Điều này, theo chúng tôi, vừa có ý nghĩa về mặt lí luận góp thêmtiếng nói minh chứng cho hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ đang được các nhàngôn ngữ học chú ý – mối liên hệ giữa ngôn n
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Đỗ Việt Hùng
HÀ NỘI, 2018
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn 6
6 Những đóng góp mới của luận án 6
7 Bố cục luận án 7
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 8
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 8
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ và nghĩa của từ 8
1.1.2 Tình hình nghiên cứu về ca dao tình yêu người Việt dưới góc độ ngôn ngữ 20
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về nghĩa biểu trưng trong ca dao tình yêu người Việt 21
1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài 23
1.2.1 Từ và nghĩa của từ 23
1.2.2 Trường nghĩa 31
1.2.3 Biểu trưng 35
1.2.4 Vài nét về ca dao 48
Kết luận chương 1 52
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ CHỈ THỰC VẬT TRONG CA DAO TÌNH YÊUNGƯỜI VIỆT 53
2.1 Bức tranh tổng quát về từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tình yêu người Việt 53
2.2 Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tình yêu người Việt 55 2.2.1 Khái quát về sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tình yêu người Việt 55
2.2.2 Sự chuyển nghĩa của các từ ngữ chỉ cây trong ca dao tình yêu người Việt 57
2.2.3 Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ hoa trong ca dao tình yêu người Việt 58
Trang 42.2.4 Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ quả trong ca dao tình yêu người Việt 58
Trang 52.3 Ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tình yêu
người Việt 59
2.3.1 Mối quan hệ giữa đặc điểm bản thể và ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉthực vật trong ca dao tình yêu người Việt 59
2.3.2 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ cây trong ca dao tình yêu người Việt 61
2.3.3 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ hoa trong ca dao tình yêu người Việt 79
2.3.4 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ quả trong ca dao tình yêu người Việt 98
Kết luận chương 2 105
NHÂN TẠO TRONG CA DAO TÌNH YÊU NGƯỜI VIỆT 107 3.1 Bức tranh tổng quát về từ ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao tình yêu người Việt 107 3.2 Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao tình yêu người Việt 110
3.2.1 Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ công trình kiến trúc trong ca dao tìnhyêu người Việt 1123.2.2 Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ vật dụng sinh hoạt gia đình trong ca daotình yêu người Việt 1123.2.3 Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ đồ dùng cá nhân trong ca dao tình yêungười Việt 1133.2.4 Sự chuyển nghĩa của từ ngữ chỉ phương tiện và công cụ sản xuất trong
ca dao tình yêu người Việt 114
3.3 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao tình
yêu người Việt 114
3.3.1 Mối quan hệ giữa đặc điểm bản thể và ý nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉvật thể nhân tạo trong ca dao tình yêu người Việt 1143.3.2 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ công trình kiến trúc trong ca dao tìnhyêu người Việt 1153.3.3 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ vật dụng sinh hoạt gia đình trong ca daotình yêu người Việt 123
Trang 63.3.4 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ đồ dùng cá nhân trong ca dao tình yêungười Việt 1323.3.5 Nghĩa biểu trưng của từ ngữ chỉ phương tiện và công cụ sản xuất trong
ca dao tình yêu người Việt 142
Kết luận chương 3 148 KẾT LUẬN 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Bảng thống kê sự xuất hiện và tương quan của các từ ngữ chỉ TV: cây/ hoa/ quả
trong CDTY người Việt 54Bảng 2.2 Bảng thống kê các từ ngữ chỉ TV được dùng với nghĩa gốc 56
Bảng 3.1 Bảng thống kê các từ ngữ chỉ VTNT được dùng với nghĩa gốc và nghĩa chuyển
trong CDTY người Việt 111
Trang 8HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Biểu đồ so sánh sự tương quan của các từ ngữ chỉ TV: cây/ hoa/ quả 55trong CDTY người Việt 55Hình 2.2 Biểu đồ so sánh tương quan của các từ ngữ chỉ cây mang nghĩa biểu trưngtrong CDTY người Việt 62Hình 2.3 Sơ đồ biểu thị mối quan hệ giữa các giai đoạn phát triển của cây với cácgiai đoạn trong cuộc đời người phụ nữ 66Hình 2.4 Biểu đồ so sánh sự tương quan của các từ ngữ chỉ hoa mang nghĩa biểutrưng trong CDTY người Việt 81Hình 2.5 Biểu đồ so sánh tương quan của các từ ngữ chỉ quả mang nghĩa biểu trưngtrong CDTY người Việt 100Hình 3.1 Biểu đồ so sánh từ ngữ chỉ các VTNT có tần số xuất hiện cao nhất thuộcbốn nhóm (CTKT/ ĐDCN/ VDSHGĐ/ PT&CCSX) trong CDTY người Việt 110Hình 3.2 Biểu đồ so sánh sự xuất hiện của các từ ngữ chỉ CTKT mang nghĩa biểutrưng trong CDTY người Việt 116Hình 3.3 Biểu đồ so sánh sự tương quan của các từ ngữ chỉ VDSHGĐ mang nghĩabiểu trưng trong CDTY người Việt 124Hình 3.4 Biểu đồ so sánh tương quan của các từ ngữ ĐDCN mang nghĩa biểutrưng trong CDTY người Việt 132Hình 3.5 Biểu đồ so sánh sự tương quan của các từ ngữ chỉ PT&CCSX mang nghĩabiểu trưng trong CDTY người Việt 142
Trang 9DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
: Phương tiện và công cụ sản xuất
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Từ là đơn vị căn bản của hệ thống ngôn ngữ, là đối tượng có lịch sử nghiên cứu lâu
dài và phức tạp Từ có nhiều chức năng khác nhau, trước hết đó là chức năng định danh gọitên các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Từ còn biểu hiện nội dung, tình cảm,
sự tình, ý niệm Từ trong hoạt động hành chức có chức năng tạo lời, tạo câu Nghĩa của từ
cũng là một khái niệm có nội hàm rất phức tạp, “nghĩa của từ về bản chất là một thực thể tinh thần được mã hóa, được kí hiệu trong từ Nghĩa từ vựng của từ phản ánh, phản xạ” [115, 61] Cũng có thể hiểu “nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần xuất hiện trong suy nghĩ của một người bản ngữ khi người đó tiếp xúc (tạo lập hoặc lĩnh hội) với một hình thức âm thanh ngôn ngữ nhất định” [58, 38]; “Nghĩa của từ, mặt quan trọng mà ta đang nói đến có chức năng phản ánh, biểu đạt, ánh xạ thực tại, tư duy,… Ngôn ngữ của từ ngữ, xét trong thể toàn vẹn là hệ thống kí hiệu đặc biệt, là công cụ trọng yếu của giao tiếp, của
tư duy” [112, 61] Từ là đối tượng có vị trí cốt yếu, điều đặc biệt và quan trọng khi khám
phá các đơn vị ngôn ngữ là cần nắm được nghĩa của từ Đây được xem là chìa khóa để giải
mã các lớp ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ
1.2 Việc phân lập vốn từ của mỗi ngôn ngữ thành các trường từ vựng - ngữ nghĩa
đã tạo điều kiện dễ dàng cho việc phát hiện ra tính hệ thống cũng như các cơ chế thuộc
về kết cấu và ngữ nghĩa của bản thân ngôn ngữ ấy Mặt khác, việc giải thích vốn từ củacủa một ngôn ngữ phải được bắt đầu từ sự phân tích các nhóm từ hay lớp từ hoặc cáctrường từ vựng ngữ nghĩa với tư cách là phạm vi từ vựng cơ sở Đây cũng là một conđường nghiên cứu của ngôn ngữ học hiện đại nhằm vận dụng rộng rãi quan niệm hệthống cấu trúc và những tư tưởng vĩ đại của F.Saussure vào nghiên cứu ngôn ngữ
1.3 Trong ngôn ngữ học, việc dùng lí thuyết ngôn ngữ để nghiên cứu văn học là một
hướng nghiên cứu đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ từ thế kỉ XX và tiếp tục duy trì vàphát triển đạt được nhiều thành tựu trong thế kỉ XXI Nghiên cứu từ góc độ này tạo nên cáinhìn đa chiều khi nghiên cứu, giúp cho việc tìm hiểu văn chương được toàn diện hơn.Đồng thời, sự nghiên cứu này cũng góp phần củng cố và làm rõ hơn các lí thuyết ngôn ngữ.Đây là một hướng nghiên cứu thu hút được sự quan tâm rộng khắp của giới nghiên cứu.Địa hạt mà ngôn ngữ học hướng tới nghiên cứu trong văn học rất đa dạng không giới
Trang 11hạn ở một loại hình hay loại thể nào Việc nghiên cứu về ngữ nghĩa của từ vẫn còn đượctiếp tục như một xu hướng tất yếu của khoa học nghiên cứu ngôn ngữ Ngôn ngữ trong vănchương nghệ thuật có những nét đặc trưng riêng, là thứ ngôn ngữ đã được khúc xạ qua lăngkính của người sáng tác Hơn nữa, văn chương cũng luôn gắn liền với một bối cảnh vănhóa nhất định, có những khi từ ngữ trong đó đã vượt ra khỏi ngữ nghĩa thông thường để trởthành phương tiện tạo nghĩa biểu trưng Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong phạm vi vănchương trong tương quan với văn hóa là một hướng nghiên cứu cơ bản hiện nay Đây đượcxem là hướng nghiên cứu khá độc đáo và mang lại cho người đọc những tri thức mang tính
đa chiều Nghiên cứu theo phương thức này sẽ cho ta thấy được mối liên hệ mật thiết giữangôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ và tư duy đã được khẳng định từ lâu
1.4 Nghiên cứu ngữ nghĩa của từ trong văn học dân gian mà cụ thể trong phạm vi đề tài này là loại hình ca dao tình yêu của người Việt cũng là một trong
những hướng nghiên cứu dùng lí thuyết ngôn ngữ để giải mã văn học Nghiên cứuvấn đề này, chúng tôi đi sâu phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa của các từ ngữthuộc một số trường nghĩa tiêu biểu trong ca dao tình yêu Cụ thể trong phạm vinghiên cứu của luận án, chúng tôi tập trung làm rõ phân tích các nghĩa chuyển, sựchuyển trường cũng như nghĩa biểu trưng của các từ ngữ tiêu biểu thuộc hai trườngnghĩa “thực vật” và “vật thể nhân tạo” trong ca dao tình yêu người Việt Qua đó gópphần tìm hiểu sâu hơn về ca dao tình yêu cũng như làm nổi bật những đặc điểmtrong tư duy văn hóa của người Việt xưa Để chiếm lĩnh được nội dung, ý nghĩa củacác lời ca dao tình yêu cũng như để khám phá được nét độc đáo, tinh tế trong tâmhồn, những nét đặc trưng trong văn hóa và tư duy của người Việt xưa người đọc cần
có một hệ tri thức phong phú và đa dạng Trước hết người đọc cần nắm được đặcđiểm ngữ nghĩa của từ ngữ, sự chuyển nghĩa, chuyển trường cũng như nghĩa biểutrưng của chúng Điều này, theo chúng tôi, vừa có ý nghĩa về mặt lí luận (góp thêmtiếng nói minh chứng cho hướng nghiên cứu mới trong ngôn ngữ đang được các nhàngôn ngữ học chú ý – mối liên hệ giữa ngôn ngữ và văn học), vừa có ý nghĩa về mặtthực tiễn (giúp cho những người quan tâm đến từ vựng tiếng Việt, đặc biệt là nhữngsinh viên nghiên cứu về ngôn ngữ có được cái nhìn toàn diện hơn về bức tranh ngônngữ của người Việt trên bình diện nghĩa của từ)
Trang 12Với những ý nghĩa trên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề Đặc điểm ngữ nghĩa
