1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hợp tác đánh cá chung trên biển thực tiễn các nƣớc và liên hệ với việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

102 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về nội dung các thỏa thuận hợp tác đánh cá ở Vịnh Bắc BộVới tính chất là một Hiệp định kinh tế - kỹ thuật, ngoài mục đích góp phần giữ gìn, phát triển mối quan hệ láng giềng hữu

Trang 1

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG

HỢP TÁC ĐÁNH CÁ CHUNG TRÊN BIỂN – THỰC TIỄN

CÁC NƯỚC VÀ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG DUNG

HỢP TÁC ĐÁNH CÁ CHUNG TRÊN BIỂN – THỰC TIỄN

CÁC NƯỚC VÀ LIÊN HỆ VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật quốc tế

Mã số: 60380108

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Toàn Thắng

Hà Nội - 2017

Trang 3

dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Dung

Trang 4

chuyên sâu mà chắc chắn với thời gian nghiên cứu hạn chế tôi không thể tự mình khám phá

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Pháp luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình – những người đã luôn ở bên cổ vũ, tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho tôi; cảm ơn cơ quan đã tạo điều kiện thuận lợi trong công việc để tôi có thể dành thời gian cũng như tâm huyết cho công trình nghiên cứu của mình./

Hà Nội, ngày 31 tháng 07 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Dung

Trang 5

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 3

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 4

7 Bố cục của luận văn 4

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HỢP TÁC ĐÁNH CÁ CHUNG TRÊN BIỂN 5

1.1 Một số vấn đề lí luận về hợp tác khai thác chung trên biển 5

1.1.1 Khái niệm khai thác chung 5

1.1.2 Phân loại khai thác chung 8

1.2 Khái quát về hợp tác đánh cá chung trên biển 11

1.2.1 Khái niệm hợp tác đánh cá chung trên biển 11

1.2.2 Phân loại hợp tác đánh cá chung trên biển 13

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi thỏa thuận hợp tác đánh cá chung trên biển 14

1.2.4 Vai trò của hợp tác đánh cá chung trên biển 16

1.3 Mô hình hợp tác đánh cá chung trên biển điển hình ở một số nước 18

1.3.1 Hợp tác đánh cá chung tại vùng biển không chồng lấn 19

1.3.1.1 Thỏa thuận Canada – Liên Xô (cũ) 19

1.3.1.2 Hiệp định giữa Liên Xô – Guinea năm 1981 21

1.3.1.3 Thỏa thuận Tri-ni-dad và To-ba-go với Bar-ba-dos 23

1.3.2 Hợp tác đánh cá chung tại vùng biển chồng lấn 25

1.3.2.1 Hiệp định giữa Nhật Bản và Hàn Quốc 25

1.3.2.2 Hiệp định giữa Senegal và Guinea Bissau 28

1.3.2.3 Hiệp định giữa Bar-ba-dos và Guy-a-na 33

Trang 6

2.1.2 Nội dung các thỏa thuận hợp tác đánh cá ở Vịnh Bắc Bộ 37 2.1.3 Đánh giá về nội dung các thỏa thuận hợp tác đánh cá ở Vịnh Bắc BộVới tính chất là một Hiệp định kinh tế - kỹ thuật, ngoài mục đích góp phần giữ gìn, phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc, việc ký Hiệp định hợp tác nghề cá còn góp phần tăng cường hợp tác nghề cá giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ, bảo tồn và khai thác bền vững tài nguyên sinh vật biển trong vùng nước Hiệp định 42

2.1.4 Thực trạng thực thi các thỏa thuận hợp tác đánh cá Việt Nam – Trung Quốc46 2.1.5 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực thi các thỏa thuận hợp tác đánh cá giữa Việt Nam – Trung Quốc 54 2.2 Các thỏa thuận có nội dung hợp tác đánh cá của Việt Nam với các quốc gia khác 56 2.2.1 Các thỏa thuận song phương có nội dung hợp tác đánh cá của Việt Nam 56 2.2.2 Thỏa thuận đa phương có nội dung hợp tác đánh cá của Việt Nam 60 Chương 3 TRIỂN VỌNG HỢP TÁC ĐÁNH CÁ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC VÀ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 62 3.1 Khái quát về Biển Đông và tình hình tranh chấp ở Biển Đông 62 3.1.1 Khái quát về Biển Đông 62 3.1.2 Chính sách biển của các nhà nước liên quan đến vấn đề hợp tác nghề cá ở Biển Đông 64 3.2 Triển vọng hợp tác nghề cá giữa Việt Nam và các nước 74 3.2.1 Triển vọng hợp tác nghề cá ở khu vực Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc 74 3.2.2 Triển vọng hợp tác nghề cá trong Vịnh Thái Lan 75 3.3.3 Triển vọng hợp tác nghề cá ở quần đảo Trường Sa 78

Trang 7

KẾT LUẬN 90

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, tài nguyên trên đất liền đang ngày bị cạn kiệt dần, dân số thế giới bùng nổ thì biển như một cứu cánh giải quyết các vấn đề có tính chất toàn cầu như lương thực, thực phẩm, năng lượng, nguyên liệu và môi trường sống Đặc biệt, sự phát triển của kinh tế thế giới theo xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập trong thương mại, biển như một cầu nối thúc đẩy sự giao lưu thông thương giữa các nước Các quốc gia có biển và các quốc gia không có biển cùng nhau sử dụng, khai thác các nguồn lợi từ biển Song trên thực tế, việc chia sẻ và tái tạo các nguồn tài nguyên, đặc biệt tài nguyên sinh vật, đang đứng trước nhiều thách thức Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người tác động tới biển một cách có quy mô hơn, cũng từ đó những thiệt hại con người gây ra cho biển này càng nhiều hơn dẫn tới môi trường biển bị ô nhiễm, nhiều loài hải sản có nguy cơ tuyệt chủng Do đó, song song với việc khai thác cần phải có một cơ chế pháp luật hoàn thiện nhằm quản lý

có hiệu quả nguồn tài nguyên biển

Trong xu thế hòa hoãn của quan hệ quốc tế sau chiến tranh lạnh, các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đã thúc đẩy hợp tác khai thác và phát triển chung Các quá trình này đã làm cho môi trường an ninh trên biển dường như

an bình hơn Điểm lợi không thể phủ nhận của mô hình khai thác chung nói chung

và hợp tác đánh chung trên biển nói riêng là góp phần xây dựng lòng tin, giảm tranh chấp và phát triển hợp tác kinh tế - chính trị giữa các nước tham gia hợp tác Mặt khác hợp tác đánh cá chung cũng là giải pháp tạm thời, không ảnh hưởng đến việc phân định cuối cùng nên cũng có thể đáp ứng được nhu cầu khai thác nguồn lợi hải sản phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế

Việt Nam là một trong những nước có vị trí địa lý thuận lợi, được quyền sử dụng và khai thác một vùng biển rộng lớn Chính vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý trong việc quản lý, sử dụng và khai thác biển nhằm mục đích bảo vệ và tận dụng tối ưu các tiềm năng của biển, trong đó không thể không nhắc tới tiềm năng về hải sản, đã và đang là chủ đề quan tâm của các nhà khoa học hiện nay

Trang 9

Với mong muốn nghiên cứu một cách tổng thể những quy định pháp luật quốc tế cũng như trong nước về việc hợp tác đánh cá chung trên biển, các mô hình hợp tác đánh cá điển hình Từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp tác đánh cá chung trên biển, đưa ra những dự báo về triển vọng hợp tác đánh cá tại các vùng biển tranh chấp, trên cơ sở đó đề xuất mô hình hợp tác đánh cá phù hợp với điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị,… của Việt Nam và các quốc gia tham gia ký kết để cùng nhau chia sẻ, khai thác hiệu quả nguồn lợi hải sản của Biển Đông, tác giả đã chọn đề tài

“Hợp tác đánh cá chung trên biển Thực tiễn các nước và liên hệ với Việt Nam”

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Khai thác chung nói chung và hợp tác đánh cá nói riêng là một trong những kênh hữu hiệu góp phần khai thác hiệu quả nguồn lợi của biển đồng thời tạo cơ hội

để các bên tranh chấp xích lại gần nhau hơn Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu các vấn đề pháp lý trong việc hợp tác khai thác chung giữa Việt Nam và các nước mới chủ yếu được nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu tổng thể

về biển như các công trình nghiên cứu của Ban Biên giới – Bộ Ngoại giao, công trình nghiên cứu của Trung tâm luật biển và hàng hải quốc tế - Khoa luật Đại học

quốc gia Hà Nôi với một số cuốn sách như: Hợp tác khai thác chung trong luật biển

quốc tế những vấn đề lí luận và thực tiễn – tác giả Nguyễn Bá Diến (chủ biên); Vấn

đề hợp tác khai thác chung trong luật pháp và thực tiễn quốc tế - tác giả Nguyễn

Trường Giang (chủ biên); Hợp tác cùng phát triển ở các vùng biển trong pháp luật

và thực tiễn quốc tế - tác giả Nguyễn Bá Diến (chủ biên)

Ở cấp độ luận văn có một số tác giả lựa chọn một trong những khía cạnh nhỏ của khai thác chung để nghiên cứu như: tác giả Nguyễn Thị Thanh Thúy năm 2009

với đề tài Khai thác chung dầu khí ở một số nước trên thế giới và thực tiễn Việt

Nam; tác giả Phạm Quang Vinh năm 2015 với đề tài Về hợp tác khai thác chung trên biển giữa Việt Nam với nước ngoài

Trang 10

Có thể thấy, nội dung hợp tác khai thác chung đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên hợp tác đánh cá chung trên biển thì hiện vẫn còn một khoảng trống nhất định Bởi vậy tác giả đã lựa chọn nội dung “hợp tác đánh cá chung trên biển” làm nội dung nghiên cứu trọng tâm trong luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học tại Trường Đại học luật Hà Nội của mình

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là các mô hình hợp tác đánh cá chung điển hình trên

thế giới, nội dung các thỏa thuận hợp tác đánh cá giữa Việt Nam và các nước và thực tiễn triển khai các thỏa thuận đó

- Phạm vi nghiên cứu: Với dung lượng hạn chế của một luận văn thạc sỹ, khi

nghiên cứu mô hình hợp tác đánh cá chung điển hình trên thế giới, trong số hơn 100 thỏa thuận hợp tác đã được thiết lập, tác giả tập trung nghiên cứu sâu các mô hình hợp tác đánh cá có những nét tương đồng nhất định với Biển Đông Ở nội dung thực trạng hợp tác đánh cá chung giữa Việt Nam với các nước, tác giả tập trung phân tích hợp tác đánh cá giữa Việt Nam và Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ, trong đó ưu tiên phân tích các hoạt động của Trung Quốc để rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một cách tổng thể những vấn đề lí luận chung về việc hợp tác đánh cá chung trên biển, các mô hình hợp tác đánh cá điển hình Tác giả đưa ra những nhận xét, đánh giá và bài học kinh nghiệm nhằm góp phần hoàn thiện

hệ thống pháp luật về hợp tác đánh cá chung trên biển, đưa ra những dự báo về triển vọng hợp tác đánh cá tại các vùng biển tranh chấp, trên cơ sở đó đề xuất mô hình hợp tác đánh cá phù hợp với điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị,… của Việt Nam và các quốc gia tham gia ký kết để cùng nhau chia sẻ, khai thác hiệu quả nguồn lợi hải sản của Biển Đông

