Tổng công ty may Hưng Yên được thành lập năm 1966 theo quyết định của Bộ Ngoại thương, nay thuộc Tổng công ty Dệt May Việt Nam Bộ Công thương, làđơn vị hạch toán kinh tế độc lập, ngành n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hòa nhập vào xu thế chung của Thế giới, Việt Nam đã tiến hành công cuộc
đổi mới với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ kinh tế, từngbước hội nhập với nền kinh tế thế giới Sau hơn 25 năm đổi mới, nền công nghiệpcủa Việt Nam đã phát triển với tốc độ mạnh mẽ Từ một nước nông nghiệp đi lênbằng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, ngành công nghiệp sản xuất hàng dệt may làmột trong những ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất, tỷ trọng kinh ngạch xuấtkhẩu cao với nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng
Ngày 19/11/2008, Bộ Công thương đã phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành
công nghiệp dệt may đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 tại quyết định số42/2008/QĐ-BCT, mục tiêu phát triển là: Phát triển ngành dệt may trở thành mộttrong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; thỏa mãn ngàycàng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội; nângcao khả năng cạnh tranh Đảm bảo cho các doanh nghiệp dệt may phát triển bềnvững, hiệu quả trên cơ sở công nghệ hiện đại, quản lý hệ thống chất lượng, quản lýlao động và môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế Phấn đấu đến năm 2010 sản xuấtđược 1.800 triệu sản phẩm, đến năm 2015 sản xuất được 2.850 triệu sản phẩm vàđến năm 2020 sản xuất được 4.000 triệu sản phẩm.[6]
Thực tế cho thấy, nước ta có khoảng 6000 doanh nghiệp dệt, may, nhuộm,
trong đó có trên 50% thiết bị đã sử dụng nhiều năm, với công nghệ lạc hậu tớikhoảng 15-20 năm so với Thái Lan và Trung Quốc, nên mức tiêu thụ nguyên liệucao, gây lãng phí và ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, các giải pháp giải quyết vấn đề
ô nhiễm môi trường hiện nay của các doanh nghiệp thường là xử lý cuối đường ống.Đây là giải pháp vừa đắt tiền vừa không mang lại hiệu quả lâu dài, thậm chí nằmngoài khả năng của một số doanh nghiệp vừa và nhỏ Do đó, cần có một giải phápgiải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường hiệu quả và phù hợp hơn, đó chính là giảipháp sản xuất sạch hơn (SXSH) Thực hiện SXSH, cứ mỗi tấn sản phẩm dệt may sẽgiảm lượng tiêu thụ khoảng 150 kg dầu, 50-150 kWh điện, 50-100 m3 nước và tiếtkiệm khoảng 0,2-0,5 kg thuốc nhuộm, 100-150 kg hóa chất và chất phụ trợ SXSH1
đã làm cho việc giảm chất thải, giảm lượng khí phát thải, giảm độc tố ở mức tối đathùy theo thiết bị, công nghệ
Như vậy, sản xuất sạch hơn là việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa
tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nângcao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường Trong quátrình sản xuất, việc áp dụng SXSH bao gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng.Loại trừ các nguyên liệu độc hại, giảm lượng và tính độc hại của tất cả chất thảingay tại nguồn thải Đối với sản phẩm, SXSH sẽ giảm các ảnh hưởng tiêu cực trongsuốt vòng đời của sản phẩm, từ khâu thiết kế đến thải bỏ SXSH còn góp phần đưacác yếu tố về môi trường vào trong thiết kế và phát triển các dịch vụ
