pháp luật cho tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng như các cam kết của Việt Nam trong TPP để TPP có thể sớm được phê chuẩn và có hiệu lực trong năm 2018.Xuất phát từ nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐÀO THU TRANG
TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG
VIỆT NAM VÀ XU HƯỚNG HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐÀO THU TRANG
TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG (TPP) ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ XU HƯỚNG
HOÀN THIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và
hướng dẫn của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt
khóa học cũng như thời gian nghiên cứu đề tài luận văn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành đến Tiến sĩ Nguyễn Hiền Phương – cô giáo kính mến đã hết lòng giúp
đỡ, tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá
trình thực hiện nghiên cứu Luận văn của mình.
Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới Ban giám
hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học,
Khoa Pháp luật kinh tế và cán bộ Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã luôn ở cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đào Thu Trang
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ
trợ từ Giáo viên hướng dẫn là TS Nguyễn Hiền Phương Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực Những số liệu phục vụ
cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các
nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo Ngoài ra, đề tài
còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ
quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo Nếu phát
hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội
đồng cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đào Thu Trang
Trang 51.2 Nội dung cam kết về lao động trong TPP 18
1.3 Mức độ cam kết và đảm bảo thực hiện 25
CHƯƠNG II RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG KHI VIỆT NAM THAM GIA VÀO TPP 29
2.1 Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam 29
2.2 Tác động của việc tham gia vào TPP đối với pháp luật lao động Việt
Nam 36
2.3 Những nội dung cần điều chỉnh trong pháp luật lao động khi Việt
Nam tham gia vào TPP 39
CHƯƠNG III MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM THAM GIA VÀO TPP 55
3.1 Những khó khăn của Việt Nam trong việc hoàn thiện các quy định
pháp luật lao động hiện hành 55
3.2 Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật lao động hiện
hành đảm bảo cho Việt Nam tham gia vào TPP 62
3.2 Tổ chức thực hiện các cam kết của Việt Nam trong TPP 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TPP : The Trans-Pacific Partnership – Hiệp định Đối tác
xuyên Thái Bình Dương ILO : International Labour Organization – Tổ chức Lao
động Quốc tế FTA : Free Trade Agreement – Hiệp định thương mại tự do
NĐ - CP : Nghị định – Chính phủ
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu bằng việc tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do khu vực và song phương đang không ngừng lan rộng khắp khu vưc Châu Á – Thái Bình Dương Việt Nam cũng không nằm ngoài
xu thế đó khi trong những năm gần đây, Việt Nam đã và đang tham gia vào tiến trình đàm phán và ký kết nhiều hiệp định thương mại với nhiều đối tác khác nhau mà gần đây nhất có thể kể đến Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Được coi là Hiệp định thương mại tự do kiểu mẫu của thế kỉ
21, TPP có phạm vi rộng, bao phủ toàn diện, cam kết mở cửa trên 20 lĩnh vực khác nhau với phạm vi và mức độ cam kết sâu rộng hơn so với các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thông thường mà Việt Nam đã tham gia Bên cạnh những vấn đề truyền thống như thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ như các FTA khác, TPP còn yêu cầu các nước cam kết trên nhiều lĩnh vực mới như mua sắm chính phủ, lao động, môi trường, đầu tư, doanh nghiệp nhà nước Đối với Việt Nam, trong số các FTA mà Việt Nam đã tham gia, TPP
là FTA đầu tiên có chương riêng về lao động với các điều khoản về lao động chặt chẽ nhất so với tất cả các FTA có nội dung về lao động trước đó Ngoài
ra, có thể nói cam kết về lao động và quan hệ lao động trong TPP là cam kết mang tính điều kiện ở mức cao nhất với nhiều yêu cầu khắt khe về sửa đổi pháp luật và thực tiễn
Sau khi kết thúc quá trình ký kết, Việt Nam sẽ có một khoảng thời gian chuẩn bị là khoảng 2 năm để hoàn thiện các quy định của pháp luật trước khi trình Quốc hội các nước phê chuẩn để hiệp định có hiệu lực Do vậy, việc chuẩn bị thật tốt để đảm bảo tính chủ động của Việt Nam trong quá trình thực hiện những cam kết này có vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị tích cực trong việc hoàn thiện và điều chỉnh các quy định
Trang 8pháp luật cho tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế cũng như các cam kết của Việt Nam trong TPP để TPP có thể sớm được phê chuẩn và có hiệu lực trong năm 2018.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài “Tác động của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đối với pháp luật lao động Việt Nam và xu hướng hoàn thiện” được thực hiện với mong muốn góp phần đề ra những giải
pháp để triển khai các cam kết về lao động và điều chỉnh quan hệ lao động của Việt Nam khi tham gia vào TPP Trên cơ sở phân tích làm rõ sự tác động của các cam kết trong TPP đến việc điều chỉnh các quy định tương ứng của pháp luật và thực tiễn pháp luật lao động hiện nay của Việt Nam, luận văn đề xuất những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiệp định TPP được đánh giá là một hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mang lại nhiều lợi ích to lớn cho các quốc gia khi tham gia Đây cũng là lần đầu tiên có một hiệp định giành hẳn một chương riêng để quy định về vấn
đề lao động và cũng là một trong những hiệp định có cam kết về lao động được đánh giá ở mức độ sâu và rộng nhất từ trước đến giờ Đứng trước bối cảnh Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho việc tham gia vào TPP, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu cũng như bài viết liên quan đến vấn đề này như:
“Nghiên cứu triển khai nội dung lao động và quan hệ lao động trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và các hiệp định tự do thương mại khác
mà Việt Nam tham gia” của Trung tâm hỗ trợ phát triển Quan hệ lao động CIRD (2015); “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và tác động tới Việt Nam” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn (2015); “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP và vấn đề tham gia của Việt Nam” của tác giả
Hoàng Văn Châu (2014)…
Trang 9Tuy nhiên, TPP là một hiệp định mới, bên cạnh đó, Việt Nam hiện vẫn đang trong quá trình hoàn thiện các quy định pháp luật để chuẩn bị cho việc thông qua và có hiệu lực của TPP Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu các để đánh giá các quy định và đưa ra được kiến nghị góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động Việt Nam cho tương thích với cam kết về lao động trong TPP được xem là một công việc có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay.
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác
định là các quy định pháp luật về lao động hiện hành của Việt Nam và nội dung cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP Kể từ đó phân tích sự tác động của TPP vào nội dung pháp luật lao động Việt Nam và đưa ra được những điều chỉnh cần thiết
Phạm vi nghiên cứu: Hiệp định TPP không tạo ra tiêu chuẩn lao động
mới mà xuất phát từ những tiêu chuẩn lao động của ILO Vì vậy, luận văn tập trung vào rà soát các nội dung cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP, các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản của ILO và các quy định pháp luật lao động của Việt Nam hiện hành để đánh giá sự tương thích của các cam kết lao động của Việt Nam trong TPP với thực trạng pháp luật lao động của Việt Nam, từ đó đưa ra phương hướng thích hợp đối với việc hoàn thiện pháp luật lao động Viêt Nam khi hội nhập quốc tế
4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu các cam kết về lao động trong hiệp định TPP, luận văn sẽ phân tích sự tương thích giữa quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành với các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO và cam kết
về lao động của Việt Nam trong TPP, từ đó, đề xuất ra một số khuyến nghị
Trang 10cho Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang gấp rút hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động để chuẩn bị cho việc tham gia vào TPP.
5 Phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử luận văn còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp tổng hợp, lịch sử và diễn giải được sử dụng trong Chương
1 khi nghiên cứu để đưa những vấn đề cơ bản nhất và cái nhìn tổng quan về các cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP
- Phương pháp phân tích, đối chiếu, quy nạp, diễn giải được sử dụng ở Chương 2 để nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam và đối chiếu với các cam kết về lao động mà Việt Nam phải thực hiện khi tham gia vào TPP từ đó rút ra được những nội dung pháp luật cần điều chỉnh
- Phương pháp bình luận, tổng hợp, quy nạp được sử dụng ở Chương 3 khi đề cập đến một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cho tương thích với cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trong bối cảnh Việt Nam đang gấp rút chuẩn bị cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật lao động hiện hành để TPP sớm được thông qua và có hiệu lực Luận văn đã có một số những đóng góp trên cả mặt lý luận và thực tiễn như sau:
- Luận văn đã tập hợp và hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lịch sử hình thành và phát triển của hiệp định TPP cũng như khái quát được các cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP, thông qua đó tạo tiền đề cho việc phân tích sự tương thích của các cam kết này với thực trạng pháp luật lao động hiện hành của Việt Nam
Trang 11- Luận văn đã tổng hợp, thống kê được các quy định của pháp luật
về thực trạng pháp luật lao động của Việt Nam, trên cơ sở đó chỉ ra được những điểm tương thích cũng như chưa tương thích mà pháp luật cần sửa đổi để phù hợp với các cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP; đồng thời khẳng định sự cần thiết của việc điều chỉnh các quy định pháp luật lao động của Việt Nam khi tham gia vào hiệp định TPP
- Luận văn đã đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật lao động của Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang tiến hành việc tham gia vào TPP để hiệp định TPP sớm được thông qua và có hiệu lực với Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Bố cục của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ
và phạm vi nghiên cứu Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và những cam
kết về lao động
Chương 2: Rà soát các quy định pháp luật lao động Việt Nam và yêu cầu
hoàn thiện pháp luật lao động khi Việt Nam tham gia vào TPP
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật lao động
trong bối cảnh Việt Nam tham gia vào TPP
Trang 12CHƯƠNG I.
