1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Phát triển nguồn nhân lực y tế vùng đồng bằng sông hồng

196 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU1Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI61.1.Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực y tế ở nước ngoài61.2.Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực y tế ở trong nước121.3.Nhận xét chung về những nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án18Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ212.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò nguồn nhân lực y tế212.2.Nội dung phát triển nguồn nhân lực y tế322.3.Những nhân tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực y tế372.4.Mô hình tổ chức hệ thống y tế Việt Nam462.5.Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển nguồn nhân lực y tế vàbài học cho vùng đồng bằng sông Hồng53Chương 3. THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN 20082014693.1.Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của vùng đồng bằng sông Hồng có ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế693.2.Tình hình nguồn nhân lực y tế vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 20082014763.3.Đánh giá chung106Chương 4. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG1224.1.Phương hướng phát triển nguồn nhân lực y tế vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 20301224.2.Giải pháp phát triển nguồn nhân lực y tế vùng đồng bằng sông Hồng126KẾT LUẬN149

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG

NGUYỄN TIẾN CƯỜNG

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1.Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực y tế ở nước ngoài 6

1.2.Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực y tế ở trong nước 12

1.3.Nhận xét chung về những nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 18

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ 21

2.1.Khái niệm, đặc điểm, vai trò nguồn nhân lực y tế 21

2.2.Nội dung phát triển nguồn nhân lực y tế 32

2.3.Những nhân tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực y tế 37

2.4.Mô hình tổ chức hệ thống y tế Việt Nam 46

2.5 Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển nguồn nhân lực y tế và bài học cho vùng đồng bằng sông Hồng 53

Chương 3 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG GIAI ĐOẠN 2008-2014 69

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Hồng có ảnh hưởng đến nguồn nhân lực y tế 69

3.2 Tình hình nguồn nhân lực y tế vùng đồng bằng sông Hồng giai đoạn 2008-2014 76

3.3 Đánh giá chung 106

Chương 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG 122

4.1 Phương hướng phát triển nguồn nhân lực y tế vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030 122

4.2.Giải pháp phát triển nguồn nhân lực y tế vùng đồng bằng sông Hồng 126

KẾT LUẬN 149

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

PHỤ LỤC 163

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH, BIỂU ĐỒ

Trang

Danh mục bảng

Bảng 2.1: So sánh một số chỉ số về NNLYT tại khu vực Đông Nam Á, Tây

Thái Bình Dương và một số quốc gia trong vùng 34Bảng 2.2 Xu hướng biến đổi bệnh tật, tử vong 44Bảng 3.1: Dân số các vùng miền cả nước 2008-2014 70

thành thị/nông thôn và vùng kinh tế - xã hội năm 2014 71Bảng 3.3: So sánh tỷ lệ lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo

của các vùng kinh tế - xã hội trong cả nước, năm 2014 72

đồng bằng sông Hồng, 2008 -2014 77Bảng 3.5: Phân bố dân số và nhân lực y tế theo vùng lãnh thổ, 2014 78

ĐBSH, 2008-2014 80

Bảng 3.8: Cơ sở KCB tư nhân và bán công vùng ĐBSH 81Bảng 3.9 Cơ cấu CBNV y tế sự nghiệp công lập vùng ĐBSH theo ngành đào

tạo, 2008 – 2014 90Bảng 3.10: Cơ cấu trình độ của CBNV y tế cơ hữu sự nghiệp công lập tuyến

tỉnh, huyện, xã vùng ĐBSH, năm 2012, 2014 92Bảng 3.11: Cơ cấu CBNV y tế cơ hữu sự nghiệp công lập theo ngành và bậc

học vùng ĐBSH năm 2014 94Bảng 3.12: Phân bố CBYT vùng ĐBSH theo tuyến y tế, 2008 -2014 95

2008-2014 96

Trang 5

Bảng 3.15 Ý kiến của cán bộ quản lý, nhân viên y tế thuộc đối tượng nghiên

cứu về việc được đào tạo, cập nhật kiến thức, thông tin liên quan tới

công việc đang đảm nhiệm 116Bảng 3.16: Nhu cầu được đào tạo cập nhật để đáp ứng yêu cầu công việc đang

đảm nhiệm của cán bộ quản lý, nhân viên y tế thuộc đối tượng

nghiên cứu 117

Bảng 4.2: Dự báo nhu cầu CBNV y tế các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH theo

quy mô dân số 2020 123Bảng 4.3: Tỷ lệ giường bệnh tuyến tỉnh, huyện, xã vùng ĐBSH so với cả nước 123

Hồng năm 2014 93

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của quá trìnhsản xuất, là yếu tố quyết định trong phát triển kinh tế của mỗi ngành, mỗi vùng, mỗiđịa phương Vị trí của NNL đang ngày càng trở nên quan trọng trong quá trình tăngtrưởng và phát triển kinh tế nói chung và phát triển hệ thống y tế nói riêng Ngành y

tế là một ngành đặc thù, liên quan trực tiếp với tính mạng và sức khỏe của conngười do vậy việc phát triển NNLYT lại càng trở nên quan trọng, luôn được quantâm và đặt lên hàng đầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc vànâng cao sức khoẻ nhân dân

Vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) bao gồm 11 tỉnh và thành phố là HàNội, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình, NamĐịnh, Hà Nam, Ninh Bình và Quảng Ninh Diện tích tự nhiên là 14.862 km2 (chiếm4,5% diện tích cả nước), dân số 20.702.200 người chiếm 22,8 % dân số cả nước vớikhoảng 12,03 triệu lao động đang làm việc (chiếm 22, 4% lực lượng lao động cảnước) và 85% số này ở trong độ tuổi 15-44 Mật độ dân số: 983 Người/km2 cao nhất

so với các khu vực khác trong cả nước (Mật độ dân số của cả nước là 274.0(Người/km2) [79] Các tỉnh đồng bằng sông Hồng có nhiều lợi thế về quan hệ kinh

tế mang tính liên vùng Trên địa bàn, có nhiều trục giao thông quốc gia quan trọngchạy qua thuận lợi cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa Nhiều tỉnh, thành phố cótốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế và công nghiệp cao như: Hà Nội HảiPhòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc… Tốc độ tăng trưởng công nghiệp và ngành dịch

vụ ở mức cao, tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp chiếm trên 80% trong cơ cấukinh tế ngành, trong đó ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng hơn 41% Thời kỳ 2001-2010,khu vực ĐBSH đã đóng góp gần 30% cho tăng trưởng GDP của cả nước [74]

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội chung, thời gian vừa qua các tỉnh đồngbằng sông Hồng đã không ngừng đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng cácdịch vụ y tế và đã trở thành thành địa bàn đạt nhiều thành tựu trong việc nâng cao

6

Trang 7

chất lượng công tác y tế, không ngừng phát triển, hoàn thiện trên cả nội dung y tếchuyên sâu và y tế cộng đồng trong vùng kinh tế trọng điểm Bộ máy của ngành y tếngày càng được củng cố quản lí theo ngành, thống nhất từ tỉnh đến cơ sở, mở rộng,phát triển đồng bộ theo hướng nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu khám chữabệnh và chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, ngành y tế các tỉnh khu vực ĐBSH cũngbộc lộ nhiều bất cập, như hệ thống kết cấu hạ tầng y tế xuống cấp, trang thiết bịchưa đồng bộ, đầu tư cho ngành chưa đáp ứng nhu cầu phát triển Riêng về nguồnnhân lực y tế - yếu tố cốt lõi để thực hiện tốt các nhiệm vụ của ngành, cũng bộc lộnhững hạn chế cần gấp rút khắc phục: Số lượng còn thiếu so với yêu cầu; phân bốkhông đều theo địa phương; cơ cấu chưa phù hợp giữa các chuyên khoa, giữa tỷ lệbác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên; trình độ và thái độ phục vụ của một bộ phậnCBYT tế còn bộc lộ những hạn chế; chưa có những chính sách cụ thể, hấp dẫn đểphát triển nguồn nhân lực tại chỗ cũng như phân bổ NNLYT chất lượng cao về cácđịa phương Tất cả những nội dung trên đang đặt ra những thách thức cần giảiquyết đối không chỉ đối với ngành y tế, mà hơn thế đây là một thách thức lớn đốivới sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực Việc phát triển NNL ngành y tế vùngĐBSH trở thành một nhu cầu cấp bách nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc vàkhám chữa bệnh, đảm bảo sức khỏe cho nhân dân, góp phần đưa đời sống kinh tế xãhội của vùng phát triển bền vững, dài hạn trong tương lai

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Nguồn nhân lực y tế vùng Đồng bằng sông Hồng” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị

kinh doanh của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Phân tích, đánh giá thực trạng NNLYT vùng ĐBSH: thành tựu, hạn chế vànguyên nhân; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển NNLYT của vùngđáp ứng nhu cầu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân

Trang 8

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về NNLYT như: Khái niệm về NNL và

NNLYT; đặc điểm, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng và nội dung phát triển NNLYT…

- Phân tích, đánh giá thực trạng NNLYT vùng ĐBSH từ năm 2008 đến 2014, làm rõ những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển NNLYT đáp ứng nhu cầu chăm sóc,bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân vùng ĐBSH đến năm 2020, tầm nhìn đếnnăm 2030

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là NNLYT vùng ĐBSH dưới góc độkinh tế chính trị học: số lượng, chất lượng và cơ cấu NNLYT trong quá trình thựchiện nhiệm vụ của ngành y tế và trong mối quan hệ tác động tới quá trình tăngtrưởng, phát triển kinh tế xã hội của vùng

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung:

+ Đề tài nghiên cứu NNLYT của vùng ĐBSH, bao gồm tổng thể nhữngngười có khả năng lao động đang và sẽ tham gia hoạt động trong lĩnh vực y tế nhưbác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên và cán bộ quản lý trong ngành

y tế

Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam do khó khăn về thu thập thông tin nên cònmột số nhóm đối tượng chưa có số liệu thống kê đầy đủ (ví dụ lĩnh vực y tế tư nhân,

bà đỡ/mụ vườn, lương y, lái xe cấp cứu, cộng tác viên y tế, kỹ thuật viên trang thiết

bị y tế, cán bộ BHYT…) Đặc biệt là số người làm việc trong lĩnh vực y tế tư nhânthường xuyên biến động, việc khảo sát, thống kê về số lượng, trình độ của nhữngđối tượng này là phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian Nghiên cứu sinh chưa thể đưavào nghiên cứu một cách đầy đủ, chi tiết, cụ thể những đối tượng này trong phạm vinghiên cứu của luận án

- Phạm vi về không gian: Luận án nghiên cứu thực trạng NNLYT và đề xuất phương

hương, giải pháp phát triển NNLYT thuộc các cơ sở y tế công lập tuyến

Trang 9

tỉnh/thành phố, huyện, xã của vùng ĐBSH (không nghiên cứu tình hình NNLYT của các cơ sở y tế thuộc tuyến Trung ương).

- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 2008 đến 2014 Các đề

xuất cho giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2030

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận củachủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng,Nhà nước, Bộ Y tế và các bộ ngành có liên quan về phát triển NNLYT đáp ứng nhucầu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân Luận án cũng sẽ bám sátnhững chủ trương, chính sách của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân và Sở Y tế các tỉnh,thành vùng ĐBSH

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, nghiên cứu sinh đã sử dụng các phươngpháp như: trừu tượng hóa khoa học, thống kê, phân tích, tổng hợp, phương pháp sosánh để làm rõ thực trạng NNLYT vùng ĐBSH

Để có thêm thông tin, tư liệu cho việc nghiên cứu, tác giả còn tiến hành khảosát thực tiễn với 03 mẫu phiếu điều tra nhằm tìm hiểu ý kiến của CBYT trên địa bàntỉnh Hải Dương về chế độ chính sách, điều kiện làm việc, nhu cầu đào tạo và đàotạo lại và một số vấn đề liên quan, cũng như mức độ hài lòng của họ đối với côngviệc và các kiến nghị đề xuất với cỡ mẫu 934 phiếu điều tra dành cho các đối tượng

là cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế, cán

bộ, nhân viên y tế các tuyến tỉnh, huyện, xã và nhân viên y tế cơ sở (nhân viên y tếthôn bản, khu dân cư) Cụ thể:

- 449 phiếu dành cho đối tượng là cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan quản lýnhà nước trong lĩnh vực y tế: Sở y tế, phòng y tế, trung tâm y tế chi cụcDSKHHGĐ, chi cục ATVSTP, Trưởng trạm y tế xã; Cán bộ lãnh đạo, quản lýkhoa/phòng, điều dưỡng trưởng các Bệnh viện, cơ sở KCB

- 300 phiếu dành cho đối tượng là cán bộ, nhân viên các chuyên ngành và các trình

độ đang công tác tại các cơ sở y tế y tế các tuyến trên địa bàn tỉnh Hải

Trang 10

Dương, trong đó 150 phiếu dành cho CBNV y tế tuyến tỉnh, 150 phiếu dành cho CBNV y tế tuyến huyện, xã, phường.

- 185 phiếu dành cho đối tượng nhân viên y tế tuyến xã bao gồm dược tá, nhân viên y

tế thôn bản

Kết quả khảo sát thực tiễn được dùng làm căn cứ để tham chiếu phân tíchthực trạng chế độ chính sách, điều kiện làm việc, bố trí, sử dụng, nhu cầu đào tạo vàđào tạo lại, mức độ hài lòng đối với công việc và một số vấn đề liên quan tớiNNLYT vùng ĐBSH Ngoài ra tác giả luận án còn sử dụng một số phương phápnghiên cứu kinh tế học, sử dụng các số liệu thứ cấp và kết quả nghiên cứu của một

số công trình đã công bố

5 Những đóng góp mới của luận án

- Hệ thống hóa và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về NNL nói chung và NNLYT nói riêng:

+ Làm rõ khái niệm về NNL và NNLYT;

+ Phân tích và làm rõ đặc điểm của NNL y tế;

+ Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến NNLYT;

- Phân tích thực trạng NNLYT vùng ĐBSH từ năm 2008 đến 2013, làm rõ những kết quả đạt được, những những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

- Đề xuất các quan điểm và giải pháp nhằm phát triển NNLYT đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân các tỉnh, thành phố vùng ĐBSH

- Kết quả nghiên cứu của luận án là căn cứ khoa học cho việc xây dựng quy hoạch vàphát triển nhân lực của ngành y tế vùng ĐBSH giai đoạn 2015 -2020 và tầm nhìn

năm 2030.

- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo và các địa phươngtrong công tác nghiên cứu, phát triển NNLYT đáp ứng nhu cầu xã hội

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận án có kết cấu 4 chương, 13 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

NNL là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của quá trình sản xuất vàhiện nay NNL đang càng ngày càng trở nên quan trọng trong quá trình tăng trưởng

và phát triển kinh tế Ngành y tế là một ngành đặc thù, liên quan trực tiếp tới tínhmạng và sức khỏe của con người do vậy việc phát triển nguồn nhân lực y tế luônđược quan tâm và đặt lên hàng đầu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chămsóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân

Thời gian vừa qua, vấn đề NNLYT được các nhà khoa học, các chuyên giahoạch định chính sách trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độkhác nhau với hệ thống tài liệu khá phong phú Trong chương này, luận án sẽ tổngquan một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có liên quan đến NNLYT của các tácgiả trong và ngoài nước

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ Ở NƯỚC NGOÀI

1.1.1 Các báo cáo của WHO hoặc của các tổ chức phi Chính phủ

Các công trình nghiên cứu ngoài nước về nhân lực y tế thường là các báo cáocủa WHO hoặc của các tổ chức phi chính phủ Một số công trình tiêu biểu củaWHO hướng tới mục đích xây dựng chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhânlực y tế cho tương lai Tiêu biểu phải kể đến như:

WHO, Báo cáo thường niên năm 2006, với tiêu đề “Working together forhealth" [115], đã phân tích khá toàn diện hiện trạng về cơ cấu, trình độ của hệ thốngnhân lực y tế toàn cầu, những điểm cần ưu tiên trong thời gian tới cũng như nhữngchính sách tổng quát cho giai đoạn tiếp theo

WHO và WPRO, "Chiến lược khu vực về nguồn nhân lực y tế 2006-2015"(Regional Strategy on Human Resources for Health 2006-2015) [116] đã khái quátthực trạng phát triển NNLYT ở một số quốc gia, lựa chọn, phân tích, đánh giá và rút

ra những bài học cho các giai đoạn phát triển tiếp theo Công trình này cũng hướng

Trang 12

dẫn xây dựng chiến lược và chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế cho các quốc gia đang phát triển.

WHO, "Tăng cường hệ thống y tế để cải thiện kết quả sức khỏe: Chươngtrình hành động của WHO" (Everybody’s business: Strengthening health systems toimprove health outcomes: WHO’s framework for action) [118], hiện nay cơ cấubệnh tật có nhiều thay đổi do vậy xây dựng chiến lược tăng cường hệ thống y tế trên

cơ sở có sự can thiệp và tác động của KHCN để nâng cao sức khỏe và kéo dài tuổithọ cho con người có tầm quan trọng đặc biệt Chương trình hành động của WHOđược thực hiện từ năm 2007 đến 2015 để giải quyết các nhu cầu cấp thiết góp phầncải thiện hiệu suất của hệ thống y tế đồng thời giúp cho hệ thống y tế có khả năngđáp ứng các vấn đề sức khỏe trong hiện tại và thách thức trong tương lai; đồng thờiđảm bảo sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực trong lĩnh vực y tế Mục tiêu chínhcủa chương trình hành động là tăng cường vai trò của WHO trong hệ thống y tế củathế giới với nhiều biến động và thay đổi

1.1.2 Sách chuyên khảo và tham khảo

World Federation for Medical Education (2003), "Liên đoàn thế giới về giáodục y tế Tiêu chuẩn toàn cầu để nâng cao chất lượng đào tạo y tế" (GlobalStandards for Quality Improvemen) [121], đã nêu rõ nhiệm vụ và mục tiêu đầu racần phải thực hiện trong quá trình đào tạo để nâng cao năng lực của NLYT để cảithiện chất lượng chăm sóc sức khỏe người bệnh Tài liệu này là cơ sở có giá trị chocông tác xây dựng hệ thống đào tạo, xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng

và đãi ngộ đối với đội ngũ y bác sỹ

Bruce Fried, Myron D Fottler trong: "Nguyên tắc cơ bản của NNL trongchăm sóc sức khỏe" (Fundamentals of Human Resources in Healthcare Paperback )[93], đã trình bày các nội dung cơ bản về quản lý có hiệu quả nguồn lực quan trọngnhất của tổ chức y tế - đó là nguồn nhân lực trong tổ chức, cung cấp một số kháiniệm và công cụ thực hành cần thiết để vượt qua các thách thức trong quản lý nhânviên ngành y tế Nội dung cuốn sách bao gồm: khái quát về sức khỏe và an toàn tạinơi làm việc, yêu cầu quản lý lực lượng lao động trong bối cảnh toàn cầu hóa, chú

Trang 13

trọng lợi ích của nhân viên và tìm cách thiết lập lợi ích, đào tạo và phát triển nghề nghiệp cho NLYT.

Fleming Fllon Jr, Charles R McConnell trong: "Quản lý nguồn nhân lựctrong chăm sóc sức khỏe" (Human Resource Management in Health Care) [97],cuốn sách bao gồm các chủ đề quan trọng như tuyển dụng, đào tạo, chấm dứt hợpđồng, vấn đề pháp lý, công đoàn lao động, v.v Mỗi chương giới thiệu một nghiêncứu trường hợp điển hình trong quản lý nhân lực y tế

Walter J Flynn, Robert L mathis, John H Jackson trong: "Quản lý nguồnnhân lực y tế" (Healthcare Human Resource Management) [114], đã nghiên cứu cácvấn đề: Bản chất và các thách thức trong quản lý NNLYT; năng lực, cơ cấu và tiêuchuẩn nhân lực y tế; quản lý chiến lược NNLYT; các nhân tố pháp lý tác động đếnnguồn nhân lực y tế; thiết kế và phân tích công việc; tuyển dụng và lựa chọn nhânsự; Đào tạo và phát triển NLYT; quản lý theo kết quả thực thi trong ngành y tế; chế

độ đãi ngộ đối với NLYT Các vấn đề trên được trình bày như những gợi ý vềnguyên tắc đối với việc quản trị NNL trong lĩnh vực y tế

Nancy J Niles trong: "Các quan điểm cơ bản trong quản lý nguồn nhân lực ytế" (Basic Concepts Of Health Care Human Resource Management) [108], đã cungcấp các quan điểm cơ bản của quản lý nhân sự trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.Các nội dung này phản ánh một cách nhìn hiện đại về vai trò của NNLYT và cáccách tiếp cận mới đến quản trị nhân lực trong lĩnh vực y tế

1.1.3 Bài viết trong các sách, báo và tạp chí

Marchal B, Kegels trong: "Sự mất cân bằng nhân lực y tế trong xu hướngtoàn cầu hóa: tình trạng chảy máu chất xám" (Health workforce imbalances intimes of globalization: brain drain or professional mobility International Journal

of health Planning and Management) [106 ], bài viết đề cập đến vai trò, tầm quantrọng chiến lược của NLYT đối với hoạt động của hệ thống y tế quốc gia cũng nhưtrong việc kiểm soát dịch bệnh quốc tế Chảy máu chất xám từ nông thôn ra thànhthị, và từ các nước công nghiệp phát triển là một hiện tượng phổ biến trong lĩnhvực y tế Nhưng trong những năm gần đây tình trạng này diễn ra nghiêm