5 Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn

Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích để phân tích, đánh giá

Trang 11

các quy định pháp luật; phương pháp tổng hợp để tổng hợp các kết quả của thực tiễn thi hành pháp luật; phương pháp diễn giải – quy nạp để trình bày các nội dung

cụ thể; phương pháp so sánh để so sánh các mô hình hợp tác đánh cá của các quốc gia trên thế giới với nhau

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa khoa học: Đề tài đã phân tích và chỉ ra ưu, nhược điểm của một số

mô hình hợp tác đánh cá điển hình trên thế giới; phân tích nội dung các thỏa thuận hợp tác đánh cá Việt Nam – Trung Quốc, thực trạng thực thi thỏa thuận và những tồn tại

- Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở phân tích tình hình tranh chấp Biển Đông,

chính sách pháp luật biển của các quốc gia trong khu vực, tác giả đưa ra dự báo về khả năng hợp tác đánh cá tại các vùng biển cụ thể và đề xuất mô hình hợp tác đánh

cá phù hợp với điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị,… của Việt Nam và các quốc gia tham gia ký kết

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, để đảm bảo tính hợp lý, logic của nội dung luận văn, Luận văn gồm ba chương:

Chương 1 Những vấn đề lí luận về hợp tác đánh cá chung trên biển

Chương 2 Thực trạng hợp tác đánh cá chung giữa Việt Nam với các quốc

gia

Chương 3 Triển vọng hợp tác đánh cá giữa Việt Nam và các nước và đề

xuất, kiến nghị

Trang 12

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HỢP TÁC ĐÁNH CÁ CHUNG TRÊN

BIỂN 1.1 Một số vấn đề lí luận về hợp tác khai thác chung trên biển

1.1.1 Khái niệm khai thác chung

Biển có vai trò quan trọng đối với con người và sự phát triển của mỗi quốc gia Đặc biệt, khi xã hội càng phát triển, nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên ngày càng gia tăng trong khi đó tài nguyên biển không phải là vô hạn Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người không ngừng mở rộng các hoạt động của mình ra biển để phục vụ nhu cầu phát triển của xã hội Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp giữa các quốc gia trên biển Tranh chấp biển thường rất phức tạp, kéo dài và liên quan trực tiếp đến quyền lợi của các quốc gia Công ước Liên hợp quốc năm 1982 về Luật biển (Công ước 1982) ra đời đã góp phần thiết lập một trật tự pháp lý mới trên biển, với nhiều vùng biển có quy chế pháp lý khác nhau:

“Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền

với lãnh hải đặt dưới chế độ pháp lý riêng quy định trong phần này, theo đó, các quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển và các quyền tự do của quốc gia khác đều do quy định thích hợp của Công ước điều chỉnh” (Điều 55 Công ước

1982) và “Vùng đặc quyền kinh tế không mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ đường cơ

sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải” (Khoản 2 Điều 57 Công ước 1982)

Như vậy, với những quy định mới về vùng đặc quyền kinh tế thì quyền của các quốc gia được mở rộng Song ở những nơi có bờ biển hẹp thì các quốc gia có bờ biển liền kề hoặc đối diện nhau sẽ có sự chồng lấn về chủ quyền hoặc quyền tài phán Khi thực hiện quyền mở rộng biển của mình trong các vùng biển hẹp (bề rộng không quá 400 hải lý), các quốc gia có bờ biển tiếp giáp hay đối diện nhau đều có mối quan tâm chung: Phân định các vùng biển chồng lấn Tuy nhiên việc phân định biển không phụ thuộc vào ý chí duy nhất của một quốc gia mà là một hành động mang tính quốc tế, song phương hoặc đa phương, thể hiện sự phân chia, phù hợp

Trang 13

với luật pháp quốc tế, các danh nghĩa pháp lý tương ứng của mỗi quốc gia trên các vùng biển chồng lấn Giải quyết tốt vấn đề phân định sẽ góp phần giảm bớt xung đột và căng thẳng về chính trị, quân sự từ đó tạo được một môi trường ổn định và phạm vi biển rõ ràng cho phát triển, bảo vệ, quản lý, khai thác tài nguyên thiên nhiên biển.1 Vì vậy, khai thác chung được đưa ra như một giải pháp để các quốc gia bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường biển chung

Nhiều cuộc hội thảo, hội nghị quốc tế về vấn đề khai thác chung đã được tổ chức Tuy nhiên, mỗi học giả nhìn nhận khai thác chung ở mỗi khía cạnh khác nhau, vì vậy vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về vấn đề này

Giáo sư Luật quốc tế Masahiro Miyoshi, khi tóm lược các bài thảo luận tại các cuộc Hội thảo do Trung tâm Đông Tây tổ chức về khai thác chung ở Đông Nam

Á đã ghi nhận rằng “Khái niệm về phát triển chung quốc tế … chưa được hiểu hoặc

được sử dụng một cách thống nhất”2 Theo ông có 2 dạng khai thác chung:

Một là: Khai thác chung khi mà việc phân định biên giới đã được giải quyết Hai là: Chế độ khai thác chung đối với khu vực có đường biên giới đang phân định.3

Tại Hội thảo thứ 2 tổ chức vào 8/1983 do nhóm các Luật sư đã bình luận:

khai thác chung “được sử dụng thường xuyên như một thuật ngữ chung, từ “khai

thác chung” là một khái niệm rộng, từ việc đồng nhất hóa các tài nguyên được chia

sẻ cho đến việc đơn phương khai thác các nguồn tài nguyên ngoài ranh giới được

ấn định và các hình thức phát triển đa dạng giữa hai hai hình thức này”4

Masahiro Miyoshi (1990), “The joint Development of Offshore Oil and Gas in Ralation to

Maritime Boundary Delimitation”, Maritime Briefing, (Vol 2 number 5), International Boundaries

Research Unit, tr 43

3

Masahiro Miyoshi, tlđd chú thích 2, tr 23

4

British Institute of International and comparative Law (1990), Joint development at offshore Oil

and Gas – a model Agreement for joint development with explaratoty commentary, tr 43

Trang 14

Dưới góc độ chính trị, tiến sỹ - Wiliam Onorato đã định nghĩa khai thác

chung, là “Một thể chế mà theo đó toàn bộ vấn đề tranh chấp biên giới được gác

sang một bên để tạo bầu không khí hợp tác ngay từ ban đầu xung quanh việc khai thác”.5 Ở góc độ này, khai thác chung chính là giải pháp để giảm thiểu xung đột về chính trị, tháo gỡ những bất đồng, tạo dựng mối quan hệ bền vững, ổn định cùng nhau khai thác tài nguyên biển

Ở khía cạnh kinh tế, Giáo sư Luật học Ian Towsend – Gault Đại học Britesh Colombia cho rằng “Khai thác chung là một quyết định do một hay nhiều nước mà các nước này đóng góp bất kỳ quyền nào mà họ có đối với một vùng nhất định và thực hiện việc cùng quản lý dưới một hình thức nào đó ở mức độ lớn hơn hoặc nhỏ hơn vì mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên ngoài khơi”6 Như vậy, theo quan niệm của Gault, khai thác chung đã được đặt dưới góc độ chủ quyền của quốc gia đối với vùng được thỏa thuận khai thác chung Khai thác chung là một thỏa thuận giữa các quốc gia và về bản chất, quyền được phân chia sản phẩm khai thác của các quốc gia có nguồn gốc từ việc các quốc gia trước đó đã “góp các quyền” của mình

để hình thành nên thỏa thuận khai thác chung Tuy nhiên, vấn đề khai thác chung

mà Gault đề cập chưa được đầy đủ Theo ông, khai thác chung chỉ nhằm khai thác

và thăm dò các nguồn tài nguyên ngoài khơi Trên thực tế khai thác chung không chỉ nhằm khai thác và thăm dò tài nguyên thiên nhiên biển mà còn chứa đựng trong

nó những mục tiêu chính trị

Như vậy, khai thác chung được nhìn nhận dưới nhiều góc độ pháp lý khác nhau Tuy nhiên, khai thác chung được coi như một giải pháp làm dịu căng thẳng chính trị và giúp các nước cùng nhau khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên nên cần thiết phải đưa ra một cách hiểu bao quát và thống nhất về khái niệm khai thác chung

Gault.I.T (1988), “Joint development of offshore mineral resources – Progress and prospects for

the future”, Natural resources forum, tr 275

Trang 15

Cụm từ “khai thác chung” được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh “Joint development” nghĩa gốc là “phát triển chung” Tuy nhiên theo các nhà nghiên cứu Việt Nam thì “khai thác chung” không có nghĩa là hẹp hơn “phát triển chung” Khai thác chung cần phải hiểu không đơn thuần chỉ là khai thác chung một tài nguyên nào đó mà bao gồm cả các hoạt động như thăm dò, nghiên cứu khoa học, quản lý, bảo vệ môi trường, xây dựng đảo nhân tạo… vì một mục đích cùng phát triển chung

Qua việc nghiên cứu các quan điểm về khai thác chung, có thể định nghĩa

khai thác chung như sau: “Khai thác chung là một thỏa thuận quốc tế do hai hay

nhiều quốc gia xác lập nhằm thiết lập cơ chế nhất định để hợp tác thăm dò, khai thác, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên tại một vùng biển xác định trên

cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của quốc gia đối với vùng biển đó và cùng chia sẻ lợi nhuận một cách công bằng phù hợp với pháp luật quốc tế”.7

1.1.2 Phân loại khai thác chung

Căn cứ vào đối tƣợng khai thác chung

- Khai thác chung nguồn tài nguyên nhiên nhiên phi sinh vật: Tài nguyên phi

sinh vật là đối tượng khai thác hiện nay chủ yếu là dầu và khí; việc khai thác các quặng khoáng sản rắn như than, kim loại… ít được thực hiện bởi đòi hỏi công nghệ hiện đại, chi phí cao hơn nhiều lần so với khai thác trên đất liền và giá trị kinh tế khai thác được Tài nguyên dầu và khí là nguồn năng lượng vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, có phạm vi sử dụng rộng rãi cho nhiều ngành công nghiệp Dầu khí luôn là ngành công nghiệp mũi nhọn và là ngành khai thác biển quan trọng trên thế giới

Khai thác dầu khí đòi hỏi phải hiệu quả và nhiều vấn đề khắt khe như: bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường biển, chống ô nhiễm do tràn dầu và các chất thải gây

ra, bảo tồn tài nguyên sinh vật trong khu vực khai thác… Khai thác chung dầu khí

có bản chất là hợp nhất mỏ tài nguyên để bảo đảm khai thác hiệu quả cao và phân

7

Nguyễn Thị Thanh Thúy (2009), Khai thác chung dầu khí ở một số nước trên thế giới và thực tiễn

Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.22

Trang 16

chia công bằng các lợi ích thu được Do đó, cần phải đầu tư hoặc thu hút đầu tư để lựa chọn công nghệ, nhà thầu có kinh nghiệm thăm dò, khai thác, quản lý hiệu quả các hoạt động thăm dò và khai thác đó

- Khai thác chung nguồn tài nguyên sinh vật: Tài nguyên sinh vật bao gồm

cá, các loài hải sản khác và tài nguyên thực vật Khai thác tài nguyên sinh vật không chỉ đòi hỏi hiệu quả, mà còn phải đáp ứng yêu cầu khai thác bền vững, bảo tồn, duy trì khả năng sinh sản và phát triển nguồn tài nguyên đó Việc khai thác tài nguyên sinh vật phụ thuộc vào các yếu tố như mùa sinh sản, luồng cá, ngư trường, điều kiện khí hậu, năng lực khai thác của mỗi quốc gia…

