên những phân tích, đánh giá về kết quả hoạt động đầu tư năm trước, những dự báo về tình hình kinh tế - xã hội của năm, và bao gồm các nội dung như tổng số tiền sử dụng đầu tư, các hình thức đầu tư, cơ cấu đầu tư, thời hạn đầu tư, mức lãi suất đầu tư Nội dung phương án đầu tư phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức đầu tư
Pháp luật Trung Quốc quy định về mức độ rủi ro cho phép và mục tiêu đầu tư cụ thể cho các kỳ đầu tư ngắn hạn và dài hạn Đối với những khoản đầu tư ngắn hạn, mức độ rủi ro cho phép không được quá 10% và mục tiêu
Trang 33của khoản đầu tư này là kết quả đầu tư phải tốt hơn mức so sánh tổng hợp do Quỹ BHXH Trung Quốc đưa ra Đối với những khoản đầu tư trung và dài hạn, mức lợi nhuận tối thiểu thực tế hàng năm không được thấp hơn 3,5% và mục tiêu đạt ra là kết quả đầu tư phải lớn hơn hoặc bằng chỉ số lạm phát 2.0% trong cùng thời kỳ
Sử dụng nguồn tiền sinh lời từ hoạt động đầu tƣ
Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH nhằm mục đích bảo toàn và tăng trưởng quỹ Mặt khác, để duy trì được hoạt động của hệ thống bảo hiểm xã hội cần phải có các khoản chi phí quản lý bảo hiểm xã hội (như tổ chức thu, chi trả bảo hiểm xã hội và hoạt động bộ máy của cơ quan bảo hiểm xã hội; Tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội; tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm xã hội ) Tuy nhiên, không thể
sử dụng nguồn đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động để chi trả cho loại chi phí này được, vì đó là nguồn tiền để dành” cho người lao động khi có rủi ro xảy ra Vì vậy, kinh phí chi cho hoạt động quản lý bộ máy BHXH được trích từ nguồn tiền sinh lời thu được từ hoạt động đầu tư
Do đó, pháp luật quy định cụ thể về việc phân bổ nguồn tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư nhằm sử dụng hiệu quả nguồn tài chính này
Xử lý rủi ro trong hoạt động đầu tƣ
Rủi ro trong hoạt động đầu tư là những tổn thất có khả năng xảy ra đối với hoạt động đầu tư Với biểu hiện cụ thể là không thu hồi được toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư, không thu được lãi từ hoạt động đầu tư, hoặc thu hồi vốn, lãi từ hoạt động đầu tư không đúng hạn.Trong nền kinh tế thị trường, nguy cơ xảy ra rủi ro trong hoạt động đầu tư là không thể tránh khỏi, kể cả hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH Xử lý rủi ro trong hoạt động đầu tư nhằm khắc phục, hạn chế thấp nhất hậu quả xấu có thể xảy ra khi đầu tư không hiệu quả, có nguy cơ gây tổn thất cho nhà đầu tư
Trang 34Xuất phát từ vai trò, ý nghĩa của BHXH mà sự an toàn về tài chính của quỹ BHXH luôn được đặt lên hàng đầu Các quy định về vấn đề xử lý rủi ro trong hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội góp phần tăng khả năng thu hồi được vốn, bảo đảm sự an toàn tài chính của quỹ bảo hiểm xã hội Nếu không quy định về vấn đề xử lý rủi ro thì quỹ bảo hiểm xã hội sẽ bị động trong việc đối phó với những biến cố không mong muốn xảy ra trong quá trình đầu tư Điều này dẫn tới nguy cơ không thu hồi được vốn, gây thâm hụt quỹ, tác động trực tiếp tới khả năng chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đối tượng hưởng - người lao động và thân nhân của họ
Vì vậy, để chủ động đối phó với những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động đầu tư, pháp luật quy định cụ thể về các nguyên tắc, trường hợp, biện pháp xử lý rủi ro và thẩm quyền, trình tự, thủ tục tiến hành việc xử lý rủi ro
Từ những phân tích về quy định của pháp luật một số quốc gia về hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH ở trên, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về hình thức đầu tư: Đa dạng hóa các hình thức đầu tư từ quỹ
BHXH được coi là tiêu chí cần thiết để đảm bảo tính an toàn trong công tác quản lý quỹ và nguyên tắc phân bổ rủi ro
