Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy toàn cầu hoá, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư. Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra yêu cầu cấp bách là đất nước cần có một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng. Vì vậy việc nghiên cứu về thực trạng chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa đối với mục tiêu tạo ra một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng, nên tác gải chọn đề tài: “Chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần 1 môn luật sư và nghề luật sư
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1: Các vấn đề lý luận về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam 4
1.1 Khái niệm về luật sư 4
1.2 Khái niệm nghề luật sư 5
1.2.1 Đặc điểm của nghề luật sư 5
1.2.2 Tính chất của nghề luật sư 7
1.3 Lịch sử phát triển của nghề luật sư 8
1.3.1 Sơ lược về sự hình thành nghề luật sư trên thế giới 8
1.3.2 Sự hình thành và phát triển của nghề luật sư ở Việt Nam 9
Chương 2: Thực trạng chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay và giải pháp nâng cao chất lượng 12
2.1 Thực trạng chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam 12
2.1.1 Thực trạng 12
2.1.2 Nguyên nhân 15
2.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam 16 KẾT LUẬN
Trang 2MỞ ĐẦU 1/ Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy toàn cầu hoá, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng
đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra yêu cầu cấp bách là đất nước cần có một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng
Vì vậy việc nghiên cứu về thực trạng chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa đối với mục tiêu tạo ra một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng, nên tác gải chọn đề tài: “Chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng” làm đề tài tiểu luận kết thúc học phần 1 môn luật sư và nghề luật sư
2/ Giới hạn phạm vi
Phạm vi nghiên cứu của tiểu luận là khái niệm luật sư, nghề luật sư, lịch sử hình thành nghề luật sư, qua đó thấy được những ảnh hưởng của lịch sử hình thành và phát triển nghề luật sư đến chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay
3/Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật trong việc nghiên cứu và một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về luật sư
và nghề luật sư
- Phương pháp so sánh để đối chiếu, so sánh với nghề luật sư của một số nước trên thế giới nhằm đánh giá
- Phương pháp tổng hợp để tổng hợp các vấn đề đã được nghiên cứu nhằm đưa ra những nhận định và kết luận
Trang 3- Phương pháp thống kê để thống kê các số liệu trong thực tiễn hoạt động hành nghề của luật sư làm cơ sở cho việc đưa ra những nhận xét, kết luận và kiến nghị nâng cao chất lượng hành nghề luật sư
4/ Kết cấu của tiểu luận
Chương 1: Các vấn đề lý luận về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng chất lượng hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay và giải pháp nâng cao chất lượng
Trang 4Chương 1: Các vấn đề lý luận về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam.
1.1 Khái niệm về luật sư
Nhắc đến luật sư, có người sẽ liên tưởng đến hình ảnh những phiên đấu lý đầy kịch tính tại Tòa án, có người sẽ nghĩ ngay đến hai chữ “thầy cãi” nhưng đó chỉ là một phần trong bức tranh tổng thể về luật sư
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm luật sư Đại từ điển Tiếng Việt do nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh định nghĩa luật sư là
“người có chức trách dùng pháp luật bào chữa cho bị can trước Tòa án” Còn theo cách hiểu của dân gian thì “Luật” ở đây là luật pháp, “sư” nghĩa là thầy, theo đó thì luật sư là người thầy trong lĩnh vực pháp luật Tuy nhiên những khái niệm trên chỉ đề cập tới khía cạnh tranh tụng, chưa thể giúp mọi người có cái nhìn toàn diện
về khái niệm luật sư
Điều 2 Luật Luật sư 2012 quy định: “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của
cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)” Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sư như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng
cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật
sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư.” Ở đây Luật luật sư quy định những người đủ tiêu chuẩn thì có thể trở thành luật sư Nghĩa là những người đã đủ tiêu chuẩn vẫn chưa trở thành luật sư mà muốn trở thành luật sư, những cá nhân đủ tiêu chuẩn trên cần phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và đã gia nhập một Đoàn Luật sư do mình lựa chọn