Trang 13HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ NHỮNG CAM KẾT VỀ LAO ĐỘNG
1.1 Sơ lược về sự hình thành và mục tiêu của các quốc gia khi tham gia
vào TPP
1.1.1 Sơ lược về sự hình thành TPP
Tư tưởng tự do kinh tế, đặc biệt tự do thương mại đã được rất nhiều nhà kinh tế học từ cổ điển tới hiện đại ủng hộ, tiêu biểu như Fransois Quesnay người Pháp; Adam Smith, David Ricardo người Anh và S.Sismondi người Pháp…bởi nó mang lại lợi ích kinh tế - xã hội rất to lớn cho các quốc gia Trong quá trình tham gia tự do thương mại, các quốc gia không thể “chơi” một mình, không “tự nguyện” giảm các rào cản thương mại mà phải thỏa thuận cùng nhau cắt giảm các rào cản thương mại, tạo điều kiện cho nhau cùng phát triển tự do thương mại Quá trình thúc đẩy tự do hóa thương mại này dẫn đến việc thành lập các Hiệp định thương mại tự do (FTA)1
Cho tới nay đã có rất nhiều các tổ chức và quốc gia khác nhau đưa ra các khái niệm về FTA cho riêng mình Điều này thể hiện những quan điểm khác nhau về FTA cũng như sự phát triển đa dạng của các quốc gia Trong số các khái niệm về FTA đã được đưa ra thì đa số các nước và các tổ chức trên thế giới chấp thuận một số khái niệm sau:
Hiệp ước chung về thuế quan và thương mại (GATT) tại Khoản 8b
Điều XXIV ghi rõ: “Khu vực thương mại tự do được hiểu là một nhóm gồm hai hoặc nhiều các lãnh thổ thuế quan Trong đó, thuế và các quy định mang tính hạn chế về thương mại (ngoại trừ, trong chừng mực cần thiết, các hạn chế được phép theo quy định của các Điều XI, XII, XIII, XIV, XV và XX) sẽ bị
dỡ bỏ đối với phần lớn các sản phẩm có xuất xứ từ các lãnh thổ đó và được trao đổi thương mại giữa các lãnh thổ lập thành khu vực thương mại tự do”2
1 Nguyễn Thành Long (2010), Đàm phàn Hiệp định thương mại tự do giữa Singapore và Hoa Kỳ - bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Ngoại thương, Hà Nội, tr 5
2 Uỷ Ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế (2003), Các Văn kiện cơ bản của Tổ chức Thương mại thế giới,
Nbx Hồng Đức, Hà Nội, tr 918
Trang 14Theo trang web chính thức của Chính phủ Hoa Kỳ về FTA: “FTA là sự đàm phán giữa hai hay nhiều quốc gia nhằm cắt giảm tất cả các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với thương mại giữa các thị trường của các nước thành viên Mỗi quốc gia vẫn có thể áp dụng các rào cản thuế và rào cản thương mại khác đối với các quốc gia không tham gia ký kết hiệp định”3
Tóm lại, chúng ta có thể thấy các khái niệm trên đều hàm chứa một nội
dung cốt lõi xuyên suốt là: “FTA là một thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nhằm mục đích tự do hóa thương mại về một hoặc một
số nhóm mặt hàng nào đó bằng việc cắt giảm thuế quan, tạo lập các quy định tạo thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và di chuyển vốn giữa các quốc gia thành viên” Ngày nay, FTA không chỉ giới hạn trong việc thực hiện
tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ mà còn cả xúc tiến và tự do hoá đầu
tư, hợp tác chuyển giao công nghệ, thuận lợi hóa thủ tục hải quan, xây dựng năng lực và nhiều nội dung mới khác như lao động, môi trường; các FTA đã cho thấy những ưu thế vượt trội của mình, trở thành một xu hướng đang phát triển rất mạnh mẽ trong những năm gần đây
Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là một Hiệp định thương mại tự do có xuất phát điểm từ Hiệp định hợp tác kinh
tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (P4) Bắt đầu từ năm 2005, trong khuôn khổ của các diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), có 4 nước là Singapore, New Zealand, Bruney và Chile đã họp với nhau, đi đến một quyết định thành lập một hiệp định thương mại tự do giữa 4 nước này với ý tưởng là xây dựng một hiệp định FTA cho cả khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với mong muốn kết nối, ủng hộ và thúc đẩy lẫn nhau trong tiến trình tự do hóa thương mại để thực hiện hóa ý tưởng về khu vực mậu dịch tự do Châu Á – Thái Bình Dương của APEC
3 https://ustr.gov/trade-agreements/free-trade-agreements , truy cập ngày 23/07/2016
Trang 15Hiệp định P4 có phạm vi điều chỉnh rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch
vụ, vệ sinh an toàn thực phẩm, rào cản kỹ thuật, chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa, hợp tác về môi trường và hợp tác về lao động Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa, thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi P4
có hiệu lực, đây là một tham vọng rất lớn cho cả 21 quốc gia thành viên APEC Tuy nhiên ở thời điểm đó, những nước có cùng quan điểm thành lập một FTA chung là không nhiều, các nước thành viên của P4 chủ yếu là những nước có hệ thống chính sách thương mại rất tự do, cởi mở Tuy nhiên, 4 nước này quá nhỏ, vai trò về kinh tế và chính trị không lớn, cho nên đã không thu hút được sự quan tâm của các nước khác, kể cả các nước thành viên APEC
Vì vậy, hiệp định P4 mặc dù đã được kí nhưng không gây ra tiếng vang lớn trong khu vực cũng như trên thế giới Dấu mốc phát triển lớn của hiệp định bắt đầu từ năm 2008, khi Hoa Kỳ đổi mới cách thức tiếp cận, hội nhập và đánh dấu sự chuyển hướng chính trị của Hoa Kỳ đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương bằng việc quyết định tham gia vào Hiệp định P4 vào quý 3 năm 20084
Việc Hoa Kỳ, một thị trường kinh tế lớn và phát triển nhất thế giới tham gia vào P4 đã tạo ra sự thay đổi hoàn toàn đối với hình ảnh của P4 Đây
là cơ hội rất lớn cho những quốc gia thành viên của hiệp định có thể hợp tác cũng như tăng cường phát triển kinh tế đối với Hoa Kỳ Sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với P4 còn thể hiện ở việc sau khi Hoa Kỳ tham gia vào hiệp định thì tại hội nghị APEC được tổ chức tại Peru năm 2008, Úc và Peru cũng đã quyết định tham gia vào P4 nâng tổng số thành viên của P4 tại thời điểm đó lên 7 quốc gia Lúc này, đàm phán mở rộng P4 đã được đặt tên lại là đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương hay còn gọi là TPP5
4Hoàng Văn Châu (2014), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP và vấn đề tham gia của Việt Nam, Nxb Bách Khoa, Hà Nội, tr 21
5Xem thêm: Ngô Chung Khanh (2012), “Cập nhật tình hình đàm phán TPP của Việt Nam – Những vấn đề chung”, tại địa chỉ http://www.trungtamwto.vn/tpp/cap-nhat-tinh-hinh-dam-phan-tpp-cua-viet-nam-nhung- van-de-chung , ngày truy cập 15/07/2016
Trang 16Sau khi Úc và Peru tham gia vào hiệp định, đầu năm 2009, Việt Nam