Cụ thể, để đảm bảo tính an toàn và tăng trưởng cho quỹ BHXH, pháp luật quy định nguồn vốn được phân bổ vào các hình thức đầu tư như chứng khoán, bất động sản, trái phiếu Chính phủ, cho vay… cả ở trong nước và nước ngoài với các tỷ lệ giới hạn nhất định Song song với các quy định nhằm đa dạng hóa các hình thức đầu tư từ quỹ BHXH, pháp luật cũng quy định về hạn mức đầu tư đối với từng hình thức đầu tư nhằm đảm bảo sự an toàn, và tăng trưởng quỹ
Thứ hai, về việc xây dựng, thực hiện phương án đầu tư Từ những kinh
nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy, trong khoảng thời gian đầu tiến
Trang 35hành hoạt động đầu tư từ quỹ, pháp luật các nước chưa xây dựng được mô hình quản lý quỹ chuyên nghiệp, hoạt động xây dựng, thực hiện phương án đầu tư và giám sát đầu tư đều do cơ quan BHXH thực hiện Hạn chế của mô hình quản lý này là khó đảm bảo sự minh bạch và đúng pháp luật trong hoạt động đầu tư khi mà cơ quan đầu tư và cơ quan giám sát đều nằm trong cùng một tổ chức Mặt khác, cơ quan đầu tư và cơ quan giám sát đều nằm trong tổ chức BHXH - thường không phải là một tổ chức chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư nên thường rất khó khăn trong việc triển khai các hoạt động đầu
tư Ngoài ra, đầu tư quỹ chỉ giao cho một tổ chức đầu tư sẽ tạo ra thế độc quyền trong hoạt động đầu tư, không có sự cạnh tranh nên hiệu quả đầu tư thường không cao
Từ đó xu hướng của pháp luật các nước phát triển trên thế giới hiện nay
là quy định thành lập hội đồng quản lý quỹ và thiết lập tổ chức chuyên trách
về đầu tư tăng trưởng quỹ Đồng thời, pháp luật cũng quy định, đối với một
số hình thức đầu tư, BHXH không được trực tiếp thực hiện mà phải ủy thác cho các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp thực hiện Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là các công ty quản lý quỹ được phép trực tiếp sử dụng nguồn vốn để đầu tư mà phải thông qua một ngân hàng giám sát để đầu tư, và chỉ được đầu tư vào danh mục tài sản đã được Hội đồng quản lý và cơ quan đầu
tư quỹ thông qua Mọi hoạt động đầu tư của các công ty quản lý quỹ đều phải dựa trên hợp đồng ủy thác đầu tư và Ngân hàng giám sát sẽ dựa trên hợp đồng này để tiến hành các hoạt động tài chính đối với công ty quản lý quỹ Với mô hình sử dụng các công ty quản lý quỹ chuyên nghiệp này, đã tạo
ra cơ chế đầu tư và giám sát độc lập, riêng biệt, đảm bảo tính minh bạch trong mỗi hoạt động đầu tư; hình thành sự chuyên nghiệp hóa công tác đầu tư
và hoạt động giám sát; đồng thời tạo ra tính cạnh tranh giữa các công ty quản
lý quỹ với nhau Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH
Trang 36Kết luận chương 1
Việt Nam hiện đang phải đối mặt với nguy cơ về việc vỡ quỹ BHXH, do
đó, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp, trong đó có việc nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH là hết sức cần thiết Các quy định của pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH được hoàn thiện sẽ tạo ra cơ sở pháp
lý vững chắc để thực hiện tốt hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH
Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH là quá trình sử dụng nguồn tài chính từ
quỹ BHXH để thực hiện các hoạt động đầu tư, nhằm mục đích bảo toàn và tăng trưởng quỹ Vì vậy hoạt động này có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng đối với quỹ BHXH, với Nhà nước và toàn xã hội Nhờ sự đổi mới, thay đổi các quy định pháp luật, hiệu quả từ hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH của một
số nước trên thế giới đã được cải thiện rõ rệt Đây là những bài học kinh nghiệm để Việt Nam học tập nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực này
