1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (Luận văn thạc sĩ)

81 127 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng NamThực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DỰ ÁN

ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ

ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS PHẠM CAO CƯỜNG

HÀ NỘI, năm 2018

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

XDCB giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vai trò và ý nghĩa của XDCB có thể nhìn thấy rõ từ sự đóng góp của lĩnh vực này trong quá trình tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, cải tạo sửa chữa lớn hoặc khôi phục các công trình hư hỏng Nhận thấy được vai trò của XDCB nên hàng năm thị xã Điện Bàn dành một tỷ lệ nguồn vốn lớn từ NSNN để chi cho các dự án đầu tư XDCB Tổng ngân sách thị xã Điện Bàn hàng năm chi cho các dự án đầu tư XDCB liên tục tăng và chiếm khoảng 20%-25% so với tổng chi ngân sách địa phương Tuy nhiên, cũng như tình trạng chung của nhiều địa phương trong tỉnh chất lượng hoạt động quản lý các dự án đầu tư XDCB trên địa bàn thị xã vẫn còn hạn chế Có thể nhận thấy nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí trong các dự án đầu tư XDCB từ nguồn NSNN phần lớn xuất phát từ việc thực hiện các chính sách quản lý Chính sách quản lý yếu kém gây ra trình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài và kém hiệu quả, nợ đọng XDCB tăng cao gây không ít khó khăn trong việc cân đối NSNN Để khắc phục tình trạng trên thì việc nâng cao chất lượng thực hiện các chính sách quản lý các dự án đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là nhiệm vụ cấp thiết đối với thị xã Điện Bàn

Xuất phát từ thực tế đó, tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách

quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” qua đó cung cấp cơ sở khoa học trong việc

nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng nguồn vốn NSNN, đồng thời góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thị xã trong thời gian đến

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kế hoạch tập trung sang cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, khái niệm “Dự án” đã và đang được sử dụng ngày càng rộng rãi Một cách đơn giản có thể hiểu “Dự án “là một tập hợp các hoạt động

Trang 4

cần thiết để tác động vào các nguồn lực hữu hạn, nhằm đạt được một mục tiêu xác định Để quản lý các hoạt động này nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, từ lâu trên thế giới đã nghiên cứu một môn khoa học đó là khoa học “Quản lý dự án” Bản chất của Quản lý dự án nằm trong việc áp dụng các thành tựu trong nghiên cứu và kinh nghiệm trong thực tiễn để tổ chức, điều phối các nguồn lực hữu hạn một cách có hiệu quả nhất, trong một giới hạn nhất định về không gian và thời gian nhằm đạt được các mục tiêu của dự án đã được xác định Trong các dự án thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, “Dự án đầu tư” là loại hình dự án được xã hội quan tâm nhiều nhất, đặc biệt là trong xã hội theo cơ chế thị trường là mô hình xã hội phổ biến trên thế giới hiện nay Thuật ngữ “Dự án đầu tư” là một thuật ngữ đã được sử dụng từ lâu, ngoài ra có thêm thuật ngữ “Dự án đầu tư xây dựng công trình” mới được sử dụng trong các văn bản pháp quy của Việt Nam trong mấy năm gần đây, là

để chỉ các dự án đầu tư có xây dựng công trình Bản chất của dự án đầu tư là việc tập hợp các hoạt động có liên quan đến đầu tư các nguồn lực hữu hạn của doanh nghiệp, doanh nhân vào một đối tượng xác định để đạt được mục tiêu lợi nhuận

Các quy trình, quy định về đầu tư và quản lý dự án đầu tư được quy định trong nhiều văn bản pháp luật của nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định trên của cơ quan ban ngành liên quan Đầu tư XDCB trong thời gian qua bên cạnh những mặt đạt được vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập, đặc biệt là vấn đề thất thoát, lãng phí Nó tồn tại ở các khâu của đầu tư xây dựng và trở thành mối quan tâm của tất cả các cấp, các ngành và của toàn xã hội Một trong các nguyên nhân không thể không kể đến là do chính sách quản lý dự án đầu tư còn nhiều yếu kém Do vậy làm tốt công tác thực thi chính sách quản lý dự án đầu tư là một công việc hết sức quan trọng để nâng cao hiệu quả đầu tư