Khai thác tài nguyên sinh vật không cần đến công nghệ cao như khai thác dầu khí và được thực hiện chủ yếu bởi các ngư dân và các doanh nghiệp có đội tàu khai thác Hoạt động khai thác của các đội tàu chịu sự quản lý của Nhà nước, đặc biệt quy định về loại công cụ khai thác và định mức sản lượng khai thác Khai thác chung tài nguyên sinh vật có bản chất là hợp nhất ngư trường, hợp tác quản lý việc khai thác (đánh giá trữ lượng và xác định khả năng cho phép khai thác thực tế, quy định loại công cụ đánh bắt, xử lý các hành vi khai thác trái phép, thu thuế…) để bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản và bảo vệ lợi ích của ngư dân Để làm tốt điều

đó, công tác tuyên truyền và phổ biến các quy định của thỏa thuận khai thác chung cho các ngư dân là rất quan trọng, đồng thời mỗi Nhà nước cần có chính sách trợ giúp các ngư dân để tăng cường năng lực khai thác, bảo đảm công bằng về lợi ích tài nguyên

- Khai thác chung các nguồn lợi, tiềm năng khác của biển: Trong xu thế phát

triển các hoạt động hợp tác trong các vùng biển giữa các quốc gia, nhằm khai thác tận dụng tới mức tối đa tiềm năng và lợi ích mà biển và đại dương mang lại thì trong lĩnh vực khai thác chung, các quốc gia còn hợp tác cùng nhau khai thác tiềm năng và nguồn lợi của biển trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, du lịch, giao thông

vận tải,…

Căn cứ vào chủ thể của quan hệ khai thác chung

Trang 17

- Khai thác chung hai bên (theo điều ước quốc tế song phương, còn gọi là

khai thác chung song phương) Cho đến nay, thực tiễn các thỏa thuận khai thác chung phần lớn đều là các điều ước quốc tế song phương Thỏa thuận khai thác chung song phương dễ được xác lập vì sự thống nhất ý chí dễ thành công hơn là việc xác lập các thỏa thuận ba hoặc bốn bên Cơ chế hợp tác, việc thành lập cơ quan quản lý chung, cũng như nguyên tắc hoạt động của cơ quan quản lý chung này chỉ cần đại diện và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên Song, không phải trong mọi trường hợp hợp tác song phương tại một vùng biển đều có thể thiết lập được

- Khai thác chung nhiều bên (theo điều ước quốc tế đa phương, còn gọi là

khai thác chung đa phương) Khai thác chung nhiều bên chỉ có thể và cần được xác lập ở những vùng biển liên quan đến quyền chủ quyền của nhiều quốc gia – nhiều quốc gia đóng góp chủ quyền đối với khu vực khai thác chung đó Thực ra khả năng hợp tác khai thác chung nhiều bên cũng chỉ dừng lại ở ba bên hoặc bốn bên và vùng khai thác chung sẽ được xác lập là vùng biển yêu sách chồng lấn của các bên, có tiềm năng khai thác tài nguyên thiên nhiên biển Thỏa thuận khai thác chung nhiều bên khó xác lập hơn thỏa thuận khai thác chung hai bên, cơ chế hợp tác hay phối hợp cũng phức tạo hơn vì liên quan đến lợi ích của nhiều bên Mặc dù vậy, đặc biệt đối với vùng biển đang tranh chấp chưa có đường ranh giới phân định biển, cơ chế thỏa thuận hợp tác nhiều bên có khả năng bảo đảm được yếu tố bình đẳng chủ quyền và tự do ý chí thực sự của các bên trong quá trình đàm phán xác lập và thực hiện thỏa thuận khai thác chung

Căn cứ vào các tiêu chí khác

- Căn cứ vào vị trí của vùng khai thác chung, hoạt động khai thác chung có

thể được phân chia thành: i) khai thác chung ở vùng biển nơi chưa có đường ranh giới phân định biển; ii) khai thác chung ở vùng biển nơi đã có đường ranh giới phân định biển, và vùng khai thác chung ở vùng biển thuộc chủ quyền của một quốc gia nhất định

Trang 18

- Căn cứ vào tiêu chí mục tiêu khai thác chung, có thể phân định các loại

hình: i) Khai thác chung vì mục đích lợi nhuận kinh tế; ii) Khai thác chung kết hợp mục đích lợi nhuận và mục đích khác; iii) Khai thác chung đa mục tiêu

- Căn cứ vào tiêu chí về phương thức quản lý, hoạt động khai thác chung có

thể được phân chia thành: i) Khai thác chung được quản lý bởi Chính phủ các quốc gia; ii) Khai thác chung được quản lý bởi cơ quan, tổ chức được Nhà nước ủy quyền. 8

1.2 Khái quát về hợp tác đánh cá chung trên biển

1.2.1 Khái niệm hợp tác đánh cá chung trên biển

Hợp tác đánh cá chung trên biển là một dạng của khai thác chung, trên cơ sở

nghiên cứu các quan điểm về khai thác chung, có thể hiểu “hợp tác đánh cá chung

trên biển là sự thỏa thuận của hai hay nhiều quốc gia đối với một vùng biển xác định nhằm thiết lập cơ chế quản lý để thực hiện hoạt động đánh cá trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng chủ quyền của quốc gia đối với vùng biển đó và cùng chia sẻ lợi nhuận một cách công bằng phù hợp với pháp luật quốc tế”

Hợp tác đánh cá chung trên biển có một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, hợp tác đánh cá chung trên biển là một thỏa thuận quốc tế được

xác lập giữa các quốc gia, hoặc giữa các công ty được Nhà nước cho phép hay ủy quyền ký kết với danh nghĩa Nhà nước, về việc cùng hợp tác khai thác một trong các tài nguyên biển để phát triển, chịu sự điều chỉnh của Luật quốc tế hiện đại Hợp tác của các quốc gia trên cơ sở Hiệp định được coi là đặc trưng cơ bản nhất của việc hợp tác đánh cá chung

Điều 74 và Điều 83 Công ước 1982 khuyến nghị các quốc gia ven biển, trên tinh thần hợp tác và hiểu biết lẫn nhau hướng đến một dàn xếp tạm thời có tính chất thực tiễn trong trường hợp các quốc gia chưa có được sự thỏa thuận dứt khoát về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Trên thực tế việc xác lập và thực hiện các dàn xếp tạm thời như thỏa thuận hợp tác đánh cá chung không phải là một

8

Nguyễn Bá Diến (chủ biên, 2009), Hợp tác khai thác chung trong luật biển quốc tế những vấn đề

lí luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr 47-50

Trang 19

nghĩa vụ bắt buộc của Công ước 1982 quy định cho các quốc gia và cũng không phải là một nghĩa vụ theo tập quán quốc tế Mặc dù vậy, khi các quốc gia ký kết các thỏa thuận hợp tác đánh cá chung trên biển thì đây sẽ là quan hệ pháp luật chịu sự điều chỉnh của Luật quốc tế

Thỏa thuận hợp tác đánh cá chung trên biển được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như Hiệp định, Thỏa thuận ghi nhớ (MOU)… đều là các điều ước quốc tế được ký kết bởi các quốc gia bình đẳng về chủ quyền trên cơ sở hợp tác đánh cá Luật quốc tế hiện đại điều chỉnh việc ký kết, nội dung thỏa thuận, hiệu lực

và việc thực thi các thỏa thuận hợp tác đánh cá chung theo các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế như: nguyên tắc tự nguyện, nội dung thỏa thuận không được vi phạm các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại, các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện đúng các nội dung đã cam kết

Thứ hai, hợp tác đánh cá chung trên biển là một thỏa thuận mang tính tạm

thời được các quốc gia lựa chọn như một phương thức hữu hiệu nhằm giảm thiểu các xung đột giữa các bên, khai thác và quản lý hiệu quả nguồn thủy sản trong khu vực Các thỏa thuận này không ảnh hưởng đến lập trường của các quốc gia về yêu sách chủ quyền lãnh thổ cũng như quyền chủ quyền và tài phán của quốc gia ven biển đối với vùng đặc quyền kinh tế cũng như thềm lục địa, không ảnh hưởng đến kết quả phân định cuối cùng trong tương lai

Các thỏa thuận khai thác chung nói chung và thỏa thuận hợp tác đánh cá chung trên biển nói riêng đa số đều là các dàn xếp tạm thời và mang tính thời hạn và không nhất thiết phải là một cam kết lâu dài hay vĩnh viễn như các thỏa thuận về phân định biển Thỏa thuận hợp tác đánh cá chung trên biển dẫn đến thiết lập một quan hệ pháp lý dựa trên sự bình đẳng về chủ quyền của các quốc gia, và do đó, nội dung các thỏa thuận thường có điều khoản tuyên bố có tính chất bảo lưu về quyền chủ quyền và xác định thời hạn cho quan hệ hợp tác đánh cá chung

Thứ ba, hợp tác đánh cá chung trên biển được thực hiện trên cơ sở tự

nguyện Do đó, các hiệp định hợp tác đánh cá chung cũng như các mô hình hợp tác

Trang 20

đánh cá chung cũng hết sức đa dạng và được áp dụng một cách mềm dẻo phù hợp với đặc điểm địa lý khu vực, tình hình chung của các quốc gia

Thứ tƣ, thỏa thuận hợp tác đánh cá chung trên biển thường được áp dụng tại

khu vực chồng lấn mà đường biên giới chưa được phân định hoặc ở khu vực có trữ lượng thủy sản lớn song đường biên giới trên biển lại nằm vắt ngang Việc hợp tác đánh cá chung tại các khu vực này sẽ giúp tối ưu hóa việc quản lý và khai thác hiệu quả nguồn lợi hải sản

Thứ năm, hợp tác đánh cá chung trên biển là một thỏa thuận để thiết lập một

cơ chế hợp tác cùng tiến hành hoạt động nghiên cứu trữ lượng thủy sản, khai thác

và quản lý nguồn lợi này từ đó có một sự chia sẻ công bằng lợi ích thu được theo một tỷ lệ nhất định Đây là vấn đè vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính lợi ích kinh tế

Tùy thuộc vào nội dung hợp tác mà các bên định ra một quy chế quản lý riêng cho khu vực hợp tác Các bên có thể thỏa thuận lựa chọn mô hình quản lý hợp tác cho phù hợp với tình hình thực tiễn vùng biển tranh chấp

1.2.2 Phân loại hợp tác đánh cá chung trên biển

Có rất nhiều thỏa thuận về hợp tác đánh cá chung trên biển đã được kí kết giữa các quốc gia trên thế giới, trong đó có thể phân định thành 3 nhóm sau:

Nhóm 1: Các thỏa thuận về hợp tác đánh cá được ghi nhận trong các thỏa

thuận song phương về khai thác chung dầu và khí gas: Thỏa thuận I-ran/ Sharjah năm 1971 về các nguồn tài nguyên dầu mỏ; Thỏa thuận Malaysia/ Thái Lan năm

1979 về việc chính thức hóa các nguồn tài nguyên ở đáy biển trong vùng đã được xác định của hai nước trong Vịnh Thái Lan; Thỏa thuận Nhật Bản/ Hàn Quốc năm

1974 liên quan đến việc khai thác chung phần phía Nam của vùng liền kề thềm lục địa của hai nước;…

Nhóm 2: Các thỏa thuận đánh cá ở vùng biển cả: Nghị định thư Cá hồi hồng

(Salmon Pink) năm 1957; Công ước đánh bắt cá hồi trên sông Fraser; Công ước về săn bắt cá voi quốc tế năm 1946, thành lập nên Ủy ban cá voi quốc tế (IWC); Công ước năm 1949 liên quan đến việc thiết lập một Ủy ban quốc tế để điều tra về cá ngừ;