Vậy theo quy định pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể hiểu rằng: luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người là công dân Việt Nam trung thành với
Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng
cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật
sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư, đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật
sư và gia nhập một Đoàn Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Trang 51.2 Khái niệm nghề luật sư
Khái niệm nghề luật sư ở Việt Nam chỉ một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động trong phạm vi hành nghề theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam
Đăc biệt, nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác, nó được thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, hành nghề luật sư không lấy điểm xuất phát là vốn và cũng không dựa
vào vốn mà mà dựa vào kiến thức pháp luật và kỹ năng hành nghề của luật sư Chính vì vậy, luật sư trước hết là một chuyên gia pháp luật, là một cố vấn pháp luật
mà ở họ có những kỹ năng nghề nghiệp thực thụ, các luật sư cần có kiến thức pháp luật, thông thạo kỹ năng nghề nghiệp để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình
Thứ hai, luật sư với tư cách là một người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể pháp lý nên luật sư có nhiệm vụ bảo đảm sự công bằng, khách quan của pháp luật Vì thế các nước trên thế giới đều cho rằng nghề luật sư là một nghề trong xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần đảm bảo công lý
Thứ ba, nguyên tắc của nghề luật sư là phải độc lập, liêm chính, nhân đạo và dũng
cảm Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của luật sư và tính chất của nghề tự do trong tổ chức hành nghề luật sư Đây là yêu cầu cần thiết
để luật sư có thể hoàn thành tốt trách nhiệm của mình
Chính vì vậy mà nghề luật sư mang những đặc điểm, tính chất sau đây
1.2.1 Đặc điểm của nghề luật sư
Thứ nhất, nghề luật sư là nghề tự do
Nghề luật sư trước hết hình thành từ nhu cầu, yêu cầu minh oan, bảo vệ cho bạn bè hoặc người thân thuộc bị nhà cầm quyền giam giữ hay bị trừng phạt một cách độc đoán, vô cớ Hoạt động này do người có trình độ, uy tín, lòng trắc ẩn, vị tha, hào hiệp và tự nguyện đứng ra thực hiện Dần dần nó phát triển thành một nghề tự do
có điều lệ, có quy chế do Nhà nước quy định hoặc thừa nhận
Trang 6Đây là nghề tự do bởi người hành nghề cũng như các tổ chức hành nghề không phải các tổ chức Nhà nước, không phải là cán bộ, công chức của Nhà nước Người
và tổ chức hành nghề hoạt động trong một chuyên môn và với một loại hình đặc biệt dịch vụ pháp lý
Thứ hai, nghề luật sư cung cấp các dịch vụ pháp lý
Các dịch vụ pháp lý được luật sư thực hiện bao gồm các dịch vụ sau:
- Tham gia tố tụng để bào chữa cho các bị can, bị cáo, bảo vệ cho người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trong vụ án hình sự, làm người đại diện hoặc bảo
vệ cho các đương sự trong vụ án dân sự, hành chính
- Tư vấn pháp luật, tư vấn giao dịch và hợp đồng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức
- Làm đại diện ngoài tố tụng cho cá nhân, cơ quan, tổ chức
- Thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của khách hàng
Thứ ba, nghề luật sư là nghề góp phần tích cực duy trì công lý và bảo vệ pháp luật
- Về duy trì công lý: Tham gia góp phần bảo vệ và giải phóng con người vì tự do
của con người, vì các giá trị tự nhiên và phẩm chất xã hội của con người trên cơ sở tôn trọng chân lý khách quan, dựa vào các quy luật tự nhiên xã hội, dựa vào lợi ích của cộng đồng, của dân tộc và vì hoà bình trên thế giới
- Về bảo vệ pháp luật: Tôn trọng và tuân thủ pháp luật, góp phần tuyên truyền pháp
luật, hướng cho mọi người thực hiện các hành vi ứng xử trên cơ sở các quy định của pháp luật Chống mọi biểu hiện vi phạm pháp luật
Thứ tư, nghề luật sư là nghề liên quan đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân, của cá nhân, tổ chức
- Các hoạt động của luật sư trước hết hướng tới bảo vệ các giá trị vật chất và tinh thần của Nhà nước lợi ích của dân tộc, tránh mọi biểu hiện xâm phạm độc lập, chủ quyền, tự do và an ninh của Nhà nước, chống mọi biểu hiện và hành vi xâm phạm đến tài sản của Nhà nước cũng như luôn luôn bảo vệ các giá trị Quốc thể