Trang 14

trọng hơn, đặc biệt là ở châu Phi Nghiên cứu này phân tích về cơ chế cơ bản củaviệc di chuyển lao động y tế và chiến lược có thể làm giảm tác động tiêu cực của

nó đối với dịch vụ y tế Việc mở cửa các biên giới quốc tế đối với hàng hóa vàlao động là một chiến lược quan trọng trong việc toàn cầu hóa nền kinh tế thếgiới Hiện nay, đi kèm với thực trạng này là tình trạng "chảy máu chất xám” gâynhiều ảnh hưởng xấu cho các nước kém phát triển, trong đó không chỉ mất nguồnnhân lực cần thiết, mà còn ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển kinh tế xã hộicủa những quốc gia này

Vujicic M, Zurn P trong: "Tính năng động của thị trường lao động sức

khỏe" (International Journal of Health Planning and Management) [113 ], bài viết

đề cập đến một trong những thành phần quan trọng nhất của hệ thống chăm sócsức khỏe là NNLYT - người cung cấp dịch vụ Một thách thức phải đối mặt vớicác nhà hoạch định chính sách là để đảm bảo rằng hệ thống chăm sóc sức khỏe

có đội ngũ NLYT đủ năng lực cung cấp dịch vụ để cải thiện hoặc duy trì sứckhỏe dân số Đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách phải đánh giá nhu cầu chămsóc sức khỏe của nhân dân, từ đó đánh giá nhu cầu về cầu nhân lực y tế để đápứng những nhu cầu đó Có các chính sách đảm bảo NNLYT đáp ứng nhu cầu thực

tế của các vùng miền về kiến thức, kỹ năng chuyên môn Cuốn sách cũng phântích về chính sách NLYT truyền thống ở các nước đang phát triển chủ yếu tậptrung vào việc xác định nhu cầu NLYT để đáp ứng sự gia tăng dân số và phầnlớn bỏ qua các khía cạnh động lực thị trường lao động Đây là một trong những lý

do mà chính sách nhân lực y tế thường không đạt được mục tiêu đã đặt ra Do đócần thiết phải kết hợp chặt chẽ giữa các cơ sở đào tạo và cơ sở sử dụng nhân lựclao động y tế đồng thời xây dựng được chế độ đãi ngộ phù hợp đối với CBYTtrong quá trình xây dựng chính sách phát triển NLYT

Ronald M Harden trong: "Xu hướng và tương lai của giáo dục y tế sau đạihọc" (Trends and the future of postgraduate education) [111], tác giả cho rằng: đàotạo chuyên khoa và chuyên khoa sâu, vai trò thuộc về Bộ Y tế và các hiệp hội nghềy; Xu hướng đào tạo chuyên khoa sau đại học phải tập trung vào kết quả đầu ra Kết

Trang 15

quả đầu ra của quá trình đào tạo là yếu tố quan trọng nhất và được quyết định bởicác quyết định liên quan đến chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo, đội ngũ cán bộgiảng dạy và cơ sở thực hành tiền lâm sàng và lâm sàng vv Nghiên cứu này cũngchỉ ra rằngcông nghệ giáo dục mới sẽ được mở rộng và phát triển nhanh chóng nhưcông nghệ mô phỏng đã tạo ra những kết quả rất tốt trong đào tạo như thông tinđược phản hồi có hiệu quả hơn, người học được thực hành lặp đi lặp lại, xây dựngđược một loạt các tình huống giả định khó giải quyết, có thể lựa chọn nhiều cáchthức học tập, tạo được các trường hợp biến thể về triệu chứng lâm sàng, có môitrường học tập được kiểm soát và có thể học theo từng cá nhân Nghiên cứu này còncho thấy, việc đánh giá năng lực và tính chuyên nghiệp trong công tác đào tạoNLYT đóng vai trò đặc biệt quan trọng.

De Costa, Ayesha, et al trong: "Tìm hiểu mối quan hệ giữa bối cảnh và

nguồn nhân lực y tế tỉnh Madhya Pradesh, Ấn Độ" (Exploring relationshipsbetween context and human resource for health Madhya Pradesh province, India)[95], đã đề cập đến thực trạng tại Ấn Độ có sự đa dạng trong việc cung cấp các dịch

vụ chăm sóc y tế và làm rõ mối quan hệ giữa khu vực chăm sóc sức khỏe công lập

và và tư nhân dưới sự tác động ảnh hưởng của sự phát triển kinh tế xã hội và tăngdân số Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Madhya Pradesh - Ấn độ Kết quảnghiên cứu cho thấy tốc độ đô thị hóa có ảnh hưởng lớn tới việc gia tăng mật độ và

số lượng các đơn vị y tế tư nhân và NLYT tư nhân

Lyn N Henderson và Jim Tulloch trong: "Khuyến khích duy trì và thúc đẩynhân viên y tế tại khu vực Châu Á và Thái Bình Dương" (Incentives for retainingand motivating health workers in Pacific and Asian countries) [105], cho rằng đểcho phát triển NNLYT hiệu quả thì cần phải có phối hợp chặt chẽ giữa các bên liênquan, có sự hiểu biết một cách sâu sắc và toàn diện về văn hóa, xã hội, chính trị vàkinh tế trong việc phát triển chiến lược, hoạch định chính sách và thực hiện các sángkiến phát triển NNLYT

Pascal Zurn *, Mario R Dal Poz, Barbara Stilwell và Orvill Adams trong: “Sựmất cân bằng trong lực lượng lao động y tế” (Imbalance in the health workforce)[110],

Trang 16

đã cho rằng sự mất cân bằng trong NNLYT là mối quan tâm lớn của các nước pháttriển và đang phát triển Bài viết này đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng làm mất cânbằng nhân lực y tế như nhu cầu lao động y tế, cung ứng lao động y tế, hệ thống chămsóc sức khỏe, chính sách, nguồn lực và các yếu tố "toàn cầu".

Buchan, J trong ”Cải cách ngành y tế và nguồn nhân lực: Bài học từ Vươngquốc Anh” (Health sector reform and human resources: lessons from the UnitedKingdom) [94], đánh giá nguồn nhân lực (HR) trong cải cách hệ thống Dịch vụ Y tếQuốc gia (NHS) ở Vương quốc Anh, và làm nổi bật những bài học cho các hệ thống

y tế của các nước đang trải qua cải cách hay tái cơ cấu Cải cách ngành y tế ở nhiềuquốc gia trong những năm 1980 và 1990 đã tập trung vào việc thay đổi cơ cấu, vàgiảm thiểu chi phí y tế dưới sự ra đời của cơ chế thị trường và sự lựa chọn củangười tiêu dùng Bài viết kết luận rằng những thay đổi đáng kể nhất đã xảy ra khithực hiện cải cách hệ thống Dịch vụ y tế quốc gia bằng việc thay đổi nhân sự và vănhóa tổ chức, cá nhân và thay đổi thái độ của người quản lý và nhân viên trong hệthống y tế

Gilles Dussault và Carl-Ardy Dubois trong: “Nguồn nhân lực cho chínhsách y tế: một thành phần quan trọng trong chính sách y tế” (Human resources forhealth policies: a critical component in health policies) [98], đã đề cập đến: i) vaitrò trung tâm của lực lượng lao động trong ngành y tế; ii) Những thách thức nảysinh trong quá trình cải cách hệ thống y tế; iii) Các giải pháp khắc phục những tácđộng về nhân lực y tế (và do đó về cung cấp dịch vụ) nảy sinh trong quá trình cảicách hệ thống y tế Thực trạng mất cân bằng trong quá trình phát triển nguồn nhânlực y tế: không phù hợp về số lượng, sự chênh lệch về chất lượng, phân bố khôngđồng đều và thiếu sự phối hợp giữa các hoạt động quản lý nhân sự và nhu cầu củachính sách y tế Đồng thời đưa ra các đề xuất khác nhau trong việc phát triểnNNLYT Cũng theo bài viết: sự phát triển của chính sách NNL là một cầu nối quantrọng trong chính sách y tế và cần giải quyết sự mất cân bằng về NNLYT và thúcđẩy việc thực hiện cải cách các dịch vụ y tế

Ngoài ra phải kể đến một số bài viết đăng trên tạp chí Phát triển nguồn nhânlực (Human resources for health) Đây là tạp chí có nhiều bài liên quan đến nguồn

Trang 17

nhân lực, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Một số bài viết tiêu biểu có thể kể đếngồm: Sự mất cân bằng trong lực lượng lao động y tế của nhóm tác giả Zurn P, DalPoz MR, Stilwell B, Adams O với tiêu đề " Sự mất cân bằng nhân lực y tế”(Imbalance in the health workforce) [124]; Mario Dal Poz với tiêu đề “Giải quyếtnguồn nhân lực cho cuộc khủng hoảng y tế: nghiên cứu chính sách ở châu Phi”(Solving the human resources for health crisis: research to inform policy in Africa)[107]; Hannamaria Kuusio và nhóm nghiên cứu với bài viết “ Nguồn nhân lực bác

sĩ ở nước ngoài làm việc trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ở Phần Lan: Nghiên cứuđịnh tính và định lượng” (Inflows of foreign-born physicians and their access toemployment and work experiences in health care in Finland: qualitative andquantitative study) [102]

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ Ở TRONG NƯỚC

1.2.1 Công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, kết quả hội nghị, hội thảo về nguồn nhân lực y tế

Viện Chiến lược và Chính sách y tế trong: “Nghiên cứu quản lý nguồn nhânlực y tế trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước” [86], đã tập trungphân tích 1) Bản chất của lao động y tế; 2) Các khái niệm công cụ và cách tiếp cậnnghiên cứu nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực; 3) Quan điểm phát triển y tếbền vững và vấn đề quản lý nhân lực y tế; 4) Đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ y

tế về cơ cấu, trình độ; 5) Một số vấn đề về nhân lực bệnh viện; 6) một số vấn đề vềnguồn nhân lực y tế dự phòng; 6) Một số vấn đề về nhân lực y tế ở các vùng có khókhăn; 7) Phân tích một số chính sách đối với cán bộ y tế, đặc biệt là cán bộ y tếvùng khó khăn và nêu lên những vấn đề cấp bách đặt ra cho quản lý nhân lực y tế;8) Đề xuất các giải pháp tổng thể và cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng

và tạo NNLYT đảm bảo số lượng và chất lượng trong quá trình công nghiệp hiện đại hoá đất nước

hoá-Vũ Đình Chính trong: "Đánh giá thực trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhânlực kỹ thuật viên y tế tại các bệnh viện thuộc 28 tỉnh phía Bắc" [37], đã đánh giá