Trang 2SXSH có ý nghĩa đối với tất cả các cơ sở công nghiệp, lớn hay nhỏ, tiêu thụ
nguyên liệu, năng lượng và nước nhiều hay ít Đến nay, hầu hết các doanh nghiệpđều có tiềm năng giảm lượng nguyên nhiên liệu tiêu thụ từ 10 - 15%, SXSH khôngchỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm nhiên liệu, giảm chi phí, BVMT mà còn tạo nhiềulợi thế cạnh tranh khác Các doanh nghiệp thực hiện SXSH sẽ đáp ứng các tiêuchuẩn môi trường, ví dụ như tiêu chuẩn ISO 14001, hoặc các yêu cầu của thị trườngnhư “Nhãn sinh thái” Những sản phẩm của các doanh nghiệp sản xuất chú trọngBVMT sẽ được người tiêu dùng lựa chọn và đồng thời là tiêu chuẩn hàng đầu đểsản phẩm Việt Nam vươn ra thế giới
Thực tế cho thấy, SXSH không giống như xử lý cuối đường ống, ví dụ như
xử lý khí thải, nước thải hay chất thải rắn Các hệ thống xử lý cuối đường ống làmgiảm tải lượng ô nhiễm nhưng không tái sử dụng được phần nguyên vật liệu đã mất
đi Do đó, xử lý cuối đường ống luôn luôn làm tăng chi phí sản xuất Trong khi đó,SXSH mang lại các lợi ích kinh tế song song với giảm tải lượng ô nhiễm SXSHđồng nghĩa với giảm thiểu chất thải và phòng ngừa ô nhiễm Sản xuất sạch hơncũng là một bước hữu ích cho hệ thống quản lý môi trường như ISO 14000
Tổng công ty may Hưng Yên được thành lập năm 1966 theo quyết định của
Bộ Ngoại thương, nay thuộc Tổng công ty Dệt May Việt Nam (Bộ Công thương), làđơn vị hạch toán kinh tế độc lập, ngành nghề kinh doanh chủ yếu là sản xuất maytrang phục áo jacket, quần âu, áo sơ mi Tuy đây không phải là khâu được đánh giá2
ô nhiễm chính trong ngành công nghiệp dệt may nhưng điều đó không có nghĩa làhoàn toàn không có tiềm năng SXSH Việc nghiên cứu áp dụng SXSH tại Tổngcông ty may Hưng Yên sẽ góp phần thúc đẩy phổ biến tiếp cận này và minh chứngkhả năng áp dụng SXSH tại các loại hình công nghiệp khác nhau Hơn nữa, trongbối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO thì các sản phẩm của Việt Nam buộc phải đápứng được các yêu cầu ngày càng khắt khe hơn của thị trường thế giới
Chính vì vậy, đề tài “Xây dựng hệ thống các giải pháp sản xuất sạch hơn
cho Tổng công ty may Hưng Yên” được thực hiện với mục đích tiết kiệm nănglượng (than, điện) và giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường theo hướng chủ độngngăn ngừa chất thải tại nguồn, đây là đề tài thiết thực đối với doanh nghiệp
2 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Xây dựng các cơ hội, giải pháp SXSH giảm thiểu phát
thải, tiết kiệm nguyên vật liệu và năng lượng cho Tổng công ty may Hưng Yên.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Việc thực hiện SXSH là một quá trình lâu
dài và liên tục nhưng do thời gian thực hiện luận văn có hạn nên luận văn này chỉtập trung đánh giá hiện trạng sử dụng năng lượng (điện và than) tại các xí nghiệpsản xuất; phân tích, lựa chọn các cơ hội SXSH và đề xuất các giải pháp SXSH áp
Trang 3dụng tại Tổng công ty may Hưng Yên.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu tổng quan về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam và những vấn
đề về môi trường
- Lựa chọn phương pháp luận đánh giá SXSH phù hợp
- Nghiên cứu, đánh giá SXSH tại Tổng công ty may Hưng Yên: Thực trạng