Trang 21

Công ước quốc tế năm 1952 về ngư trường cá tại vùng biển lớn (high seas fisheries)

ở Bắc Thái Bình Dương, thành lập Ủy ban nghề cá Bắc Thái Bình Dương (IPHC); Công ước năm 1956 liên quan đến ngư trường cá trên các biển lớn của Tây Bắc Thái Bình Dương, thành lập Hội đồng nghề cá Tây Bắc Thái Bình Dương (NPFSC); Công ước năm 1959 liên quan đến việc đánh bắt cá ở Biển Đen, thành lập Ủy ban chung về Biển Đen;…

Nhóm 3: Các thỏa thuận đánh cá ở vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia:

Hiệp ước Ác-hen-ti-na/ Urugoay về dòng sông La Plata và các giới hạn trên biển năm 1975; Thỏa thuận nghề cá Canada/ Hoa Kỳ năm 1977; Thỏa thuận giữa Côlômbia/ Cộng hòa Dominica về Tuyên bố về các vùng trên biển, đáy biển và sự hợp tác trên biển năm 1978; Thỏa thuận Nga/ Nauy về việc dàn xếp tạm thời việc đánh bắt cá trong vùng tiếp giáp trong biển Barent năm 1978; Hiệp ước Ô-xtơ-rây-li-a/ Papua Niu Ghi-nê về chủ quyền và các đường biên giới trên biển trong khu vực giữa hai nước năm 1978; Thỏa thuận nghề cá Tri-ni-dad và To-ba-go/ Vê-nê-zu-ê-la năm 1985; Thỏa thuận Thụy Điển/ Nga về các nguyên tắc phân chia của các vùng biển trong biển Baltic năm 1988…9

1.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi thỏa thuận hợp tác đánh cá chung trên biển

Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, việc thiết lập và thực thi có hiệu quả các thỏa thuận hợp tác khai thác chung giữa các quốc gia là kết quả của rất nhiều yếu tố tổng hợp và cần phải có sự nghiên cứu và đầu tư thỏa đáng từ phía các nhà nước, các tổ chức và cá nhân hữu quan Trong đó các yếu tố sau sẽ tác động rất lớn đến việc thiết lập cũng như thực hiện các thỏa thuận hợp tác đánh cá:

- Mối quan hệ giữa các quốc gia hữu quan; thiện chí của các bên về vấn đề hợp tác cùng phát triển Trong yếu tố này, ý chí chính trị của các nhà nước có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng chi phối việc thiết lập hay hủy bỏ quan hệ hợp tác đánh

cá chung Thực tiễn cho thấy, mặc dù một số vùng biển có nhiều điều kiện và khả nặng cho việc hợp tác đánh cá nhưng nếu các nhà nước hữu quan không tích cực

9

Nguyễn Bá Diến, tlđd chú thích 8, tr 188-190

Trang 22

hoặc có đường lối quan điểm không giống nhau thì quan hệ hợp tác đánh cá cũng sẽ không thể thiết lập được

- Chính sách, pháp luật biển quốc gia tham gia hợp tác đánh cá chung: đây là

cơ sở pháp lý cho việc hình thành các thỏa thuận đánh cá chung Bên cạnh các quy định của pháp luật quốc tế được sử dụng làm căn cứ chung, chính sách pháp luật biển quốc gia cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc góp phần điều chỉnh các vấn đề cụ thể trong cơ chế hợp tác đánh cá chung, như: hoạch định vùng biển hợp tác chung, thành lập cơ quan quản lý chung, xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ hợp tác đánh cá chung…

- Điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn lực tài chính, nguồn nhân lực tham gia thực thi hoạt động hợp tác đánh cá chung: các quốc gia tham gia quan hệ hợp tác đánh cá chung cần có đầy đủ các điều kiện nêu trên để đảm bảo việc thực thi thỏa thuận hợp tác đã được thiết lập thông qua cơ chế đàm phán, thương lượng giữa các bên Thực tiễn cho thấy, nếu các điều kiện này của mỗi quốc gia tham gia hợp tác mà ngang bằng nhau hoặc không quá chênh lệch thì việc thực thi thỏa thuận hợp tác sẽ được thuận lợi, ít phát sinh những vấn đề khó khăn cần phải giải quyết Đây cũng chính là lý do vì sao mỗi quốc gia khi tính đến việc thiết lập quan hệ hợp tác đánh cá chung với (các) quốc gia khác đều cần phải tính toán và chú trọng đến những điều kiện này như là yếu tố đảm bảo sự thành công của hoạt động hợp tác

- Trình độ khoa học, nhận thức của đội ngũ chuyên gia tham gia hoạt động đàm phán, ký kết và thực thi thỏa thuận hợp tác đánh cá chung: hợp tác đánh cá chung là vấn đề hết sức phức tạp, đòi hỏi đội ngũ chuyên gia tham gia đàm phán, ký kết và thực thi phải am hiểu đầy đủ các kiến thức, kinh nghiệm chung và riêng một cách toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, chính trị - ngoại giao, khoa học kỹ thuật có liên quan đến các vấn đề trên biển Đây có thể coi là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của một thỏa thuận hợp tác đánh cá chung Bất kỳ sự kém cỏi nào về phẩm chất và trình độ của đội ngũ chuyên gia này đều ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả đàm phán nội dung các thỏa thuận hợp tác, vì họ có thể

Trang 23

vô tình hay cố ý gây ra những điều bất lợi cho quyền và lợi ích quốc gia mình trong quan hệ hợp tác với (các) quốc gia khác

- Cơ chế hợp tác quốc tế, phối hợp trong nước phục vụ các hoạt động trong tiến trình đàm phán, ký kết và thực thi thỏa thuận hợp tác đánh cá chung: hoạt động hợp tác đánh cá chung mặc nhiên đòi hỏi các quốc gia hữu quan (là một bên của thỏa thuận) phải huy động tổng lực nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều tổ chức và cá nhân tham gia không chỉ ở phạm vi trong nước mà cả ở phạm vi quốc tế (khu vực) Trong bối cảnh như vậy, một cơ chế hợp tác hiệu quả trong phạm vi quốc gia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết lập và thực thi có hiệu quả (các) thỏa thuận hợp tác đánh cá chung; bởi hoạt động hợp tác trên biển có liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau (quản lý tài nguyên, môi trường biển, nghiên cứu khoa học, an ninh quốc phòng, giao thông vận tải, du lịch, ngoại giao, tư pháp, quản lý hành chính,…) và do đó đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều bộ phận trong thiết chế bộ máy của một nhà nước, kể cả người dân vùng ven biển của quốc gia đó

Đây là những yếu tố căn bản mà mỗi quốc gia cần phải có để tiến hành các hoạt động đàm phán, ký kết và thực hiện các thỏa thuận hợp tác đánh cá chung với quốc gia liên quan Chúng sẽ tạo ra một nội lực tổng hợp đảm bảo sự thành công và

ý nghĩa của hoạt động hợp tác đánh cá chung; vừa mang lại những lợi ích kinh tế -

xã hội nhất định vừa giữ vững an ninh, chủ quyền quốc gia và góp phần khẳng định

vị thế của mình trong khu vực và trên trường quốc tế

1.2.4 Vai trò của hợp tác đánh cá chung trên biển

Biển có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đời sống con người và sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Biển cung cấp nguồn tài nguyên vô cùng quý giá Ngày nay, khi nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, con người càng nhận thức được vai trò thiết yếu của biển trong mối liên hệ trực tiếp đối với mọi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội… Điều đó đã góp phần thúc đẩy các quốc gia không ngừng tìm cách

để mở rộng thẩm quyền của mình ra biển, đây là một trong các nguyên nhân dẫn đến phát sinh tranh chấp về chủ quyền giữa các quốc gia ven biển Bên cạnh đó, sự

ra đời của Công ước 1982 với việc mở rộng quyền tài phán của quốc gia ven biển

Trang 24

trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cũng là một nguyên nhân dẫn tới tranh chấp chủ quyền tại những vùng biển hẹp giữa các nước có bờ biển đối diện, tiếp liền nhau

Hơn thế, cá lại đóng vai trò là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng Lượng protein từ cá chiếm khoảng 22,3% trong bữa ăn hàng ngày ở Châu Á và con số này chỉ là 16,1% trên toàn thế giới Tuy nhiên, Tổ chức Nông lương của Liên hợp quốc (FAO) cảnh báo trữ lượng cá ở phía Tây Biển Đông đang bị khai thác quá mức Điều đó có nghĩa, sản lượng từ khai thác cá hoặc đang ở mức cao nhất hoặc đang có

xu hướng giảm; và một vài khu khai thác cá đã cạn kiệt.10

Chính những điều này đã làm cho các tranh chấp trên biển vốn đã căng thẳng lại càng căng thẳng hơn Sự căng thẳng của các quốc gia không những gây ra những xung đột về chính trị mà còn cản trở quá trình khai thác tài nguyên thiên nhiên biển khiến cho quá trình khai thác bị ngừng trệ, làm ảnh hưởng không nhỏ tới nguồn lợi kinh tế của các quốc gia

Tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề khai thác tài nguyên biển nói chung và khai thác các nguồn lợi hải sản nói riêng thường xảy ra ở những khu vực chưa có đường biên giới phân định biển, hoặc ở nơi tập trung trữ lượng hải sản lớn mà có đường biên giới vắt qua Trong khi chờ phân định biển, hợp tác đánh cá chung là giải pháp phù hợp Bởi trong khi chưa xác định được đường biên giới, nếu

để tranh chấp kéo dài có thể sẽ làm phát sinh những tranh chấp, bất đồng mới làm ảnh hưởng đến quan hệ giữa các bên liên quan Để làm dịu những căng thẳng chính trị giữa các quốc gia, giúp duy trì hòa bình, ổn định khu vực, làm giảm xung đột và

va chạm trong khu vực tranh chấp, các quốc gia thường tìm đến một giải pháp tạm thời – khai thác chung

Hợp tác để cùng khai thác chung không làm ảnh hưởng tới yêu sách của các bên tại khu vực tranh chấp bởi đó là giải pháp mang tính tạm thời Hợp tác đánh cá chung giúp các quốc gia có thể cùng nhau đánh bắt cá mà không trái với pháp luật

10

Will Rogers (2012), “Vai trò của tài nguyên thiên nhiên ở Biển Đông”, Nghiên cứu Biển Đông, tại địa chỉ: http://nghiencuubiendong.vn/trung-tam-du-lieu-bien-dong/doc_details/529-will-rogers- vai-tro-ca-tai-nguyen-thien-nhien bin-ong, ngày truy cập 4/7/2017

Trang 25

quốc tế Hơn nữa, tại khu vực đã có đường ranh giới xác định nhưng các quốc gia

có nhu cầu đánh cá chung thì đây được coi là một giải pháp nhằm tối ưu hóa phát triển nguồn lợi hải sản và đảm bảo lợi ích hợp pháp của các bên trong khu vực này

Như vậy có thể thấy, hợp tác đánh cá chung trên biển là một trong những biện pháp hữu hiệu, phù hợp với những nguyên tắc, quy định của luật pháp quốc tế

Nó vừa là giải pháp dung hòa lợi ích của các bên nhằm khuyến khích đầu tư cùng nhau phát triển và khai thác nguồn lợi hải sản vừa có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết phân định biển nói riêng cũng như duy trì hòa bình, ổn định an ninh quốc tế

1.3 Mô hình hợp tác đánh cá chung trên biển điển hình ở một số nước

Từ xưa đến nay có rất nhiều quan điểm về hợp tác đánh cá chung, cụ thể:

- Hợp tác đánh cá chung là việc các quốc gia cùng hưởng chủ quyền trong khu vực hợp tác Theo quan điểm này, hợp tác đánh cá chung là phương thức hợp tác đặc biệt giữa hai bên hay nhiều bên cùng nhau có chủ quyền với vùng biển nhất định nhằm nghiên cứu trữ lượng cá, mùa sinh sản,… để đánh bắt có hiệu quả tại khu vực này Có nghĩa, các nước tham gia đánh bắt phải là các quốc gia có chủ quyền, quá trình tiến hành đánh bắt chung là quá trình các quốc gia hữu quan cùng nhau thực thi chủ quyền chung để đánh cá một cách hiệu quả nhất

- Hợp tác đánh cá chung là việc các quốc gia cùng hưởng lợi ích kinh tế Chính nhu cầu khai thác hải sản để phát triển kinh tế khiến các quốc gia cùng nhau đánh cá ở vùng biển tranh chấp để cùng hưởng lợi ích kinh tế Việc các bên cùng đánh cá không có nghĩa là các bên từ bỏ chủ quyền đối với vùng biển tranh chấp mà

là cùng nhau đánh bắt và tạm nhượng bộ một phần chủ quyền để dành lấy lợi ích kinh tế cho quốc gia

Từ những quan niệm khác nhau về hợp tác đánh cá chung cùng với tình hình tranh chấp thực tế của từng khu vực đã xuất hiện một số mô hình hợp tác đánh cá chung:

- Mô hình quản lý siêu quốc gia: Là mô hình mà việc quản lý khu vực tranh

chấp tiến hành hợp tác đánh cá chung được giao cho một cơ cấu siêu quốc gia, hai

Trang 26

quốc gia ký hiệp định sẽ có lợi ích kinh tế nhờ thu thuế Với mô hình này, Cơ quan quản lý chung có quyền lực tương đối mạnh: quyền giám sát và quyết định hầu hết các vấn đề như trong thỏa thuận hợp tác về nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam

và Trung Quốc

- Mô hình Chính phủ hai nước cùng quản lý: Là mô hình Chính phủ hai nước

trực tiếp chỉ đạo công tác nghiên cứu trữ lượng cá, luồng cá, mùa sinh sản của các loài cá, và chỉ đạo hoạt động đánh bắt của các doanh nghiệp có các đội tàu và ngư dân tại khu vực khai thác chung Mô hình này giúp cho Chính phủ hai nước có thể trực tiếp chỉ đạo công tác nghiên cứu và đánh bắt tại khu vực khai thác chung Đại diện tiêu biểu cho mô hình này là Hiệp định hợp tác nghề cá giữa Cộng đồng chung Châu Âu và Cộng hòa Li-thua-nia ngày 01/01/1995

- Mô hình đại diện quản lý: một bên thay mặt bên kia thực hiện quản lý toàn

diện hoạt động khai thác tại một khu vực trong vùng tranh chấp, hoạt động kinh doanh của bên này giống như hoạt động kinh doanh của họ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó và được thực hiện theo giấy phép kinh doanh và trình tự quản lý của quốc gia Nghĩa vụ của họ là giao nộp một tỷ lệ thu nhập hợp lí theo thỏa thuận cho bên còn lại

- Mô hình chung vốn kinh doanh: Chính phủ hai nước ký hiệp định ủy quyền

cho một bên được chỉ định tiến hành khai thác trong vùng hợp tác chung Hai quốc gia đều có sự đóng góp kinh tế ngang bằng nhau trong quá trình nghiên cứu cũng như đánh bắt cá

Để làm rõ hơn nội dung trên, sau đây tác giả phân tích, tìm hiểu một số mô hình hợp tác đánh cá chung trên biển điển hình trên thế giới:

1.3.1 Hợp tác đánh cá chung tại vùng biển không chồng lấn

1.3.1.1 Thỏa thuận Canada – Liên Xô (cũ)

Thỏa thuận khai thác chung nghề cá Canada – Liên Xô được ký kết ngày 22/01/1971 Thỏa thuận xác định Vùng khai thác chung là vùng lãnh hải của Canada giữa 3 và 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải chạy theo ven biển của hòn đảo Moresby giữa vĩ độ 52023’ Bắc và 52056’ Bắc Hai

Trang 27

bên nhất trí thiết lập khu vực khai thác chung nghề cá tại Vịnh Sable thuộc vùng biển Nova Scotia và một số khu vực khác trong hải phận tỉnh Newfoundland của Canada

Hai bên thống nhất cùng tiến hành các hoạt động khai thác chung nghề cá và các hoạt động nghiên cứu khoa học khác; xác định những biện pháp thích hợp để sử dụng hiệu quả việc đánh bắt cá ở vùng nước ở độ sâu dưới 100m Ngoài ra, Canada còn cho phép các tàu cung cấp (tàu chở dầu và tàu chuyên chở chung) của đoàn tàu đánh cá Liên Xô được cập cảng Prince Rupert và cảng Vancouver, British Columbia theo phong tục và luật nhập cư của Canada (Điều 6 Hiệp định)

Đáp lại thiện chí của Canada, Liên Xô cũng cam kết thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn hàng hải và đảm bảo cho các tàu cá của mình hoạt động phù hợp với pháp luật Canada cũng như các thỏa thuận của hai nước Đối với hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học, Chính phủ hai nước giao nhiệm vụ cho các

cơ quan chuyên trách của hai quốc gia phải trao đổi dữ liệu và các kết quả nghiên cứu khoa học nghề cá

Bên cạnh các quy định về hợp tác khai thác cá và nghiên cứu khoa học trong vùng biển thuộc lãnh hải Canada, điểm đặc thù của Hiệp định là đã quy định rất cụ thể, chi tiết về vấn đề an toàn hàng hải và an toàn nghề cá (Điều 4 Hiệp định) Các

bên đã nhấn mạnh nguyên tắc: “Không một điều khoản nào của thỏa thuận này làm

ảnh hưởng đến các quyền, các yêu sách và quan điểm của mỗi bên về ranh giới lãnh hải, các ranh giới vùng đánh cá quốc gia hoặc vấn đề đánh bắt cá ở biển cả”

(Điều 8 Hiệp định) Điều này có nghĩa là, hiệp định khai thác chung giữa hai quốc gia ở thời điểm này chính là một giải pháp tạm thời trong khi chờ phân định các vùng biển

Việc quản lý vùng khai thác chung và nghiên cứu khoa học nghề cá không được quy định cụ thể bằng việc thành lập một cơ quan quản lý mà hiệp định chỉ quy định việc trao đổi dữ liệu nghề cá sẽ do các cơ quan chuyên trách của hai bên đảm nhận Mô hình quản lý này không hẳn là thật sự chặt chẽ đối với một hiệp định khai

Trang 28

thác chung nhưng trong hoàn cảnh của Liên Xô và Canada lại rất phù hợp bởi sự đơn giản, gọn nhẹ, đảm bảo sự công bằng và các quyền lợi cơ bản của hai bên

Hiệp định không có một quy định cụ thể điều chỉnh về vấn đề luật áp dụng

và giải quyết tranh chấp; tuy nhiên đề cập đến việc Liên Xô phải tuân thủ các quy định pháp luật của Canada ở vùng lãnh hải cũng như thỏa thuận này và Hiệp định

về an toàn hàng hải đã được ký kết giữa hai quốc gia

Thỏa thuận giữa Canada và Liên Xô là một trong những thỏa thuận khai thác chung ra đời sớm nhất trong lịch sử hình thành khai thác chung nghề cá, ngay từ khi Công ước năm 1982 chưa ra đời Mục tiêu cuối cùng của thỏa thuận này chính là dàn xếp về chủ quyền bằng việc cùng khai thác các lợi ích kinh tế trước mắt để làm bước đệm cho việc thương lượng và dàn xếp vấn đề chủ quyền Đây là ưu điểm nổi bật nhất của Hiệp định Ưu điểm thứ hai là, hai bên đã quy định rất rõ ràng, cụ thể các biện pháp, nguyên tắc thực hiện an toàn hàng hải Hiệp định còn một số hạn chế như: (1) thiếu hẳn các quy định về luật áp dụng và giải quyết tranh chấp; (2) không chỉ định cụ thể cơ quan chuyên trách phụ trách các vấn đề hợp tác nghiên cứu khoa học hay nghề cá. 11

1.3.1.2 Hiệp định giữa Liên Xô – Guinea năm 1981

Guinea là quốc gia ven biển nằm ở Tây Nam châu Phi Với bờ biển trải dài giáp với bờ biển phía bắc của Đại Tây Dương và rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ, nơi tập trung trữ lượng lớn các nguồn tài nguyên biển phong phú như dầu khí, khoáng sản, hải sản,… Guinea cũng là quốc gia có tiềm năng kinh tế biển vô cùng lớn Tuy nhiên, vào những năm 70 của thế kỷ XX, Guinea vẫn là quốc gia có nền kinh tế kém phát triển so với các quốc gia trên thế giới Trong lĩnh vực ngư nghiệp nói riêng, người dân Guinea có truyền thống đánh bắt cá ở các khu vực biển Đại Tây Dương, nhưng đến nay, đánh bắt thô sơ, nhỏ lẻ vẫn là đặc điểm nổi bật của nghề cá

ở quốc gia này Trong khi đó, Liên Xô từng là quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới, lại có nhu cầu khai thác và tiêu thụ thủy hải sản khá lớn Điều này lý giải nguyên nhân tại sao hai nước không có chung đường biên giới biển, không tồn

11

Nguyễn Bá Diến, tlđd chú thích 8, tr 220-222

Trang 29

tại tranh chấp, không có các vùng biển chồng lấn lại đi đến ký kết một hiệp định hợp tác nghề cá Hiệp định hợp tác các ngư trường cá giữa Guinea và Liên Xô năm

1981 là kết quả của mối quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia để phục vụ cho các lợi ích của quốc gia mình Trước khi ký kết Hiệp định này, vào ngày 2/2/1966 hai nước

đã có một Hiệp định hợp tác các ngư trường cá biển Và thỏa thuận này chính là sự tiếp nối của thỏa thuận trước đó, đồng thời cũng là kết quả của sự đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa hai quốc gia Hiệp định được ký kết ngày 25/5/1981 với 8 điều khoản Đây là một Hiệp định hợp tác đánh cá theo nghĩa rộng thường thấy trong mối quan hệ nghề cá giữa Liên Xô và các nước Châu Phi mà không hoàn toàn tập trung vào khai thác chung như trong một số thỏa thuận khai thác chung nghề cá điển hình trên thế giới, nhưng ở đây vẫn có thể chọn lọc một số yếu tố của khai thác chung giữa hai nước và từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong tương lai Hiệp định được chia thành 8 điều quy định những nội dung cơ bản liên quan đến hoạt động hợp tác đánh cá chung và hỗ trợ kỹ thuật giữa hai quốc gia

Điều 4 của Hiệp định đã xác định một vùng khai thác chung là khu vực khá rộng lớn bao gồm hầu như toàn bộ các vùng biển của Guinea ở bờ Đại Tây Dương Đây cũng là vùng biển tập trung nhiều loài cá và nguồn hải sản quý như cá ngừ, cá thu, các loài tôm và nhiều loài hải sản khác Vì vậy khai thác chung ở khu vực này theo Hiệp định sẽ có tiềm năng rất lớn Tại vùng này, phía Liên Xô có trách nhiệm

hỗ trợ về kỹ thuật đào tạo nhân lực nghề cá cho Guinea như hướng dẫn việc nghiên cứu khoa học và quản lý nghề cá ở các vùng biển, kể cả vùng nước nội địa; hỗ trợ việc xây dựng các công trình, thiết bị phát triển công nghiệp thủy sản; đào tạo các chuyên gia cho Guinea… Đổi lại, Guinea sẽ cho phép một số lượng tàu đánh cá nhất định của Liên Xô được đánh bắt trong vùng nước thuộc thẩm quyền đánh cá của Guinea (Điều 4 Hiệp định)