Trang 18

thực trạng đội ngũ kỹ thuật viên y tế và trang thiết bị tại các bệnh viện thuộc 28 tỉnhphía Bắc; Xác định thực trạng đội ngũ giáo viên giảng dạy 5 chuyên ngành kỹ thuậttại các trường đào tạo KTV y tế; Tìm hiểu khả năng tìm kiếm việc làm của đội ngũ

kỹ thuật viên y tế tốt nghiệp tại trường Cao đẳng Kỹ thuật Y tế I trực thuộc Bộ Y tếđồng thời đề xuất một số giải pháp đào tạo nguồn nhân lực KTV y tế cho 28 tỉnhphía Bắc nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Phạm Đức Mục và các cộng sự trong: "Kết quả điều tra nguồn nhân lựcđiều dưỡng, hộ sinh, KTV và hộ lý các bệnh viện Việt Nam 2003" [60], đã mô tảmột số đặc điểm NNL y tá - điều dưỡng và hộ sinh trong bối cảnh NNL bệnh việnnăm 2003 để thiết lập một số chỉ tiêu cơ bản làm cơ sở cho việc lập kế hoạch pháttriển nguồn nhân lực điều dưỡng - hộ sinh và để đánh giá chiều hướng phát triểnnguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên phù hợp mục tiêu của ngành

y tế Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Y tế trong: "Đào tạo nhân lực y tế nhằm đápứng nhu cầu xã hội" [10], đã đề cập tới các giải pháp kiện toàn và nâng cao chấtlượng đào tạo nhân lực cho ngành y tế đồng thời khẳng định đào tạo theo nhu cầu

xã hội là một mô hình mới vừa đảm bảo tính hiệu quả vừa thực hành tiết kiệm trongcông tác đào tạo Đây là mô hình mới dựa trên cơ sở phối hợp và hài hoà lợi ích của

4 nhóm đối tượng là: cán bộ có cơ hội làm việc và thể hiện chuyên môn được đàotạo; nhà quản lý (các cơ quan quản lý nhà nước); nhà cung cấp dịch vụ đào tạo (cácnhà trường); và nhà sử dụng lao động (các cơ sở khám chữa bệnh) Đây còn là bướcđột phá nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong thời gian tới Theo mô hình này,nhà trường phải dạy những nội dung mà xã hội cần, chứ không dạy cái nhà trườngcó; cán bộ được học những nội dung cần thiết, chứ không học dàn trải; nhà sử dụnglao động có thể khai thác, sử dụng lao động hiệu quả ngay, mà không phải bỏ tiềncho đào tạo lại; nhà quản lý cũng thực hiện việc điều chỉnh nhu cầu và ban hànhchính sách thuận lợi hơn

Phạm Văn Lình và cộng sự trong: "Nghiên cứu tình hình nhân lực y tế vùngđồng bằng sông Cửu long thực trạng và giải pháp" [58], đã tiến hành điều tra, thống

Trang 19

kê đội ngũ cán bộ y tế đang công tác tại các cơ sở y tế công lập thuộc 13 tỉnh, thànhphố vùng đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL) bằng phương pháp thống kê y họcthông thường và đề xuất các giải pháp khả thi để giải quyết các bất cập giữa nhu cầuNLYT và khả năng đào tạo để đáp ứng yêu cầu xã hội.

Bộ Y tế trong: "Báo cáo chung Tổng quan ngành y tế" (JAHR) [23], là báocáo do Bộ Y tế cùng với các đối tác phát triển chỉ đạo thực hiện, tập trung vào phântích hệ thống y tế Việt Nam, vấn đề NLYT, cập nhật và cung cấp thông tin để phântích thực trạng, dự báo những vấn đề cần giải quyết trong thời gian tới và đề xuấtđịnh hướng cho các giải pháp tương ứng

Bộ Y tế trong: "Quy hoạch phát triển nhân lực y tế giai đoạn 2012- 2020"[28], đã đề cập đến hiện trạng phát triển, quy mô, phân bố nhân lực y tế nói chung,hiện trạng đào tạo NLYT, những thành tựu nổi bật,những bất cập cần khắc phục,chính sách tuyển dụng và đãi ngộ đối với NLYT Việt Nam hiện nay Dự báo nhữngnhân tố tác động đến phát triển nhân lực giai đoạn 2012- 2020 Dự báo nhu cầu laođộng của ngành và một số giái pháp chung để phát triển NLYT Đề cập tới các chínhsách về NNLYT ở Việt Nam, hầu như các vấn đề ưu tiên được xác định cho cácnước trong khu vực cũng đã được đề cập trong Quy hoạch phát triển NLYT 2012-

2020 Tuy nhiên Quy hoạch tập trung chủ yếu vào phát triển NNL thông qua đàotạo, mà chưa đề cập nhiều đến vai trò của công tác quản lý nhà nước, lập kế hoạch,điều hành, gồm cả các vấn đề về duy trì NNL

Bộ Y tế, Viện Chiến lược và Chính sách Y tế trong: "Phân tích thực trạng và

đề xuất sửa đổi bổ sung một số chế độ phụ cấp đối với cán bộ, viên chức ngành ytế" [29], đánh giá thực trạng và đề xuất sửa đổi và bổ sung chế độ phụ cấp đặc thùcho cán bộ, viên chức ngành y tế với mục tiêu cụ thể: i) Rà soát và phân tích cácchính sách về chế độ phụ cấp đối với cán bộ, viên chức ngành y tế ii) Đánh giá việctriển khai, thực hiện các chính sách y tế và tác động của các chính sách này đối vớiduy trì và phát triển NLYT tại các tuyến iii) Đề xuất sửa đổi, bổ sung chính sách vềchế độ phụ cấp cho cán bộ, viên chức ngành y tế

Trang 20

Một số kết quả nghiên cứu, khảo sát tiêu biểu của bộ Y tế có thể kể đến là:

Bộ Y tế (2007), Khảo sát mạng lưới chăm sóc sức khỏe sinh sản tại 64 tỉnh ViệtNam Vụ Sức khỏe sinh sản; Bộ Y tế (2008), Đề án đổi mới cơ chế hoạt động, cơchế tài chính (trong đó có cơ chế tiền lương và giá dịch vụ y tế) đối với đơn vị sựnghiệp Y tế công lập; Bộ Y tế (2008), Chỉ thị số 06/2008/CT-BYT về việc tăngcường chất lượng đào tạo nhân lực y tế; Bộ Y tế (2009) Số liệu về số sinh viên dựkiến tốt nghiệp hằng năm Vụ Khoa học - Đào tạo; Bộ Y tế (2008) Kế hoạch đào tạolại năm 2009; Bộ Y tế, Nhóm đối tác y tế (2008) Báo cáo chung Tổng quan ngành Y

tế năm 2007 Trương Việt Dũng, Phạm Ngân Giang, và cộng sự (2007), Báo cáochuyên đề: Phân tích và đề xuất lựa chọn chính sách phát triển nguồn nhân lực y tếgóp phần đổi mới, hoàn thiện hệ thống y tế Việt Nam theo hướng công bằng, hiệuquả và phát triển Hà Nội Đây là kết quả sự hợp tác giữa Bộ Y tế Việt Nam vàWHO nhằm tìm kiếm những chính sách phát triển nguồn nhân lực cho hệ thống y tếViệt Nam tầm nhìn tới năm 2020 Vụ Khoa học - Đào tạo (2007), Một số vấn đềtrong đào tạo NLYT, Tài liệu báo cáo Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu của Thứtrưởng Nguyễn Thị Kim Tiến; Bộ Y tế (2004), Tài liệu hội nghị kết hợp trường YDược và bệnh viện trong công tác đào tạo NLYT

1.2.2 Bài viết trong các sách, báo và tạp chí

Trương Việt Dũng, Phạm Xuân Việt, Phạm Ngân Giang trong: "Đào tạo nhânlực y tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội" [44], đã đề cập đến vai trò của NNLYT,nghịch lý trong phân bố NLYT giữa các vùng miền của Việt Nam, tình hình đáp ứngnhu cầu xã hội của NLYT và khả năng đáp ứng của các cơ sở đào tạo, và đề xuấtmột số giải pháp khắc phục những bất cập trong cung ứng NLYT hiện nay

Lương Ngọc Khuê trong: "Thực trạng nguồn nhân lực bệnh viện tại ViệtNam giai đoạn 2008 - 2010" [57], đã đề cập đến các nội dung: Nhân lực là nguồnlực quan trọng nhất trong sự hoạt động và phát triển cho bệnh viện nói riêng vàngành y tế nói chung Trong những năm qua, mặc dù phải đối diện với nhiều khókhăn, thách thức nhưng Bộ y tế thực hiện được nhiều chính sách, giải pháp để

Trang 21

nhằm cũng cố quản lý, đào tạo phát triển NNL bệnh viện về cả số lượng và chấtlượng và đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Nghiên cứu này được thực hiệnvới mục tiêu: Đánh giá thực trạng và sự biến động nguồn nhân lực qua các năm2008-2010 Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiêncứu tài liệu Kết quả: (1) Cơ cấu nhân lực đã có sự thay đổi tích cực, các chỉ số cơbản đã ban đầu đáp ứng được quy định theo Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, tỷ lệ Điều dưỡng, Nữ hộ sinh, kỹ thuật viên trên bác sĩ năm 2010 đạt 2,7tăng trung bình 17,5%/năm, tỷ lệ cán bộ y tế trên giường bệnh thực kê đạt 1,07; (2)Trình độ nguồn lực còn chưa đồng đều giữa các tuyến (Trung ương, tỉnh, huyện),tuyến huyện còn thiếu nguồn lực trình độ cao Kết luận: Mặc dù nhân lực phục vụchăm sóc người bệnh chỉ tăng nhẹ, nhưng cơ cấu nhân lực đã và đang dần dần đápứng được các quy định trong Thông tư 08/2007/TTLT-BYT-BNV để đảm bảo chấtlượng chăm sóc người bệnh.

1.2.3 Luận án tiến sĩ

Nguyễn Trường Giang trong: “Đổi mới cơ chế quản lý kinh phí ngân sáchnhà nước trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tếthị trường có sự quản lý của nhà nước” [50], đã đề cập tới các vấn đề lý luận về vaitrò, vị trí của NSNN trong phát triển sự nghiệp y tế trong giai đoạn chuyển đổi sangnền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN ở nước

ta, đồng thời phan tích thực trạng sử dụng NSNN trong lĩnh vực y tế và đề xuất cácgiải pháp nhằm góp phần hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý NSNN trong y tếtrong việc huy động các nguồn viện phí, bảo hiểm y tế và các nguồn lực khác bổsung cho NSNN trong y tế

Trịnh Minh Hoan trong: "Vai trò y tế tư nhân qua nghiên cứu trường hợp tạithành phố Đà Nẵng" [54], đã đề cập tới thực trạng vai trò y tế tư nhân trong chămsóc sức khỏe hiện nay, những nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động của y tế tư nhân và

dự báo xu hướng biến đổi của y tế tư nhân theo định hướng đẩy mạnh CNH, HĐH

Hà Thế Tấn trong: "Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ ảnh hướng xấu đếnsức khỏe nhân viên y tế và đề xuất biện pháp can thiệp" [71], nghiên cứu điều kiên