quy trình công nghệ sản xuất; máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất Dự báocác khu vực có thể tiết kiệm năng lượng hay khu vực có nguy cơ ô nhiễm môitrường cao trong Tổng công ty may Hưng Yên Đề xuất hệ thống các giải pháp sảnxuất sạch hơn nhằm giảm thiểu chất thải, tiết kiệm năng lượng, nguyên vật liệutrong quá trình sản xuất và hạn chế những tác động xấu đến môi trường tại Tổngcông ty may Hưng Yên
3
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin, dữ liệu gồm:
+ Các dữ liệu về Tổng công ty may Hưng Yên: loại hình sản xuất, các quá
trình trong dây chuyền sản xuất, nhu cầu và khả năng cung cấp năng lượng, nguồnthải, loại chất thải,
+ Các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài
- Phương pháp tiến hành khảo sát thực tế
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp số liệu:
+ Trên cơ sở những thông tin có được trong quá trình khảo sát, điều tra thực
tế, cùng những số liệu, tài liệu khoa học liên quan thu thập được, tiến hành phântích, chọn lọc để có sự phản ánh chung, đầy đủ về đối tượng nghiên cứu
+ Phương pháp phân tích tổng hợp số liệu và các giải pháp đảm bảo lợi ích
kinh tế, môi trường
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm nội dung chính như sau:
- Chương 1: Tổng quan về ngành công nghiệp dệt may Việt Nam và những
vấn đề môi trường
- Chương 2: Phương pháp luận đánh giá SXSH
- Chương 3: Nghiên cứu, đánh giá SXSH tại Tổng công ty may Hưng Yên
4
CHƯƠNG 1
Trang 4TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
1.1 Tổng quan về ngành dệt may
Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp dệt may Việt Nam được xem là bắt
đầu khi thành lập Nhà máy dệt Nam Định năm 1897 Năm 1954, sau khi miền Bắc
giành độc lập, Nhà máy dệt Nam Định và Nhà máy dệt lụa Nam Định được khôi
phục và tái thiết, có thêm một số nhà máy khác được xây dựng mới như Nhà máy
dệt 8/3, Nhà máy dệt Vĩnh Phú, Công ty may Thăng Long, Công ty may Chiến
Thắng, Công ty may Nam Định, Công ty may Đáp Cầu Các làng nghề truyền thống,
các Hợp tác xã dệt may đã được khuyến khích phát triển Sau khi Việt Nam thống
nhất (30/4/1975), Chính phủ đã tiếp quản một loạt các nhà máy ở miền Nam như
Công ty dệt Thắng Lợi, Công ty dệt Việt Thắng, Công ty dệt Phong Phú, Công ty
dệt Thành Công, Công ty may Nhà Bè, Công ty may Hoà Bình, Công ty may Việt
Tiến, v.v Sau đó, một số doanh nghiệp quốc doanh trung ương được xây dựng như
Công ty may Hà Nội, Công ty dệt may Nha Trang, Công ty dệt may Huế Một số cơ
quan cấp địa phương cũng thành lập các doanh nghiệp dệt may Ngành công nghiệp
dệt may đã nhanh chóng phát triển để cung cấp hàng hoá cho thị trường trong nước
Giai đoạn 1987 - 1990 ngành công nghiệp dệt may có bước phát triển rõ rệt, các
doanh nghiệp may mặc đã được thành lập trên khắp đất nước thu hút hàng trăm ngàn
lao động và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước
Những năm gần đây, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đã phát triển
nhanh chóng và trở thành một ngành công nghiệp sản xuất quan trọng trong nền kinh
tế quốc dân Năm 2004, toàn ngành sử dụng 2,1 triệu lao động, chiếm 4,7% trong
tổng số lao động cả nước Trong số các doanh nghiệp dệt may hàng đầu, thì Vinatex một doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 22% tỉ trọng xuất khẩu dệt may của Việt Nam