của từ ngữ trong ca dao tình yêu người Việt làm đề tài nghiên cứu của mình.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là tập trung tìm hiểu nghĩa chuyển, ý nghĩabiểu trưng, cơ chế tạo nghĩa biểu trưng của từ ngữ ở trường nghĩa chỉ thực vật vàvật thể nhân tạo trong ca dao tình yêu người Việt Qua đó, luận án sẽ chỉ ra nhữngnét đặc trưng trong bức tranh ngữ nghĩa của từ ngữ và những đặc trưng tư duy củangười Việt xưa về tình yêu trong ca dao tình yêu người Việt Đồng thời, luận áncũng muốn làm rõ những điểm tương đồng và sự phái sinh của các nghĩa biểu trưng
mà từ ngữ trong hai trường nghĩa tiêu biểu mang lại trên cơ sở các nghĩa biểu trưng
được khái quát trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan vấn đề nghiên cứu, xây dựng những cơ sở lí luận có liên quan đến đề tàiluận án như các nghiên cứu về nghĩa của từ, sự chuyển nghĩa, trường nghĩa, trường
nghĩa “thực vật”, trường nghĩa “vật thể nhân tạo” và các nghiên cứu về nghĩa biểu trưng
- Thống kê, xác lập được hệ thống các tiểu trường, các nhóm từ thuộc hai trường nghĩa chỉ “thực vật” và “vật thể nhân tạo”
- Phân tích ngữ nghĩa của từ, sự chuyển trường của từ cũng như nghĩa biểu trưngcủa các từ ngữ chỉ “thực vật” và “vật thể nhân tạo” tiêu biểu trong ca dao tình yêu người Việt
- Chỉ ra được đặc trưng văn hóa của dân tộc trong việc sử dụng từ ngữ chỉ thực vật,vật thể nhân tạo để biểu trưng cho một số vấn đề trong ca dao tình yêu Trên cơ sở
các nghĩa biểu trưng được nêu trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, chúng tôi
soi chiếu vào hệ thống các nghĩa biểu trưng có được trong CDTY người Việt Qua
đó, làm rõ điểm tương đồng cũng như sự phái sinh các nghĩa biểu trưng trên cơ sởcác mẫu gốc Đồng thời, các kết quả sẽ góp phần khẳng định về mối quan hệ giữangôn ngữ, tư duy và văn hóa của dân tộc Việt Nam
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Với số lượng khảo sát là 6102 lời CDTY trên tổng số 11821 lời ca dao trong Kho tàng ca dao người Việt, chúng tôi tập trung nghiên cứu ngữ nghĩa của từ ngữ thuộc hai
trường nghĩa “thực vật” (là đại diện điển hình cho nhóm từ ngữ chỉ thế giới tự nhiên) vàtrường nghĩa chỉ “vật thể nhân tạo” Các từ ngữ chỉ thế giới tự nhiên vô cùng phong phú.Trong đó, các từ ngữ chỉ TV là nhiều nhất nên chúng tôi chọn để nghiên cứu như một đạidiện của các từ ngữ chỉ giới tự nhiên được đặt trong tương quan với các từ ngữ chỉ VTNT.Vấn đề nghiên cứu của đề tài là ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ TV và VTNT trong CDTY ngườiViệt Ngữ nghĩa của từ ngữ là một phạm trù rất rộng với nhiều vấn đề khác nhau Tuynhiên, các từ trong CDTY được dùng nhiều với nghĩa chuyển, những ý nghĩa ấy đã vượtqua khỏi giới hạn nghĩa thông thường để biểu trưng cho những ý nghĩa nào đó trong tươngquan với văn hóa của đời sống xã hội Luận án không hệ thống hóa các loại ngữ vì nó quáphong phú Trong quá trình phân tích ngữ nghĩa của từ, chúng tôi luôn đặt từ trong các ngữ
để làm rõ nghĩa của chúng Cũng trong các ngữ, từ mới thể hiện được hết các ý nghĩa.Trọng tâm của luận án là tìm hiểu về sự CN, YNBT của các từ chỉ “thực vật” và “vật thểnhân tạo” được đặt trong mối quan hệ với các từ khác trong các ngữ với hi vọng làm rõmột phương diện ngữ nghĩa của từ ngữ trong CDTY người Việt
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngữ liệu được chọn nghiên cứu là các lời CDTY trong Kho tàng ca dao người
Việt (do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật làm chủ biên), NXB Khoa học xã hội
năm 1998 Sự khảo sát và phân tích sẽ tập trung vào các từ ngữ chỉ các loại thực vật,vật thể nhân tạo xuất hiện trong CDTY người Việt
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phương pháp và thủ phápnghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp chính để giải quyết các vấn đề của luận án Từ nhữngnguồn ngữ liệu đã thu thập, chúng tôi tiến hành phân tích miêu tả đặc điểm ngữnghĩa và nghĩa biểu trưng của các từ ngữ tiêu biểu thuộc trường nghĩa “TV” và
“VTNT” trong CDTY người Việt
Trang 144.2 Phương pháp phân tích ngữ nghĩa
Phương pháp phân tích ngữ nghĩa là phương pháp dùng để phân tích mối quan
hệ bình diện hệ thống – cấu trúc và bình diện hoạt động, chỉ ra sự khác biệt giữanghĩa bản thể và nghĩa liên hội, nghĩa sự vật – logic và nghĩa biểu trưng, sự biến đổi
ý nghĩa theo cả trục đồng đại và lịch đại Khi xem xét nghĩa biểu trưng trong CDTYcần so sánh đối chiếu các yếu tố trên trục hệ hình để thấy rõ hướng nghĩa biểu trưngcủa từng nhóm từ ngữ dựa trên những đặc điểm tương đồng và khác biệt
4.3 Thủ pháp phân tích ngữ cảnh
Đây là thủ pháp nhằm chỉ ra ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ Xem xét
từ ngữ trong ca dao tình yêu cần quan tâm đến các yếu tố ngôn ngữ nằm trong vănbản mà từ ngữ được xét Đó là các yếu tố thuộc về ngôn cảnh tình huống Ngôncảnh tình huống là thế giới xã hội và tâm lí mà trong đó, ở một thời điểm nhất địnhngười ta sử dụng ngôn ngữ Đồng thời, khi xem xét đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữcũng cần chú ý đến ngữ cảnh văn hóa Đó là những tiền ước và tri thức nền Tiềnước chính là những hiểu biết chung về lịch sử, văn hóa, tập quán,… mà người giaotiếp cần có được Tri thức nền là sự hiểu biết và khả năng cảm nhận các hiện tượngvăn hóa của cả hai bên giao tiếp Nó được coi là yếu tố không lời của quá trình giaotiếp, chúng quện vào nhau trong văn bản của một tác phẩm ngôn ngữ Khi phân tíchngữ nghĩa của từ ngữ trong CDTY, chúng tôi xem xét đến cả ngữ cảnh tình huống
và ngữ cảnh văn hóa Bởi nghĩa của từ đặc biệt là nghĩa biểu trưng chịu sự chi phốirất lớn của ngữ cảnh
4.4 Thủ pháp thống kê
Thủ pháp này nhằm xác định số lượng lời và lượt cũng như và tỉ lệ các từtrong mỗi trường nghĩa, từ đó có thể xác lập được các tiểu trường trong các trườngnghĩa Bên cạnh đó, thủ pháp này còn dùng để thống kê các từ ngữ được dùng vớinghĩa gốc, nghĩa chuyển, để từ đó xác lập YNBT và mối quan hệ với các loại ýnghĩa đó
Ngoài các phương pháp kể trên, chúng tôi còn sử dụng các phương phápnghiên cứu ngôn ngữ học khác như phương pháp nghiên cứu trường hợp, phươngpháp phân tích thành tố nghĩa…
Trang 155 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
5.1 Ý nghĩa lí luận
Với đề tài này, chúng tôi cho rằng kết quả đạt được sẽ góp phần làm sâu sắc hơn
về tính hệ thống cấu trúc, tính tầng bậc và tính giao thoa trong ngôn ngữ Do đó, luận
án góp phần vào việc nghiên cứu lí thuyết về trường nghĩa, nghĩa chuyển, chuyểntrường, mối quan hệ giữa nghĩa của từ và YNBT, những giá trị văn hóa trong tiếngViệt Đồng thời giúp cho những nghiên cứu tiếp theo có thêm những cơ sở lý thuyết vàthực tiễn trong việc đi sâu hơn nghiên cứu trường nghĩa nói riêng và ngữ nghĩa của từtiếng Việt nói chung cũng như mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu mà luận án mang lại có thể sử dụng như một tài liệu phục
vụ cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ và văn học trong nhàtrường Những kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm rõ thêm một đườnghướng nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cungcấp cho người làm công tác giảng dạy thêm một công cụ chiếm lĩnh văn chương từphương diện ngôn ngữ Đồng thời, những kết quả này còn được sử dụng để nghiêncứu về văn hóa cũng như làm sáng rõ các đặc trưng văn hóa của người Việt xưatrong sự nhận thức về tình yêu và cuộc sống Các kết quả nghiên cứu có thể phục vụcho việc biên soạn từ điển về nghĩa biểu trưng trong kho tàng ca dao Việt Nam
6 Những đóng góp mới của luận án
- Luận án đã hệ thống hóa được các nhóm từ cơ bản, điển hình trong CDTYngười Việt Từ đó, sẽ cho người đọc thấy được một bức tranh khái quát về hệ thốngcác từ ngữ trong loại hình CDTY của người Việt
- Luận án cũng xác lập và phân tích được nghĩa gốc, nghĩa chuyển, chỉ rađược cơ chế CN của các từ ngữ tiêu biểu mang tính đại diện cho hệ thống các từngữ trong CDTY người Việt
- Trên cơ sở phân tích đặc điểm nghĩa của từ về các phương diện nghĩa gốc,nghĩa chuyển, luận án cũng chỉ ra được cơ chế tạo nghĩa biểu trưng, YNBT của các
từ ngữ tiêu biểu trong nhóm từ chỉ TV và VTNT Những phân tích này cũng gópphần làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ - văn hóa và tư duy
Trang 167 Bố cục luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận án gồm 3 chương
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết
Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ thực vật trong ca dao tình yêu người Việt
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ vật thể nhân tạo trong ca dao tình yêu người Việt
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Dẫn nhập
Nghĩa của từ và sự chuyển biến ý nghĩa của từ là một trong các vấn đề cơbản của ngôn ngữ học Trong chương này, luận án sẽ điểm lại các xu hướng cũngnhư các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, từ đó xác định cơ sở lí luận
có tính đường hướng cho đề tài
1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ và nghĩa của từ
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu về từ và nghĩa của từ trên thế giới
Có thể nói rằng từ, nghĩa của từ từ lâu đã trở thành vấn đề trọng tâm của ngônngữ học nói chung và ngữ nghĩa học nói riêng Từ và nghĩa của từ chính là một bộphận quan trọng của ngữ nghĩa học Ngữ nghĩa học với tư cách là một bộ môn khoahọc độc lập được hình thành vào khoảng cuối thế kỉ XIX được đánh dấu bằng công
trình của M Bréal – Essai de Sémantique (1877) Nhưng có thể thấy rằng, sự quan
tâm đến nghĩa của ngôn ngữ không phải chỉ đến cuối thế kỉ XIX mới xuất hiện màđược bắt đầu từ rất sớm và kéo dài từ thời kì cổ đại cho đến nay với nhiều xu hướngTrong thời kì Cổ Trung đại, từ cũng như ý nghĩa của từ đã trở thành một vấn
đề được quan tâm đặc biệt Trong thời kì cổ đại, ngôn ngữ học, trong đó có vấn đề
về nghĩa khá phát triển ở Ấn Độ và các nhà khoa học châu Âu: Platon (429 – 347),
Aristole (384 – 322 trước CN) qua các công trình như Giải thích (On Interpretation), Tu từ học (Rhetoric), Thi học (Poetics) Các cuộc tranh luận về sự
tương ứng giữa tên gọi với sự vật được biểu thị kéo dài từ thời kì cổ đại đến thời kìtrung đại Giai đoạn tiếp theo chính là thời kì Phục hưng, sự phát triển mối quan tâm
về nghĩa tiếp tục trong các tác phẩm thời kì này, đặc biệt là trong thế kỉ Ánh sáng.Một bước ngoặt quan trọng trong ngôn ngữ học thế kỉ XIX là sự khẳng định và pháttriển của khuynh hướng so sánh - lịch sử, Từ giữa thế kỉ XX cho đến nay, việcnghiên cứu ngữ nghĩa của từ ngữ vẫn diễn ra sôi nổi Sự tranh chấp giữa việc ủng hộ