Một Ủy ban Liên hợp Liên Xô – Guinea được thành lập gồm đại diện mỗi quốc gia để quản lý hoạt động khai thác chung và hợp tác kỹ thuật ở khu vực này Đây là cơ quan đại diện cho hai quốc gia, có chức năng quản lý, điều phối, đề ra các

Trang 30

chính sách và biện pháp cần thiết để thực hiện Hiệp định Tuy nhiên, thẩm quyền của Ủy ban chưa được đề cao và vẫn phải phụ thuộc vào các bên về tổ chức, hoạt động và cả việc thông qua quyết định về các vấn đề liên quan đến hợp tác (Điều 7 Hiệp định)

Để tiến hành hoạt động khai thác chung ở vùng khai thác chung, hai bên nhất

trí “thành lập sớm nhất có thể một công ty liên doanh về đánh cá đặt tại Conakry

của Cộng hòa nhân dân cách mạng Guinea” Tuy nhiên các quy định cơ bản, quan

trọng về nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động của công ty này lại không được đề cập một cách cụ thể Điều này sẽ gây khó khăn khi thực thi Hiệp định hoặc sẽ kéo theo việc hai bên sẽ phải ký các thỏa thuận bổ sung cho vấn đề này.12

Như vậy, đặc thù của Hiệp định giữa Liên Xô và Guinea liên quan đến việc hợp tác các ngư trường cá năm 1981 là một hợp tác hỗ trợ về mặt kinh tế kỹ thuật

có nội dung khai thác chung Đây có thể cũng là một lựa chọn phù hợp của các nước đang phát triển trên thế giới trong quan hệ với các quốc gia phát triển hiện nay, và là một ưu điểm lớn của Hiệp định

Tuy nhiên, Hiệp định cũng có những điểm hạn chế cơ bản như: mặc dù phạm

vi khai thác thủy sản theo Hiệp định là lớn, bao gồm cả hợp tác ở vùng biển và sông, nhưng phạm vi này lại không được xác định rõ ràng Đặc biệt các quy định về

số lượng tàu thuyền, biện pháp khai thác chung, các điều khoản về luật áp dụng và giải quyết tranh chấp cũng không được đề cập trong Hiệp định Đây là một bài học kinh nghiệm lớn đối với các quốc gia khác trong việc ký kết các thỏa thuận hợp tác khai thác chung

1.3.1.3 Thỏa thuận Tri-ni-dad và To-ba-go với Bar-ba-dos

Vùng khai thác chung theo thỏa thuận của hai bên trong Hiệp định này là vùng đặc quyền kinh tế của Tri-ni-dad và To-ba-go ở khu vực tiếp liền với vùng biển của Bar-ba-dos

Thỏa thuận đề cập khá cụ thể đến quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc khai thác chung nghề cá giữa Tri-ni-dad và To-ba-go với Bar-ba-dos Theo đó, tàu

12

Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Hùng Cường (2008), “Khai thác chung nghề cá Châu Phi – Một số

kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, (24), tr 165

Trang 31

thuyền của Bar-ba-dos chỉ được phép khai thác trong thời gian tối đa 8 ngày/1 tháng tại vùng đánh cá chung giữa hai nước Các bên sẽ thành lập một cơ quan quản lý chung để theo dõi và kiểm tra hoạt động khai thác chung nghề cá trên các vùng đánh cá chung Chính phủ Tri-ni-dad và To-ba-go sẽ đảm nhiệm việc thu hoạch và chế biến sản lượng đánh bắt được Tàu thuyền đánh cá của Bar-ba-dos khi vào khai thác chung tại các vùng đánh cá của Tri-ni-dad và To-ba-go phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật nước này và đảm bảo duy trì sự sống của các tài nguyên sinh vật biển Đồng thời Bar-ba-dos dành quyền ưu đãi cho các sản phẩm chế biến

từ cá của Tri-ni-dad và To-ba-go trên thị trường nước mình

Các hoạt động khai thác chung và hợp tác về chế biến, xuất khẩu các sản phẩm khai thác chung được quản lý bởi ủy ban nghề cá chung của hai nước Cơ quan này gồm đại diện của hai quốc gia thành viên nhằm thực hiện các chức năng chủ yếu như: Giám sát việc thực hiện Hiệp định, Hợp tác trao đổi các kết quả nghiên cứu từ các chương trình khoa học hoặc các hoạt động nghề cá, thực hiện tất

cả các chức năng khác nhằm thúc đẩy sự thực hiện đầy đủ và hiệu quả thỏa thuận này Việc đặt ra một cơ quan quản lý chung theo mô hình đồng quản lý như vậy chắc chắn sẽ góp phần tạo thuận lợi cho sự trao đổi, hỗ trợ của các bên trong quá trình thực thi

Với vai trò trực tiếp tiến hành các hoạt động khai thác, đánh bắt, Bar-ba-dos

sẽ được hưởng 60% lợi nhuận từ việc khai thác chung nghề cá giữa hai nước ni-dad và To-ba-go sẽ được hưởng 40% còn lại do việc đánh bắt được tiến hành trong vùng biển của nước này và đã tham gia vào hoạt động chế biến

Tri-Vấn đề áp dụng luật để thực hiện các thỏa thuận giữa hai bên được quy định

khá cụ thể tại Điều XI của Hiệp định Theo đó “Bar-ba-dos phải thực hiện chặt chẽ

luật về nghề cá và pháp luật hiện hành của Tri-ni-dad và To-ba-go trong thời gian tham gia đánh cá tại vùng nước thuộc thẩm quyền tài phán” Phạm vi pháp luật

phải áp dụng sẽ do Tri-ni-dad và ba-go thông báo Chính phủ Tri-ni-dad và ba-go có quyền đình chỉ hoặc hủy bỏ dàn xếp về việc cho phép Bar-ba-dos đánh bắt

To-cá trong vùng nước của Tri-ni-dad và To-ba-go Các quy định về luật áp dụng này

Trang 32

đã thể hiện thẩm quyền rất lớn của Tri-ni-dad và To-ba-go - nước đã dành vùng biển của mình cho hoạt động khai thác chung Về việc giải quyết tranh chấp, hai bên thống nhất sẽ hoàn toàn giải quyết nội bộ hoặc thông qua con đường ngoại giao

Hai bên quy định về thời hạn thỏa thuận theo một hình thức đặt biệt Liên tục trong năm, hai bên sẽ đàm phán một thỏa thuận với các sửa đổi, bổ sung hoặc thay đổi cách thức hợp tác, khai thác phù hợp với mùa đánh bắt mới và với các điều kiện địa lý, tự nhiên, kinh tế xã hội khác

Ưu điểm nổi bật và cũng là điểm đặc thù của Hiệp định giữa Tri-ni-dad và To-ba-go với Bar-ba-dos là việc hai bên thống nhất hợp tác khai thác chung theo mùa đánh cá Việc lựa chọn mùa đánh bắt hợp tác tạo điều kiện thuận lợi để khai thác và góp phần quan trọng vào việc bảo tồn nguồn tài nguyên cá Hai bên đã thống nhất được hầu như tất cả các vấn đề đều được giải quyết nội bộ thông qua Ủy ban nghề cá hoặc bằng các biện pháp hòa bình, ngoại giao giữa hai nước. 13

1.3.2 Hợp tác đánh cá chung tại vùng biển chồng lấn

1.3.2.1 Hiệp định giữa Nhật Bản và Hàn Quốc

Trước đây, Nhật Bản và Hàn Quốc đã thỏa thuận với nhau một cách dễ dàng v ề đường ranh giới phân chia thềm lục địa ở vùng biển Nhật Bản và eo biển Tsushima Còn phần thềm lục địa phía nam trong Biển Đông Trung Hoa thì quan điểm của hai nước có sự khác biệt đáng kể, đến mức không thể dung hòa được Trong khi quan điểm của Nhật Bản dựa trên nguyên tắc đường trung tuyến thì Hàn Quốc trên cơ sở học thuyết về sự mở rộng tự nhiên của đất liền, đã yêu sách thềm lục địa của họ phải được mở rộng ra ngoài đường trung tuyến giả thiết giữa hai nước Chính vì vậy, việc kí kết một hiệp định hợp tác nhằm khai thác hiệu quả nguồn lợi hải sản của khu vực tranh chấp là giải pháp tạm thời được hai quốc gia ưu tiên lựa chọn Hai quốc gia đã kí 2 Hiệp định nghề cá, gồm Hiệp định nghề cá năm 1965 và Hiệp định nghề cá năm 1999

Hiệp định nghề cá Nhật Bản và Hàn Quốc năm 1965

13

Nguyễn Bá Diến, tlđd chú thích 8, tr 239-241

Trang 33

Vùng hợp tác chung là đường nối 11 điểm với các tọa độ nhất định được quy định tại Điều 2 Hiệp định Đây là khu vực vùng biển chồng lấn giữa hai quốc gia, chưa có đường phân định và được cả hai nước xác định là thuộc vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia mình Tại khu vực nối 11 điểm này, hai quốc gia thực hiện việc hợp tác để cùng đánh bắt cá với mục tiêu đảm bảo hiệu quả kinh tế mà vẫn an toàn với môi trường sinh thái Đối với những vùng ngoài vùng khai thác chung, các bên

sẽ thực hiện quyền tài phán của mình đối với các tàu thuyền theo nguyên tắc tàu của quốc gia treo cờ Các quốc gia còn có nghĩa vụ thống nhất các quy chuẩn cho việc khai thác cá để đảm bảo việc duy trì và bảo tồn phát triển bền vững nghề các và các nguồn tài nguyên cá dựa trên cơ sở những nghiên cứu khoa học

Mô hình quản lý khu vực khai thác chung được áp dụng trong Hiệp định này

là mô hình Cộng quản thông qua một cơ quan đại diện quản lý - thiết lập Ủy ban khai thác chung nghề cá Hàn Quốc - Nhật Bản với các chức năng chủ yếu: đưa ra khuyến nghị cho các bên liên quan tới hoạt động nghiên cứu khoa học về các nguồn tài nguyên cá; các khuyến nghị cho các bên về phạm vi các vùng tài nguyên khai thác chung; xem xét các vấn đề liên quan đến các giải pháp kiểm soát nghề cá tạm thời, xem xét những vấn đề liên quan đến hoạt động an toàn và thiết lập trật tự đối với các tàu cá của các bên; đưa ra chính sách chung cho việc giải quyết các vụ tai nạn của các tàu cá của các bên; xem xét và đưa ra các khuyến nghị tới các bên liên quan đến việc đưa ra các biện pháp trừng phạt đối với các biện pháp vi phạm Hiệp định; Ngoài ra, Hiệp định còn đã quy định về các quy chuẩn cho việc khai thác nhằm đảm bảo việc duy trì và bảo tồn nghề cá; số lượng và kích cỡ của tàu thuyền, kích cỡ của lưới đánh bắt, việc sử dụng đèn chiếu sáng trong đánh bắt cá

Các tranh chấp giữa các bên liên quan đến việc giải thích và thực hiện Hiệp định sẽ được giải quyết bằng con đường ngoại giao Tất cả các tranh chấp còn lại khác sẽ được giải quyết bằng một ủy ban trọng tài với 3 trọng tài viên Vấn đề tiêu chuẩn lựa chọn trọng tài, thủ tục giải quyết tranh chấp, áp dụng luật cũng đã được