năm 2006 và công ty may Việt Tiến, đã đầu tư hơn 10 triệu USD trong 5 năm qua để
nâng cấp các dây chuyền sản xuất Năm 2006, xuất khẩu của ngành dệt may đạt giá
trị 5,8 tỉ USD, đưa ngành này trở thành ngành xuất khẩu có doanh thu lớn thứ hai
của Việt Nam sau dầu thô Khách hàng là một loạt các công ty dệt và may mặc hàng
đầu thế giới như Express, Hucke, Itochu, JC Penney, Jupitar, Kmart, Kowa, Lee
5
Cooper, Li & Fung, Mast Industries, Nichimen, Nissho Iwai, Seidensticker,
Sumitomo, Tommy Hilfiger, Victoria's Secret, và Wal-Mart đã tìm đến nguồn cung
ở Việt Nam [4]
Theo báo cáo ngành dệt may, hiện nay cả nước có khoảng 6.000 doanh
nghiệp dệt may, thu hút hơn 2,5 triệu lao động, chiếm khoảng 25% lao động của
khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam Năm 2013, sản phẩm dệt may Việt Nam
(gồm: Áo jacket, áo thun, quần, áo sơ mi) xuất khẩu đến hơn 180 quốc gia và vùng
lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu đạt 17,9 tỷ USD, chiếm 13,6% tổng kim ngạch
Trang 5xuất khẩu Việt Nam và 10,5% GDP cả nước Tốc độ tăng trưởng dệt may trong giaiđoạn 2008-2013 đạt 14,5%/năm đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia
có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may nhanh nhất thế giới Xét về cơcấu công ty theo hoạt động thì: may trang phục chiếm 70%, se sợi chiếm 6%,dệt/đan chiếm 17%, nhuộm chiếm 4% và công nghiệp phụ trợ chiếm 3% Tuynhiên, xét về chỉ số năng suất lao động khu vực sản xuất so với các quốc gia khácthì năng suất lao động của Việt Nam rất thấp Chỉ số năng suất lao động khu vựcsản xuất của Việt Nam chỉ đạt 2,4; trong khi các quốc gia sản xuất dệt may lớn khácnhư Trung Quốc và Indonesia là 6,9 và 5,2 Đây là một trong những điểm yếu lớnnhất của dệt may nói riêng và các công nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động nóichung của nước ta.[10]
Bài học kinh nghiệm: Thông qua đánh giá tổng hợp về tổng quan ngành dệt
may Việt Nam trong những năm qua, tác giả nhận thấy các nguyên nhân chính dẫnđến sự tăng trưởng không bền vững của ngành dệt may Việt Nam là do: 1) Sự mẫuthuẫn trong chính sách của nhà nước trong việc khuyến khích đầu tư vào ngành dệtmay, nhất là ngành dệt nhuộm vì rào cản từ chính sách đối với các doanh nghiệpnhuộm lớn do các vấn đề về môi trường; 2) Quy mô doanh nghiệp dệt may hầu hết
có quy mô vừa và nhỏ, thiếu nhân lực quản lý giỏi, công nghệ lạc hậu, các doanhnghiệp xuất khẩu sản phẩm may mặc của Việt Nam hiện nay vẫn đang sản xuất theophương thức gia công đơn giản; 3) Thiếu vắng các cụm ngành công nghiệp dệt may
để hỗ trợ phát triển; 4) Chi phí nguyên vật liệu và năng lượng chiếm khoảng 70%giá vốn hàng bán và nguyên vật liệu ảnh hưởng đến sự khác biệt hóa sản phẩm.6
1.2 Mô tả quy trình sản xuất
Dệt may được xem là quá trình biến đổi sợi thiên nhiên, tái sinh hay tổng hợpthành sợi, vải, và chuyển sợi, vải đó thành quần áo, đồ dùng và vải vóc gia dụng Sơ
Trang 6Công đoạn sản xuất sợi
đồ tổng quát quy trình dệt may công nghiệp được thể hiện trong hình 1.1 và hình 1.2:
Hình 1.1: Sơ đồ tổng quát quy trình tạo ra sản phẩm may
Có thể nhận thấy trong hình 1.1, đôi khi xơ hoặc sợi có thể được nhuộm trực