đã nhận được thư mời tham gia TPP Đến năm 2010, Malaysia cũng bày tỏ mong muốn tham gia TPP Quá trình để đồng ý cho Malaysia gia nhập TPP diễn ra rất nhanh, vì khi đó chưa có quy trình áp dụng riêng cho thành viên mới muốn tham gia TPP mà đơn giản chỉ là quy trình tham vấn giữa các quốc gia thành viên TPP Đến tháng 9 năm 2010, Malaysia đã được đồng ý tham gia TPP Đến tháng 10 năm 2010 tại Hội nghị thượng đỉnh APEC, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã thông báo Việt Nam sẽ chính thức tham gia hiệp định TPP Tại Hội nghị thượng đỉnh của các nhà lãnh đạo TPP cũng được tổ chức bên lề Hội nghị cấp cao APEC tại Yokohama, Tổng thống Obama đã chính thức chào mừng Việt Nam và Malaysia tham gia TPP Như vậy đến cuối năm 2010, Việt Nam cùng với Malaysia đã trở thành hai thành viên chính thức mới của TPP, nâng số thành viên của TPP lên 9 thành viên
Kể từ khi TPP mở rộng thành viên, một số quốc gia khác cũng đã thể hiện sự quan tâm đối với hiệp định này tiêu biểu là Canada, Mexico tham gia năm 2012, Nhật Bản tham gia năm 2013 sau khi đạt được sự đồng thuận của các 9 quốc gia đã tham gia đàm phán TPP Như vậy, tính đến tháng 4 năm
2014, TPP đã có 12 nước chính thức tham gia đàm phán với phạm vi cam kết rộng lớn bao gồm hầu hết các lĩnh vực có liên quan tới thương mại, trong đó
có nhiều lĩnh vực mới như môi trường, lao động, các vấn đề xuyên suốt liên quan đến thương mại như chuỗi cung ứng, doanh nghiệp vừa và nhỏ6… TPP được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao, mang lại lợi ích nhiều nhất cho tất cả những quốc gia đang và sẽ tham gia hiệp định và sẽ trở thành khuôn mẫu cho các hiệp định thế kỷ 21
1.1.2 Mục tiêu của các quốc gia khi tham gia vào TPP
Các quốc gia tham gia vào TPP mong muốn tạo ra được một khung khổ mới cho tự do hóa thương mại, đầu tư và nếu có thể thì sẽ biến TPP thành hạt
6 Nguyễn Anh Tuấn (2015), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và tác động tới Việt Nam, Nxb
Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.31
Trang 17nhân để hình thành Khu vực Thương mại tự do chung cho toàn khu vực Châu
Á - Thái Bình Dương (FTAAP) Bên cạnh đó, các quốc gia khi tham gia vào TPP đều có chung mục tiêu là cùng nhau tạo ra một mô hình mới về hội nhập
và hợp tác kinh tế khu vực, tạo thuận lợi hơn nữa cho dòng chảy thương mại
và đầu tư, cụ thể:
Một là, đi đường ngắn nhất để đạt lợi ích cao nhất Hiện nay, trong xu hướng hội nhập và thiết lập quan hệ kinh tế quốc tế, việc hình thành quá nhiều các FTA song phương lại dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp khi tận dụng
ưu đãi do quy định của các FTA quá khác nhau Cùng với đó, các quốc gia cũng sẽ không khai thác được đầu vào từ các quốc gia khác không tham gia các hiệp định song phương Chính vì vậy, nếu chuyển sang cách tiếp cận mới
là ký FTA với nhiều quốc gia cùng một lúc thì lợi ích kinh tế đạt được sẽ lớn hơn Đây cũng chính là xu hướng mới trong quan hệ thương mại quốc tế
Hai là, chuyển trọng tâm từ tiến trình đa phương sang khu vực và trong chừng mực nào đó, sử dụng tiến triển trong đàm phán khu vực để tác động ngược trở lại đàm phán đa phương Cụ thể, do vòng đàm phán Doha của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đang gặp nhiều bế tắc nên nếu các quốc gia thành công trong việc tham gia và đặt ra những chuẩn mực mới cho TPP, sau đó mở rộng TPP ra toàn khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thì các quy định mới này sẽ thúc đẩy tích cực tới tiến triển đàm phán đa phương của WTO
Ba là, tạo thế cân bằng chiến lược vì TPP hướng đến việc thiết lập quan
hệ kinh tế cân bằng trong khu vực, tránh việc quá phụ thuộc vào một thị trường cụ thể Các quốc gia thành viên của TPP sẽ cùng nhau xây dựng một khu khu vực tự do thương mại lớn, xuyên lục địa để cùng nắm bắt cơ hội khai thác chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu Với các quốc gia chưa có quan hệ FTA với Hoa Kỳ như Nhật Bản, Malaysia và Việt Nam thì động lực lớn nhất
là thông qua TPP để thiết lập FTA với Hoa Kỳ và khai thác thị trường rộng lớn này Tương ứng với đó, Châu Á cũng được coi là thị trường đặc biệt quan
Trang 18trọng đối với Hoa Kỳ, theo đánh giá của Cơ quan đại diện thương mại Hoa
Kỳ, khu vực châu Á – Thái Bình Dương là chìa khóa thúc đẩy kinh tế toàn cầu, chiếm tới gần 60% GDP toàn cầu và khoảng 50% thương mại quốc tế Việc gia nhập đàm phán TPP thể hiện quyết tâm cao của Hoa Kỳ trong việc tiếp cận hoàn toàn vào thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng này7
Bốn là, mở rộng thị trường lao động và nâng cao chất lượng của người
lao động Khi tham gia vào TPP, việc tự do hóa thương mại và đầu tư cũng luôn dẫn đến tăng nhu cầu lao động kéo theo đó là mức linh hoạt của thị trường lao động sẽ tăng lên8 Các hạn chế về chuyển dịch trong thị trường lao động sẽ bị gỡ bỏ, quá trình tự do hóa thị trường lao động không chỉ mở ra thêm nhiều cơ hội việc làm cho người lao động của các quốc gia thành viên TPP mà còn là cơ hội đối với lực lượng lao động có chất lượng cao khi được
tự do di chuyển trong khu vực Hơn thế nữa, người lao động của các quốc gia thành viên sẽ được tiếp cận trực tiếp với nền sản xuất hiện đại, với trình độ và kinh nghiệm quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh tiên tiến của thế giới, qua đó trình độ, kỹ năng, tác phong lao động, kiến thức tổ chức, quản lý của người lao động cũng sẽ được nâng lên
Cụ thể hơn, bên cạnh các mục tiêu chung mà mọi quốc gia hướng tới nêu trên, việc tham gia vào TPP của Việt Nam còn có nhiều mục tiêu khác như thúc đẩy việc hoàn thiện nhanh hơn thể chế kinh tế thị trường, cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lại lực lượng lao động, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế và hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành về thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ, lao động…cho phù hợp với yêu cầu nội tại của nền kinh
tế cũng như ngày càng tiệm cần hơn với yêu cầu của pháp luật quốc tế Riêng trong lĩnh vực lao động, tham gia vào TPP là cơ hội để Việt Nam hoàn thiện
7 Xem thêm: Thu Hằng (2016), “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương – Cơ hội thành trái ngọt”, Báo điện tử của Bộ Công thương, tại địa chỉ: http://baocongthuong.com.vn/co-hoi-thanh-trai-ngot.html , ngày truy cập 19/7/2016
8 Xem thêm: Trần Quang Chiến (2015), “Lao động, việc làm: thuận lợi và thách thức sau khi TPP có hiệu lực”, tại địa chỉ: http://viac.vn/tin-tuc/lao-dong-viec-lam:-thuan-loi-va-thach-thuc-sau-khi-tpp-co-hieu-luc- a475.html , ngày truy cập 19/7/2016
Trang 19hệ thống pháp luật về lao động bên cạnh đó, đảm bảo hơn nữa quyền lợi của người lao động theo tiêu chuẩn lao động quốc tế Xét cho cùng, phát triển nguồn nhân lực luôn là mục tiêu cuối cùng và cũng là động lực mạnh nhất của mọi quá trình phát triển kinh tế - xã hội quốc gia và quốc tế.