Trang 22

môi trường lao đôn g, ý thức chấp hành nôi quy, các biên pháp phòng hô ̣ của nhânviên y tế: Điều kiện cơ sở hạ tầng của các cơ sở y tế còn chưa được đảm bảo: 40,3%

bố trí nơi làm việc không thật hợp lý Chỉ có 64,9% cơ sở hạ tầng đạt yêu cầu, chỉ

có 68,9% cơ sở có bản nội quy, quy trình, 42,3% các cơ sở y tế không có hệ thống

xử lý nước thải và 49% không có hệ thống hấp sấy công nghiệp Trang thiết bịphòng hộ cá nhân, tập thể thiếu về số lượng (62,2%) và chưa đảm bảo về chấtlượng (11,2%) 42% NVYT thường xuyên bị quá tải; chỉ số sử dụng giườngtrung bình của các bệnh viện đạt 120 ± 24,8 (%) Hiểu biết và chấp hành thựchiện các biện pháp bảo vệ cá nhân của NVYT chưa cao: Hiểu biết về vệ sinh bàntay chiếm 40,8%, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay chiếm 6,2%, tỷ lệ không thườngxuyên đeo khẩu trang khi khám bệnh là 27,6% Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởngxấu đến sức khỏe nhân viên y tế: +Yếu tố nguy cơ lây nhiễm bệnh cho NVYT là:

Bị tổn thương do vật sắc nhọn, khối lượng công viêc nhiều, thiếu trang bị phòng

hô, đã từng bị máu, bệnh phẩm tiếp xúc trực tiếp với da niêm mạc, đã từng điphòng chống dịch tại cộng đồng +Yếu tố nguy cơ stress nghề nghiệp cho NVYT là: Khối lượng công việc nhiều, lo lắng nhiều bị lây nhiễm bên h tại môi trườnglàm viêc̣ , đã từng lây nhiễm bên h, đã từng bị tổn thương do vât sắc nhọn Tuyếntrung ương bị stress cao hơn tuyến huyên và tỉnh +Yếu tố nguy cơ nhiễmHbsAg cho NVYT là: tình trạng đã từng bị tổn thương do vât sắc nhọn là yếu tônguy cơ nhiễm HBsAg Các khoa có nguy cơ cao là: Cấp cứu, gây mê hồi sức;xét nghiêm; truyền nhiễm; nôị , khám bên h, nhi; ngoại + Khối lượng công việcnhiều làm tăng nguy cơ bị tổn thương do vật sắc nhọn; Hậu quả về sức khỏe vàtính mạng của nhân viên y tế ở nước ta: + NVYT đã từng mắc bệnh là 15,8% +Stress liên quan đến nghề nghiệp của NVYT là 13% NVYT bị lăng mạ 18,4%,hành hung 2,4% Từ 1995 - 2004, đã có 2.487 NVYT bị lăng mạ và 327 NVYT

bị hành hung + Tỷ lệ NVYT bị tổn thương do vật sắc nhọn là 48%, trong đó chỉ

có 1.449/7.267 trường hợp tổn thương do vật sắc nhọn được thông báo chiếm19,9% tổng số tổn thương, trong đó có 286 trường hợp bị phơi nhiễm với HIVqua các tổn thương do dụng cụ sắc nhọn khi chăm sóc bệnh nhân nhiễm HIV

Trang 23

Phạm Quang Hòa trong: "Thực trạng quá tải ở bệnh viện các tuyến và mốiliên quan với hoạt động khám chữa bệnh của trạm y tế xã tại tỉnh Thái Bình" [55],

đã mô tả và xác định nguyên nhân quá tải ở bệnh viện công lập tuyến tỉnh và tuyếnhuyện tại tỉnh Thái Bình năm 2009, phân tích mối liên quan giữa hoạt động khámchữa bệnh của trạm y tế xã với tình trạng quá tải tại bệnh viện tỉnh Thái Bình

Phạm Văn Tác trong: "Quản lý nhà nước đội ngũ cán bộ chuyên khoa sauđại học trong lĩnh vực y tế" [69], đã đề cập đến cơ sở khoa học của quản lý nhànước đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y tế; các nhân tố tácđộng đến quản lý nhà nước đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học sự phát triểnhoạt động đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y tế; chínhsách của nhà nước đối với đội ngũ cán bộ chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y

tế và điều kiện vật chất để tạo môi trường hoạt động cho đội ngũ cán bộ chuyênkhoa sau đại học trong lĩnh vực y tế Thực trạng đào tạo, tuyển dụng, sử dụng vàthực trạng thực hiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ chuyên khoasau đại học; và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đội ngũ cán bộchuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y tế

1.3 NHẬN XÉT CHUNG VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Qua nghiên cứu các công trình về NNLYT ở nhiều cấp độ khác nhau cả trongnước và ngoài nước, tác giả có một số nhận xét, đánh giá về các vấn đề đã đượcnghiên cứu giải quyết như sau:

Các nghiên cứu nêu trên với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã đề cập tới một

số khái niệm, phạm trù có liên quan đến NNLYT nói chung và hiện trạng cơ cấu,trình độ của hệ thống NLYT toàn cầu, những điểm cần ưu tiên cho phát triển vàchính sách phát triển trong các giai đoạn tiếp theo; Chính sách chung cho phát triểnNNLYT cho các quốc gia đang phát triển; Chương trình hành động chung của thếgiới để cải thiện hệ thống y tế; Nhiệm vụ của đào tạo để nâng cao năng lực củaNLYT để cải thiện chất lượng CSSK người bệnh; Nội dung quản lý và chính sách

Trang 24

phát triển NNLYT ở một số địa phương, khu vực trên thế giới như Ấn độ, Châu Á Thái Bình Dương, châu Phi

Một số nghiên cứu đã tập trung vào phân tích hệ thống y tế Việt Nam, quanniệm về NLYT, thực trạng NLYT bao gồm: hiện trạng phát triển, quy mô, phân bố,chính sách tuyển dụng và đãi ngộ đối với NLYT ở một số địa phương, khu vựctrong nước; Hiện trạng đào tạo NLYT, những thành tựu nổi bật, những bất cập cầnkhắc phục, dự báo những nhân tố tác động đến phát triển nhân lực, những vấn đềcần giải quyết trong thời gian tới dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau và đề xuấtmột số định hướng phát triển và các giải pháp tương ứng để phát triển NLYT

Một số nghiên cứu đã đề cập tới các chính sách về NNLYT, vai trò, tầmquan trọng các nội dung đào tạo, giám sát chất lượng, sử dụng và chính sách đãi ngộsau khi tốt nghiệp đối với NLYT Một số công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đếnmối quan hệ giữa điều kiện kinh tế, văn hóa, chính trị và xã hội của vùng, miền, địaphương đối với sự phát triển hệ thống y tế và NLYT dưới các góc độ và mức độkhác nhau

Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên đã

đề cập tới vấn đề NNLYT dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau tạo tiền đề cho việcnghiên cứu về NNLYT và đặc biệt có giá trị tham khảo đối với tác giả trong việcnghiên cứu, thực hiện luận án về NNLYT vùng ĐBSH

1.3.2 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và hướng nghiên cứu của luận án

1.3.2.1 Những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu

Từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, cho thấy những

“khoảng trống” cần phải được tiếp tục nghiên cứu, đó là:

- Chưa có công trình nào phân tích, làm rõ một cách có hệ thống, toàn diện, đầy đủdưới góc độ kinh tế chính trị về khái niệm NNLYT; Đặc điểm, vai trò, tầm quantrọng của NNLYT trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động của

hệ thống y tế trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân;

Trang 25

- Chưa có nghiên cứu toàn diện về những nhân tố ảnh hưởng đến NNLYT; Yêu cầu

và nội dung phát triển NNLYT để có căn cứ đánh giá và đề xuất giải pháp phát triểnNNLYT đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân vùng ĐBSH tronggiai đoạn hiện nay

- Chưa có công trình nào phân tích, đánh giá một cách có căn cứ khoa học về thựctrạng NNLYT vùng ĐBSH Theo đó, chưa có hệ thống những giải pháp toàn diện,thiết thực và khả thi nhằm đảm bảo phát triển NNLYT vùng ĐBSH đáp ứng nhucầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân của vùng

1.3.2.2 Hướng nghiên cứu của luận án

Về mặt lý luận, luận án tập trung làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản

về NNL y tế dưới góc độ kinh tế chính trị học như: khái niệm về NNL và NNLYT;Đặc điểm, vai trò, tầm quan trọng, những nhân tố ảnh hưởng đến NNLYT; Xác địnhnội dung phát triển NNLYT đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sứckhỏe của nhân dân

Về mặt thực tiễn, luận án tập trung vào nghiên cứu những vấn đề sau đây:

- Kinh nghiệm quốc tế và trong nước về phát triển NNLYT cho sự nghiệp chăm sócsức khỏe nhân dân, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho cho vùng ĐBSH;

- Phân tích thực trạng NNLYT vùng ĐBSH giai đoạn 2008-2014, làm rõ những kếtquả đạt được, những hạn chế, yếu kém và xác định nguyên nhân của hạn chế, yếukém;

- Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển NNLYT đáp ứng nhu cầu khám chữabệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng ĐBSH đến 2020, tầm nhìn 2030

Trang 26

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ

2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ

2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực y tế

- Khái niệm nguồn nhân lực

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về "Nguồn lực con người" hay

"nguồn nhân lực” Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đề cập đếnkhái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau

Theo Liên Hợp quốc: "Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức vànăng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triểnkinh tế - xã hội trong một cộng đồng" [122] Khái niệm về NNL theo hướng tiếp cậnnày nhấn mạnh chất lượng của NNL Cách tiếp cận này đã coi các tiềm năng của conngười cũng là năng lực, khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý,

sử dụng Liên hiệp quốc đã kêu gọi các quốc gia quan tâm hơn nữa tới nguồn nhânlực, vì đầu tư vào vốn con người trước hết có tỷ lệ thu hồi vốn cao hơn so với đầu tưcho các nguồn lực khác, tiết kiệm được việc sử dụng và khai thác các nguồn lực khác,lợi ích thu được từ đầu tư này có tính lan tỏa đồng đều hơn so với đầu tư vào cácnguồn lực khác Do vậy, việc tập trung phát triển con người sẽ đem lại tốc độ pháttriển cao hơn, ổn định hơn và công bằng hơn trong phân phối lợi ích của sự phát triển

Theo Nicolas Henry: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổchức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng thamgia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội củaquốc gia, khu vực, thế giới” [109] Cách hiểu này về NNL xuất phát từ quan niệmcoi NNL là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnhphục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức

Theo George T.Milkovich and John W.Boudrea: “Nguồn nhân lực là tổngthể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạocùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức” [99]

Trang 27

Theo David Begg, Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch: “Nguồn nhân lực

là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giácao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai Cũng giống như nguồn lực vậtchất, NNL là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trongtương lai” [5]

Theo tác giả Lê Du Phong: "Nguồn lực con người được hiểu là tổng hoàtrong thể thống nhất hữu cơ giữa năng lực xã hội của con người (thể lực, trí lực,nhân cách) và tính năng động của con người Tính thống nhất đó được thể hiện ởquá trình biến nguồn lực con người thành vốn con người [62]

Bộ môn Kinh tế phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân phân biệtNNL và nguồn lao động: NNL là một bộ phận của dân số trong độ tuổi quyđịnh có khả năng tham gia lao động Nguồn lao động là tổng số những ngườitrong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìmviệc làm Theo khái niệm này, có một số người được tính là NNL, nhưng lạikhông phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưngkhông tích cực tìm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việclàm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học [80 ]

Các nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấp Nhànước, mã số KX - 07 "Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triểnkinh tế - xã hội” do giáo sư, tiến sỹ khoa học Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm chorằng, nguồn lực con người được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cảthể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất [51]

Khái niệm này khác với khái niệm của Bộ môn Kinh tế Phát triển trên đây

ở chỗ, nguồn nhân lực "là số dân" của đất nước, bao gồm cả những người chưađến tuổi lao động, những người trong độ tuổi lao động và những người trên độtuổi lao động

Khi nói về NNL, các nhà kinh tế lao động thường xem xét khái niệm này từhai góc độ chính: 1) Năng lực xã hội của lao động (thể lực, trí lực và nhân cách) và

Trang 28

2) Tính năng động xã hội của lao động (năng lực hành nghề, khả năng cạnh tranh, khả năng thích ứng và phát triển…) [88].