tiếp Vải mộc (sau khi dệt) thường được qua công đoạn xử lý bề mặt trước khi may.Công đoạn xử lý vải này còn được gọi là xử lý ướt
7
Nguyên liệu thô (xơ) được sử dụng gồm 4 loại chính là cotton, tổng hợp, len
và lụa Vải được tạo thành từ nguyên liệu qua ba bước chính sau:
•
Sản xuất sợi
Trang 7Sản xuất vải
•
Xử lý vải
Quy trình sản xuất may trang phục từ vải:
- Thuyết minh quy trình:
Quá trình sản xuất của các công ty may trang phục được tiến hành qua 5
công đoạn: Tiếp nhận nguyên phụ liệu, chuẩn bị sản xuất, cắt, may, giặt là và hoànthiện đóng gói Cụ thể:
+ Công đoạn thiếp nhận nguyên phụ liệu: Nguyên phụ liệu và vải khi nhập sẽđược tiến hành kiểm tra chất lượng Nếu đảm bảo yêu cầu sẽ được nhập vào khohoặc chuyển cho sản xuất
+ Công đoạn chuẩn bị sản xuất: Nguyên phụ liệu và vải được lấy từ kho sẽ
được đem đi kiểm tra độ co của vải, sau đó sẽ tiến hành họp để phân phối nguyênphụ liệu
+ Công đoạn cắt: Nguyên phụ liệu và vải sau khi được phân phối sẽ chuyển
đến công đoạn cắt (qua các máy cắt, máy ép mex), sau khi cắt xong sản phẩm sẽđược kiểm tra chất lượng
+ Công đoạn may, là: Nguyên phụ liệu và vải sau khi qua công đoạn cắt đạt
yêu cầu chất lượng sẽ được chuyển đến các chuyền may, sản phẩm sẽ được kiểm tra
2 lần trên chuyền và cuối chuyền Sản phẩm may qua kiểm tra sẽ được đưa đi giặt,sau đó sẽ chuyển đến là Sản phẩm qua khâu là sẽ được kiểm tra lại một lần nữa.+ Công đoạn hoàn thiện đóng gói: Sản phẩm sau công đoạn may, là sẽ được
chuyển đến khu vực hoàn thiện, sau hoàn thiện sẽ được kiểm tra hoàn thiện Sảnphẩm hoàn thiện đạt yêu cầu sẽ được đóng gói, rồi đóng thùng Sản phẩm được lưutrong kho thành phẩm và sẽ được xuất bán cho khách hàng
Trang 8Kiểm tra vải,
Trang 91.3 Vấn đề môi trường và hoạt động SXSH trong ngành dệt may
1.3.1 Vấn đề môi trường trong quá trình tạo ra sản phẩm may (vải)
1.3.1.1 Ảnh hưởng đến môi trường nước
* Tại
công đoạn xử lý sơ bộ:
Quá trình xử lý sơ bộ sinh ra một số vấn đề liên quan đến môi trường do cácloại hoá chất sử dụng như sau:
Trang 10Công đoạn
Các vấn đề môi trường
Giũ hồ
- 90% các chất hồ đi vào nước thải, do vậy tải lượng COD cao
- Các chất hồ tổng hợp không có khả năng phân huỷ sinh học
gây độc hại cho nguồn nước tiếp nhận nếu không qua xử lý
Xử lý bằng kiềm
- Gần như toàn bộ các chất chelat hoá, chất ổn định, chất điều
chỉnh pH, (nấu chuội, kiềm chất mang đều sẽ có mặt trong
nước thải: tăng tải lượng photpho (do bóng) polyphosphate),
tăng hàm lượng kim loại nặng
- Các chất hoạt động bề mặt/chất giặt/chất nhũ hoá/chất phân
tán: làm tăng tải lượng BOD, gây ra độc tính sinh học trong
nước thải (đặc biệt là các hợp chất alkalis benzene sulphonate
mạch thẳng- LAS, Alkyl phenol ethoxylate - APEO)
Tẩy trắng
- Tạo ra các chất hữu cơ có chứa Halogen nếu dùng hoá chất tẩy
trắng là hypochrorite
* Tại công đoạn nhuộm:
Quá trình nhuộm được thực hiện để phân bố đều ánh sắc trên mặt vải, trong đóxảy ra sự khuếch tán của phân tử thuốc nhuộm vào bên trong sợi vải để tạo cho vảimàu sắc mong muốn Mục tiêu của quá trình nhuộm là làm cho các phân tử chấtnhuộm gắn chặt vào sợi vải
Quá trình nhuộm sinh ra một số vấn đề liên quan đến môi trường do nguyênliệu sử dụng như sau:
Trang 11cho dòng thải cũng như nồng độ muối và kim loại nặng.