1.1.3 Việt Nam và việc tham gia vào TPP
- Vai trò của Việt Nam trong TPP
Theo đánh giá chung của các nước thì việc Việt Nam tham gia TPP có
ý nghĩa quan trọng đối với thành công chung của TPP vì các lý do dưới đây:
Thứ nhất, Việt Nam có thể đem lại cơ hội về mở cửa thị trường đáng
kể, đem lại giá trị gia tăng tương đối lớn cho một số nước TPP chưa có quan
hệ FTA với Việt Nam Kể cả với Australia, Nhật Bản, Chile, New Zealand và Singapore – những nước đã có FTA với nước ta, việc Việt Nam vào TPP vẫn mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt là trong những lĩnh vực mà Việt Nam chưa có nhiều cam kết với họ, ví dụ như dịch vụ và đầu tư Ngoài ra, với lợi thể dân số đáng kể, dân số Việt Nam đang ở thế “cơ cấu dân số vàng”, nền kinh tế phát triển năng động và hứa hẹn trở thành thị trường có sức mua lớn Việt Nam là điểm đến được doanh nghiệp các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương quan tâm
Thứ hai, Việt Nam đang có vai trò ngày càng nổi bật trong khu vực và
trên thế giới, trong những năm vừa qua, Việt Nam đã chứng tỏ mình là một quốc gia năng động, nghiêm túc trong việc thực thi cam kết quốc tế, có môi trường chính trị ổn định và đang có vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực, hứa hẹn sẽ trở thành một đối tác quan trọng trong hiện tại và tương lai9
Việc Việt Nam tham gia TPP sẽ giúp tăng thêm ảnh hưởng của TPP ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương đặc biệt trong bối cảnh số quốc gia thể
9 Xem thêm: Trần Quốc Khánh (2015), “Vì sao Việt Nam được mời tham gia TPP”, tại địa chỉ:
http://ndh.vn/vi-sao-viet-nam-duoc-moi-tham-gia-tpp 2015101111003684p4c145.news , ngày truy cập: 22/6/2016
Trang 20hiện sự quan tâm việc gia nhập TPP đang gia tăng, bao gồm cả Hàn Quốc, vùng lãnh thổ Đài Loan, Indonesia, Thái Lan, Philippines, Colombia, Costa Rica và nhiều quốc gia khác10 Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp, do vậy, việc Việt Nam có thể tham gia thành công vào TPP sẽ là bằng chứng thuyết phục các nước có trình độ phát triển kinh tế chưa cao cũng như các nước có nền kinh tế đang phát triển cùng tham gia vào TPP Đây là yếu tố quan trọng để TPP có thể được mở rộng trong tương lai và trở thành Hiệp định FTA của toàn khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Cục diện thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng, trong đó khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là một trong những trọng tâm triển khai chính sách đối ngoại của nhiều cường quốc Đồng thời, cùng với sự trì trệ của đàm phán theo kênh đa phương trong WTO, xu hướng ký kết các thỏa thuận thương mại tự do với với quy mô lớn, thậm chí rất lớn, ngày càng phát triển Trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, hiện đang có 2 hiệp định với quy
mô rất lớn đang được đàm phán là TPP và Hiệp định Đối tác Toàn diện Khu vực hay còn được gọi là RCEP RCEP là Hiệp định giữa ASEAN và 6 nước đối tác gồm Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Oxtraylia và Niu Di-lân đang đàm phán cũng có ý đồ xây dựng tập hợp lực lượng mới, mang tính chiến lược, nhưng với tiêu chuẩn thấp hơn so với TPP
TPP là hiệp định có tiêu chuẩn cao nhưng nhìn chung đa số các nước tham gia đàm phán đều có cơ cấu kinh tế mang tính bổ sung với kinh tế Việt Nam và là các thị trường Việt Nam duy trì xuất siêu với kim ngạch lớn Ngược lại, RCEP có tiêu chuẩn thấp hơn nhưng nhiều nước tham gia lại có cơ cấu kinh tế cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam, tuy nhiên, do chúng ta đã có FTA trong khung khổ đa phương và song phương với tất cả các nước tham gia RCEP nên dự kiến mức độ cạnh tranh sẽ không gia tăng Ngược lại, Việt
10 Phạm Chi Lan (2011) trả lời giao lưu trong Diễn đàn kinh tế Việt Nam, “Cuộc chơi” chủ động của Việt Nam trong hội nhập”, tại địa chỉ: http://www.trungtamwto.vn/tpp/tpp-cuoc-choi-chu-dong-cua-viet-nam- trong-hoi-nhap , ngày truy cập: 28/6/2016
Trang 21Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn để tận dụng sản phẩm đầu vào từ các nước này để xuất khẩu tới các thị trường quan trọng khác, trong đó có các quốc gia thành viên TPP Việc Việt Nam cùng một số nước ASEAN và Nhật Bản tham gia cả
2 hiệp định lớn đang được đàm phán trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương thể hiện tinh thần chủ động của Việt Nam trong đa dạng hóa các mối quan hệ và cân bằng lợi ích với các đối tác lớn11
- Quá trình tham gia TPP của Việt Nam
Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Singapore đã rất tích cực mời Việt Nam tham gia P4 Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Nam chưa nhận lời mời này của Singapore Cho đến khi P4 chuyển thành TPP vào cuối năm 2008, với việc Mỹ quyết định tham gia TPP và trước khi tuyên bố tham gia TPP, Mỹ cũng đã mời Việt Nam cùng tham gia hiệp định này Việt Nam đã cân nhắc lại việc tham gia hay không tham gia TPP12
Cùng thời gian này, trong quá trình nghiên cứu, nhận thấy tầm ảnh hưởng tích cực và sâu rộng của TPP đến sự phát triển của kinh tế cũng như hội nhập quốc tế, Việt Nam ngày càng thể hiện sự quan tâm đối với TPP Tuy nhiên, xét thấy đây là một Hiệp định có tiêu chuẩn cao và khá nhiều nội dung nhạy cảm so với điều kiện của đất nước, nên chủ trương của ta là, một mặt sẽ tiếp cận thận trọng, đi từng bước, có đánh giá, phân tích nhưng mặt khác cũng phải nhạy bén, quyết định kịp thời để không bị bỏ lỡ cơ hội vì tham gia ngay
từ đầu để có quyền đàm phán hình thành ra các quy tắc của TPP, bảo đảm các lợi ích của ta Còn nếu tham gia sau khi Hiệp định đã được ký kết thì ta không được quyền đàm phán nữa mà chỉ có nghĩa vụ phải chấp nhận Vì vậy, bước đầu ta mới chỉ tuyên bố tham gia với tư cách “quan sát viên đặc biệt” một
11 Xem thêm: Võ Chí Thành (2015), “RCEP và TPP - cơ hội nào cho Việt Nam”, tại địa chỉ:
http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/rcep-va-tpp-co-hoi-nao-cho-viet-nam-20150718225401601.chn , ngày truy cập: 28/6/2016
12Xem thêm: Dự án EU – Việt Nam MUTRAP III (2012), “Giới thiệu chung về Hiệp định TPP”, tại địa chỉ:
http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/nr091019083649/ns110923115344 , ngày truy cập: 29/6/2016
Trang 22dạng “thành viên liên kết”, được đàm phán như các thành viên khác nhưng chưa phải cam kết nghĩa vụ gì.
Đến cuối năm 2010, sau 2 năm làm quan sát viên và làm rõ được nhiều vấn đề mà ta quan tâm trong quá trình đàm phán, ta đã chính thức tham gia TPP với tư cách thành viên đầy đủ Sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách “thành viên liên kết”, tháng 11 năm 2010, Việt Nam đã chính thức tham gia vào quá trình đàm phán TPP với tư cách thành viên chính thức13
Sau hơn 5 năm đàm phán với hơn 30 phiên làm việc ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, các nước TPP đã chính thức kết thúc đàm phán Hiệp định vào ngày 05 tháng 10 năm 2015 tại Hội nghị Bộ trưởng tại Át-lan-ta, Hoa Kỳ Ngày 04 tháng 02 năm 2016, Bộ trưởng phụ trách thương mại của 12 nước tham gia TPP gồm Oxtraylia, Bruney, Canada, Chile, Nhật Bản, Malayxia, Mehico, NiuDilân, Peru, Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam đã tham dự Lễ ký kết để xác thực lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, NiuDilân Sau khi ký chính thức, các quốc gia thành viên sẽ tiến hành thủ tục phê chuẩn hiệp định theo quy định của pháp luật nước mình Được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng
đã thay mặt Chính phủ Việt Nam ký xác thực lời văn hiệp định TPP và 35 thỏa thuận song phương trong các lĩnh vực liên quan đến dịch vụ tài chính, dệt may, nông nghiệp, sở hữu trí tuệ… mà Việt Nam đã thống nhất với một số nước TPP Các thỏa thuận song phương này sẽ có hiệu lực cùng thời điểm với TPP14
Liên quan đến điều kiện để TPP được thông qua và có hiệu lực, theo quy định của TPP, có 3 cách để TPP có thể có hiệu lực, cụ thể:
13 Xem thêm: Nguyễn Anh Tuấn (2015), Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và tác động tới Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.20-22
14 Ký xác thực lời văn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, tại địa chỉ: http://tpp.moit.gov.vn , ngày truy cập: 29/6/2016
Trang 23Cách thứ nhất: TPP sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngày mà tất cả các
nước thành viên TPP thông báo cho New Zealand nước đóng vai trò Cơ quan Lưu chiểu của hiệp định về việc đã hoàn tất các thủ tục pháp lý, phê chuẩn nội
bộ của mình
Cách thứ hai: Nếu trong vòng 02 năm kể từ ngày TPP được ký kết mà