Như vậy, xem xét những khái niệm trên về NNL dưới các góc độ khácnhau cho thấy: nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động

đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ, tinh thần của các

cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được sử dụng hoặc có khả năng được

sử dụng vào quá trình phát triển xã hội; những khái niệm này cơ bản đã thốngnhất nội dung: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Conngười với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, lànguồn lực cơ bản và nguồn lực vô tận của sự phát triển không thể chỉ được xemxét đơn thuần ở góc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả sốlượng và chất lượng; Hơn nữa, tác giả cũng đồng tình với một số quan điểm chorằng: nguồn lao động không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà baogồm cả dân số có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động cótham gia lao động

Bộ phận của nguồn lao động gồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao độngtrở lên có khả năng và nhu cầu lao động được gọi là lực lượng lao động Lực lượnglao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật cókhả năng lao động có việc làm và những người đang thất nghiệp (Ở Việt Nam, theoquy định của Bộ luật Lao động (1994), độ tuổi lao động của nam giới từ 15 tuổi đến

60 tuổi, của nữ giới từ 15 tuổi đến 55 tuổi) Đây là bộ phận dân số biểu hiện khảnăng thực tế sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội (dân số hoạt độngkinh tế)

Từ những khái niệm trên, tác giả luận án này cho rằng: nguồn nhân lực là tổng thể những người có khả năng lao động đang và sẽ tham gia lao động tạo ra của cải vật chất và tinh thần trong xã hội.

- Khái niệm nguồn nhân lực y tế

Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả nhữngngười tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ” [115]

Trang 29

Như vậy, NLYT bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làmcông tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ

y tế NLYT bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tìnhnguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y ); kể cả những ngườilàm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trườnghọc hay các doanh nghiệp)

Theo định nghĩa NLYT của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng đượccoi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các CBNVYT thuộc biên chế và hợp đồng đanglàm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiêncứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt độngquản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (NLYT tư nhân, các cộng tác viên y tế,lang y và bà đỡ/mụ vườn)

Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam do khó khăn về thu thập thông tin nên cònmột số nhóm đối tượng chưa có số liệu thống kê đầy đủ (ví dụ y tế tư nhân, bàđỡ/mụ vườn, lương y, lái xe cấp cứu, cộng tác viên y tế, kỹ thuật viên trang thiết bị

y tế, cán bộ BHYT…) Một số nhóm đối tượng cũng không được tách ra trong cácbảng số liệu thống kê nên không thể phân tích sâu (ví dụ như cán bộ quản lý, CBYTlàm việc tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu ) và một số nhóm khác (vật lý trị liệu,phục hồi chức năng, vv…) Điều này cũng là nguyên nhân dẫn tới một số khó khănnhất định trong phân tích, đánh giá toàn diện về thực trạng NNLYT Việt Namnói chung, thực trạng NNLYT khu vực ĐBSH nói riêng

Từ những khái niệm NNL và NLYT trên đây, theo tác giả luận án này, nguồn nhân lực y tế là tổng thể những người có khả năng lao động với thể lực, trí lực và phẩm chất đạo đức phù hợp với đặc điểm nghề nghiệp trong lĩnh vực y tế, đang và sẽ tham gia vào các hoạt động nhằm bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của nhân dân, cộng đồng.

Theo khái niệm này, NNLYT được hiểu rộng ra là gồm toàn bộ những ngườiđang hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khỏe của nhân dân (cán bộ,

Trang 30

nhân viên trong ngành y tế) và cả những người chưa đến độ tuổi lao động có khả năng và sẽ được bổ sung vào lực lượng lao động trong ngành y tế.

NNLYT cần được xem xét trên ba mặt: số lượng, chất lượng và cơ cấu Về sốlượng, đó là số người đang và sẽ tham gia vào lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sứckhỏe cho cộng đồng; Về chất lượng, đó là thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ,năng lực, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp và trình độ chuyên môn, kiến thức vàtrình độ lành nghề của mỗi một cán bộ, nhân viên trong ngành y tế; Về cơ cấuNNLYT, đó là tổng thể số lượng cán bộ, nhân viên hoạt động trong ngành y tế và tỷtrọng của mỗi loại cán bộ, nhân viên trong tổng thể đó Cơ cấu NNLYT có thể đượctính theo cơ cấu về trình độ; về chuyên môn, về độ tuổi Phát triển NNLYT đáp ứngnhu cầu về chăm sóc sức khỏe của nhân dân phải được hiểu là quá trình hình thành cả

số lượng và chất lượng, bồi dưỡng cả về thể lực và trí lực cho con người và hình thành

cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý, phù hợp với mỗi một hoàn cảnh cụ thể nhất định

2.1.2 Đặc điểm của nguồn nhân lực y tế

2.1.2.1 Nguồn nhân lực y tế bị chi phối bởi tính chất đặc thù của nghề y

Nghề y là một nghề đặc biệt Tính chất đặc biệt của nghề y được biểu hiện ởnhững nội dung sau:

Thứ nhất, đối tượng lao động của nghề y là con người do vậy công việc

của những người hành nghề y có liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏengười bệnh

Nghề y liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe người bệnh do vậy đòihỏi tính chính xác và tinh thần trách nhiệm cao Một sai lầm dù rất nhỏ của ngườiCBNV y tế cũng có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ và tính mạng của người bệnh

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã từng nói về đặc trưng của nghề ynhân Ngày Thầy thuốc Việt Nam năm 1985: Ít có nghề nghiệp nào mà xã hội đòihỏi về phẩm chất và tài năng cao như đối với người làm công tác y tế Ðó là mộtnghề đặc biệt, đòi hỏi hiểu biết sâu rộng, tấm lòng nhân ái, sự từng trải và kinhnghiệm, một nghề mà mọi công việc dù là nhỏ, đều có liên quan đến tính mạng conngười và hạnh phúc gia đình… [49]

Trang 31

Thứ hai, lao động y tế thường phải làm việc với cường độ lớn, môi trường

làm việc độc hại, căng thẳng, nhiều áp lực

Lao động ngành y là loại hình có thời gian lao động diễn ra liên tục 24/24 giờ

- liên tục cả ngày đêm Thời gian lao động về đêm không phù hợp quy luật sinh lýcon người và sẽ làm ảnh hưởng đến sức khoẻ nhân viên y tế Tính chất lao động củangành y là khẩn trương, trong trường hợp cấp cứu phải giành giật từng giây từngphút trước tử thần để cứu tính mạng người bệnh, có lúc đòi hỏi sự nhẫn nại, kiên trìtheo phương châm "còn nước còn tát" Điều kiện làm việc không thuận lợi, khôngphù hợp với tâm lý con người bởi phải luôn luôn tiếp xúc với người bệnh đang đauđớn, có tổn thương về thể chất và tinh thần và luôn lo lắng, bức xúc với tình trạngbệnh tật của mình Bản thân người bệnh và gia đình họ dễ buồn phiền, cáu gắt, cóphản ứng phức tạp, thậm chí có thể có những hành vi không đúng mức với thầythuốc Mặt khác, môi trường làm việc của thầy thuốc và nhân viên y tế thường cựcnhọc, căng thẳng, áp lực, không thuận lợi và an toàn (thầy thuốc và nhân viên y tế

có thể phải đứng mổ hàng chục tiếng đồng hồ, phải tiếp xúc với hoá chất và phóng

xạ độc hại, môi trường, tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như: lao, phong, HIV,AIDS , đặc biệt là ở các bệnh viện quá tải)

Thứ ba, lao động ngành y tế luôn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro và sự không

chắc chắn

Vì đối tượng của lao động y tế là con người, do vậy NLYT trong quá trìnhhành nghề (tiến hành thăm khám và điều trị cho người bệnh) cũng không thể chẩnđoán bệnh tuyệt đối chính xác trong mọi trường hợp, hoặc biết được chính xác mỗibệnh nhân sẽ có kết quả điều trị như thế nào đối với phương pháp điều trị mà họ đãthực hiện Thông thường để hạn chế thấp nhất sự rủi ro và các nguy cơ có thể xảy rađối với người bệnh, các thầy thuốc thường chỉ định nhiều dịch vụ chẩn đoán hơnmức cần thiết trong thực tế

Thứ tư, quá trình làm việc của NLYT cần có sự phối hợp và hỗ trợ của nhiều

lao động

Trang 32

Tính chất đặc thù của nghề y tế đòi hỏi phải có sự phối hợp của NLYT ở cácchuyên ngành khác nhau trong quá trình khám, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc chongười bệnh Không chỉ đối với những ca phức tạp có thể cần tới cả một kíp (tập thể)CBNVYT với các thành phần khác nhau dành riêng cho việc chăm sóc cho một ngườibệnh mà cả những trường hợp đơn giản hơn nhưng vẫn cần hàng loạt các dịch vụ kỹthuật, chuyên môn khác nhau phối hợp phục vụ một người bệnh Vì vậy, bản chất củaviệc cung ứng dịch vụ y tế đòi hỏi một lực lượng nhân lực và kinh phí đủ lớn.

Thứ năm, NLYT phải được đào tạo liên tục để cập nhật và bổ sung kiến thức.

Thực tế cho thấy: các phương pháp phòng và chữa bệnh thường có tiến bộnhanh chóng Sự phát triển không ngừng của công nghệ và kỹ thuật trong y tế đòihỏi các cơ sở đào tạo phải thường xuyên cập nhật chương trình giảng dạy vànhững người hành nghề y phải liên tục nâng cao kiến thức và kỹ năng của mìnhtrong suốt đời làm việc

Thứ sáu, NNLYT cần được hưởng chế độ đãi ngộ đặc biệt.