và phản đối nghiên cứu nghĩa của ngôn ngữ đã nghiêng về việc ủng hộ
Trang 18Nghiên cứu về nghĩa của từ trải qua nhiều giai đoạn khác nhau gắn liền với nhiều
xu hướng và trường phái Từ góc độ ngôn ngữ học cấu trúc, tác giả Lê Quang Thiêmcho rằng vấn đề và sự phát triển nghĩa của từ được chia thành ba thời kì chính gắn liềnvới tên tuổi của các tác giả lớn cùng với những thành tựu nghiên cứu của họ Đó là thời
kì tiền cấu trúc luận, thời kì cấu trúc luận và thời kì hậu cấu trúc luận
Thời kì tiền cấu trúc luận, theo tác giả Lê Quang Thiêm, tác giả người Pháp
Michel Bréal với công trình Essai de Sesmantique (Science des significations) xuất bản
năm 1877 được xem là người đi tiên phong trong nghiên cứu bộ môn khoa học này.Nghiên cứu nghĩa của từ trong giai đoạn này chủ yếu được tiến hành nhằm mục đíchphát hiện ra các quy luật biến đổi nghĩa của từ, trước hết từ góc độ thời gian lịch sử
Năm 1825, cuốn “Semasiology” (ngữ nghĩa học) được ra đời ở Đức, đó là cuốn sách
tập hợp các bài nghiên cứu của tác giả Reizig Berary về ngữ nghĩa Bên cạnh đó, ngữ nghĩagiai đoạn này cũng gắn với tên tuổi nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi như: Agathon Benary,Karl Reisig, Oskar Hey, Friedrich Haase, … Nghiên cứu của họ chủ yếu tập trung
vào vấn đề thay đổi nghĩa, những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi nghĩa trên quanđiểm lịch sử [113, 14] Đặc biệt, tác giả Reisig trong công trình của mình nghiên cứu vềtiếng Latinh (1839) đã cho rằng đối tượng của khoa học mà ông gọi là Semansiologycần phải là những quy luật biến đổi nghĩa của từ Có thể nói, giai đoạn này trong nghiêncứu nghĩa của từ là giai đoạn nghiên cứu các quy luật biến đổi nghĩa từ vựng
Tác giả đặt nền móng cho ngữ nghĩa học là nhà ngôn ngữ học người AnhBenjamin Humphrey Smart Ông được xem là người có đóng góp to lớn tới khoa họcngữ nghĩa với một số bài nghiên cứu về khoa học này Năm 1850, tác giả Horne Tooke
đã xuất bản cuốn sách “Metaphisical Etymology” Và tác giả đã dùng từ Semasiology
đặt tên cho bộ môn này Nghiên cứu về nghĩa và sự CN giai đoạn này cũng gắn liền vớinhiều tác giả như: Ch Ogden, V Lady Welly, I Richard, Peirce,… Các tác giả đã lígiải cặn kẽ về nghĩa cũng như sự thay đổi nghĩa theo quan điểm lịch sử Đồng thời, họcũng phân tích sâu hơn và đưa ra các luận giải về các bình diện TH học [113, 14]
Cạnh đó, một trong những đóng góp lớn cho việc hình thành ngữ nghĩa họctrong thời gian này là công trình của V.F Humboldt (1767 – 1835) Dưới cách nhìnmới, V.F Humboldt đặt lại vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy Tư
Trang 19tưởng này của V.F Humboldt được mở ra tiếp tục trong các giả thuyết của Sapir –Whorf (The Sapir – Whorf Hypothesis) và nhiều trường phái hậu V.F Humboldt ởthế kỉ XX Thế giới quan thể hiện trong cấu trúc ngôn ngữ được gọi là bức tranhngôn ngữ về thế giới Quan niệm bức tranh ngôn ngữ về thế giới của V.F.Humboldt
và những người kế tục tiếp tục trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng củamiêu tả ngữ nghĩa học cuối thế kỉ XX
Ngôn ngữ học cấu trúc đánh dấu sự trở lại vào những năm 20 của thế kỉ XX vớicuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của F de Saussure (1916) Giai đoạn này córất nhiều các công trình nghiên cứu nổi tiếng của giả G Stern, S Uilimann, A.Schaff… Nghiên cứu ngữ nghĩa đánh một dấu mốc quan trọng xác lập vị trí của mìnhvới các công trình của Bloomfield và Chomsky Hai tác giả này đã tạo nên ảnh hưởngquan trọng trong khuôn mẫu ở một ngôn ngữ học không cần ý nghĩa Thời kì này, ngữnghĩa còn đi cùng với tâm lí thực nghiệm và logic toán Nghiên cứu ngữ nghĩa gắn liềnvới các nhà nghiên cứu như: A Taski, B Russell G Frege, R Montague [113, 15]
Thời kì tiền cấu trúc luận và cấu trúc luận, các nghiên cứu đa số đều tập trungvào vấn đề ngữ nghĩa và sự biến đổi ngữ nghĩa Các nghiên cứu thời kì này xem xétngữ nghĩa của từ tách rời, biệt lập, không chú ý đến văn cảnh, ngữ cảnh Dù ra đờisau, với cái nhìn toàn diện và tích cực hơn về nghĩa của từ trong cấu trúc hệ thốngsong các luận điểm mà họ đưa ra lại chịu nhiều ảnh hưởng của cấu trúc luận thuầntúy trong khi đó hoạt động hành chức lại là nhân tố đáng chú trọng
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trênthế giới bàn về sự phát triển ngữ nghĩa của từ Trước hết, phải kể đến tác giả người
Anh Aitchison với cuốn Language change: Progress or Decay? [138] và tác giả Crowley với cuốn An Introduction to Historical Linguistics [1402], ngoài ra còn có công trình nghiên cứu An Introduction to Language [155] của tác giả Fromkin…
Qua các nghiên cứu này, các tác giả đặc biệt quan tâm đến sự phát triển CN của từdưới ảnh hưởng của tâm lí xã hội Tác giả Lê Thị Thanh Tâm trong luận án củamình [105] đã chỉ ra rằng việc nghiên cứu sự phát triển nghĩa của từ của các nhàngôn ngữ học nước ngoài có thể tạm chia làm ba khuynh hướng chính:
Trang 20Thứ nhất là nghiên cứu theo logic học mà Paul là người khởi xướng với bảngphân loại logic học các hiện tượng phát triển nghĩa, trong đó chú ý so sánh nội dungkhái niệm trước và sau khi biến đổi, đồng thời nêu lên mối quan hệ logic giữachúng; Thứ hai là nghiên cứu theo tâm lí học mà đại diện là Wundt với sự giải thíchhiện tượng phát triển nghĩa căn cứ vào đặc trưng tâm lí với phương châm “việcnghiên cứu sự CN cuối cùng phải vĩnh viễn quy thành nghiên cứu tâm lí”; Thứ ba làkhuynh hướng nghiên cứu theo lịch sử do Wellander đứng đầu với quan niệm: “sự
CN là một quá trình lịch sử, chỉ khi nào nó được chứng thực trong thực tế trưởngthành của nó, quá trình này mới được trưởng thành một cách vừa ý” Các nhànghiên cứu theo khuynh hướng này đã trả lời câu hỏi ý nghĩa của từ đã nảy sinh nhưthế nào trong lịch sử Họ cho rằng kết quả của quá trình CN được bảo lưu trong ýnghĩa mới của từ [dt 105, 3] Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng CN theo các nhànghiên cứu này là do sự biến đổi lịch sử xã hội Theo đó, tìm nghĩa mới của từ ở
những giai đoạn khác nhau của lịch sử là cách mà các tác giả thực hiện “sự chuyển
hóa ý nghĩa là một quá trình lịch sử, chỉ khi nào nó được chứng thực trong quá trình thực tế trưởng thành của nó, quá trình này mới được trưởng thành một cách vừa ý” [dt 105, tr.5] Các tác giả cũng đưa ra các nhận định khác nhau về các hình
thức phát triển nghĩa của từ Tuy nhiên, theo nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ, đại
diện là nhà ngôn ngữ học Crowley trong quyển An Introduction to Historical
Linguistics cho rằng: có bốn hình thức phát triển nghĩa: Mở rộng (broadening), thu
hẹp (narrowing), chia nhánh (bifurcation), và chuyển đổi (shift) trong tiếng Anh[142, 149]
Trong lịch sử ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu cố gắng tập hợp và hệ thống hóanhững nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự phát triển nghĩa của từ Theo
Aitchison, có hai nguyên nhân chính: “nguyên nhân chủ quan (do đặc điểm thuộc về bản chất của ngôn ngữ và tâm lí của người sử dụng) và nguyên nhân khách quan (yếu tố xã hội)” [138, 106] F de Sausure nhấn mạnh: “phong tục của một dân tộc có tác động mạnh đến ngôn ngữ và mặt khác, trong chừng mực khá quan trọng, chính ngôn ngữ làm nên dân tộc” [151, 106] Theo đó, nhiều nhà ngôn ngữ sau này cùng có quan điểm
Trang 21với Saussure và Aitchison Ngược lại, Fromkin và một số tác giả khác trong cuốn An Introduction to Language cho rằng: “có hai nguyên nhân chính cho hiện tượng này là
do sự tái cấu trúc ngôn ngữ trong quá trình học tiếng của trẻ và sự thay đổi tâm sinh lí của người học qua nhiều thế hệ” [153, 366] Không đồng quan điểm trên, Lyons cho
rằng sự thay đổi xã hội là nguyên nhân chủ yếu của thay đổi trong ngôn ngữ [156, 213].Tác giả Lê Quang Thiêm [114] đã tổng hợp về các vấn đề nghiên cứu về nghĩa của từtrên thế giới Tác giả chỉ ra rằng trong lịch sử ngữ nghĩa học từ khi ra đời, kể từ khi M.Bréal đến nay, sự chuyển biến nghĩa của từ vẫn là một chủ đề quan trọng được nhiều tácgiả nghiên cứu Có thể kể ra một vài quan niệm về vấn đề này như: quan niệm của G
Stern, của S Ullmann Trong tác phẩm Nghĩa và sự biến đổi nghĩa (Meaning of Meaning)
với quan niệm “chúng ta có thể nghiên cứu nghĩa với sự thừa nhận nội dung tư tưởng của
nó và những yếu tố khác nhau tạo thành nội dung của nghĩa” Stern cũng đã chia ra 7 lớphạng biến đổi nghĩa, 5 nguyên nhân và điều kiện biến đổi nghĩa Các lớp hạng biến đổinghĩa bao gồm: 1 Sự thay thế (subsitution), 2 Sự loại suy (analogy), 3 Rút ngắn(shortening), 4 Định danh (nomination), 5 Chuyển đổi (transfer – regular), 6 Sự đổi trật
tự (permutation), 7 Sự tương xứng (adequation) Tác giả cũng cho rằng trong 7 lớp trên thì
có 1 lớp thuộc về ngoài ngôn ngữ (external) Còn 6 lớp còn lại là trong ngôn ngữ (internal),
ở đó sự CN xảy ra do hoạt động nói năng, nó được hình thành như một sản phẩm của sựtổng hợp lời nói Trong 6 nguyên nhân và điều kiện CN, tác giả cũng phân biệt nguyênnhân ngôn ngữ, nguyên nhân phi ngôn ngữ, nguyên nhân tâm lí xã hội Tròn 20 năm saucông trình của Stern, chúng ta bắt gặp một quan niệm của một tác giả ngữ nghĩa học khá
quen thuộc: Stephen Ulmannn trong tác phẩm “Những nguyên lí của ngữ nghĩa học”
(1951) Trong tác phẩm, ông đã nêu ra các nhân tố và nguyên nhân của sự chuyển biến ýnghĩa Theo Ulmann, đó là 6 nhân tố sau: cách gián đoạn di truyền (discontinuous) từ thế
hệ này qua thế hệ khác, 2 Sự mơ hồ trong ý nghĩa (vagueness), 3 Mất nguồn đối (loss ofmotivation), 4 Tồn tại đa nghĩa – một yếu tố linh hoạt (flexibility) trong ngôn ngữ, 5 Văncảnh tối nghĩa (ambiguous contexts) và 6 Nhân tố quan trọng nhất là cấu trúc của vốn từ(structure of the vocabulary) Ulmann nêu ra 4 nguyên nhân chính và các tiểu nguyên nhân
ở trong đó Cuối cùng, tác giả cũng chỉ ra đặc điểm bản chất và hậu quả của sự chuyểnbiến ý nghĩa Tác giả cũng phân tích về bản chất của sự CN [114] Ngoài ra, chúng ta còn
Trang 22bắt gặp cách phân loại sự thay đổi ý nghĩa của V A Zvegincev, Meillet, Sperber,…Cần nhấn mạnh một điều rằng, trong lịch sử nghiên cứu, nguyên nhân của sự CN cólúc này hoặc lúc khác nhấn mạnh tách rời hai nhân tố biểu cảm và hiệu quả Thời kìngữ nghĩa học mới ra đời (tạm gọi là thời tiền cấu trúc luận) thường nhấn mạnh vàonhân tố biểu cảm Thời kì cấu trúc luận lại nhấn mạnh vào nhân tố hiệu quả.