Nước thải công đoạn nhuộm có chứa thuốc nhuộm chưa tận trích và các hoá
chất khác Nước thải thường có độ màu, TDS, BOD, COD cao
Lưu ý: Nước được sử dụng rất nhiều trong quá trình xử lý vải ướt Lượng
nước sử dụng thay đổi theo từng công đoạn và mặt hàng xử lý Trong cùng mộtcông đoạn thì việc sử dụng nước cũng khác nhau tuỳ theo loại thiết bị Các số liệu sửdụng nước cho các loại vải khác nhau được đưa ra trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Tiêu thụ nước trong ngành dệt nhuộm
Trang 1210 - 70
Có khoảng 88% nước sử dụng được thải ra dưới dạng nước thải và 12% thoát
ra do bay hơi
Nhìn chung, nước thải ngành dệt có pH kiềm tính, nhiệt độ cao, độ dẫn điện
lớn và khả năng phân huỷ sinh học thấp Giá trị đặc thù của tỉ lệ BOD:COD nằmtrong khoảng 1:25 tới 1:5 Ô nhiễm hữu cơ của nước thải chủ yếu được sinh ra từ quátrình tiền xử lý bằng hoá chất; trong trường hợp nấu vải polyester bằng kiềm thì giátrị BOD có thể lên tới 210 kg/tấn.[4]
* Tại công đoạn hoàn tất
Công đoạn này bao gồm các thao tác cuối cùng cần thiết để làm cho vải đẹp và
hấp dẫn Hoàn tất vải có thể bao gồm cả xử lý bằng hoá học và cả cơ học Khi xử lýbằng phương pháp cơ học, các chất hoá học thường được sử dụng để nâng cao, hỗtrợ hoặc tạo hiệu quả lâu dài của việc xử lý Các thao tác hoàn tất bao gồm:
•
Sấy: Là khử ẩm trên vải bằng máy sấy
11
•
Ổn định kích thước: Đây là một trong những thao tác hoàn tất quan
trọng nhất Vải trong điều kiện chưa có hình dạng ổn định sẽ được đưa vào máy văngkhổ để đạt được kích thước dài và rộng yêu cầu
•
Cán láng: Hình thành một lớp bóng láng trên bề mặt vải trong quá
trình cán láng Vải ẩm được ép chặt lên bề mặt kim loại láng và nóng cho đến khi khô
•
Làm mềm: Sau khi cán láng, vải trở nên cứng hơn Làm mềm được thực
hiện để phá độ cứng này Vải được dẫn vào máy làm mềm sao cho tiếp xúc nhẹ
nhàng với trục cuốn và được cuốn tròn Qua thao tác này, bề mặt vải được xáo độngnhẹ làm chúng mềm hơn
Trong quy trình hoàn tất, vải được đưa qua bể chứa các thành phần có tác
dụng hoàn tất theo yêu cầu Sau đó, vải được dẫn qua các trục ép để tách càng nhiều