Từ những đặc thù nghề nghiệp nêu trên đòi hỏi phải lao động y tế phải đượcthụ hưởng các chính sách ưu đãi phù hợp Đặc biệt, chế độ đãi ngộ đặc biệt sẽ gópphần duy trì và phát triển nhân lực y tế tại các CSYT vùng nông thôn, khối y tế dựphòng và các CSYT điều trị các bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm

2.1.2.2 Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực y tế cần sự đầu tư lớn, sự phối hợp chặt chẽ

và có kế hoạch

Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân, đòi hỏi

sự phát triển quy mô nhân lực y tế, khoản đầu tư vào các cơ sở đào tạo NNLYTcũng phải gia tăng tương xứng để duy trì quy mô và đáp ứng nhu cầu gia tăng theodân số Mặt khác việc đào tạo NNLYT, và đặc biệt là đội ngũ bác sỹ, phải được thựchiện nghiêm túc với một khoảng thời gian dài hơn các ngành khác với sự kiểm tragiám sát chặt chẽ và tốn kém Ví dụ: một bác sỹ phải qua 6 năm đào tạo trên giảngđường đại học mới có được kiến thức cơ bản Sau đó phải học 1 năm chuyên khoađịnh hướng, 2 năm chuyên khoa cấp I rồi 2 năm chuyên khoa cấp II thành 11 nămhoặc 1 năm chuyên khoa định hướng, 2 năm thạc sỹ đồng thời cần có thời gian

Trang 33

làm việc dưới sự kèm cặp của các bác sỹ kinh nghiệm khác trong các cơ sở y tế mới

có đủ năng lực để hành nghề có hiệu quả Do sự tăng trưởng và già hóa dân số, sựbiến đổi về kinh tế và xã hội và sự xuất hiện của các bệnh mới và tái phát bệnh cũ,nên nhu cầu CSSK về mặt quy mô và cơ cấu đang thay đổi nhanh chóng Để đápứng với những thay đổi nhanh chóng và cung cấp dịch vụ y tế, trang thiết bị, thuốc

và vật tư tiêu hao y tế phù hợp nhằm đáp ứng với nhu cầu CSSK hiện nay và trongtương lai, đòi hỏi sự hợp tác, phối hợp và xây dựng kế hoạch lâu dài giữa hai ngànhgiáo dục và y tế

2.1.2.3 Nguồn nhân lực y tế cần có sự can thiệp đặc biệt của Chính phủ

Ngành y tế cần phải sử dụng nhiều lao động và đặc điểm đặc thù của nghề yđòi hỏi sự đầu tư lớn cho phát triển NNLYT do vậy phải có sự quan tâm đặc biệtcủa Chính phủ trong việc lập kế hoạch và điều phối nguồn nhân lực y tế nhiều hơn

là đối với nguồn nhân lực ở các ngành khác Mặt khác, NNLYT đòi hỏi sự kiểmsoát của Nhà nước ở mức độ cao hơn với nhiều lý do:

Thứ nhất, do người bệnh không đủ kiến thức và thông tin để đánh giá và lựa

chọn dịch vụ y tế có chất lượng Điều đó làm cho bệnh nhân dễ trở thành nạn nhânphải chịu hậu quả của dịch vụ CSSK không phù hợp, không đầy đủ/kémchất lượng hoặc không được đối xử đúng mức

Thứ hai, là có các nguy cơ tiềm ẩn trong cung ứng dịch vụ y tế và các nguy cơ

này cần được giám sát và kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ cho cả bệnh nhân và cácNVYT

Thứ ba, các dịch vụ y tế kém chất lượng có thể dẫn tới nguy hiểm đến tính

mạng hoặc tổn thương về mặt thân thể/tinh thần của người bệnh Ví dụ: việc và tiêmchủng không hiệu quả, kê đơn thuốc/phát thuốc không an toàn có thể gây hại chongười bệnh và cộng đồng

2.1.3 Vai trò của nguồn nhân lực y tế

2.1.3.1 Vai trò của nguồn nhân lực y tế đối với nâng cao chất lượng hoạt động của nội

bộ ngành y tế

Lĩnh vực y tế là lĩnh vực nhạy cảm, có ý nghĩa quan trọng, liên quan trực tiếpđến sức khỏe, sự sống của người dân, đặc biệt NLYT giữ vai trò đặc biệt quan trọng

Trang 34

trong việc nâng cao chất lượng hoạt động của nội bộ ngành y tế Theo WHO, hệthống y tế có 6 thành phần cơ bản (Hình 2.1) Trong đó NNLYT là cấu phần cơ bản

và quan trọng nhất, có mối liên hệ rất chặt chẽ và không thể thiếu đối với cácthành phần khác của hệ thống y tế để quyết định phạm vi, đảm bảo hiệu quả vàchất lượng dịch vụ y tế Chính vì vậy, NLYT trở thành một vấn đề trọng tâm trongcải cách hệ thống y tế

NNLYT đóng vai trò quyết định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chăm sóc

và bảo vệ sức khỏe nhân dân của ngành y tế: Đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế (bác sĩ,dược sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên…) là nguồn lực đóng vai trò quyết định trongquá trình thực hiện công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cộng đồng,nâng cao chất lượng cuộc sống người dân Sự thiếu, yếu của NNLYT sẽ tác độngkhông nhỏ tới việc thực hiện nhiệm vụ của ngành y tế trong chăm sóc sức khỏengười dân, từ đó gián tiếp tạo ra rào cản lớn trong quá trình phát triển kinh tế- xãhội của mỗi vùng, mỗi địa phương và quốc gia Chính vì vậy, NNLYT cần phảiđược đầu tư phát triển đảm bảo về số lượng và nâng cao chất lượng đáp ứng chu cầuchăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân Đặc biệt chất lượng NNLYT đượcnâng cao sẽ nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc, khám và điều trị bệnh cho ngườibệnh

Phát triển NNLYT không chỉ thông qua đào tạo, mà còn phải sử dụng, quản

lý một cách phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đến người dân Hệ thốngthông tin y tế cũng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, tin cậy cho việc lập

kế hoạch và sử dụng nhân lực đáp ứng nhu cầu CSSK của nhân dân, đồng thời giúpphát hiện những vấn đề của NNL như phân bổ không hợp lý, năng lực không phùhợp để đáp ứng yêu cầu CSSK từ phía người dân và cộng đồng, hoặc phát hiện vàphân tích tần suất sai sót chuyên môn để khắc phục Cấp tài chính cho NLYT cũngphải đảm bảo cho công tác đào tạo mới và đào tạo liên tục CBYT, đủ để trả lương vàchính sách khuyến khích ở mức đảm bảo được cuộc sống cho CBYT, tạo ra độnglực khuyến khích CBYT làm việc có chất lượng và sẵn sàng làm việc ở các miềnnúi, vùng sâu, vùng xa, hoặc trong các môi trường, chuyên ngành độc hại, nguyhiểm

Trang 35

Hình 2.1: Khung lý thuyết về hệ thống y tế (theo WHO)

6 thành phần đầu vào của hệ thống y tế Mục tiêu chung đầu ra

Nguồn: WHO’s framework for action Geneva 2007 [118].

2.1.3.2 Vai trò của nguồn nhân lực y tế đối với việc nâng cao chất lượng dân số, góp

phần cải thiện chất lượng nguồn lực lao động xã hội

Phát triển con người là mục tiêu cuối cùng của quá trình phát triển và tăngtrưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế đồng thời là một phương tiện quan trọng đểđạt được các mục tiêu và chỉ tiêu về phát triển con người Một quốc gia muốnphát triển thì cần phải có các nguồn lực như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoahọc - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người

Trang 36

là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triểnkinh tế Nhân lực thiếu, yếu sẽ kìm hãm sự phát triển kinh tế- xã hội Thực tế chothấy, một đất nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹthuật hiện đại nhưng không có những con người có đủ trình độ, năng lực và sứckhỏe để khai thác các nguồn lực đó thì cũng không thể đạt được sự phát triểnnhư mong muốn.

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt“, lànguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh của sự phát triển kinh tế Bởivậy việc phát triển con người, phát triển NNL trở thành vấn đề chiếm vị trí trungtâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu

tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tưcho con người là đầu tư có tinh chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triểnbền vững

Phát triển NNL bao gồm phát triển hệ thống y tế để nâng cao thể lực, sứckhỏe và tuổi thọ cho con người đồng thời phát triển giáo dục, đào tạo để nâng caotrình độ, năng lực và những phẩm chất cần thiết khác cho người lao động, mặt kháccần sử dụng hiệu quả tiềm năng con người nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh

tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống

Do vậy, một trong những yếu tố quan trọng nhất để phát triển con người làphải có sức khỏe tốt Theo giáo sư Amartya Sen, người được giải thưởng Nobel vềkinh tế học năm 1988, thì: “Sức khỏe là một trong những tiểm năng cơ bản nhấtđem lại giá trị cho cuộc sống của con người” [68]

Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010 đãnhấn mạnh: phát triển sức khỏe là một mục tiêu quan trọng của tiến trình pháttriển và: “ Con người là vốn quý nhất của xã hội, quyết định sự phát triển củamỗi quốc gia, trong đó sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn

xã hội” [72 ] Sức khỏe tốt là yếu tố thúc đấy tăng trưởng kinh tế vì người có sứckhỏe có khả năng tạo ra nhiều của cải vật chất hơn, làm giầu cho bản thân mình

36

Trang 37

và cho xã hội do đó góp phần thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế Theo báocáo của Tổ chức Y tế thế giới về kinh tế vĩ mô và sức khỏe: ước tính nếu tuổi thọtrung bình tăng thêm được 10% thì kinh tế sẽ tăng ít nhất 0,3% đến 0,4% mỗinăm, với các điều kiện là các yếu tố tăng trưởng khác là không đổi Các bằngchứng về kinh tế vĩ mô khẳng định rằng so với các nước có điều kiện sức khỏetốt hơn, các nước có điều kiện sức khỏe kém hơn phải trải qua thời kỳ khó khănhơn nhiều để đạt được tốc độ phát triển bền vững Ví dụ, ở các nước nghèo (vớimức chi trung bình dưới 750 đô la Mỹ một đầu người một năm) có tỉ lệ chết trẻ

em dưới một tuổi (IMR) dưới 50/1000 trẻ đẻ ra sống thì tỉ lệ tăng trưởng kinh tếbình quân hàng năm là 3,7% (trong khoảng 1965-1994) Trong khi đó các nướcnghèo tương tự có tỉ lệ chết trẻ em dưới một tuổi trên 50/1000 trẻ đẻ ra sống thì

tỉ lệ tăng trưởng chỉ đạt 0,1% một năm[14 ]

Trong lĩnh vực y tế, NNLYT là nguồn lực quan trọng nhất của hệ thống y tế,

là yếu tố chính bảo đảm hiệu quả và chất lượng dịch vụ y tế, có vai trò ảnh hưởngquyết định tới việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dâncủa mỗi vùng kinh tế và mỗi quốc gia Do vậy, NNLYT cũng là một nhân tố quantrọng trực tiếp tác động tới việc phát triển chất lượng dân số, nâng cao chất lượnglực lượng lao động xã hội, từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động và lợi thếcạnh tranh của mỗi vùng kinh tế xã hội và mỗi quốc gia Thực tế cho thấy nhữngvùng kinh tế xã hội có chất lượng dân số tốt sẽ có lợi thế cạnh tranh tốt về lực lượnglao động xã hội

2.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Y TẾ

Để đạt được mục tiêu cuối cùng của hệ thống y tế là nâng cao sức khoẻ nhândân, bảo đảm các mục tiêu công bằng, hiệu quả, tiếp cận và chất lượng dịch vụ, thìmột yếu tố quan trọng là phải xây dựng các chính sách và kế hoạch về NLYT phùhợp với đặc điểm và tình hình riêng của mỗi quốc gia Yêu cầu phát triển NNLYT làphải bảo đảm có đủ số lượng và độ bao phủ của nhân lực, nâng cao năng lực (chấtlượng) của nhân lực y tế và đảm bảo cơ cấu nhân lực phù hợp Theo tổ chức y

Trang 38

tế thế giới: “Số lượng, chất lượng, và cơ cấu nguồn nhân lực sẽ quyết định hiệu quả đầu ra và năng suất của hệ thống y tế” [116].