Một xu hướng khác trong nghiên cứu từ ngữ là nghiên cứu về vấn đề trường
từ vựng – ngữ nghĩa, đó là một trong những lí thuyết ngôn ngữ hết sức quan trọngcủa ngôn ngữ học, được các nhà ngôn ngữ đề cập đến từ rất sớm Lí thuyết nàyđược ra đời trên cơ sở các luận điểm về ngôn ngữ học được hình thành từ trước đó
Công trình đầu tiên trên thế giới theo hướng này là Kho từ ngữ tiếng Anh
(Thésaurus of English Words and Phrases) của P A Roget Đây là công trình nói
về cách tiếp cận nghĩa từ vựng ở trường – tầng nghĩa vĩ mô Tiếp sau Roget, cũng ởAnh là hai tác giả C K Ogden và I A Richards Hai tác giả có công trình Ngữnghĩa học lớn trước đó đã tuyển chọn, tập hợp 1993 từ được gọi là từ cơ sở trong
cuốn Tiếng Anh cơ sở vào năm 1928 Và nói đến trường nghĩa không thể không nói
đến giả thuyết về “tính tương đối ngôn ngữ” do Sapir (1921) và Whorf (1956) khởixướng Sapir và Whorf đã làm sáng tỏ quan niệm coi ngôn ngữ là cái phản ánh tinhthần của một dân tộc nào đó Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống từ vựng riêng Hệthống từ vựng này phản ánh cách chia thực tế khách quan và phạm trù hóa hiện thựcriêng của dân tộc ngay trong bản thân nghĩa của các từ Năm 1986, nhà nghiên cứuM.Pokrovxkij đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu từ vựng một cách hệ thống Ông chia cáctrường trên cơ sở sử dụng đồng thời cả ba tiêu chí: 1 Nội dung (các từ có quan hệvới cùng “một phạm vi biểu tượng” theo lời của M.Pokrovxkij), 2 Sự đồng nhất, 3.Quan hệ hình thái học Từ những năm 90 của thế kỉ XIX ông đã có sự phân chiatrường dựa trên ba tiêu chí kể trên Nhưng lí thuyết về trường ngữ nghĩa chỉ thực sựđược nghiên cứu vào những năm 20 của thế kỉ thứ XX, bắt nguồn từ những lí thuyếtngôn ngữ học của V.F Humboldt và F de Saussure Các nhà ngôn ngữ khác như
G Ipsen (1924), A Jolles (1934), W Porzig (1934), Talmy (1981), Langacker(1987) và Lakoff (1987)… Đặc biệt I Trier (1934) được coi là người mở ra một giaiđoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học I Trier là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
Trang 23“trường nghĩa (semantic field)” trong ngôn ngữ học Tác giả không dùng khái niệmtrường ngữ nghĩa mà chỉ nói tới trường khái niệm và trường từ vựng Lí thuyếttrường nghĩa của ông thường được coi là trường đối vị (dọc).
Theo đánh giá của tác giả Đỗ Hữu Châu thì những giá trị lí thuyết “trường”của Trier cũng chỉ dừng lại ở mức độ gợi ý Điều này xuất phát từ nguyên nhântrong đó có việc Trier không phân biệt ý nghĩa với khái niệm, các lớp ý nghĩa, từvới khái niệm và quan niệm quá dứt khoát về ranh giới của trường khái niệm và các
“vùng” khái niệm của từ với nhau Đặc biệt là cách sử dụng các tư liệu cổ thiếu thậntrọng để đối chiếu hai trạng thái khác nhau của cùng một trường khiến cho nhữngkết luận của Trier dễ bị phản bác và phương pháp của ông không được vận dụng
một cách có hiệu quả Tuy nhiên, với những nghiên cứu của mình, Trier đã “mở ra
một giai đoạn mới trong lịch sử ngữ nghĩa học” Sau I Trier, một số nhà ngôn ngữ
khác như Weisgerber, John Lyons cũng đã có những quan niệm bổ sung cho lí
thuyết trường John Lyons trong cuốn Nhập môn ngôn ngữ học lí thuyết đã đưa ra được một định nghĩa về ý nghĩa của từ (sense) có phần khoa học hơn: “cái mà ta
cho ta là ý nghĩa của một đơn vị từ vựng là toàn bộ tập hợp các quan hệ ý nghĩa giữa nó với các đơn vị khác trong từ vựng” [60, 672] Trên cơ sở quan niệm này,
Lyons đã miêu tả cấu trúc ngữ nghĩa của các từ trong hệ thống từ vựng bằng cácquan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, đa nghĩa,… Một số nhà ngôn ngữ học saunày đã phân chia hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ thành trường nghĩa ở nhiềucấp độ lớn nhỏ khác nhau dựa vào nét nghĩa phạm trù chung nhất đến các nét nghĩaphạm trù nhỏ hơn rồi các nét nghĩa loại, hạng và nét nghĩa riêng biệt Nhìn chung,khi nghiên cứu về trường nghĩa, các nhà ngôn ngữ học đều dựa vào các quan hệ dọccủa các đơn vị ngôn ngữ
W Porzig – nhà ngôn ngữ học người Đức đã phát triển một ý tưởng lí thuyết
trường nghĩa được các học giả khác gọi là trường cú pháp “In contrast with Trier’s
theory, another German linguist Porzig developed a notion of semantic field which
is called syntactic field by some scholars” Cái cốt lõi của lí thuyết trường nghĩa cú
pháp là các thành phần trong một ngữ đoạn không chỉ có mối quan hệ về ngữ pháp
mà còn có quan hệ về ngữ nghĩa
Trang 24Những lí thuyết về trường nghĩa của J Trier và W Porzig là những lí thuyết
cơ sở, nền tảng Những lí thuyết này có những điểm đồng nhất và khác biệt nhấtđịnh Kể từ khi công trình đầu tiên đề cập trực tiếp đến lí thuyết trường nghĩa của
M P Roget ra đời đến nay đã trải qua một thế kỉ rưỡi Nhưng hầu như nhữngnghiên cứu về trường chỉ thuộc bình diện miêu tả đồng đại
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu về từ và nghĩa của từ trong Việt ngữ học
Trải qua ba thời kì là tiền cấu trúc luận, cấu trúc luận, hậu cấu trúc luận, việc nghiêncứu ngữ nghĩa của ngôn ngữ đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm từ cuối thế
kỉ XIX đến nay Ở Việt Nam từ năm 1954, từ vựng học đã trở thành vấn đề rất được quan
tâm nghiên cứu, các giáo trình nghiên cứu về vấn đề này lần lượt ra đời như Từ vựng học tiếng Việt hiện đại và Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Văn Tu, Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng,… của Đỗ Hữu Châu, Từ năm 1978 trở đi,
một loạt các cuốn sách, các luận án phó tiến sĩ nghiên cứu về từ vựng tiếng Việt ra đời củacác tác giả như: Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Đức Tồn,
Lê Quang Thiêm, Hà Quang Năng, Phạm Hùng Việt, Đỗ Việt Hùng,…
Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới,
ở Việt Nam, vấn đề nghĩa của TH ngôn ngữ được rất nhiều các tác giả quan tâm Tác giả
Nguyễn Văn Tu trong cuốn Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại đã hệ thống các quan niệm
khác nhau về nghĩa [125, 93 - 97] Theo đó, tác giả đã chia các quan niệm khác nhau nàytheo 7 khuynh hướng chính (1) Nghĩa là đối tượng: Theo quan điểm này thì mối quan hệgiữa từ và đối tượng là rất khăng khít Mỗi từ phải có một nghĩa và mỗi sự vật phải có mộttên; (2) Nghĩa là biểu tượng: Nghĩa của từ không quan hệ trực tiếp với đối tượng mà chính
là biểu tượng của nó Nghĩa được coi một cách máy móc là tổng hợp những biểu niệm; (3)Nghĩa của từ là khái niệm; (4) Nghĩa của từ là quan hệ giữa TH và đối tượng; (5) Nghĩa làchức năng của TH – từ; (6) Nghĩa của từ là bất biến thể của thông tin; (7) Nghĩa là phảnánh hiện thực: Nghĩa của từ được coi là sự phản ánh của vật khách quan vào trong ý thức
của người ta Tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã khẳng định: “Cái gọi là nghĩa của từ không phải là một khối phân hóa mà được xem là một “vi
hệ thống” chia thành nhiều lớp nghĩa Thứ nhất là lớp nghĩa bao gồm những yếu tố cố định, chung cho mọi thành viên trong xã hội và đã đi vào mạng quan hệ ngữ nghĩa của từ
Trang 25vựng tức là đã cấu trúc hóa Lớp nghĩa này lại được chia thành nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp Thứ hai là lớp nghĩa xã hội – tâm lí (còn gọi là nghĩa liên hội, nghĩa liên tưởng) là những nghĩa chưa cố định, mang tính chất lâm thời, cá nhân” [19, 96] Tác giả Lê Quang Thiêm trong cuốn Sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt từ