hiệp định chưa thể có hiệu lực theo Cách thứ nhất nhưng có ít nhất 06 nước thành viên chiếm ít nhất 85% tổng GDP của khu vực tính theo số liệu chính thức của IMF năm 2013, tức là ít nhất phải bao gồm Hoa Kỳ và Nhật Bản, thông báo đã hoàn tất các thủ tục pháp lý nội bộ, thì hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ khi kết thúc thời hạn 2 năm đó Hoa Kỳ và Nhật Bản là hai nước có GDP lớn nhất trong TPP, chiếm lần lượt là 60,27% và 17,68% năm
2013, vì vậy, nếu không có hai nước này thì ngưỡng 85% sẽ không thể đáp ứng được, đồng nghĩa với việc TPP muốn có hiệu lực trong trường hợp này sẽ không thể thiếu một trong hai nước nêu trên
Cách thứ ba: Nếu cả hai trường hợp trên không xảy ra, thì Hiệp định sẽ
có hiệu lực sau 60 ngày kể từ bất kỳ thời điểm có ít nhất 06 nước thành viên chiếm ít nhất 85% tổng GDP của khu vực thông báo hoàn tất thủ tục pháp lý nội bộ15
Đối với các trường hợp TPP có hiệu lực theo Cách thứ hai hoặc Cách thứ ba, TPP chỉ có hiệu lực với các nước đã hoàn tất quá trình phê chuẩn và thông qua nội bộ tại thời điểm đó Các nước thành viên còn lại nếu muốn hiệp định có hiệu lực với mình sẽ phải thông báo với các nước đã thông qua về việc mình đã hoàn thành các thủ tục phê chuẩn nội bộ và ý định muốn trở thành một thành viên của hiệp định Trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận được thông báo, Hội đồng Đối tác Xuyên Thái Bình Dương bao gồm đại diện các nước thành viên đã phê chuẩn TPP sẽ quyết định xem TPP có hiệu lực với
15 Trung tâm WTO và hội nhập – VCCI (2016), “Bước tiếp nhịp TPP”, tại địa chỉ:
http://www.trungtamwto.vn/tin-tuc/buoc-tiep-nhip-tpp , ngày truy cập: 30/6/2016
Trang 24nước thông báo đó không Nói cách khác, TPP sẽ tự động có hiệu lực với các nước phê chuẩn TPP “đợt đầu”, còn với các nước TPP còn lại, TPP sẽ chỉ có hiệu lực với họ khi được các nước phê chuẩn “đợt đầu” đồng ý
Theo dự báo, thời gian để các quốc gia thành viên hoàn tất các bước rà soát pháp lý, ký kết và đặc biệt là phê chuẩn theo các thủ tục nội bộ có thể kéo dài từ 18 đến 24 tháng Nếu việc thực hiện các công việc trên diễn ra thuận lợi, dự kiến TPP có thể sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, vì vậy, Việt Nam hiện đang rất chủ động và tích cực trong việc chuẩn bị cho việc phê chuẩn TPP Phê chuẩn TPP sớm có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc thúc đẩy hoàn thiện hệ thống pháp luật trong nước mà còn tạo cho các doanh nghiệp, người dân và toàn bộ xã hội có đủ thời gian để chuẩn bị và chủ động tham gia khi hiệp định được ký kết
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 14 diễn ra từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 01 năm 2016, Ban Chấp hành Trung ương khoá XI đã thông qua nghị quyết cho phép Chính phủ ký và giao Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn theo quy định của pháp luật Tháng 5 năm 2016, Văn phòng Chính phủ vừa
có thông báo về việc trình Quốc hội phê chuẩn TPP vào kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV tháng 7 năm 2016 Tờ trình phê chuẩn TPP theo quy định của Hiến pháp 2013 và Luật Điều ước quốc tế 2016 sẽ do Bộ Công thương chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành liên quan soạn thảo, hoàn thiện trình ký Thủ tướng Chính phủ, sau đó, tờ trình này sẽ được Chủ tịch nước xem xét, quyết định trình Quốc hội phê chuẩn Liên quan đến việc báo cáo rà soát sơ
bộ pháp luật của Bộ Tư pháp và danh mục các văn bản quy phạm pháp luật kiến nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành mới phù hợp với lộ trình và yêu cầu của hiệp định, Chính phủ đã thông qua nội dung báo cáo này, tuy nhiên vẫn yêu cầu Bộ Tư pháp tiếp tục rà soát để đảm bảo thực thi TPP và tiếp tục báo cáo Chính phủ tại phiên họp thường kỳ tháng 12 năm 201616
Trang 25Tóm lại, cần phải hiểu rõ TPP có thể sẽ không đồng loạt có hiệu lực ở tất cả các nước thành viên Trong trường hợp Việt Nam có thể hoàn tất các thủ tục pháp lý và phê chuẩn nội bộ của mình theo yêu cầu của TPP trong đợt đầu, TPP sẽ có hiệu lực tự động với Việt Nam và Việt Nam sẽ có nhiều ưu thế hơn so với các nước được phê chuẩn sau Trong trường hợp không thể điều chỉnh kịp thời, Việt Nam có thể sẽ phải chờ ý kiến đồng ý của các nước TPP
để thông qua hiệp định, tuy nhiên, việc phải chờ ý kiến chấp thuận của các nước khác là rất rủi ro khi các nước với lợi thế của mình sẽ đòi hỏi thêm các nhượng bộ khác ngoài các cam kết đã đưa ra trong đàm phán trước khi chấp thuận, gây khó khăn cho Việt Nam khi tham gia vào TPP Chính vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam, người dân cùng toàn bộ xã hội cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền trong việc rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật và thực hiện các thủ tục cần thiết để Việt Nam có thể là một trong các thành viên thuộc nhóm nước TPP có hiệu lực đợt đầu
1.2 Nội dung cam kết về lao động trong TPP
1.2.1 Cam kết về lao động trong TPP
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm quyền lợi và điều kiện lao động cơ bản của người lao động ngày càng được coi trọng trên cơ sở coi người lao động là người trực tiếp làm ra các sản phẩm, dịch vụ trong thương mại quốc tế Vì vậy, tuân thủ tiêu chuẩn lao động quốc tế là nội dung không thể thiếu trong các FTA và trở thành một xu thế trong những năm gần đây trên thế giới Ngoài ra, việc đưa nội dung về lao động vào các FTA còn có mục đích bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng giữa các bên trong quan
hệ thương mại, một nước duy trì tiêu chuẩn lao động thấp, tiền lương và các điều kiện lao động không được xác lập trên cơ sở thương lượng được cho là
sẽ có chi phí sản xuất thấp hơn so với nước thực hiện những tiêu chuẩn cao
16 Chuẩn bị trình Quốc hội phê chuẩn Hiệp định TPP (2016), tại địa chỉ:
http://vpcp.chinhphu.vn/Home/Chuan-bi-trinh-Quoc-hoi-phe-chuan-Hiep-dinh-TPP/20163/18252.vgp , ngày truy cập: 5/7/2016
Trang 26hơn để bảo vệ tốt hơn quyền lợi chính đáng của người lao động Không nằm ngoài xu thế đó, các thành viên tham gia TPP cũng đã thống nhất và đưa ra một chương cam kết riêng về lao động trong TPP với các nội dung chính sau:
Thứ nhất, TPP không đưa ra tiêu chuẩn riêng về lao động mà chỉ khẳng
định lại các tiêu chuẩn lao động được nêu trong Tuyên bố năm 1998 của ILO
về Những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động mà tất cả các nước thành viên TPP đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực thi với tư cách thành viên ILO17, bao gồm: Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động theo Công ước số 87 và 98 của ILO; Xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc theo Công ước số 29
và 105 của ILO; Cấm sử dụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất theo Công ước số 138 và 182 của ILO; Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp theo Công ước số 100 và
111 của ILO18
Việt Nam là thành viên của ILO từ năm 1992 Với tinh thần bảo đảm điều kiện lao động tốt nhất cho người lao động, Việt Nam đã chủ động phê chuẩn 5 công ước cơ bản của ILO, bao gồm các công ước số 29, 100, 111,
138 và 182 Với 3 công ước cơ bản còn lại là các Công ước số 87, 98 và 105, Việt Nam đã và đang tiến hành nghiên cứu và chuẩn bị để trình cơ quan có thẩm quyền phê chuẩn Tuy nhiên, theo Tuyên bố năm 1998 của ILO thì các nước thành viên ILO dù đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các công ước cơ bản nêu trên đều có nghĩa vụ tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện những tiêu chuẩn lao động được đề cập trong các công ước đó Do đó, có thể thấy các yêu cầu về lao động trong TPP cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với các quốc gia thành viên ILO
17 Xem thêm: Article 19.3 – Labour Rights: Co-operation, Chapter 19: Labour, The Trans-Pacific
Partnership, tại địa chỉ: https://ustr.gov/tpp/#text , ngày truy cập: 23/6/2016
18 Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động – CIRD (2016), “Bản tin Quan hệ lao động số 15”, tại địa chỉ: http://cird.gov.vn/news.php?cate=36 , ngày truy cập 01/6/2016
Trang 27Đối với những nội dung liên quan đến xóa bỏ lao động cưỡng bức, lao động trẻ em, xóa bỏ phân biệt đối xử trong lao động thì về cơ bản, hệ thống pháp luật của Việt Nam đã phù hợp với các tiêu chuẩn của ILO và cam kết TPP Việt Nam đã và đang triển khai một số chương trình hành động quốc gia
để thực thi các tiêu chuẩn trên trong thực tiễn Để tương thích với các tiêu chuẩn của ILO và cam kết TPP cũng như để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của người lao động, Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục hoàn thiện luật pháp