- Hoạt động nghề nghiệp của luật sư là bảo vệ các quyền, lợi ích chân chính của mọi công dân, cá nhân như tài sản, danh dự, nhân phẩm…
Trang 7- Hoạt động của luật sư cũng liên quan đến việc bảo vệ quyền, lợi ích của các tổ chức đặc biệt là các doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần khác nhau trong nền kinh tế quốc dân…
Thứ năm, nghề luật sư là nghề cao quý bởi hàm chứa những mục đích và phẩm
chất cao đẹp đòi hỏi có trình độ và năng lực cao, có văn hoá và đạo đức trong sáng
- Về mục đích: Mọi hoạt động hành nghề của luật sư hướng tới bảo vệ công lý, bảo
vệ pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
- Về phẩm chất:
+ Luật sư là người có tư cách phẩm chất đạo đức trong sáng, có ý thức tổ chức kỷ luật và xã hội cao
+ Người hành nghề luật sư đòi hỏi phải có trình độ cao về kiến thức chuyên môn, thành thạo, chuyên sâu về nghiệp vụ, có năng lực độc lập giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động nghề nghiệp
+ Luật sư là người có văn hoá ở trình độ chuyên môn, mọi hành vi ứng xử đều chứa đựng các giá trị về chân thiện mỹ
1.2.2 Tính chất của nghề luật sư
Xét về tính chất, có thể hiểu nghề luật sư có ba tính chất cơ bản như sau:
Thứ nhất, tính chất trợ giúp Kể từ khi xã hội phân chia giai cấp, luôn tồn tại những
người có vị thế thấp hơn so với mặt bằng xã hội Những người này thường là những người bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật, những người nghèo, người già cô đơn, người chưa thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình Hoạt động trợ giúp những người này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư nói riêng và của mỗi người chúng ta nói chung
Thứ hai, tính chất hướng dẫn: Tính chất nghề nghiệp đòi hỏi luật sư không chỉ thông hiểu pháp luật hiện hành mà còn hiểu biết cả tinh thần, nội dung những quy định của pháp luật ở từng thời điểm của thời gian đã qua Luật sư còn phải hiểu sâu rộng cả tục lệ và bản sắc văn hoá của dân tộc
Mọi người hiểu và nghĩ về luật sư như vậy, cho nên mỗi khi bản thân hoặc gia đình
có điều gì vướng mắc đều tìm đến luật sư, nhờ luật sư tư vấn Vì vậy, hoạt động
Trang 8của luật sư luôn luôn có tính chất hướng dẫn Yêu cầu của hoạt động này là hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật để biết cách xử sự tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp lý và đạo lý
Thứ ba, tính chất phản biện: Là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến
quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo
lý Luật sư lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai… từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ sai trái, bảo vệ công lý
Thông qua các đặc điểm, tính chất của nghề luật sư, chúng ta thấy được địa vị pháp
lý, vị trí xã hội, các giá trị chân chính của nghề luật sư
1.3 Lịch sử phát triển của nghề luật sư
1.3.1 Sơ lược về sự hình thành nghề luật sư trên thế giới
Nghề luật sư như chúng ta biết ngày hôm nay đã trải qua một lịch sử rất dài Nó bắt đầu hình thành từ thời Hy lạp cổ đại (khoảng 3500-3000 năm trước công nguyên)
và phát triển vào thời Trung đại (khoảng Từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 15 sau công nguyên)
Vào thế kỷ V trước Công nguyên, trong nhà nước Hy Lạp cổ, tổ chức toà án hình thành và việc xét xử có sự tham gia của mọi người dân Nguyên cáo hoặc bị cáo có thể tự trình bày ý kiến, lý lẽ của mình trước Toà hoặc nhờ người khác có tài hùng biện trình bày hộ ý kiến, lý lẽ trước Toà Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho bạn bè hoặc người thân bị nhà cầm quyền bắt giam vô cớ và trừng phạt một cách độc đoán dần phát triển
Ở La Mã cổ đại, cũng với sự xuất hiện của pháp luật đã xuất hiện những mầm mống của nghề luật sư Pháp luật La mã cổ đại mang tính huyền bí, thần thánh và việc áp dụng pháp luật gắn liền với lễ nghi tôn giáo Trong phiên toà, có sự tham gia của các nhà chuyên môn, người am hiểu pháp luật để nhắc lại những quy tắc, quy định tôn giáo để tránh việc viện dẫn sai hoặc vi phạm thủ tục tố tụng
Trong xã hội dần dần hình thành một nhóm người chuyên sâu, am hiểu về pháp luật và việc diễn giải pháp luật của họ được xem xét như hoạt động nghề nghiệp