đề cập trong Hiệp định

Trang 34

Thỏa thuận sẽ tiếp tục có hiệu lực giai đoạn 5 năm sau 1 năm kể từ ngày mà một bên quốc gia gửi công hàm cho quốc gia kia về việc thông báo dự định chấm dứt hiệp định

Từ khi Hiệp định nghề cá có hiệu lực và trong quá trình thực hiện, hai quốc gia đã hạn chế được tối đa các xung đột, tranh chấp trong hoạt động khai thác nghề

cá Tuy nhiên, yếu tố hợp tác cũng chỉ dừng lại ở một số hoạt động như quản lý, còn việc khai thác chung như thế nào thì chưa được đề cập một cách cụ thể. 14

Hiệp định khai thác chung nghề cá Hàn Quốc và Nhật Bản năm 1999

Sau khi Hiệp định năm 1965 hết hiệu lực, trải qua quá trình thương lượng, 2 quốc gia tiếp tục kí Hiệp định khai thác chung nghề cá Hàn Quốc và Nhật Bản năm

1999 Vùng khai thác chung được 2 quốc gia thỏa thuận tiếp tục là vùng mà hai bên

đã ký tại thỏa thuận hợp tác khai thác chung vào năm 1965

Trong vùng khai thác chung, mỗi bên sẽ cho phép ngư dân và tàu cá của bên kia được quyền khai thác trong vùng đặc quyền kinh tế của mình phù hợp với quy định của Hiệp định và các quy định có liên quan khác.15 Các bên có thể thực hiện các biện pháp cần thiết theo luật quốc tế trong vùng đặc quyền kinh tế của mình để đảm bảo ngư dân và tàu cá của bên kia sẽ được thực hiện các hoạt động nghề cá phù hợp với Hiệp định nghề cá và các quy định có liên quan khác.16

Một Ủy ban tiếp tục được thiết lập với tên gọi “Ủy ban nghề cá Nhật Bản và Hàn Quốc” nhằm đưa ra các tư vấn, khuyến nghị, các quyết định ràng buộc đối với Chính phủ của hai bên về những vấn đề khác nhau liên quan đến việc thực thi Hiệp định.17 Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Ủy ban rất rộng: đưa ra các tư vấn, khuyến nghị về những vấn đề liên quan đến hoạt động nghề cá trong vùng đặc quyền kinh tế; các ý kiến tư vấn và khuyến nghị đối với việc bảo tồn và quản lý nguồn tài nguyên cá và các sinh vật biển khác

Trang 35

Vấn đề giải quyết tranh chấp giữa hai quốc gia cũng được đề cập cụ thể trong Hiệp định Các bên sẽ giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Tuy nhiên thủ tục giải quyết tranh chấp bằng trọng tài không bắt buộc đối với các bên.18

Về cơ bản nội dung của 2 Hiệp định không khác nhau nhiều Mục đích vẫn là

để phát triển hoạt động đánh bắt hải sản song song với yếu tố đảm bảo vấn đề môi trường biển Tại một khu vực mà một được ranh giới biển khó có thể đạt được, đặc biệt với 2 quốc gia đều coi trọng vấn đề chủ quyền như Nhật Bản và Hàn Quốc thì hợp tác khai thác chung sẽ được xem là giải pháp hiệu quả nhất tại thời điểm hiện nay

1.3.2.2 Hiệp định giữa Senegal và Guinea Bissau

Senegal và Guinea Bissau là hai nước láng giềng nằm ở khu vực Tây Phi với đường biên giới phía Tây là bờ biển Đại Tây Dương Từ năm 1960, khi Senegal còn

là thuộc địa của Pháp và Guinea Bissau là thuộc địa của Bồ Đào Nha, hai nước đã

có Hiệp ước Franco – Portuguese phân định lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải và thềm lục địa của hai nước Tuy nhiên Hiệp định này không được thực hiện trên thực

tế và các tranh chấp pháp lý vẫn liên tục kéo dài trong nhiều năm Cùng với việc giải quyết ở Tòa án Công lý Quốc tế, hai bên cũng đưa ra các thương lượng ban đầu

về việc tiếp tục đi tới việc phân định vùng đặc quyền kinh tế Trong khi chờ đợi kết quả phân định cuối cùng, ngày 14/10/1993 hai nước đã đi đến một giải pháp thực tế

là ký kết Hiệp quản lý và hợp tác trong đó hai bên nhất trí thành lập Hội đồng quản

lý (Agency) và tiếp tục ký kết Nghị định thư bổ sung về tổ chức và hoạt động của Hội đồng được thiết lập theo Hiệp định ngày 14/10/1993 Nghị định thư này “là một phần không thể thiếu của Hiệp định ngày 14/10/1993” theo như quy định trong Điều khoản cuối cùng của Nghị định thư Vì vậy, khi xem xét các điều khoản, quy định của Hiệp định cần phải có sự liên hệ, so sánh, kết hợp với các quy định của Nghị định thư

Hiệp định quản lý và hợp tác giữa Senegal và Guinea Bissau là một thỏa thuận khai thác chung hỗn hợp bao gồm khai thác chung các nguồn tài nguyên từ

18

Điều 13 của Hiệp định nghề cá Nhật Bản và Hàn Quốc 1999

Trang 36

thềm lục địa (dầu khí, khoáng sản) và các loài cá Tuy nhiên trong phạm vi luận văn này, tác giả sẽ chỉ nghiên cứu Hiệp định khác thác chung giữa Senegal và Guinea Bissau về các khía cạnh nghề cá

Ngay trong Điều 1 của Hiệp định, hai bên đã thống nhất xác định vùng khai thác chung là thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế liền kề của hai nước Senegal

và Guinea Bissau, trải dài dọc theo biên giới giữa hai nước trong vùng biển phía bắc Đại Tây Dương Vùng này theo như mô tả của Giáo sư Masahiro Miyoshi là vùng biển chung giữa hai quốc gia bao trùm lên đường 240B theo điều ước năm 1960 tạo thành hình giẻ quạt có góc 480 với đường kính tâm là 200 hải lý tính từ tâm là mũi Roxo.19

Để quản lý hiệu quả hoạt động khai thác chung ở khu vực này, hai bên thành lập một Hội đồng quản lý chung có trụ sở được đặt tại Dakar – thủ đô của Senegal

và có thể được chuyển tới Guinea Bissau Hội đồng đóng vai trò là một tổ chức quốc tế đại diện cho hai quốc gia trong các quan hệ quốc tế và trong hoạt động hợp tác quản lý, khai thác nguồn tài nguyên có thể bằng các hình thức tự thực hiện việc khai thác, quản lý này nhưng cũng có thể thông qua thành viên cấp dưới của Hội đồng là Xí nghiệp, công ty con của Xí nghiệp hoặc các Công ty khác (Điều 4)

Riêng trong lĩnh vực nghề cá, Hội đồng có trách nhiệm:

- Tự mình tiến hành hoặc phối hợp với một quốc gia hoặc một cơ quan khác, đánh giá và quản lý các nguồn tài nguyên cá, điều chỉnh hệ sinh thái biển và phát triển nghề cá ở khu vực khai thác chung;

- Thực hiện và tổ chức thực hiện các quyền đánh cá, đặc biệt là bằng các điều kiện thành lập và thực hiện hoạt động tiếp cận và khai thác nguồn tài nguyên cá ở khu vực khai thác chung;

- Điều khiển việc khai thác thử, thăm dò và khai thác nguồn cá ở khu vực khai thác chung;

19

Masahiro Miyoshi, tlđd chú thích 2

Trang 37

- Thực hiện việc bán tất cả hoặc một phần các sản phẩm thu được từ hoạt động đánh bắt đó.20

Với tư cách là một tổ chức quốc tế, Hội đồng và thành viên của Hội đồng là

Xí nghiệp còn được hưởng các đặc quyền và quyền miễn trừ giống như vai trò của một tổ chức quốc tế được xác định và áp dụng cụ thể theo quy chế chung của Liên hợp quốc dành cho các tổ chức quốc tế được công nhận.21

Về cơ cấu tổ chức, Hội đồng gồm có hai bộ phận chính là: Đại hội đồng và Ban Thư ký, trong đó Đại hội đồng là cơ quan cao nhất – cơ quan lập pháp có chức năng đề ra chính sách, quy định, có quyền đề xuất, tham gia ý kiến về hoạt động của

Xí nghiệp và các cơ quan khác trong khai thác chung Đồng thời Đại hội đồng cũng

là cơ quan giám sát, cơ quan an ninh, phụ trách các vấn đề nghi thức ở khu vực khai thác chung và hoạt động hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế khác Ban Thư

ký có vai trò là cơ quan hỗ trợ cho Đại hội đồng về các vấn đề liên quan

Để tiến hành khai thác chung hiệu quả, công bằng nguồn tài nguyên của khu vực hợp tác, Hội đồng quản lý chung đã thành lập Xí nghiệp khai thác thay mặt cho Hội đồng cũng là đại diện cho hai quốc gia trực tiếp tiến hành các hoạt động ở khu vực hợp tác nói chung và các hoạt động nghề cá nói riêng

Theo quy định tại Điều 12 Nghị định thư, Xí nghiệp được quản lý bởi Ban giám đốc đứng đầu là Tổng giám đốc và 3 Giám đốc thành viên phụ trách từng lĩnh vực cụ thể: Giám đốc quản lý việc khai thác dầu khí, khoáng sản; Giám đốc chịu trách nhiệm về hoạt động khảo sát, nghiên cứu, đánh bắt cá và Giám đốc hành chính

Trang 38

hoặc ký kết các “Hợp đồng nghề cá” với các công ty hoặc nhóm các công ty khác

để thực hiện hoạt động khai thác với điều kiện các công ty, đơn vị đó phải được cấp giấy phép của Quốc gia thành viên (Nếu là công ty của quốc gia đó) hoặc giấy phép của Đại hội đồng (nếu là công ty của một quốc gia thứ ba) và việc ký kết này phải đảm bảo các thủ tục, nội dung hợp pháp và phù hợp với các quy định của Hiệp định (Điều 11 Nghị định thư bổ sung)

Hiệp định cũng quy định cụ thể, chặt chẽ về vấn đề tài chính Trong đó hai nội dung cơ bản được đề cập rõ ràng là tỷ lệ góp vốn và tỷ lệ phân chia lợi nhuận Theo đó, tỷ lệ góp vốn của hai bên sẽ là: Cộng hòa Senegal 67,5%; Cộng hòa Guinea Bissau 32,5% và tỷ lệ phân chia lợi nhuận từ khai thác cá được chia đều cho hai bên Điều 1 Hiệp định cũng mở rộng “Trong trường hợp có các phát hiện khác,

tỷ lệ này sẽ được xem xét lại, và sự xem xét lại như vậy phụ thuộc vào khối lượng các nguồn tài nguyên phát hiện được” Tỷ lệ trên và quy định mở rộng trên là một cách quy định khá công bằng và hợp lý, đồng thời cũng thể hiện tính mềm dẻo trong thương lượng và ký kết hiệp định của hai nước Lối thỏa thuận theo hướng mở nà rất phù hợp với đối tượng khai thác chung là tài nguyên sinh vật, đặc biệt là cá, bởi

cá là loài di cư nên không thể dễ dàng xác định được một cách chính xác trữ lượng

ở vùng biển của hai nước liền kề Các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

có thể tham khảo quy định trên để áp dụng cho các thỏa thuận hợp tác đánh cá chung của mình