1945 đến 2005 [114] đã phân tách hệ thống nghĩa của từ thành những bộ phận hợp thành có thứ bậc rõ ràng rồi tiến hành mô tả phân tích chúng một cách cụ thể Theo đó,
“nghĩa từ vựng của từ là một hệ thống, hệ thống này gồm hai kiểu: hệ thống nghĩa của
từ một nghĩa, hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa Nghĩa (meaning) của từ là một tồn tại, nhưng không phải là đơn nhất mà có thể chia ra các bộ phận hợp thành là nét nghĩa (semantic feature), “khi nét nghĩa tham gia tạo thành hệ thống nghĩa thì nó là thành tố tạo lập nghĩa Nét nghĩa kết hợp với nhau để tạo thành nghĩa như là một hệ thống Cấp
hệ này là hệ thống nghĩa của từ đơn nghĩa” Trong hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa thì
“ngoài hệ thống của từng nghĩa riêng trong từ lại còn có hệ thống các nghĩa mà mỗi nghĩa là thành tố tạo thành hệ thống nghĩa của từ đa nghĩa” Các nghĩa của một từ đa
nghĩa tạo thành một cấp hệ cao hơn – tức là nghĩa là thành tố Tác giả gọi cấp hệ này là
hệ thống cấp 2 để phân biệt với hệ thống cấp 1 là hệ thống nghĩa của từ đơn nghĩa mànét nghĩa là thành tố Nét nghĩa chính là yếu tố cơ sở của nghĩa từ vựng Như vậy nghĩacủa từ và nét nghĩa là những thành tố của các cấp hệ khác nhau như tầng nghĩa, trườngnghĩa Tổ hợp nét nghĩa tạo thành nghĩa Đây chính là điểm gặp gỡ trong tư tưởng củanhiều nhà nghiên cứu” [114, 11]
Như vậy, có thể thấy rằng xung quanh vấn đề nghĩa của từ còn khá nhiều quan niệm
và các cách biện giải khác nhau Do vậy, khi nghiên cứu nghĩa của từ cần phải có nhữngquan điểm chung để có sự nhất quán trong việc xem xét và giải quyết vấn đề Nói đếnnghĩa của từ (thực từ) như một TH, trong ngôn ngữ học, thường người ta muốn nói đếnmối liên hệ (quan hệ) tồn tại trong ý thức của chúng ta giữa TH – từ với cái mà nó biểu thị.Nếu mối liên hệ này là giữa vỏ ngữ âm của TH – từ với cái phản ánh của sự vật trong ý
thức của chúng ta thì đó là nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu – significative meaning) Nếu
đây là mối liên hệ giữa một bên là vỏ ngữ âm và nghĩa biểu niệm (nghĩa sở biểu) với một
bên là sự vật thì được gọi là nghĩa biểu vật (denotative meaning) Trong từ vựng ngữ nghĩa
học, người ta thường chỉ bàn đến nghĩa biểu niệm và gọi tắt là nghĩa của từ
Trang 26Nghiên cứu ngữ nghĩa của từ, ở Việt Nam còn có một hướng nghiên cứu nữa, đó lànghiên cứu về sự phát triển ngữ nghĩa Đó chính là kết quả của quá trình CN của từ Đây lànguyên nhân dẫn đến hiện tượng nhiều nghĩa của từ Theo chúng tôi, hầu hết các công trìnhnghiên cứu về sự phát triển nghĩa của từ đều bàn đến các nội dung như: hướng CN, nguyênnhân CN, các phương thức phát triển nghĩa, mối quan hệ giữa nghĩa cũ và nghĩa mới Chođến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới bàn về
sự phát triển ngữ nghĩa của từ Ở Việt Nam, xu hướng này đang phát triển mạnh mẽ và trởthành nhiều đề tài trong các công trình khoa học Ở trong nước cũng có rất nhiều nhà khoa
học nghiên cứu về sự phát triển nghĩa của từ Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Giáo trình ngôn ngữ học [36] và Từ vựng học tiếng Việt [38] đã trình bày khá chi tiết về hiện
tượng phát triển ngữ nghĩa của từ, ông gọi đó là hiện tượng chuyển đổi nghĩa của từ Tácgiả đã trình bày cụ thể và chi tiết về sự phát triển nghĩa của từ ở các nội dung: nguyên nhâncủa sự CN, các hướng CN, kết quả của sự CN Ở Việt Nam có thể kể đến các công trìnhnghiên cứu về vấn đề sự phát triển ngữ nghĩa như [9], [52], [53],…
Ở Việt Nam, khi nghiên cứu về sự phát triển nghĩa của từ, các tác giả thường chú
ý đến các vấn đề sau:
Thứ nhất là: Khi nghiên cứu về sự phát triển nghĩa của từ trong các ngôn ngữ,
các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước đặc biệt chú ý tới các phương thức CN
của từ Đại đa số các nhà ngôn ngữ đều chỉ ra rằng có hai phương thức CN dựa trên
quan hệ liên tưởng tương đồng và liên tưởng tương cận đó là phương thức CN ẩn dụ
và phương thức CN hoán dụ
Thứ hai là: Khi bàn về sự phát triển nghĩa của từ, các nhà khoa học cũng đề
cập đến vấn đề nguyên nhân của sự phát triển nghĩa Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Hữu
Châu cho rằng sự phát triển nghĩa của từ tiếng Việt là do nguyên nhân đơn giảnnhằm đáp ứng nhu cầu tạo thêm từ mới, giải quyết mâu thuẫn giữa một bên là tính
vô hạn của sự vật hiện tượng trong thực tế khách quan với một bên là tính hữu hạncủa các yếu tố ngôn ngữ [19, 98] Tác giả Đỗ Hữu Châu đã bàn đến vấn đề “độnglực thúc đẩy sự CN” Ông có đề cập đến một số trường hợp như: 1 Do bản thân sựthay đổi của sự vật hiện tượng được gọi tên làm cho từ phải thay đổi cấu trúc kháiniệm; 2 Do sự kiêng kị cũng khiến nghĩa của từ biến đổi Song
Trang 27theo tác giả, động lực chủ yếu thúc đẩy sự chuyển đổi ý nghĩa vẫn là những nhu cầu
do giao tiếp đặt ra, có nhu cầu về mặt trí tuệ, có nhu cầu về mặt tu từ Tác giả
Nguyễn Thiện Giáp lại cho rằng CN do nhiều nguyên nhân khác nhau: “do hiện
tượng kiêng kị, do muốn diễn đạt bóng bẩy, hoặc muốn giữ bí mật trong một nhóm người nào đó” [36, 221] Trong nội dung này, tác giả cũng nhấn mạnh: yếu tố tâm lí
xã hội có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thay đổi môi trường của các từ [38, 223].Tác giả Đỗ Việt Hùng khẳng định: “ngoài nguyên nhân đáp ứng nhu cầu gọi tên, sự
CN của từ còn xuất phát từ nguyên nhân người nói muốn làm mới cách diễn đạt củamình” [57, 66]
Sự chuyển biến ý nghĩa của từ thường mang đến những điều độc đáo, nhất làtrong ngôn ngữ văn chương Năm 1990, tác giả Đỗ Hữu Châu đã đề cập đến vấn đềnày với việc nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ Theo đó, ngôn ngữ tự nhiênchưa thực sự là ngôn ngữ của văn học Giữa ngôn ngữ tự nhiên và tác phẩm văn học
có một phương tiện chuyển tiếp đó là các THTM Hai mặt cái biểu đạt và cái đượcbiểu đạt của ngôn ngữ tự nhiên đã trở thành cái biểu đạt của THTM Hay nói cáchkhác, cái ngôn ngữ tự nhiên là ngôn ngữ chất liệu (thuộc bình diện bề mặt) của ngônngữ thực sự của văn học – THTM (ngôn ngữ bề sâu) Và sự CN tất yếu đã xuất hiện
ở đây Đỗ Hữu Châu cũng khẳng định rằng, THTM có tính có lí do bởi chúng đượctạo ra theo một trong hai cách: ẩn dụ hoặc hoán dụ Chính cơ chế ấy giúp giải thíchtại sao THTM ấy lại được biểu đạt bằng hình thức ấy Đồng thời, khi những THTM
có tính ổn định thì ở đó dần hình thành các nghĩa biểu trưng nhất định Quan điểm
đó sau này được rất nhiều nhà nghiên cứu như: Bùi Minh Toán, Nguyễn Thị NgânHoa,… đề cập đến
Hiện nay, trong nghiên cứu ngữ nghĩa, còn xuất hiện xu hướng so sánh nghĩachuyển trong các ngôn ngữ khác nhau Ở Việt Nam, trước hết phải kể đến tác giả LêQuang Thiêm, ông đã tiến hành đối chiếu giữa tiếng Bungari và tiếng Việt Sau này, cóhàng loạt các luận án tiến sĩ nghiên cứu về vấn đề đối chiếu từ ngữ nói chung và sự CNcủa từ nói riêng giữa các ngôn ngữ: Nguyễn Thúy Khanh, Đặng Đức Hoàng,…
Khi nghiên cứu về sự phát triển ngữ nghĩa của từ vựng, hầu hết các nhà nghiêncứu đều cố gắng tìm hiểu, lí giải cách thức, con đường CN trong mỗi ngôn ngữ Các
Trang 28nhà nghiên cứu cho rằng mỗi ngôn ngữ có con đường CN riêng dựa trên sự liêntưởng khác nhau Sự liên tưởng khác nhau ấy là do sự chi phối của nền văn hóa dântộc Điều này rất đúng, bởi ngôn ngữ - văn hóa – tư duy có mối quan hệ hết sức chặtchẽ Vì vậy, hiện tượng CN của từ, một hiện tượng thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóadân tộc là vấn đề đang được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu.