Trong thời gian qua cũng đã có nhiều tài liệu, đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực quản lý dự án đầu tư XDCB Phạm vi nghiên cứu các đề tài này khá rộng, phân tích hiện trạng để đề ra giải pháp còn mang tính chất chung chung Tuy nhiên, chưa có nhiều luận văn nghiên cứu vấn đề này nhìn từ góc độ chính sách công về việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB trên phạm vi địa bàn cấp

Trang 5

Nguyễn Minh Phong (2013), “Nâng cao hiệu quả đầu tư công từ ngân sách

Nhà nước ”, Tạp chí Tài chính số 5 [23] Bài viết trình bày nội dung phân cấp và

quản lý vốn đầu tư công từ NSNN, đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư công từ NSNN như: đổi mới định hướng đầu tư công, bố trí vốn cho các công trình thực sự cấp bách về vốn, rà soát và hoàn thiện cơ sở luật pháp về đầu tư công, hoàn thiện cơ chế đánh giá hiệu quả và giám sát đầu tư công Bài viết này đã phản ánh đúng thực trạng hiệu quả đầu tư công từ NSNN ở nước ta hiện nay, tuy nhiên phần giải pháp của tác giả về phân cấp quản lý quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho các địa phương không có gì mới vì từ trước đến nay các địa phương khi xây dựng quy hoạch, kế hoạch đều dựa trên tiêu chí: bám sát quy hoạch của cả nước, của ngành, của vùng kinh tế nhưng kết quả vẫn không mấy khả quan Tác giả phân tích được nguyên nhân của hiệu quả đầu tư công từ NSNN chưa cao là do nhu cầu

và lợi ích cục bộ của địa phương, do vẫn tồn tại cơ chế “xin-cho”, do thực hiện chưa nghiêm các quy định về đầu tư công, do tình trạng tham nhũng, thất thoát và lãng phí dưới mọi hình thức trong đầu tư công ngày càng khó kiểm soát hơn Nhưng bài viết chỉ dừng lại ở phần nêu nguyên nhân, tác giả chưa đề ra giải pháp cụ thể để giải quyết vấn đề

Bùi Quang Vinh (2013), “Nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân

sách Nhà nước ”, Tạp chí Cộng sản [37] Bài viết đề cập đến tình hình đầu tư sử

dụng nguồn vốn NSNN, đánh giá hiệu quả đầu tư sử dụng nguồn vốn NSNN và nêu định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn NSNN Nêu ra khó khăn lớn nhất liên quan đến hoạt động đầu tư sử dụng vốn Nhà nước là sự mất cân đối rất lớn giữa nhu cầu vốn có thể cân đối và nhu cầu đầu tư Đề ra trọng tâm đổi mới quản lý và nâng cao hiệu quả đầu tư sử dụng vốn Nhà nước là khắc phục tình trạng đầu

tư dàn trải, phân tán, không đồng bộ và cả tình trạng đầu tư các dự án kém hiệu quả, những dự án chưa hoàn thành thủ tục đầu tư tồn tại kéo dài qua nhiều năm

Nguyễn Bật Oanh (2015), “Giải pháp hoàn thiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Hưng Yên”, Học

viện Nông nghiệp Việt Nam [19] Luận văn thạc sĩ này nêu các vấn đề thực trạng

Trang 6

về quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN của tỉnh Hưng Yên, đánh giá hoạt động về quản lý dự án đầu tư xây dựng đồng thời đề ra một số giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng từ nguồn Ngân sách tỉnh Theo tác giả một trong những nguyên nhân chính dẫn đến một số dự án đầu tư trên toàn tỉnh Hưng Yên kéo dài, hiệu quả đầu tư kém là do tốc độ giải ngân chậm và công tác giải phóng mặt bằng còn nhiều bất cập Nhưng tại phần giải pháp thì tác giả chưa đề xuất được các giải pháp cụ thể và thuyết phục để giải quyết được vấn đề này, tác giả chỉ nêu trên cơ sở áp dụng chế độ chính sách Nhà nước