và các cơ chế liên quan như: áp dụng chế tài hình sự đối với hành vi sử dụng lao động cưỡng bức hoặc lao động bắt buộc; cấm phân biệt đối xử về mọi khía cạnh của việc làm và nghề nghiệp; bảo đảm quyền tiếp cận việc làm bình đẳng của phụ nữ, bãi bỏ quy định cấm phụ nữ tham gia vào một số ngành nghề, công việc cụ thể Đối với cam kết về đảm bảo điều kiện lao động liên quan tới lương tối thiểu, giờ làm việc và an toàn lao động, hệ thống luật pháp của Việt Nam về cơ bản đã quy định đầy đủ về những nội dung này nên không có yêu cầu về việc sửa đổi, bổ sung19
Thứ hai, về quyền thành lập tổ chức đại diện của người lao động, theo
hiệp định, Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia tham gia TPP phải tôn trọng
và bảo đảm quyền của người lao động trong việc thành lập và gia nhập tổ chức của người lao động tại cơ sở Tổ chức của người lao động tại cơ sở có thể lựa chọn gia nhập Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam hoặc đăng ký với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chính thức hoạt động và sẽ chỉ được hoạt động sau khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng ký theo một quy trình minh bạch và được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật
Tổ chức của người lao động, sau khi hoàn thành việc đăng ký, sẽ có một số quyền tự chủ phù hợp với quy định của ILO và pháp luật Việt Nam
19 Nguyễn Mạnh Cường (2016), “Nội dung chủ yếu về lao động trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình
http://tpp.moit.gov.vn/App_File%5CTPP%5Cabout/Tai%20lieu%20gioi%20thieu%20noi%20dung%20Lao
%20dong%20trong%20TPP.pdf , ngày truy cập: 23/5/2016
Trang 28ILO cũng như TPP luôn nhấn mạnh việc tất cả các tổ chức của người lao động phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của nước sở tại cũng như phải hoạt động phù hợp với tôn chỉ, mục đích và phương thức hoạt động đã được đăng ký Tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức của người lao động phải bảo đảm theo đúng các tiêu chuẩn của ILO là để đại diện, bảo vệ cho các quyền và lợi ích của người lao động tại doanh nghiệp mà họ làm việc thông qua các hình thức tương tác được quy định trong pháp luật bao gồm đối thoại, thương lượng tập thể, đình công và các hành động tập thể khác trong quan hệ lao động Các tổ chức của người lao động không được phép tiến hành bất cứ hoạt động nào có khả năng xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội cũng như không được tham gia bất cứ hoạt động nào ngoài tôn chỉ mục đích phù hợp với quy định của ILO và đã đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Để tổ chức đại diện của người lao động có thể đại diện một cách hiệu quả quyền và lợi ích của người lao động, hiệp định cũng bao gồm các nội dung nhằm bảo vệ tổ chức đại diện của người lao động khỏi sự can thiệp và tác động của người sử dụng lao động đến quá trình thực hiện vai trò đại diện
và bảo vệ cho quyền lợi của người lao động Ngoài ra, hiệp định cũng có những quy định bảo đảm sự bình đẳng cho tổ chức đại diện của người lao động khi tiến hành thương lượng tập thể với người sử dụng lao động về các vấn đề như tiền lương hay các điều kiện lao động khác cho người lao động
Thứ ba, hiệp định đưa ra quy định cụ thể về cơ chế hợp tác giữa các
quốc gia thành viên Các nguyên tắc hợp tác được đề cập đến trong hiệp định bao gồm 7 nguyên tắc, tiêu biểu như: việc hợp tác sẽ được thực hiện theo nguyên tắc xem xét đến quyền ưu tiên của mỗi quốc gia, đến mức độ phát triển và nguồn lực có sẵn của mỗi quốc gia; hợp tác vì lợi ích chung cũng là một trong những nguyên tắc hợp tác quan trọng mà các quốc gia thành viên phải tôn trọng; bên cạnh đó, việc hợp tác còn cần phải dựa trên nguyên tắc
Trang 29minh bạch và đảm bảo sự tham gia của công chúng đến các vấn đề trong hiệp định20.
TPP cũng được đánh giá là một trong những hiệp định mà xác định lĩnh vực hợp tác đầy đủ và toàn diện nhất trong các FTA mà Việt Nam tham gia từ trước đến giờ, thể hiện ở việc hiệp định đã chỉ rõ ra 20 lĩnh vực hợp tác từ hợp tác để giải quyết và tạo thêm việc làm cho người lao động đến việc hợp tác để bảo vệ quyền lợi cho người lao động trong mọi mặt như: đảm bảo thu nhập và tiền lương của người lao động; đảm bảo an toàn và sức khỏe lao động; đảm bảo sự bình đẳng và không phân biệt đối xử trong mọi vấn đề giữa người lao động với nhau…Ngoài ra, hiệp định còn xác định cả việc hợp tác để đảm bảo người lao động được quyền tham gia vào quá trình xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật cũng như tham gia đối thoại xã hội và một số lĩnh vực khác21
Hiệp định cũng đề xuất 4 hình thức cơ bản để thực hiện 20 lĩnh vực hợp tác bao gồm: tổ chức các hội nghị, hội thảo và đối thoại để chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm thực hiện hợp tác; tổ chức các chuyến tham quan, nghiên cứu để học tập kinh nghiệm và phương pháp hợp tác giữa các quốc gia thành viên với nhau; hợp tác trong hoạt động nghiên cứu và thực hiện việc trao đổi chuyên gia trợ giúp kỹ thuật lẫn nhau và các hình thức hợp tác phù hợp khác mà các quốc gia có thể quyết định22
Cùng với đó, hiệp định cũng đưa ra cơ chế thực thi các cam kết về lao động thông qua các hình thức như: Đối thoại, xây dựng các đầu mối liên lạc
và thành lập các Hội đồng lao động giữa các nước thành viên23
20 Xem thêm: Section 2, Article 19.10: Co-operation, Chapter 19: Labour, The Trans-Pacific Partnership, tại địa chỉ https://ustr.gov/tpp/#text , ngày truy cập: 23/6/2016
21 Xem thêm: Section 6, Article 19.10: Co-operation, Chapter 19: Labour, The Trans-Pacific Partnership, tại địa chỉ: https://ustr.gov/tpp/#text , ngày truy cập: 23/6/2016
22 Xem thêm: Section 7, Article 19.10: Co-operation, Chapter 19: Labour, The Trans-Pacific Partnership, tại địa chỉ: https://ustr.gov/tpp/#text , ngày truy cập: 23/6/2016
23 Xem thêm: Article 19.11 - Cooperative Labour Dialogue & Article 19.12 - Labour Council, Chapter 19: Labour, The Trans-Pacific Partnership, tại địa chỉ: https://ustr.gov/tpp/#text , ngày truy cập: 23/6/2016
Trang 30Hiệp định cũng nhấn mạnh sự tham gia của công chúng vào quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật lao động ở mỗi quốc gia, bên cạnh đó, hiệp định còn thúc đẩy các hoạt động tham vấn lao động và chia sẻ thông tin giữa các quốc gia thành viên trong giải quyết các vụ việc về lao động trước khi áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo quy định chung tại hiệp định Việc vi phạm các cam kết về lao động có thể dẫn đến việc bị áp dụng chế tài thương mại24
1.2.2 Phụ lục về cam kết song phương giữa Việt Nam – Hoa Kỳ
Khác với các FTA mà Việt Nam đã tham gia, riêng đối với TPP, chúng
ta còn phải thực hiện thêm một Phụ lục về cam kết song phương nữa để đảm bảo cho việc đáp ứng các yêu cầu của TPP trước khi TPP có hiệu lực đối với Việt Nam Sở dĩ có thêm Phụ lục về cam kết song phương giữa Việt Nam – Hoa Kỳ là do theo luật pháp của Hoa Kỳ, Quốc hội sẽ chỉ thông qua FTA với một nước khác sau khi nước đó đã hoàn thành việc sửa đổi luật pháp quốc gia cho tương thích với cam kết và đã có bộ máy để sẵn sàng thực hiện
Vì 6/11 nước đối tác đàm phán TPP với Hoa Kỳ đã có FTA với Hoa Kỳ nên việc rà soát, điều chỉnh luật pháp của các nước này đã hoàn thành khi đó Tuy nhiên, trong số 5 nước chưa ký FTA với Hoa Kỳ thì Nhật Bản và Niu Di Lân về cơ bản là đã có luật pháp tương thích với TPP, vì vậy, Hoa Kỳ chỉ ký phụ lục với 3 nước còn lại là Việt Nam, Malaysia và Bruney về những khác biệt cần điều chỉnh cho tương thích với cam kết TPP
Bản phụ lục Kế hoạch của Việt Nam và Hoa Kỳ về tăng cường thương mại và quan hệ lao động hay còn gọi là Phụ lục cam kết song phương giữa Việt Nam – Hoa Kỳ đưa ra cách hiểu chung giữa hai bên về việc Việt Nam thực hiện cam kết về chương Lao động trong TPP ở mức “thông qua và duy trì”25 Việt Nam sẽ thực thi các cải cách pháp luật bằng việc sửa đổi các luật,
24 Xem thêm: Article 19.14 - Public Engagement & Article 19.12 - Labour Consultations, Chapter 19: Labour, The Trans-Pacific Partnership, tại địa chỉ: https://ustr.gov/tpp/#text , ngày truy cập: 23/6/2016
Trang 31nghị định, quy định hiện hành hoặc ban hành các luật, nghị định, quy định mới và sẽ đảm bảo sự nhất quán giữa các quy định của pháp luật với cam kết
về lao động của Việt Nam trong TPP Phụ lục bao gồm các nội dung chính dưới đây:
Thứ nhất, Phụ lục yêu cầu Việt Nam phải điều chỉnh và cải cách pháp