Việc nghiên cứu ngữ nghĩa cũng thường gắn với lí thuyết trường nghĩa Đó làviệc nghiên cứu nghĩa của các từ có liên quan với nhau ở một hay một vài nét nghĩanhất định và các nhà Việt ngữ dùng một thuật ngữ đó là trường nghĩa (trường từvựng – ngữ nghĩa) Ở Việt Nam có khá nhiều các nhà nghiên cứu đề cập đến líthuyết trường nghĩa: Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp,… Ngườigiới thiệu về lí thuyết trường nghĩa đầy đủ, hệ thống nhất là Đỗ Hữu Châu, thôngqua một loạt các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành và các công trình [13], [15],
[16], [19] Tác giả cho rằng “giữa các từ có không ít những sự đồng nhất về hình
thức và về ý nghĩa Căn cứ vào những cái chung giữa các từ, chúng ta sẽ phân lập toàn bộ từ vựng tiếng Việt thành những hệ thống nhỏ hơn và phát hiện ra những quan hệ giữa các từ trong từ vựng” [19, 169] Nhưng hệ thống từ vựng là quá lớn
nên việc tìm ra mối liên hệ nghĩa trực tiếp giữa các từ ngữ được ngẫu nhiên lựa
chọn Bởi vậy, tác giả đã chỉ ra giải pháp:“đặt các từ (nói cho đúng ra là cá ý nghĩa
của từ) vào những hệ thống con thích hợp Nói cách khác, tính hệ thống về ngữ nghĩa của từ vựng thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa trong lòng từ vựng
và quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ riêng lẻ thể hiện qua những tiểu hệ thống ngữ nghĩa chứa chúng” [19, 170] Từ đó có thể thấy, các từ có sự đồng nhất với nhau về
một phạm trù ngữ nghĩa được gọi là một tiểu trường nghĩa Mối quan hệ giữa ýnghĩa của các từ trong trường nghĩa và mối quan hệ giữa các từ khác trường vớinhau là cơ sở nhận diện ra hệ thống ngữ nghĩa từ vựng của một ngôn ngữ
Tác giả Bùi Minh Toán cũng nghiên cứu một cách hệ thống lí thuyết vềtrường nghĩa Ngoài những lí thuyết cơ bản, tác giả còn vận dụng lí thuyết này đểxem xét sự vận động chuyển hóa về nghĩa, trường nghĩa của tiếng Việt trong giaotiếp,…
Trang 291.1.2 Tình hình nghiên cứu về ca dao tình yêu người Việt dưới góc độ ngôn ngữ
Từ góc độ ngôn ngữ, ca dao nói chung và CDTY nói riêng đã được khai thác
ở nhiều phương diện khác nhau: trường nghĩa, hiện tượng nhiều nghĩa, nghệ thuật
ca dao,… [1], [21], [79], [80], [88], [91], [92], [116],… Những nghiên cứu đó đãmang lại nhiều kiến thức ngôn ngữ về ca dao nói chung, tất yếu trong đó một vàikhía cạnh của CDTY cũng được hiện lên rõ nét Một bức tranh tổng quát về ngữnghĩa của từ ngữ trong loại hình này là chưa xuất hiện Mặt khác, khi phân tích từgóc độ này sẽ giúp chúng ta khám phá ra những nét độc đáo về mặt ngữ nghĩa của
từ ngữ trong CDTY
CDTY dưới góc nhìn của các nhà ngôn ngữ được khai thác ở nhiều góc độ
như các biện pháp tu từ được sử dụng trong ca dao: “So sánh và ẩn dụ trong ca dao
trữ tình người Việt” của tác giả Hoàng Kim Ngọc (2004), “Đặc điểm của nghệ thuật so sánh trực tiếp trong CDTY người Việt” của Đỗ Thị Hòa (2000)…; các hành
động, hành vi ngôn ngữ: “Hành vi trách của người Việt trong ca dao trữ tình” của
Phan Thị Việt Anh” (2009), “Hành động hỏi gián tiếp trong ca dao Việt Nam” của
Tô Lan Phương (2011), Hành động hỏi trong ca dao người Việt” của tác giả Hà Thị Hồng Mai (2013), “Hành vi cầu khiến trong ca dao người Việt” của tác giả Nguyễn
Thị Hài (2015), … Nghiên cứu về ngữ nghĩa của từ ngữ trong CDTY được khai
triển trên một số phương diện: “Đặc điểm ngữ pháp – ngữ nghĩa của từ ngữ biểu
thị tâm trạng trong CDTY người Việt” của Lương Thị Bích Nga (2008), “Hiện tượng chuyển di trường nghĩa trong CDTY” của Lê Thị Minh (2011), Với các
công trình nghiên cứu về từ ngữ trong ca dao ở những phạm vi khác nhau đều chothấy những đặc trưng rất riêng của ngôn ngữ trong loại hình văn học dân gian này
Do ảnh hưởng của văn hóa xưa, ngôn ngữ trong ca dao nói về tình yêu thường rất tếnhị, kín đáo được ẩn tàng dưới các biện pháp tu từ và đó là kết quả của rất nhiều từngữ đã CN Đồng thời, một quy luật tất yếu là khi trở thành ngôn ngữ trong văn học,nhiều từ ngữ của ngôn ngữ tự nhiên đã trở thành các THTM Điều đó càng có cơ sởkhẳng định rằng, trong CDTY người Việt, sự CN của từ cũng là điều có tính tất yếu.Nhiều từ ngữ khi CN tiến tới sự ổn định trong sự tương tác với văn hóa đã hìnhthành nên các YNBT Song, với sự phong phú của từ ngữ trong CDTY thì sự
Trang 30phân tích toàn diện là điều không thể Qua quá trình khảo sát, chúng tôi thấy rằng,các từ ngữ trong CDTY tập trung chủ yếu vào hai mảng lớn là các từ ngữ chỉ thếgiới tự nhiên, các từ ngữ chỉ các VTNT Sự xuất hiện của các từ ngữ đó được thểhiện như sau: 1955 lời ca có các từ ngữ chỉ TV, 1309 lời ca có các từ ngữ chỉ cácloài động vật, 1054 lời ca có các từ ngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên (mây, gió, bão,biển, sấm, chớp,…), 606 lời ca có các từ ngữ chỉ thời gian, 2816 lời ca có các từngữ chỉ VTNT Với hi vọng làm rõ một phương diện ngữ nghĩa của từ ngữ trongCDTY, chúng tôi chọn phân tích trường TV là một trường nghĩa tiêu biểu của hệthống các trường chỉ từ ngữ chỉ thế giới tự nhiên như một đại diện và trường nghĩachỉ các VTNT Sự phân tích đó được khai triển qua quá trình phân tích sự CN củacác từ ngữ đó, chỉ ra quy luật của chúng Với những ý nghĩa đã ổn định, đã đượcxác lập trong sự tương tác, cọ xát với cộng đồng văn hóa, chúng tôi sẽ làm rõ nhữngYNBT mà các từ ngữ thuộc hai trường nghĩa đó mang lại.
1.1.3 Tình hình nghiên cứu về nghĩa biểu trưng trong ca dao tình yêu người Việt
Biểu trưng (symbol) là vấn đề có tính chất liên ngành Khoa học nghiên cứu
về biểu trưng, biểu tượng đã du nhập vào Việt Nam từ hơn một thế kỉ qua theohướng tiếp cận hàn lâm của phương Tây Mục tiêu của việc nghiên cứu các biểutrưng, biểu tượng là lí giải thành công các ý nghĩa của của các biểu trưng, biểutượng đó hay nói cách khác đó là công việc tìm hiểu quá trình biểu tượng hóa các sựvật, hiện tượng trong văn hóa và xã hội loài người
Ở nước ta, biểu trưng (biểu tượng) cũng được nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khácnhau: văn hóa, văn chương, tôn giáo, hội họa,… Trong số các biểu trưng, biểu trưngtrong tác phẩm văn học là một trường hợp đặc biệt Đó là các hình ảnh, hình tượngnghệ thuật được tạo nên từ chất liệu đặc biệt là ngôn từ Điều đó khiến cho các biểutượng văn học phức tạp hơn, nội dung phong phú và thường diễn giải rộng hơn Ở ViệtNam có rất nhiều các công trình nghiên cứu về biểu trưng, biểu tượng ở những góc độ,
quy mô khác nhau: Nguyễn Duy Lẫm với cuốn Biểu trưng (2005), các công trình của Trịnh Bá Đĩnh tiêu biểu nhất là công trình Từ kí hiệu đến biểu tượng (2017) Tác giả
Đinh Hồng Hải đã hệ thống hóa sự nghiên cứu biểu tượng với cái nhìn tổng quát, toàn
diện trong cuốn Nghiên cứu biểu tượng một số hướng tiếp cận lí thuyết (2014),…
Trang 31Với sự vận dụng các lí thuyết biểu tượng (symbol), hàng loạt các công trình nghiên
cứu đã được ra đời như: Sự phát triển ý nghĩa của hệ biểu tượng trang phục trong
ngôn ngữ thơ ca Việt Nam (tác giả Nguyễn Thị Ngân Hoa), Biểu tượng ngôn ngữ trong ca từ của Trịnh Công Sơn (tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh),…
Nghĩa biểu trưng của từ ngữ trong ca dao là một xu hướng nghiên cứu ca dao ởgóc độ ngôn ngữ Những nghiên cứu này được thực hiện nhiều góc độ và phạm vi khácnhau Những YNBT này được mang đến từ các hình ảnh nghệ thuật và được kiến tạo từchất liệu ngôn ngữ Trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu trong và ngoài nước,
sự nghiên cứu ca dao từ góc độ này đã gặt hái được nhiều thành công với các công
trình: Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao truyền thống người Việt của Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2002), Biểu trưng trong ca dao Nam Bộ của Trần Văn Nam (2003), Thế giới động vật trong ca dao cổ truyền người Việt của Đỗ Thị Hòa (2008), Một số biểu trưng trong ca dao Việt Nam (nhóm chất liệu là thế giới các hiện tượng thiên nhiên) của Nguyễn Thùy Vân (2013),… Trong số đó, luận án của Nguyễn Thị Thùy Vân đã hệ
thống hóa một cách tương đối toàn diện về hệ thống các nghĩa biểu trưng của các từngữ chỉ các hiện tượng tự nhiên trong ca dao Việt Nam Những kết quả nghiên cứu củatác giả đã giúp chúng tôi hình dung rõ hơn về nghĩa biểu trưng, về từ ngữ chỉ hiệntượng tự nhiên Với đối tượng nghiên cứu là ngữ nghĩa của từ ngữ trong CDTY ngườiViệt, chúng tôi tập trung khảo sát ngữ nghĩa của từ ở hai nhóm “TV” và “VTNT” TVcũng là một trường nghĩa nhỏ nằm trong trường nghĩa chỉ thế giới tự nhiên Trên cơ sở
kế thừa các nghiên cứu trước đó, khi nghiên cứu từ ngữ thuộc các nhóm được chọn,chúng tôi tiến hành phân xuất thành các tiểu trường, phân tích nghĩa gốc, hiện tượng
CN Từ đó, các YNBT được tập trung phân tích Sự phân tích đó theo quy trình đi từnhững ý nghĩa chung rồi đến các trường hợp cụ thể Luận án cũng cố gắng chỉ ra cơ chếcủa việc tạo ra YNBT của các từ ngữ tiêu biểu Mặt khác, đối tượng được lựa chọn củaluận án là CDTY, nên việc nghiên cứu tập trung vào vấn đề tình yêu của loại hình cadao này Luận án của Nguyễn Thùy Vân đã giúp chúng tôi kế thừa được cách tiếp cậnvới sự tìm hiểu YNBT nói chung và những YNBT mà tác giả khái quát được từ các từngữ chỉ TV Trên cơ sở đó, luận án của chúng tôi triển khai thêm sự phân tích trên cácphương diện: về phương thức cấu tạo của các từ ngữ
Trang 32chỉ TV, về nghĩa gốc, nghĩa chuyển, mối quan hệ giữa nghĩa của từ với các nghĩabiểu trưng Đồng thời chúng tôi cũng khái quát ra quy luật của sự CN Mặt khác,luận án cũng làm rõ những điểm tương đồng và phái sinh của những YNBT mà từ
ngữ trong CDTY mang lại với các nghĩa được khái quát trong Từ điển biểu tượng
văn hóa thế giới Tác giả Nguyễn Thùy Vân tập trung làm rõ nghĩa của các từ chỉ
TV với đối tượng là các từ ngữ chỉ cây và hoa, trong luận án của mình, chúng tôi
triển khai sự phân tích trên cả nhóm từ ngữ chỉ quả Gần đây nhất là luận án TH
ngôn ngữ thẩm mĩ trong ca dao Nam Trung Bộ của Nguyễn Thị Vân Anh (2015).
Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về hệ thống THTM, đặc trưng tư duy nhậnthức của người phương Nam trong phạm vi ngữ liệu là ca dao Nam Trung Bộ.Ngoài ra còn có khá nhiều nghiên cứu về nghĩa biểu trưng trong ca dao ở phạm vinhỏ hơn Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về vấn đề ngữ nghĩacủa từ ngữ nói chung, nghĩa biểu trưng của từ ngữ nói riêng trong CDTY một cách
cụ thể Và đây chính là hướng đi ngỏ để chúng tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu
cho luận án của mình với đề tài “Đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ trong ca dao
tình yêu người Việt” Trong khuôn khổ luận án, chúng tôi tập trung làm rõ ngữ
nghĩa của từ với trọng tâm là YNBT của một số từ ngữ tiêu biểu trong một vàitrường nghĩa Với sự nghiên cứu này, chúng tôi mong muốn làm rõ thêm xu hướngnghiên cứu về CDTY dưới lí thuyết ngữ nghĩa
1.2 Cơ sở lí thuyết của đề tài
1.2.1 Từ và nghĩa của từ
1.2.1.1 Quan niệm về từ
Vấn đề từ và ý nghĩa của từ là vấn đề cơ bản của các nhà ngôn ngữ học trong
và ngoài nước quan tâm đặc biệt Thậm chí trong tâm lí học, triết học,… vấn đề nàycũng được chú ý sớm Để hiểu được nghĩa của từ cũng như các đặc điểm của nó,
trước hết cần phải hiểu được từ là gì? Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn Dẫn
luận ngôn ngữ học đã cho rằng khái niệm này rất khó định nghĩa Cái khó nhất
trong việc định nghĩa từ là sự khác nhau về cách định hình, về chức năng và nhữngđặc điểm ý nghĩa của từ trong các ngôn ngữ khác nhau cũng như trong cùng mộtngôn ngữ Có từ mang chức năng định danh, có từ không mang chức năng định
Trang 33danh; có từ biểu thị khái niệm, có từ chỉ là dấu hiệu của những cảm xúc nào đó; có từliên hệ với những sự vật, hiện tượng ngoài thực tế, có từ lại chỉ biểu thị những quan hệtrong ngôn ngữ,… Vì vậy, theo Nguyễn Thiện Giáp không có sự thống nhất trong cáchđịnh nghĩa và miêu tả các từ Hiện nay có tới trên 300 định nghĩa khác nhau về từ Nóichung, không có định nghĩa nào về từ làm mọi người thỏa mãn Với tư cách là định
nghĩa sơ bộ, có tính chất giả thiết, tác giả đã định nghĩa từ như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về ý nghĩa và hình thức” [38, 60 – 61] Tác giả Đỗ Hữu Châu đưa ra định nghĩa về từ như sau:“ Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [19, 16] Đỗ Hữu
Châu cho rằng từ có các đặc điểm: a, Có hình thức ngữ âm và ý nghĩa; b, Có tính sẵn
có, cố định và bắt buộc; c, Là những đơn vị thực tại, hiển nhiên của ngôn ngữ Tức làđơn vị lớn nhất của hệ thống ngôn ngữ; d, Là đơn vị nhỏ nhất ở trong câu [19, 8-9].Chúng tôi sẽ vận dụng cách hiểu của tác giả Đỗ Hữu Châu về từ để làm cơ sở cho cácbước nghiên cứu có liên quan của mình
1.2.1.2 Nghĩa của từ
a Quan niệm về nghĩa của từ
Từ là đơn vị cơ bản trong hệ thống ngôn ngữ, mang hai chức năng cơ bản làđịnh danh và tạo câu Nghĩa của từ thuộc về bình diện tinh thần được vật chất hóathông qua vỏ âm thanh của từ Nghĩa của từ là một khái niệm khó định nghĩa, có rấtnhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề này
Vì thuộc bình diện tinh thần, nghĩa của từ luôn là đối tượng khó nắm bắt Trong khi
đó, việc nắm bắt nghĩa của từ là yếu tố đầu tiên quyết định hiệu quả của hoạt độnggiao tiếp Vậy nên khi nghiên cứu ngôn ngữ, vấn đề ngữ nghĩa được các nhà khoahọc dành cho một sự quan tâm đặc biệt Cho đến nay, gần như không có công trìnhnghiên cứu ngôn ngữ nào lại không đề cập đến nghĩa ở mức độ nhất định, ngay cả ởnhững công trình ngôn ngữ học cấu trúc thuần túy thì nghĩa cũng vẫn được dànhcho một vị trí xứng đáng Nghĩa của từ được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau:nghĩa của từ là bản thể, nghĩa của từ là quan hệ, nghĩa của từ là thực thể tinh thần,
cụ thể:
Trang 34Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã căn cứ vào khái niệm nghĩa của từcủa một số tác giả nước ngoài tiêu biểu và rút ra hai xu hướng chính là: thứ nhất, chonghĩa của từ là một bản thể nào đó (đối tượng, khái niệm, sự phản ánh,…), thứ hai, chonghĩa của từ là một quan hệ nào đó (quan hệ của từ với đối tượng hoặc quan hệ của từ
với khái niệm…) Tác giả đi đến nhận định về nghĩa của từ “Nghĩa của từ là một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn” như “nghĩa sở chỉ”, “nghĩa
sở biểu”, “nghĩa sử dụng” và “nghĩa kết cấu” [38, 122-125].
Bên cạnh đó, việc nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cũng là một quan
niệm trong nghiên cứu Tác giả Lê Quang Thiêm cho rằng “nghĩa là một thực thể
tinh thần trừu tượng tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, diễn ngôn” và “Nghĩa là nội dung xác định hình thành nhờ chức năng, song không là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà là một loại chức năng thể hiện qua văn cảnh” Tác giả đi đến
nhận định rằng “nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữ nghĩa học từ vựng, ngữ
nghĩa học ngữ pháp, và ngữ nghĩa học ngữ dụng” và cần phải nghiên cứu cả ba loại ngữ nghĩa học này độc lập và có quan hệ chặt chẽ với nhau [112, 86 - 87].
Tác giả nghiên cứu tập trung nhất bàn về nghĩa của từ là Đỗ Hữu Châu Ông
cho rằng “nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức
lập thành một thể thống nhất gọi là từ” Nói cách khác, “nghĩa của từ là hợp điểm,
là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa Trong
số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ và có những nhân tố nằm trong ngôn ngữ Hai nhân tố ngoài ngôn ngữ là sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, có thể thuộc thế giới nội tâm, có thể thuộc thế giới ảo tưởng Nhân tố kia là các hiểu biết về loại nhân tố thứ nhất” Như vậy, số lượng kiểu nghĩa sẽ tăng
lên tùy theo số lượng những nhân tố được phát hiện thêm [13, 98]
Có thể khẳng định rằng nghĩa của từ là một khái niệm phức tạp Sự phức tạpnày được thể hiện ở số lượng các quan niệm khác nhau về nghĩa của từ Và nghĩacủa từ cũng được nhìn nhận từ nhiều khía cạnh với nhiều ý kiến khác nhau Có quan
Trang 35điểm cho rằng nghĩa của từ là thực thể tinh thần, nghĩa của từ là bản thể, nghĩa của
từ là quan hệ nào đó,… Trong luận án, chúng tôi lựa chọn quan niệm của tác giả ĐỗHữu Châu làm cơ sở lí thuyết cho sự nghiên cứu
b Nét nghĩa và cấu trúc nghĩa của từ
Theo ngữ nghĩa học hiện đại, ý nghĩa của từ lập thành một cấu trúc, bao gồm một
số nghĩa vị (hay còn được gọi là nét nghĩa) được kết hợp với nhau theo quy tắc nhất định,
chi phối và quy định lẫn nhau Chính vì thế U Weinreich đã viết: “Mong muốn phân tích một nghĩa tổng quát ra những thành tố và xác lập một cấp hệ giữa các thành tố, luôn luôn
là một trong những động cơ chủ yếu của nghiên cứu ngữ nghĩa”[157] Theo tư tưởng lí thuyết đó, Hoàng Phê trong bài “Phân tích ngữ nghĩa” khi tổng hợp lại các ví dụ phân tích nghĩa thành nét nghĩa của những từ mẹ, cha, vợ, chồng đã đi đến kết luận: “Nói tóm lại, nghĩa của từ nói chung: a/ là một tập hợp những nét nghĩa có quan hệ quy định lẫn nhau; b/ Giá trị của nét nghĩa không như nhau (giữa các nét nghĩa có quan hệ cấp bậc) biểu hiện
ở khả năng tham gia khác nhau vào việc thực hiện chức năng thông báo; c/ Các nét nghĩa
có tính độc lập tương đối… [98, 15].
Đỗ Hữu Châu sau khi phân tích nghĩa của một số danh từ và động từ bàn,
búa, chân, đứng nói đi,… thành nét nghĩa đã đi đến kết luận: “Tập hợp một số nét nghĩa thành nghĩa biểu niệm là một tập hợp có quy tắc… Chúng ta thấy có những nét nghĩa chung cho nhiều từ và những nét nghĩa riêng cho từng từ” [13, 107].
Như vậy, có thể khẳng định rằng nội dung ý nghĩa của từ được tạo nên từ cácnét nghĩa Và có những nét nghĩa riêng cho từng từ bên cạnh đó cũng có những nét
nghĩa chung cho nhiều từ Tổ hợp các nét nghĩa để tạo thành nghĩa là một “cấu tạo
có quy tắc, có quan hệ lẫn nhau”.
Từ những kiến giải và phân tích của các nhà ngôn ngữ học có thể khẳng địnhrằng nét nghĩa là yếu tố hạt nhân tạo nên cấu trúc nghĩa của từ Trong luận án, “nétnghĩa” có vai trò quan trọng trong việc xác định mối quan hệ giữa các nghĩa trongquá trình phát triển nghĩa của từ
c Hiện tượng chuyển nghĩa của từ
Chuyển nghĩa từ vựng là một trong những nội dung cơ bản trong nghiên cứucủa ngôn ngữ học truyền thống Bàn về vấn đề này, các nội dung như: sự
Trang 36CN, chuyển trường, mối quan hệ giữa các nghĩa chuyển, phương thức CN,…thường được các công trình nghiên cứu tập trung luận giải.
Kết quả của sự chuyển biến nghĩa của từ đã tạo ra hiện tượng từ nhiều nghĩa
Từ lúc mới xuất hiện chỉ có một nghĩa biểu vật Sau một thời gian sử dụng, nó cóthể có thêm những nghĩa biểu vật mới Các nghĩa biểu vật mới xuất hiện ngày càngnhiều thì nghĩa biểu niệm của nó ngày càng có khả năng biến đổi Trong sự chuyểnbiến ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn nữa Nhưng thường thườngthì cả nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới đều cùng tồn tại, cùng hoạt động, khiến chođối với những người không chuyên từ nguyên học khó nhận biết hay khó khẳngđịnh nghĩa nào là nghĩa đầu tiên của từ Giữa nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới có thểdiễn ra sự biến đổi theo kiểu móc xích song sự chuyển biến theo lối “tỏa ra” chiếm
tỉ lệ nhiều hơn Sự chuyển biến ý nghĩa cũng là một phương thức để tạo thêm từ mớibên cạnh các phương thức ghép hoặc láy [19] Khi các nghĩa chuyển biến còn liên
hệ với nhau, sự CN có thể làm cho ý nghĩa của từ được mở rộng ra hoặc thu hẹp lại
Sự chuyển biến về nghĩa có thể làm thay đổi ý nghĩa biểu thái (nghĩa “xấu đi” hay
“tốt lên”) Động lực thúc đẩy sự CN có nhiều, bản thân sự thay đổi sự vật, hiệntượng được gọi tên làm cho từ phải thay đổi cấu trúc biểu niệm Sự kiêng kị cũnglàm cho nghĩa của từ biến đổi Tuy nhiên động lực chủ yếu thúc đẩy sự chuyển biến
ý nghĩa vẫn là do nhu cầu giao tiếp đặt ra [19]
d Các phương thức CN
Sự chuyển biến nghĩa của từ chủ yếu diễn ra theo hai phương thức: phươngthức ẩn dụ và phương thức hoán dụ:
- Sự CN của từ theo phương thức ẩn dụ:
Phương thức ẩn dụ là phương thức “lấy tên gọi A của x để gọi tên y (để biểu
thị y), nếu như x và y giống nhau Các sự vật được gọi tên, tức x và y, không có liên
hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn khác nhau Sự chuyển tên gọi diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con người về sự giống nhau giữa chúng” [15, 154 – 155].
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong [38] đã phân chia ẩn dụ từ vựng trên tínhchất của sự giống nhau Kết quả là có những loại ẩn dụ dựa trên những sự tươngđồng về: hình thức, màu sắc, chức năng, thuộc tính, tính chất, đặc điểm, vẻ ngoài
Trang 37nào đó, ẩn dụ cụ thể trừu tượng, chuyển tên các con vật thành cách gọi con người,chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật hoặc hiện tượng
Dựa trên nhiều tiêu chí, Đỗ Hữu Châu [13] phân chia thành các kiểu ẩn dụ từvựng khác nhau:
Thứ nhất, tùy theo x và y là các sự vật cụ thể (có thể cảm nhận bằng giác quan)
hay trừu tượng mà ẩn dụ được chia thành ẩn dụ cụ thể - cụ thể (miệng người – miệng chén), ẩn dụ cụ thể - trừu tượng (con đường – con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội).