Trang 9Hoạt động của các luật sư được chấp nhận và uy tín của họ trong xã hội ngày càng được nâng cao Nghề luật sư được xem như một nghề vinh quang trong xã hội Sau khi Đế quốc La Mã tan rã, châu Âu chuyển sang thời kỳ Trung cổ với các triều đại phong kiến phân quyền cát cứ Tổ chức Toà án và chế độ luật sư ở các nước được xây dựng dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích phục vụ tôn giáo
và chế độ phong kiến
Dưới chế độ tư bản, nghề luật sư được tổ chức chặt chẽ với những điều kiện khắt khe nhằm bảo vệ quyền lợi riêng cho một số ít người xuất thân từ giai cấp bóc lột
Từ xuất phát điểm của những người tự nguyện thực hiện việc bào chữa vì sự thật
và công lý, nghề luật sư dưới chế độ tư bản dần dần trở thành nghề tự do, nghề làm
vì tiền
Hiện nay, tại các nước phát triển, nghề luật sư đã trở thành một nghề được cả xã hội trọng vọng Tại nững nước này, nghề luật sư luôn là nghề nằm trong nhóm những nghề có thu nhập cao, trong đó thu nhập của những luật sư tại Mỹ được coi
là cao nhất Cũng không khó hiểu khi nghề luật sư có ví trí như vậy vì để trở thành
một luật sư là không hề dễ dàng, không phải ai cũng có thể theo đuổi nghề này 1.3.2 Sự hình thành và phát triển của nghề luật sư ở Việt Nam
Tại Việt nam, ngành luật nói chung cũng như nghề luật sư nói riêng tại Việt Nam chủ yếu hình thành dưới thời Pháp thuộc
Trước cách mạng tháng Tám.
Trước khi Việt Nam bị thực dân Pháp xâm chiếm, việc xét xử ở nước ta do vua quan phong kiến tiến hành, không có sự tham gia của luật sư Chỉ sau khi xâm lược Nam kỳ, ngày 26/11/1876 người Pháp ban hành Nghị định về việc biện hộ cho người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại Tòa án Pháp.Sau khi thiết lập
bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, năm 1884, Toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà Nội gồm các luật sư người Pháp và người Việt Nam đã nhập quốc tích Pháp Các luật sư chỉ biện hộ trước Tòa án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp
Với Sắc lệnh ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng cho người Việt Nam không có quốc tịch Pháp được làm luật sư
Trang 10Sắc lệnh cuối cùng của người Pháp về luật sư là Sắc lệnh ngày 25/5//930 về tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng Sắc lệnh này đã mở rộng cho các luật sư không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà cả trước Toà Nam án; không chỉ bào chữa cho người có quốc tịch Pháp mà cả người không có quốc tịch Pháp
Người Việt Nam đầu tiên làm luật sư đó là ông Phan Văn Trường (1876 - 1933) Ông là người làng Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội Ông tốt nghiệp Đại học luật và làm luật sư tại Paris Ông là nhà yêu nước
Sau khi xâm lược Nam kỳ, ngày 26/11/1876 người Pháp đã ban hành Nghị định về việc biện hộ cho người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại Tòa án Pháp Từ đó nghề luật sư mới chính thức xuất hiện ở nước ta, còn trước đây, việc xét xử của chính quyền phong kiến Việt Nam do vua, quan phong kiến thực hiện
mà không có sự bào chữa, bảo vệ
Năm 1884, sau khi thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, Toàn quyền Pháp ký Sắc lệnh thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà Nội gồm các luật sư người Pháp và người Việt đã nhập quốc tịch Pháp Các luật sư chỉ biện hộ trước Tòa án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp Sau đó, với Sắc lệnh ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộng cho người Việt Nam không có quốc tịch Pháp được làm luật sư Tiến thêm một bước, nhà cầm quyền Pháp ký Sắc lệnh ngày 25/5//930 về tổ chức Luật sư đoàn ở Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng Sắc lệnh này đã mở rộng cho các luật sư không chỉ biện hộ ở tòa án Pháp mà cả trước Toà án Việt Nam; không chỉ bào chữa cho người có quốc tịch Pháp mà cả người không có quốc tịch Pháp
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến đại thắng mùa xuân 1975
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cộng hòa Việt Nam ra đời Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 46/SL về đoàn luật sư, duy trì tổ chức luật sư cũ trong đó có sự vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật cũ về luật sư nhưng không trái với nguyên tắc độc lập và chính thể dân chủ cộng hoà
Chỉ tiếc rằng ngay sau đó, ngày 19/12/1946, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ khi Hiến pháp 1946 chưa được công bố chính thức Trong kháng chiến, các luật sư đều tham gia công tác tại các cơ quan quân, dân, chính, đảng