Thông qua việc nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm,vai trò, ý nghĩa của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH và kinh nghiệm pháp luật về hoạt động đầu
tư từ quỹ BHXH của một số nước trên thế giới trong chương 1 là cơ sở để tác giả nghiên cứu các nội dung cơ bản ở chương 2 và đưa ra một số kiến nghị,
đề xuất để hoàn thiện pháp luật về hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH Việt Nam
ở chương 3
Trang 37Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TỪ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội
2.1.1 Về nguyên tắc đầu tư
Về nguyên tắc đầu tư, Điều 91 Luật BHXH năm 2014 quy định: “Hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được vốn đầu tư” Nghị định số 30/2016/NĐ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ quy định chi tiết hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp khẳng định lại và bổ sung chi tiết hơn về nguyên tắc này như sau: “Hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm
y tế, bảo hiểm thất nghiệp phải bảo đảm minh bạch, an toàn, hiệu quả và thu hồi được vốn đầu tư”
Nguyên tắc đầu tư được pháp luật nước ta quy định khá tương đồng so với lý thuyết về nguyên tắc đầu tư từ quỹ BHXH được các nước trên thế giới thừa nhận Pháp luật đã quy định hai nguyên tắc cơ bản trong hoạt động đầu
tư từ quỹ BHXH là nguyên tắc an toàn và nguyên tắc hiệu quả, đồng thời bổ sung thêm nguyên tắc bảo đảm minh bạch và thu hồi được vốn đầu tư Những nguyên tắc này là cơ sở nền tảng để quy định về hình thức, phương án đầu tư,
sử dụng tiền sinh lời và xử lý rủi ro trong hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH Quy định nguyên tắc “thu hồi được vốn đầu tư” đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền cần hết sức thận trọng trong việc quyết định đầu tư, tránh trường hợp tương tự như đã xảy ra tại hai công ty Cho thuê Tài chính I và II Tuy nhiên cần phải hiểu “thu hồi được vốn đầu tư” không phải là một nguyên tắc riêng trong hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH mà đây là một trong những yếu tố của nguyên tắc an toàn và hiệu quả Bởi đầu tư an toàn, hiệu quả thì phải đảm
Trang 38bảo được điều kiện tối thiểu là có khả năng thu hồi vốn Nói cách khác, nếu đầu tư mà không thu hồi được vốn thì dự án đầu tư đó đương nhiên không mang lại hiệu quả, không đảm bảo được sự an toàn trong hoạt động đầu tư Pháp luật nước ta quy định nguyên tắc đảm bảo minh bạch trong hoạt động đầu tư là điều cần thiết Quỹ BHXH chủ yếu được hình thành từ sự đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động, nên có thể coi họ là những “cổ đông” “chủ sở hữu” của quỹ BHXH Tuy nhiên, người sử dụng lao động và người lao động không trực tiếp thực hiện hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH Cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng, quyết định thực hiện hoạt động này là BHXH Việt Nam và Hội đồng quản lý BHXH Mặt khác, hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH có vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng đối với tình hình kinh tế, xã hội của đất nước Chính vì vậy, hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH có minh bạch thì mới đảm bảo được hiệu quả đầu tư
Hiện nay, pháp luật không quy định về nguyên tắc hoạt động đầu tư phải
đảm bảo thuận tiện khi thu hồi vốn và phục vụ cho những lợi ích công cộng
Ngoài ra, pháp luật cũng chưa quy định thế nào là an toàn, hiệu quả, minh bạch trong hoạt động đầu tư
Như vậy, có thể thấy các quy định của pháp luật nước ta về nguyên tắc đầu tư từ quỹ BHXH “vừa thừa lại vừa thiếu” Điều này làm cho các cơ quan quản lý và thực hiện đầu tư quỹ BHXH Việt Nam khó xác định được mục tiêu đầu tư cụ thể, khó xây dựng được chiến lược đầu tư, lộ trình phát triển dài hạn của hoạt động đầu tư quỹ BHXH