luật hiện hành nhằm bảo đảm quyền tự do liên kết và thành lập tổ chức đại diện cho người lao động theo sự lựa chọn của họ ở cơ sở Tổ chức đại diện cho người lao động có thể đăng ký với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, hoặc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được chính thức hoạt động và
sẽ chỉ được hoạt động sau khi được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận đăng ký theo một quy trình minh bạch và được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật26
Tổ chức đại diện người lao động đăng ký với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam hoặc với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đều có quyền như nhau
Tổ chức đại diện người lao động ở cấp cơ sở có quyền thành lập hoặc gia nhập tổ chức đại diện của người lao động cấp liên doanh nghiệp hoặc cấp cao hơn, gồm cả cấp ngành và cấp vùng Việt Nam cũng cam kết sẽ bảo đảm sự độc lập của tổ chức đại diện người lao động và bảo đảm các quy định của pháp luật không bắt buộc các tổ chức đại diện lao động đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện Điều lệ công đoàn Việt Nam mà có thể tự ban hành và thực hiện theo điều lệ của tổ chức mình
Tổ chức của người lao động phải hoạt động phù hợp với tôn chỉ, mục đích và phương thức hoạt động đã được đăng ký với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền đại diện, bảo vệ cho các quyền và lợi ích hợp
25 Nguyễn Mạnh Cường (2016), “Tọa đàm về cam kết lao động trong TPP”, tại địa chỉ:
http://www.hlu.edu.vn/tintuc/4270/TOA-DAM-VE-CAM-KET-LAO-DONG-TRONG-TPP.html , ngày truy cập: 13/6/2016
26 Phạm Trọng Nghĩa (2015), “Cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP: Cần đánh giá tác động toàn diện”, tại địa chỉ: http://nghiencuuquocte.org/2015/11/16/cam-ket-lao-dong-viet-nam-tpp-tac-dong-toan- dien/, ngày truy cập 22/06/2016
Trang 32pháp của người lao động tại doanh nghiệp nơi họ làm việc Bên cạnh đó, các
tổ chức của người lao động không được phép tiến hành bất cứ hoạt động nào
có khả năng xâm hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, cũng như không được tham gia bất cứ hoạt động nào ngoài tôn chỉ mục đích và Điều lệ hoạt động đã được đăng ký với Cơ quan nhà nước có thẩm quyền27
Ngoài ra, Việt Nam cũng cam kết bổ sung thêm quy định để bảo đảm nghiêm cấm sự can thiệp của người sử dụng lao động vào hoạt động của tổ chức đại diện lao động Cùng với đó, Việt Nam cũng sẽ phải quy định mở rộng phạm vi các loại hình công việc mà người lao động được đình công, bổ sung quy định về lao động cưỡng bức và quy định về chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc28
Thứ hai, bản phụ lục quy định nghĩa vụ của Việt Nam về cải cách về tổ
chức bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ, xây dựng chương trình, chiến lược phòng chống lao động cưỡng bức và lao động trẻ em; nghĩa vụ công khai minh bạch thông tin, đảm bảo sự tham gia của công chúng trong quá trình soạn thảo các văn bản pháp luật; tuyên truyền, giáo dục cho người lao động
và người sử dụng lao động; thành lập Đầu mối liên lạc, nâng cao năng lực cán
bộ thanh tra29
Thứ ba, phụ lục còn xác định cơ chế hợp tác, hỗ trợ kỹ thuật, rà soát
song phương, đánh giá việc thực thi và chế tài giữa các bên Kế hoạch hành động sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo TPP ngoại trừ quy định về sự tham gia của bên thứ ba, đồng thời, các quy định của TPP về các ngoại lệ cũng áp dụng cho bản Phụ lục này30
27 Phạm Trọng Nghĩa (2015), “Cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP: Cần đánh giá tác động toàn diện”, tại địa chỉ: http://nghiencuuquocte.org/2015/11/16/cam-ket-lao-dong-viet-nam-tpp-tac-dong-toan- dien/, ngày truy cập 22/06/2016
28 Xem thêm: Part H & I, Section II, United States-Viet Nam Plan for the Enhancement of Trade and Labour Relations, tại địa chỉ: https://ustr.gov/sites/default/files/TPP-Final-Text-Labour-US-VN-Plan-for- Enhancement-of-Trade-and-Labour-Relations.pdf , ngày truy cập 22/6/2016
29 Xem thêm: Section III, United States-Viet Nam Plan for the Enhancement of Trade and Labour Relations, tại địa chỉ: https://ustr.gov/sites/default/files/TPP-Final-Text-Labour-US-VN-Plan-for-Enhancement-of- Trade-and-Labour-Relations.pdf , ngày truy cập 22/6/2016
Trang 33Có thể nhận thấy, mặc dù tên gọi của bản Phụ lục cam kết song phương này là nhằm thúc đẩy quan hệ thương mại và lao động nhưng nội dung chỉ tập trung vào vấn đề lao động, bên cạnh đó, những nội dung của Kế hoạch hành động chỉ quy định nghĩa vụ của Việt Nam là chính Nếu đối chiếu các cam kết trong TPP và nội dung của Kế hoạch này với 10 mục tiêu về lao động mà Hoa
Kỳ đặt ra khi đàm phán TPP thì có thể thấy Hoa Kỳ đã thành công hơn trong đàm phán về lao động và đã đạt được tất cả các mục tiêu cơ bản mà Hoa Kỳ đặt ra Đối với Việt Nam, các cam kết về cải cách pháp luật và thể chế quy định trong Phụ lục cam kết song phương sẽ phải được thực hiện và hoàn thành trước ngày TPP có hiệu lực đối với Hoa Kỳ và Việt Nam trừ quy định
về việc “Tổ chức đại diện người lao động ở cấp cơ sở có quyền thành lập hoặc gia nhập tổ chức đại diện của người lao động cấp liên doanh nghiệp hoặc cấp cao hơn, gồm cả cấp ngành và cấp vùng” sẽ được Việt Nam thực hiện trong thời hạn 5 năm kể từ ngày TPP có hiệu lực đối với Hoa Kỳ và Việt Nam
1.3 Mức độ cam kết và đảm bảo thực hiện
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, nội dung và phạm vi cam kết của các FTA đang ngày càng được mở rộng Nếu như trong giai đoạn đầu, các FTA chủ yếu quy định về thương mại truyền thống như việc giảm thiểu hàng rào thương mại như thuế quan, quota, hải quan thì dần dần FTA chứa đựng các quy định nhằm bảo đảm cạnh tranh lành mạnh như sở hữu trí tuệ, đầu tư và tiếp tục mở rộng phạm vi điều chỉnh đến những vấn đề không liên quan trực tiếp đến thương mại truyền thống như lao động và môi trường
Việc đưa các nội dung về lao động vào trong FTA xuất phát từ quan điểm cho rằng chi phí lao động luôn chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất Việc bình đẳng trong lao động là điều kiện để đảm bảo sự bình đẳng trọng
30 Xem thêm: Section IV, United States-Viet Nam Plan for the Enhancement of Trade and Labour Relations, tại địa chỉ: https://ustr.gov/sites/default/files/TPP-Final-Text-Labour-US-VN-Plan-for-Enhancement-of- Trade-and-Labour-Relations.pdf , ngày truy cập 22/6/2016
Trang 34cạnh tranh và duy trì đạo đức trong thương mại quốc tế Dù ở mỗi quốc gia có mức thu nhập và điều kiện sống khác nhau nhưng những nguyên tắc và quyền
cơ bản trong lao động cần phải được đảm bảo như một chuẩn mực của sự công bằng và cạnh tranh bình đẳng31 Vì vậy, nếu như vào thời điểm thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm 1995, mới có 4 FTA có nội dung về lao động thì đến tháng 01 năm 2015, đã có 72 FTA có nội dung về lao động32
Nếu như trong FTA trước đó, mức độ cam kết chỉ dừng ở việc “cố gắng đảm bảo” và “nỗ lực hoàn thiện” thì trong TPP, mức độ cam kết là “Thông qua và duy trì” “Thông qua” tức là đưa các cam kết vào hệ thống luật pháp của mỗi nước; “Duy trì” tức là thực thi một cách có hiệu lực và hiệu quả những cam kết trong thực tế
TPP quy định các quốc gia không được làm giảm nhẹ hoặc miễn trừ đối tượng hoặc phạm vi áp dụng theo đúng các cam kết mà các quốc gia đã cam kết trong TPP Bên cạnh đó, các quốc gia cũng không được viện dẫn lý do không đủ nguồn lực để không thực thi có hiệu quả các cam kết về lao động và phải đảm bảo hệ thống tư pháp đủ hiệu quả và minh bạch để thực thi các cam kết Hiệp định cũng có những quy định để đảm bảo việc công bố thông tin cho công chúng về luật pháp cũng như những biện pháp thực thi cam kết trong thực tế TPP là hiệp định đầu tiên đưa “trừng phạt thương mại” vào cơ chế giám sát và thực thi các cam kết về lao động trong TPP bên cạnh cơ chế đối thoại, tham vấn và hội đồng trọng tài
Tính đến thời điểm hiện tại, TPP được đánh giá là hiệp định thương mại không chỉ sâu và rộng về nội dung, phạm vi, lĩnh vực cam kết mà còn là
31 Xem thêm: Phạm Trọng Nghĩa (2015), “Cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP: Cần đánh giá tác động toàn diện”, tại địa chỉ: http://nghiencuuquocte.org/2015/11/16/cam-ket-lao-dong-viet-nam-tpp-tac- dong-toan-dien/, ngày truy cập 22/06/2016
32 Nội dung chủ yếu về lao động trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tại địa chỉ:
http://www.trungtamwto.vn/sites/default/files/05._tai_lieu_noi_dung_chu_yeu_ve_lao_dong_trong_hiep_din h_tpp.pdf , ngày truy cập: 23/5/2016
Trang 35hiệp định có các điều khoản về lao động chặt chẽ nhất so với tất cả các FTA trong lịch sử.