Vấn đề luật áp dụng và giải quyết tranh chấp là vấn đề quan trọng và cần thiết trong bất cứ một thỏa thuận quốc tế nào, ở Hiệp định này, hai bên cũng có các điều khoản rất chặt chẽ về vấn đề này Điều 23 Nghị định thư phân rõ luật áp dụng cho từng lĩnh vực dầu khí và nghề cá Theo đó, trong lĩnh vực khai thác chung dầu khí luật của Senegal sẽ được áp dụng, còn luật của Guinea Bissau sẽ được áp dụng cho các hoạt động khai thác thử, thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên cá Trong trường hợp xảy ra tranh chấp, các bên thống nhất sẽ giải quyết lần lượt bằng các biện pháp thương lượng trực tiếp, trọng tài hoặc Tòa án Công lý Quốc tế với các nội dung không giải quyết được bằng quy định của pháp luật hai quốc gia (Điều 9

Trang 39

Nghị định thư) Đây là cơ chế giải quyết tranh chấp tiến bộ, phù hợp với xu thế hòa bình trên thế giới Các quy định của Nghị định thư là khá chi tiết rõ ràng đối với từng loại tranh chấp Điều này cũng thể hiện tính chất chặt chẽ của Hiệp định và Nghị định thư nói riêng và mối quan hệ hợp tác, đồng thuận giữa hai nước nói chung

Theo thỏa thuận của hai bên, Hiệp định sẽ có hiệu lực kể từ ngày ký, có thời hạn trong 20 năm và có thể tự động gia hạn Đây là một thời hạn không phải quá dài (thời hạn hiệp định khai thác chung dài nhất hiện nay là 50 năm theo Bản ghi nhớ Thái Lan – Malaysia năm 1979) nhưng cũng đủ để hai bên cùng tiến hành các hoạt động từ thăm dò, nghiên cứu đến khai thác các nguồn tài nguyên Quy định về việc Hiệp định có thể tự động gia hạn tạo điều kiện “mở” cho hai bên có thể căn cứ vào nhu cầu, năng lực, tình hình thực thi, giá trị kinh tế của nguồn tài nguyên còn lại để tiếp tục thực hiện việc khai thác chung

Ngoài các nội dung cơ bản như trên, Nghị định thư ngày 12/6/1995 – một bộ phận không thể tách rời của Hiệp định ngày 14/10/1993 còn quy định khá chi tiết một số các điều khoản khác bổ sung cho việc hợp tác và là nghĩa vụ của các bên như mục đích hợp tác (Điều 16), an toàn (Điều 17), giám sát (Điều 18), tìm kiếm và cứu nạn (Điều 19), dịch vụ vận chuyển (Điều 20), thư mục, tài liệu và ngân hàng dữ liệu (Điều 21), nghiên cứu khoa học biển (Điều 22), bảo vệ môi trường biển (Điều 23).22

Với tất cả các nội dung đã phân tích trên đây, Hiệp định khai thác chung giữa Senegal và Guinea Bissau là một Hiệp định có rất nhiều ưu điểm nổi bật như: tính đầy đủ, chi tiết của nội dung hiệp định và nghị định thư, các điều khoản rõ ràng với cách thức khoa học dễ hiểu; mô hình quản lý khu vực khai thác chung mới mẻ, ưu việt; vấn đề giải quyết tranh chấp được cụ thể hóa bằng các phương án giải quyết đối với từng loại tranh chấp, từng chủ thể tranh chấp; ngoài ra Hiệp định đã đề cập đến tất cả các vấn đề khác có liên quan đến khai thác chung như nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm,… Hiệp định có thể được coi là

22

Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Hùng Cường, tlđd chú thích 12, tr 166-169

Trang 40

một điển hình mà Việt Nam và các quốc gia hữu quan ở khu vực Biển Đông cần tham khảo khi tiến hành đàm phán, ký kết các điều ước quốc tế về khai thác chung nói chung và hợp tác đánh cá chung trên biển nói riêng

1.3.2.3 Hiệp định giữa Bar-ba-dos và Guy-a-na

Hiệp định hợp tác vùng đặc quyền kinh tế giữa Bar-ba-dos và Guy-a-na có phạm vi địa lý vùng hợp tác có diện tích biển khá rộng, không chỉ nằm trong phạm

vi vùng đặc quyền kinh tế của hai nước mà còn bao gồm cả vùng biển nằm ngoài ranh giới ngoài của hai nước đang có sự chồng lấn nhau

- Quyền và nghĩa vụ của các bên: Các bên có quyền “cùng thực hiện thẩm quyền tài phán, cùng kiểm soát, quản lý, thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật cũng như các quyền và nghĩa vụ khác được quy định trong Công ước tại khu vực chồng lấn tập trung giữa vùng đặc quyền kinh tế của họ và vùng ngoài vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia kia” Về việc thực hiện thẩm quyền

tài phán, hai bên sẽ cùng thực hiện thẩm quyền tài phán chung đối với các hoạt động diễn ra ở vùng hợp tác thông qua thỏa thuận và trao đổi văn bản Ngoài ra, Hiệp định còn quy định các vấn đề khác như: quyền, nghĩa vụ của quốc gia thứ ba; hợp tác về bảo vệ an ninh, an toàn, bảo vệ môi trường biển,

Hiệp định hợp tác vùng đặc quyền kinh tế giữa Bar-ba-dos và Guy-a-na không quy định về vấn đề cơ quan quản lý mà chỉ đề cập đến việc tham vấn và thông báo thông qua cơ quan ngoại giao do hai nước chỉ định Đây có thể coi là cơ chế quản lý tương đối gọn nhẹ, nhưng sự quản lý như vậy sẽ không chặt chẽ, việc không có một cơ quan quản lý chung sẽ gây khó khăn, kéo dài đối với các vấn đề cần giải quyết kịp thời, và chắc chắn sẽ dẫn tới nhiều bất cập trong hoạt động khai thác chung

Về việc giải quyết tranh chấp, Hiệp dịnh đã có quy định khá cụ thể tại Điều

10 Cũng giống như các Hiệp định khai thác chung khác và xu thế quan hệ đối ngoại hiện nay, biện pháp hòa bình thương lượng cũng vẫn là biện pháp được ưu tiên hàng đầu Ngoài ra, nguyên tắc tôn trọng công ước, tôn trọng phán quyết của Tòa cũng là các nguyên tắc quan trọng trong giải quyết tranh chấp ở Hiệp định này

Ngày đăng: 24/11/2018, 15:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Li Jianwei và Chen Pingping (2010), “Hợp tác trong Vịnh Bắc Bộ: Nhìn lại hiệp định nghề cá Việt Nam – Trung Quốc”, Biển Đông – hướng tới một khu vực hòa bình, an ninh và hợp tác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác trong Vịnh Bắc Bộ: Nhìn lại hiệp định nghề cá Việt Nam – Trung Quốc”
Tác giả: Li Jianwei và Chen Pingping
Năm: 2010
10. Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Hùng Cường (2008), “Khai thác chung nghề cá Châu Phi – Một số kinh nghiệm đối với Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác chung nghề cá Châu Phi – Một số kinh nghiệm đối với Việt Nam”, "Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Bá Diến, Nguyễn Hùng Cường
Năm: 2008
11. Nguyễn Bá Diến (chủ biên, 2006), Chính sách pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách pháp luật biển của Việt Nam và chiến lược phát triển bền vững
Nhà XB: Nxb Tư pháp
12. Nguyễn Bá Diến (chủ biên, 2009), Hợp tác khai thác chung trong luật biển quốc tế những vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác khai thác chung trong luật biển quốc tế những vấn đề lí luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
13. Nguyễn Bá Diến (2009). “Về việc ký kết Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc”, Luật học, (25) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc ký kết Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc”, "Luật học
Tác giả: Nguyễn Bá Diến
Năm: 2009
14. Gault.I.T (1988), “Joint development of offshore mineral resources – Progress and prospects for the future”, Natural resources forum Sách, tạp chí
Tiêu đề: Joint development of offshore mineral resources – Progress and prospects for the future”
Tác giả: Gault.I.T
Năm: 1988
15. Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh (2012), “Chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông”, Tìm kiếm Giải pháp vì Hòa bình và Công lý ở Biển Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của Trung Quốc đối với tranh chấp Biển Đông”
Tác giả: Đỗ Thanh Hải & Nguyễn Thùy Linh
Năm: 2012
16. Dương Danh Huy & Phạm Thanh Vân (2015), “Chủ trương “Gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc”, Tìm kiếm Giải pháp vì Hòa bình và Công lý ở Biển Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ trương “Gác tranh chấp, cùng khai thác” của Trung Quốc”
Tác giả: Dương Danh Huy & Phạm Thanh Vân
Năm: 2015
17. Henry S. Bensurto, Jr. (2010), “Hợp tác ở Biển Đông: Đánh giá về hợp tác giữa Phi-líp-pin và Việt Nam trong các vấn đề biển và đại dương”, Biển Đông:Hướng tới một khu vực Hòa bình, An ninh và Hợp tác Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác ở Biển Đông: Đánh giá về hợp tác giữa Phi-líp-pin và Việt Nam trong các vấn đề biển và đại dương”, "Biển Đông
Tác giả: Henry S. Bensurto, Jr
Năm: 2010
18. Phạm Thị Hồng Phượng (2006), “Lịch sử vùng biển Việt Nam – Campuchia”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, (04) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử vùng biển Việt Nam – Campuchia”, "Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
Tác giả: Phạm Thị Hồng Phượng
Năm: 2006
19. Masahiro Miyoshi (1990), “The joint Development of Offshore Oil and Gas in Ralation to Maritime Boundary Delimitation”, Maritime Briefing, (Vol 2 number 5), International Boundaries Research Unit Sách, tạp chí
Tiêu đề: The joint Development of Offshore Oil and Gas in Ralation to Maritime Boundary Delimitation”, "Maritime Briefing
Tác giả: Masahiro Miyoshi
Năm: 1990
20. Nguyễn Hồng Thao (1997), Những điều cần biết về luật biển, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. Nguyễn Hồng Thao (2001), “Đàm phán phân định và nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ”, Tạp chí Luật học, (03) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điều cần biết về luật biển", Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. Nguyễn Hồng Thao (2001), “Đàm phán phân định và nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Hồng Thao (1997), Những điều cần biết về luật biển, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. Nguyễn Hồng Thao
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2001
21. Nguyễn Thị Thanh Thúy (2009), Khai thác chung dầu khí ở một số nước trên thế giới và thực tiễn Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai thác chung dầu khí ở một số nước trên thế giới và thực tiễn Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Thúy
Năm: 2009
22. Yann-huei Song, “Các dự án đa dạng sinh học biển ở Biển Đông: những nỗ lực đã đạt qua tiến trình hội thảo Biển Đông”, Biển Đông hướng tới một khu vực hòa bình, an ninh và hợp tác.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các dự án đa dạng sinh học biển ở Biển Đông: những nỗ lực đã đạt qua tiến trình hội thảo Biển Đông”, "Biển Đông hướng tới một khu vực hòa bình, an ninh và hợp tác
1. Hiệp định hợp tác các ngư trường cá giữa Guinea và Liên Xô năm 1981 Khác
3. Hiệp định về Vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia năm 1982 Khác
5. Nghị định thư bổ sung Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ ngày 29/4/2004 Khác
6. Quy định về bảo tồn và trách nhiệm nguồn lợi thủy sản trong Vùng đánh cá chung Vịnh Bắc Bộ Khác
8. British Institute of International and comparative Law (1990), Joint development at offshore Oil and Gas – a model Agreement for joint development with explaratoty commentary Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w