2.2.1 Phát triển nguồn nhân lực y tế về mặt số lượng đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân

Việc bảo đảm NNLYT về mặt số lượng thường được tính bằng các chỉ tiêutổng quát như: tỷ lệ nhân lực y tế (tất cả các chuyên ngành)/10.000 dân; Tỷ trọngbác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên, nhân viên các chuyên ngành khác/ 10.000dân phục vụ công tác phòng bệnh, khám, chữa bệnh, phục hồi chức năng, công tácdân số

Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ số 25 NVYT trên 10.000 dân là tỷ số cần thiết

và tối thiểu để một quốc gia có thể có khả năng thực hiện được Mục tiêu phát triểnthiên niên kỷ về sức khỏe [115]

Xét về số lượng, NNLYT gồm tổng số cán bộ, nhân viên hoạt động tronglĩnh vực y tế Yêu cầu về số lượng NNLYT là bảo đảm sự bao phủ toàn quốc vàtừng vùng của cán bộ, nhân viên y tế: Phải bảo đảm đủ số lượng cán bộ, nhânviên y tế theo nhu cầu CSSK ở từng vùng, miền và toàn quốc Sự bao phủ khôngchỉ xác định bằng số lượng, mà phải bằng cả chất lượng và phân bố cán bộ nhânviên một cách phù hợp và sự hỗ trợ của các nguồn lực khác Nếu có số lượng cán

bộ nhân viên y tế dồi dào, nhưng độ bao phủ chưa tốt vì thiếu kỹ năng thực hànhhoặc phân bố không phù hợp theo các vùng địa lý (quá ít ở vùng khó khăn), thìcũng không đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của nhândân Một số vấn đề xã hội như giới tính, ngôn ngữ, dân tộc, vùng miền, giai tầng

xã hội… cũng có thể tác động tới sự bao phủ của nhân lực y tế Vì vậy, cần có mộtchiến lược bảo đảm NNLYT số lượng thông qua đa dạng hóa các loại hình đào tạophù hợp, đồng thời phân bổ hợp lý đáp ứng được nhu cầu cho các vùng khác nhau

Trang 39

Bảng 2.1: So sánh một số chỉ số về NNLYT tại khu vực Đông Nam Á, Tây Thái

Bình Dương và một số quốc gia trong vùng

Vùng, tên quốc gia

Số bác sỹ trên 1 vạn dân

Số điều dưỡng và hộ sinh từ trung cấp trở lên trên

1 vạn dân

Tỷ số điều dưỡng và

hộ sinh trên một bác sỹ

Số dược

sỹ từ trung cấp trở lên Trên 1 vạn dân

Tây Thái Bình Dương

(trừ các quốc gia thu

Trang 40

2.2.2 Phát triển chất lượng nguồn nhân lực y tế phục vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân

Chất lượng NNL y tế thể hiện ở nhiều mặt, như trình độ chuyên môn, năng

lực làm việc, ứng xử có trách nhiệm với các nhiệm vụ được giao Đáp ứng yêu cầu

về chất lượng trước tiên phải đảm bảo xây dựng năng lực chuyên môn tốt choNNLYT Năng lực chuyên môn là kiến thức, kỹ năng và thái độ mà một cá nhân cóđược thông qua quá trình giáo dục, đào tạo và tích lũy kinh nghiệm làm việc Muốnđáp ứng được yêu cầu này cần một chương trình giáo dục, đào tạo phù hợp, đặc biệt

là đào tạo liên tục và khơi dậy sức sáng tạo của NVYT cả khu vực công và tư.Chiến lược đào tạo cần phù hợp nhằm tăng cường kiến thức và kỹ năng chuyên mônthích hợp cho NNLYT, nâng cao khả năng quản lý và lãnh đạo cũng như giúp tất cảNVYT có khả năng được đào tạo liên tục sau này Chiến lược cần phải tạo ra chomỗi NVYT có ý thức chủ động học tập nâng cao trình độ thông qua quá trình họctập liên tục Ứng xử có trách nhiệm là đối xử với mọi người một cách tôn trọng,không phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe hoặc vị trí xã hội Ở Việt Nam có thể hiểu

đó là tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh

Để đáp ứng được yêu cầu về nâng cao chất lượng thì tạo động lực làmviệc cho nhân lực y tế có vai trò quan trọng Động lực làm việc của NVYT

bị tác động bởi nhiều yếu tố, như giá trị riêng của NVYT, đạo đức nghềnghiệp, sự trả công, môi trường làm việc, sự hỗ trợ của hệ thống y tế… Kỹnăng và năng lực của NVYT cũng bị hạn chế nếu họ không được tạo động lựcthích hợp Kinh phí, thuốc, trang thiết bị và dịch vụ bị lãng phí nếu động lực làmviệc của NVYT yếu kém Thu nhập thấp, điều kiện làm việc không tốt có thể làmcho nhân lực y tế không mặn mà với y tế công Muốn NVYT có động lực làmviệc tốt cần phải đề cao giá trị đạo đức của NVYT, chế độ đãi ngộ thoả đáng, tạomôi trường làm việc tốt và quan tâm tới các chính sách hỗ trợ khác cho NVYT,đặc biệt là đảm bảo có đầy đủ các trang thiết bị, thuốc thiết yếu, cơ sở hạ tầng,

hệ thống thông tin y tế…

Ngày đăng: 24/11/2018, 12:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Minh Hồng, Nguyễn Bảo Trung (2011), "Dự báo dân số Việt Nam 2009- 2049", tại trang http://www.gopfp.gov.vn, [truy cập ngày 29/12/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dựbáo dân số Việt Nam 2009- 2049
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh, Nguyễn Minh Hồng, Nguyễn Bảo Trung
Năm: 2011
2. Vân An (2013), “Không thể chấp nhận những tiêu cực như vụ việc ở BV Hoài Đức”, tại trang http://hanoimoi.com.vn, , [truy cập ngày 16/4/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không thể chấp nhận những tiêu cực như vụ việc ở BVHoài Đức
Tác giả: Vân An
Năm: 2013
3. Ban Biên tập Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế (2014), "Trả lời chất vấn Đại biểu Quốc hội về chế độ chính sách đối với cán bộ y tế", tại trang http://www.moh.gov.vn, [truy cập ngày 26/5/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trả lời chất vấnĐại biểu Quốc hội về chế độ chính sách đối với cán bộ y tế
Tác giả: Ban Biên tập Cổng Thông tin điện tử Bộ Y tế
Năm: 2014
4. Báo Nhân dân điện tử (2006), "Xây dựng đồng bằng sông Hồng trở thành vùng kinh tế động lực đi đầu", tại trang http://www.nhandan.com.vn/ , [Truy cập ngày 15/11/2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đồng bằng sông Hồng trở thànhvùng kinh tế động lực đi đầu
Tác giả: Báo Nhân dân điện tử
Năm: 2006
5. D.Begg, Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch (1995), Kinh tế học, Tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học
Tác giả: D.Begg, Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
6. BB-HP (2013), "Đề án mở cho nguồn nhân lực y tế Quảng Nam", tại trang http://cadn.com.vn, [truy cập ngày 24 /4 /2014] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án mở cho nguồn nhân lực y tế Quảng Nam
Tác giả: BB-HP
Năm: 2013
7. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương (2014), Báo cáo hoạt động Bệnh viện năm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014, Hải Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động Bệnh việnnăm 2013 và phương hướng nhiệm vụ năm 2014
Tác giả: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương
Năm: 2014
8. Bộ Chính trị (2005), Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, Nghị quyết số 46- NQ/TW ngày 23 tháng 2 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻnhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Y tế (2007), Hội thảo quốc gia đào tạo nhân lực y tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo quốc gia đào tạonhân lực y tế nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Y tế
Năm: 2007
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục (2012), Hướng dẫn tự đánh giá trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp, Công văn số 462/KTKĐCLGD-KĐĐH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tự đánh giá trường đại học, cao đẳng và trung cấpchuyên nghiệp
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục
Năm: 2012
12. Bộ Kế hoạch đầu tư, Tổng cục Thống kê (2012), Báo cáo điều tra lao động việc làm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra laođộng việc làm 2012
Tác giả: Bộ Kế hoạch đầu tư, Tổng cục Thống kê
Năm: 2012
13. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2014), Dân số và lao động, Báo cáo số 1809/BC-BTNMT ngày 15 tháng 5 năm 2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và lao động
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2014
14. Bộ Y tế (2003), Xây dựng Y tế Việt Nam công bằng và phát triển, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Y tế Việt Nam công bằng và phát triển
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Yhọc
Năm: 2003
15. Bộ Y tế (2003), Hội thảo về Hướng dẫn chuyên môn của bệnh viện tuyến trên cho tuyến dưới, Các kết quả nghiên cứu về chất lượng chuyên môn ở các bệnh viện tuyến dưới ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo về Hướng dẫn chuyên môn của bệnh viện tuyếntrên cho tuyến dưới, Các kết quả nghiên cứu về chất lượng chuyên môn ởcác bệnh viện tuyến dưới ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2003
16. Bộ Y tế (2004), Tài liệu hội nghị kết hợp trường Y Dược và bệnh viện trong công tác đào tạo nhân lực y tế, tháng 6/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị kết hợp trường Y Dược và bệnh việntrong công tác đào tạo nhân lực y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2004
18. Bộ Y tế (2007), Báo cáo Y tế Việt Nam 2006: Công bằng, hiệu quả, phát triển trong tình hình mới, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Y tế Việt Nam 2006: Công bằng, hiệu quả, pháttriển trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
19. Bộ Y tế (2007), Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước, Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, 5/6/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sởy tế nhà nước
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
20. Bộ Y tế và Bộ Nội vụ (2008), Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV ngày 25/4/2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn, cơ cấu tổ chức của Sở Y tế, Phòng Y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấptỉnh, cấp huyện
Tác giả: Bộ Y tế và Bộ Nội vụ
Năm: 2008
21. Bộ Y tế (2008), Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2007
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
23. Bộ Y tế (2009), Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế 2009
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w