Để bảo đảm thực thi có hiệu quả các cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP, Việt Nam buộc phải triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, hoàn thiện tổ chức bộ máy và tăng cường năng lực của các thiết chế có liên quan như Thanh tra lao động, cơ quan quản lý Nhà nước về công đoàn và quan hệ lao động Ngay sau khi hiệp định được các cấp
có thẩm quyền phê chuẩn và đề ra các chủ trương thực hiện, trong thời gian 2 năm, Việt Nam sẽ sửa đổi hoặc ban hành các văn bản pháp luật tạo điều kiện cho việc thực thi các nội dung về lao động trong TPP trên cơ sở phù hợp với các quy định của ILO33
Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có thể dưới các hình thức như Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và một số văn bản cần thiết khác để đảm bảo các nội dung về lao động trong TPP được triển khai đồng bộ trên cơ sở phân công nhiệm vụ rõ ràng cho các cơ quan quản lý Nhà nước, đảm bảo phù hợp với pháp luật Việt Nam cũng như các tiêu chuẩn của ILO Cùng với đó, để việc thực thi các nội dung của hiệp định diễn ra thuận lợi, Việt Nam sẽ xây dựng các chương trình hợp tác và tranh thủ sự hỗ trợ của các quốc gia thành viên trong TPP, tranh thủ sự hỗ trợ
kỹ thuật từ phía ILO nhằm triển khai thực thi có hiệu quả các nội dung về lao động được đề cập trong hiệp định
Kết luận Chương I
Chương I của luận văn đã chỉ ra những vấn đề cơ bản nhất về (i) sự hình thành của TPP; (ii) các cam kết về lao động của Việt Nam trong TPP; (iii) vai trò và sự tham gia của Việt Nam trong TPP, qua đó đưa ra cách nhìn
33 Mai Đức Chính (2016), “Lao động trong Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP): Đảm bảo tốt hơn các quyền cơ bản của người lao động”, tại địa chỉ: http://laodong.com.vn/cong-doan/lao-dong-trong- hiep-dinh-doi-tac-xuyen-thai-binh-duong-tpp-dam-bao-tot-hon-cac-quyen-co-ban-cua-nguoi-lao-dong- 398320.bld , ngày truy cập: 28/6/2016
Trang 36toàn diện về nội dung cam kết về lao động trong TPP Đây là cơ sở quan trọng làm tiền đề cho sự nghiên cứu về tác động của TPP đối với việc điều chỉnh pháp luật của Việt Nam cũng như nghiên cứu về thực trạng pháp luật của Việt Nam hiện hành để đưa ra những giải pháp điều chỉnh thích hợp, đảm bảo cho việc phát sinh hiệu lực của TPP trong thời gian tới.
Trang 37CHƯƠNG II.
Trang 38RÀ SOÁT CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VÀ YÊU CẦU HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG KHI VIỆT NAM THAM GIA VÀO TPP
2.1 Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam
Việt Nam có bề dày kinh nghiệm trong việc điều chỉnh và hoàn thiện các quy định pháp luật lao động thể hiện bằng sự ra đời của Bộ luật Lao động năm
1994, các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động năm 2002,
2006 và 2007 và đặc biệt là sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 2012 Bộ luật Lao động năm 2012 đã được Quốc hội thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ ngày
01 tháng 05 năm 2013, bao gồm 17 Chương và 242 Điều Sự ra đời của Bộ luật Lao động năm 2012 được đánh giá là một sự thay đổi mạnh mẽ về khung khổ pháp luật nhằm tạo điều kiện cho quan hệ lao động cũng như thị trường lao động Việt Nam phát triển ổn định và bền vững, thể hiện ở nhiều điểm tiến bộ như:
Thứ nhất, các quy định pháp luật đã đáp ứng được việc điều chỉnh các
quan hệ lao động phát sinh trong thị trường lao động Việt Nam
Pháp luật lao động đã có những quy định rất rõ ràng về nguyên tắc giao kết hợp đồng, phân loại các loại hợp đồng lao động nhằm minh bạch các quyền
và nghĩa vụ giữa người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thực hiện Hợp đồng lao động theo hướng bảo vệ người lao động là nhóm người yếu thế trong quan hệ lao động Đặc biệt, các quy định điều chỉnh về vấn đề cho thuê lại lao động đã thiết lập một hành lang pháp lý để loại quan hệ lao động mới được hình thành này được phát triển một cách lành mạnh
Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về đối thoại tại nơi làm việc và thương lượng tập thể đã tạo cơ sở tiền đề cho việc ký kết thỏa ước lao động tập thể, hình thành quan hệ lao động tập thể theo hướng hài hòa quyền, lợi ích của các bên và phòng ngừa được những vướng mắc có thể phát sinh trong quan hệ lao động
Trang 39Ngoài ra, pháp luật lao động còn quy định về việc thành lập Hội đồng tiền lương quốc gia, trong đó có sự tham gia của tổ chức đại diện người sử dụng lao động với chức năng là cơ quan ấn định tiền lương tối thiểu đã bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động trong điều kiện diễn biến giá cả phức tạp của kinh tế thị trường, quy định nêu trên còn giúp cho các đối tác xã hội trở nên tích cực hơn trong việc tham gia điều chỉnh thị trường lao động.
Điểm tiến bộ của pháp luật lao động còn được thể hiện ở các quy định chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi và thể chất của nhóm lao động yếu thế bao gồm lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động khuyết tật và người lao động cao tuổi
Các quy định về việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng lao động song song với việc bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động cũng được xây dựng và phù hợp với đặc điểm của quan hệ lao động Việt Nam
Đặc biệt, quy định của pháp luật lao động hiện hành đã đảm bảo quyền
tự do thương lượng và định đoạt của các bên được tôn trọng ở mức độ cao, thể hiện bằng việc hạn chế sự can thiệp hành chính của nhà nước vào quan hệ lao động Những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích các bên sẽ do các bên
tự định đoạt trên cơ sở của sự thỏa thuận, thương lượng với sự hỗ trợ của các thiết chế, công cụ pháp lý phù hợp như thương lượng tập thể, tổ chức đại diện,
cơ chế ba bên Quyền quản lý của nhà nước trong lĩnh vực lao động chỉ được thực hiện ở mức độ cần thiết
Thứ hai, các quy định pháp luật lao động đã khá tương thích với các tiêu
chuẩn lao động trong các công ước quốc tế về lao động mà Việt Nam là thành viên
Việt Nam là thành viên của ILO từ năm 1992 nên pháp luật lao động của Việt Nam luôn hướng tới sự phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế Hiện nay, Việt Nam đã phê chuẩn 21 công ước của ILO về lao động quốc tế, trong
Trang 40đó có 5/8 công ước cơ bản bao gồm: Công ước số 29 về xóa bỏ lao động cưỡng bức; Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ; Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử trong công việc; Công ước số 138
về độ tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc; Công ước số 182 về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất34
Hầu hết các tiêu chuẩn lao động trong các công ước mà Việt Nam đã thông qua đều được nội luật hóa bằng một số quy định trong Bộ luật Lao động năm 2012, chẳng hạn:
Về vấn đề lao động cưỡng bức, Bộ luật Lao động năm 2012 đã xây dựng quy định định nghĩa thế nào là lao động cưỡng bức theo tinh thần của Điều 2 Công ước số 29 trong Khoản 10 Điều 3 và quy định lao động cưỡng bức là một hành vi bị nghiêm cấm trong Điều 8 Bộ luật Lao động năm 2012
Về vấn đề chống phân biệt đối xử trong công việc và trả công bình đẳng,
Bộ luật Lao động năm 2012 đã có rất nhiều quy định về vấn đề này thể hiện trong chính sách của Nhà nước về lao động trong việc bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới và bảo vệ lao động yếu thế trong Khoản 4 Điều 7, quyền tự do lựa chọn việc làm của người lao động mà không bị phân biệt đối xử trong điểm a Khoản 1 Điều 5 và đặc biệt là quy định nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối
xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín ngưỡng, tôn giáo…trong Khoản 1 Điều 8 phù hợp với quy định tại Điều 1 của Công ước số 100 và 111
Về vấn đề độ tuổi tối thiểu được nhận vào làm việc, quy định về người lao động chưa thành niên, việc sử dụng lao động chưa thành niên quy định tại Điều 161, Điều 162, Điều 163 và Điều 164 của Bộ luật Lao động năm 2012 về
cơ bản là phù hợp với quy định về mức tuổi lao động tối thiểu cơ bản được quy định trong Điều 2 Công ước số 138, tuổi tối thiểu được áp dụng các công việc
34 Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động – CIRD (2016), “Tuyên bố năm 1998 và 8 Công ước cơ bản của tổ chức lao động quốc tế”, Nxb Lao động, Hà Nội, tr 5-6