Thứ hai, quan trọng hơn là phân biệt cơ chế ẩn dụ theo nét nghĩa phạm trù
dựa vào đó mà xuất hiện ẩn dụ Theo đó có các kiểu ẩn dụ: ẩn dụ hình thức, ẩn dụ vị
trí, ẩn dụ cách thức, ẩn dụ chức năng, ẩn dụ kết quả, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác,
- Sự CN của từ theo phương thức hoán dụ:
Phương thức CN hoán dụ là “phương thức lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x
và y đi đôi với nhau trong thực tế Mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của con người Cho nên các hoán dụ có tính khách quan hơn các ẩn dụ” [15, 154 – 155] Ví dụ: từ cổ có nghĩa gốc chỉ bộ phận cơ thể
người hay động vật, ở vị trí nối giữa đầu và cơ thể, có chức năng giữ đầu trên cơ thể Nó được CN để chỉ bộ phận của trang phục (cổ áo) Từ tay cũng có nghĩa gốc chỉ bộ phận cơ thể người được CN để chỉ bộ phận của trang phục (tay áo)…
Ẩn dụ và hoán dụ là sự chuyển từ ý nghĩa biểu vật này sang ý nghĩa biểu vậtkhác Hiện tượng chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng thường diễn ra giữa các
từ trong cùng phạm vi biểu vật Hiện tượng CN (ẩn dụ hay hoán dụ) của ngôn ngữ
“không phải là hiện tượng ngẫu nhiên, chỉ bị chi phối bởi quy luật nhận thức mà trước hết là những hiện tượng ngôn ngữ Chính vì vậy, các nghĩa chuyển (ẩn dụ và hoán dụ) và nói rộng ra các nghĩa chuyển của từ mới có tính dân tộc sâu sắc Chúng vừa là kết quả của cách tiếp cận thực tế của dân tộc, vừa là kết quả của những quy luật điều khiển sự tạo nghĩa mới cho từ” [19, 157].
Tuy vậy, không phải mọi hiện tượng CN của từ đều được giải thích bằng haiphương thức ẩn dụ và hoán dụ Bởi lẽ, ngôn ngữ nói chung và từ vựng nói riêngchịu sự chi phối bởi những quy luật nội tại và ngoại tại nên nghĩa của từ có thể biếnđổi theo các quy luật đó Hoặc đôi khi hiện tượng chuyển biến ý nghĩa của từ xảy ra
do sự “cảm nhiễm” nghĩa của ngữ cảnh
Trang 38 Mối quan hệ giữa các nghĩa chuyển
Hiện tượng CN của từ đã tạo ra các nghĩa cũ và nghĩa mới Các nhà ngôn ngữcũng thừa nhận mối quan hệ giữa các loại nghĩa đó Các nghĩa mới (nghĩa phái sinhđược nảy sinh trên cơ sở nét nghĩa ban đầu của từ hoặc trên cơ sở một hay vài nétnghĩa cơ bản trong cấu trúc biểu niệm của từ, và tác giả Đỗ Hữu Châu gọi đó là nét
nghĩa cơ sở “Nét nghĩa cơ sở của cấu trúc biểu niệm trung tâm sẽ đảm bảo cho sự
thống nhất giữa các ý nghĩa biểu vật Như thế, các nghĩa biểu vật của một từ tuy khác nhau, tuy đối lập nhau - nhưng giữa chúng vẫn có sự thống nhất trên có sở nét nghĩa chung Nói khác đi, các ý nghĩa khác nhau của một từ lập nên một hệ thống ngữ nghĩa trong lòng một từ nhiều nghĩa” [13, 133] Nguyên tắc để xác định từ
nhiều nghĩa chính là nét nghĩa cơ sở Ngược lại, nếu mối liên hệ ấy bị đứt quãnghoặc đã cách biệt quá xa, không thể tìm được nét nghĩa cơ sở giữa chúng thì lúcnày, từ vốn là một nhưng đã tách ra thành hai từ đồng âm [13, 138] John Lyons
nhận xét: “Các nghĩa có liên hệ với nhau rõ rệt, nhiều hay ít theo đúng nguyên tắc
….thì truyền thống không xem là khác nhau đến mức đủ để chứng thực sự thừa nhận các từ riêng biệt Nhà ngữ nghĩa học truyền thống sẽ không nói rằng miệng của sông và miệng với tư cách là một bộ phận của cơ thể là những từ đồng âm mà nói rằng miệng có hai nghĩa liên hệ nhau Do đó, ngoài hiện tượng đồng nghĩa và đồng âm, ta còn có cái gọi là đa nghĩa trong sự phát triển mới đây của ngữ nghĩa học truyền thống” [60, 638].
Theo quan điểm này, trong luận án, chúng tôi chỉ quan tâm đến sự CN của
từ Ở Việt Nam trong những nghiên cứu ngữ nghĩa học - từ vựng, các nhà nghiêncứu đều cho ra rằng: hiện tượng “đa nghĩa” (hay: “nhiều nghĩa”) là kết quả của sự
“chuyển biến” ý nghĩa của từ Trong đa nghĩa có sự phân biệt giữa “nghĩa chính”
(nghĩa cơ bản/ cơ sở), “nghĩa gốc”, “nghĩa đen” - từ đó mà “móc xích” ra hay “tỏa”
ra các nghĩa mới, xuất hiện sau, tức các “nghĩa phụ”, “nghĩa chuyển”, “nghĩa bóng”
Trong quá trình phát triển nghĩa của từ: “thường cả nghĩa đầu tiên và nghĩa mới của từ đều cùng tồn tại, cùng hoạt động khiến cho chúng ta khó nhận diện hay khẳng định được đâu là nghĩa đầu tiên của từ” [13, 137] Lại có trường hợp tuy cả nghĩa gốc
và nghĩa chuyển cùng tồn tại cùng hoạt động song nghĩa gốc của từ ngày càng mờ nhạt,
Trang 39dần dần trở thành nghĩa phụ trong khi một vài nghĩa chuyển nào đó lại được dùngthường xuyên và phổ biến hơn trở thành nghĩa chính của từ Quá trình phát triểnngữ nghĩa của từ còn được quan niệm là cách định danh gián tiếp Đó là quá trìnhlan tỏa về mặt ý nghĩa của từ xuất phát từ sự biểu vật đầu tiên của tên gọi (tức là từnghĩa gốc, nghĩa định danh trực tiếp) Vì vậy, việc xác định nghĩa gốc và nghĩachuyển có ý nghĩa quan trọng bởi các nét nghĩa trong nghĩa gốc là căn cứ quantrọng làm cơ sở để tập hợp các nghĩa chuyển và xác định các hướng CN của từ.
Một cách tổng quát, theo quan điểm của ngôn ngữ học truyền thống, cácnghĩa khác nhau của từ đa nghĩa có đặc điểm sau:
+ Giữa nghĩa đầu tiên với các nghĩa chuyển có thể có sự biến đổi theo quan
hệ kiểu “móc xích” hay “tỏa ra từ gốc” nhưng chủ yếu là theo kiểu “tỏa ra từ gốc”
+ Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc có các ý nghĩa biểu
niệm cùng một cấu trúc thì CN theo cùng hướng “Cơ sở để nhận ra tính nhiều nghĩa của từ chính là khả năng từ đó có thể đi vào nhiều trường khác nhau” [13, 164]
+ Khi các nghĩa chuyển còn liên hệ với nhau, sự chuyển biến ý nghĩa có thểlàm ý nghĩa “mở rộng ra” hoặc “thu hẹp lại”, và điều này, trước hết, được xét ởphạm vi từ Việc thu hẹp – mở rộng nghĩa còn được xem xét ở phạm vi các nghĩatrong từ nhiều nghĩa
1.2.1.3 Khái niệm ngữ
Từ là đơn vị gồm hai mặt âm thanh và ý nghĩa, là đơn vị lớn nhất trong hệthống ngôn ngữ và nhỏ nhất để tạo câu Khi tham gia vào câu, từ thường trở thànhthành phần của các ngữ (cụm từ) Bởi trong mối quan hệ với các từ khác, bản thân
từ mới thể hiện rõ được đặc điểm ngữ nghĩa của nó Ngữ được xem là tổ hợp củacác từ theo một quan hệ ngữ pháp nhất định, có thể là quan hệ chủ - vị, quan hệđẳng lập hoặc quan hệ chính phụ
Ngữ bao gồm hai loại là ngữ cố định và ngữ tự do Ngữ cố định bao gồmthành ngữ và quán ngữ Ngữ tự do bao gồm ngữ đẳng lập, ngữ chủ vị và ngữ chínhphụ Căn cứ vào thành tố chính của các ngữ chính phụ mà loại ngữ này được chialàm ba loại: ngữ danh từ, ngữ động từ và ngữ tính từ Trong phạm vi của luận án,chúng tôi chủ yếu quan tâm đến các ngữ tự do đặc biệt là các ngữ danh từ Đó là các
Trang 40ngữ được hình thành do sự liên kết giữa các từ theo quan hệ chính phụ với thành tốchính là các danh từ Song do tư liệu của luận án rất lớn nên chúng tôi không thể hệthống hóa được các ngữ Sự phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ được chúngtôi thực hiện bằng cách phân tích ngữ nghĩa của các từ nhưng luôn đặt các từ đótrong các ngữ Bởi lẽ, nếu không nằm trong các ngữ hay trong văn bản thì bản thân
từ khó có thể thể hiện được những ý nghĩa của từ đó cũng như những ý nghĩa màcác tác giả dân gian muốn gửi gắm Mặt khác, ý nghĩa của từ sẽ được làm rõ hơnbởi các từ đứng xung quanh từ đó Đặc biệt là nếu không đặt từ trong ngữ thì rất khó
có thể phân tích được các ý nghĩa biểu trưng mà từ mang lại
1.2.2 Trường nghĩa
1.2.2.1 Khái niệm trường nghĩa
“Mỗi tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa Đó là tập hợp những từ đồng nhất về ngữ nghĩa”, và đối với quan hệ ngữ nghĩa trong trường
nghĩa thì “chúng ta có thể phân định một cách tổng quát những quan hệ ngữ nghĩa
trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các trường nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường” [19, 170].
Vì vậy, khi xem xét từ cũng như mối quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng cần đặtchúng trong hệ thống trường nghĩa Các nét nghĩa trong trường có các mối quan hệvới nhau, đan xen và quy định lẫn nhau Các yếu tố cấu thành trường có những nétnghĩa chung (ngoài nét nghĩa khác biệt) Ngược lại mối quan hệ ngữ nghĩa giữa cáctrường với nhau phải được xem xét trong hệ thống trường lớn hơn Điều này càngkhẳng định tính hệ thống trong ngữ nghĩa của ngôn ngữ
1.2.2.2 Phân loại trường nghĩa
Đỗ Hữu Châu đã phân loại trường nghĩa thành hai loại: “trường nghĩa ngang
(trường nghĩa tuyến tính) và trường nghĩa dọc (trường nghĩa trực tuyến) Căn cứ vào kiểu loại ý nghĩa của từ để phân ra trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm trong trường nghĩa trực tuyến Ngoài ra còn căn cứ vào đặc trưng liên tưởng
để xác lập trường liên tưởng” [19, 170].
- Trường nghĩa biểu vật: “là một tập hợp các từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật Trường biểu vật mang tính dân tộc do sự khác nhau về số lượng, cách thức tổ chức của các