Trang 39Hiện nay, các hình thức đầu tư từ quỹ BHXH được quy định trong Luật BHXH năm 2014 và Nghị định số 30/2016/NĐ-CP
Theo quy định tại Điều 92 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Điều 4 Nghị định số 30/2016/NĐ-CP hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH được thực hiện thông qua các hình thức theo thứ tự ưu tiên như sau: (1) Mua trái phiếu Chính phủ; (2) Cho ngân sách nhà nước vay; (3) Gửi tiền, mua trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu chứng chỉ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam So với các quy định trước đây, phạm vi các hình thức đầu tư của quỹ BHXH có một số thay đổi đáng kể Cụ thể:
Theo quy định tại Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg ngày 20/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý tài chính đối với Bảo hiểm xã hội Việt Nam, các hình thức đầu tư của quỹ BHXH Việt Nam bao gồm: (1) Mua trái phiếu, tín phiếu, công trái của Nhà nước, của Ngân hàng thương mại Nhà nước; (2) Cho ngân sách nhà nước, Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội vay; (3) Đầu tư vào các chương trình kinh tế trọng điểm quốc gia, một số dự án có nhu cầu lớn về vốn do Thủ tướng Chính phủ quyết định và (4) các hình thức đầu tư khác do Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định
Theo quy định tại Luật BHXH năm 2014 và Nghị định số
30/2016/NĐ-CP, quỹ BHXH Việt Nam không được đầu tư vào các chương trình kinh tế trọng điểm quốc gia, không được cho các Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Ngân hàng Chính sách Xã hội vay theo hình thức mua trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh do các ngân hàng này phát hành Chỉ có quỹ BHTN mới được thực hiện các hình thức đầu tư này Đồng thời, Nghị định cũng không quy định về các “hình thức đầu tư khác” của quỹ BHXH như quy định tại Quyết định số 04/2011/QĐ-TTg Có thể thấy, sự thay đổi trong quy định về các hình thức đầu tư của quỹ BHXH, đặc biệt là
Trang 40việc bỏ quy định về “hình thức đầu tư khác” thể hiện sự đề cao nguyên tắc an toàn trong hoạt động đầu tư quỹ BHXH, tránh sự lạm dụng các quy định
“mở” của pháp luật dẫn đến tình trạng đầu tư tràn lan, không hiệu quả, gây mất an toàn quỹ
Ưu điểm nổi bật của quy định về hình thức đầu tư của quỹ BHXH là việc chú trọng đầu tư vào các tài sản tài chính có độ an toàn cao như các loại trái phiếu Chính phủ Bên cạnh đó, hoạt động này cũng coi trọng hình thức gửi tiền, mua trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu chứng chỉ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại Điều đó tạo điều kiện để BHXH Việt Nam phát huy được tính kinh tế và xã hội trong việc đầu tư quỹ
Tuy nhiên, so với các hình thức đầu tư mà quỹ BHXH có thể thực hiện thì các hình thức đầu tư từ quỹ BHXH theo quy định của pháp luật nước ta hiện nay là kém đa dạng, chỉ tập trung vào những lĩnh vực đầu tư mang tính
an toàn cao, ít rủi ro nhưng lợi nhuận thu được cũng không cao
Bên cạnh đó, mặc dù các quy định hiện hành đã nêu rõ các hình thức đầu tư của quỹ BHXH nhưng lại chưa quy định chi tiết cho từng loại nguồn vốn đầu tư dài hạn và ngắn hạn Các quy định hiện hành của pháp luật nước
ta cũng chưa quy định hạn mức đầu tư đối với từng hình thức đầu tư
Theo quy định của pháp luật, các hình thức đầu tư quỹ BHXH Việt Nam hiện nay gồm:
Mua trái phiếu Chính phủ
Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 01/2011/NĐ-CP ngày 05/01/2011 của Chính phủ quy định về phát hành trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương quy định: “ Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động nguồn vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu
tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của Nhà nước”