Nguyễn Thị Hương Lan (2015), “Quản lý đầu tư các công trình xây dựng bằng

vốn ngân sách của thành phố Đà Nẵng”, Đại học Đà Nẵng [16] Nội dung chi tiết

của luận văn thạc sĩ này đề cập đến các vấn đề về khái niệm, nguyên tắc quản lý, trình tự quản lý, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý đầu tư các công trình xây dựng bằng vốn NSNN nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng trong giai đoạn 2009 -

2015, tìm nguyên nhân và đề ra một số giải pháp hoàn thiện các vấn đề tồn tại trong công tác quản lý đầu tư các công trình xây dựng bằng vốn ngân sách của thành phố

Đà Nẵng Tác giả đã đưa ra các giải pháp quản lý cụ thể ở từng giai đoạn đầu tư, đề xuất kiến nghị đối với các ngành chức năng rõ ràng, thuyết phục Đặc biệt tác giả cũng phân tích được các ưu điểm của nhà thầu quốc tế khi trúng thầu: thực hiện hợp đồng tốt hơn, ít phát sinh chi phí trong quá trình thi công công trình, bảo đảm tiến

độ hợp đồng Bên cạnh đó luận văn cũng chỉ ra được những yếu điểm trong hệ thống văn bản đầu tư, trong công tác quản lý khi xảy ra tranh chấp với nhà thầu nước ngoài

Phùng Tấn Viết (2016), Bài giảng môn quản lý dự án đầu tư xây dựng [38],

Bài giảng đã hệ thống hóa các nội dung về quản lý dự án đầu tư, đề ra một số tiêu chí quan trọng làm căn cứ để quyết định lựa chọn mô hình dự án, các phương pháp xây dựng khái toán dự án, phân tích các rủi ro và cách thức để quản lý các rủi ro đó Tuy nhiên, tại bài giảng này tác giả chưa đi sâu vào phân tích các chiến lược để giảm thiểu rủi ro mà chỉ dừng lại ở phần nêu vấn đề

Ngoài ra, liên quan đến các vấn đề luận văn nghiên cứu còn có các bài viết

Trang 7

khác về công tác quản lý vốn đầu tư, quản lý chất lượng công trình xây dựng, quản

lý giám sát đầu tư trên các website của Chính phủ, Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, báo Đầu tư, báo Đấu thầu, Tạp chí Tài chính…

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là làm rõ cơ sở lý luận của việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN và kiến nghị các giải pháp thực tiễn nhằm hoàn thiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN

Phân tích thực trạng của việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB

sử dụng vốn NSNN từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Đề xuất các giải pháp cơ bản hoàn thiện việc thực hiện chính sách quản lý dự

án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian: Tại thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Phạm vi thời gian: Từ năm 2014 đến 2017

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp lý luận

Luận văn dựa trên lập trường của Chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta để xem xét việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu

tư XDCB sử dụng vốn NSNN

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Một số phương pháp được sử dụng trong luận văn:

Trang 8

Phương pháp thống kê, mô tả: Được sử dụng trong việc chọn mẫu, điều tra, tổng hợp và phân tích các dữ liệu thu thập để tìm ra bản chất của vấn đề

Phương pháp thu thập số liệu, điều tra, phỏng vấn sâu: Số liệu được thu thập

từ phòng Quản lý - Đô thị, phòng Kinh tế, phòng Tài chính - Kế hoạch, BQL dự án đầu tư xây dựng thị xã Điện Bàn Thông tin, số liệu được thu thập thông qua nghiên cứu tình hình thực tế việc điều tra, khảo sát, tham khảo ý kiến, phỏng vấn các cán bộ thuộc các phòng, ban: Phòng Tài chính - Kế hoạch, Phòng Quản lý - Đô thị, Phòng Kinh tế, BQL dự án Đầu tư xây dựng, đại diện các tổ chức cá nhân, đơn

vị đang thực hiện các dự án xây dựng công trình trên địa bàn thị xã thông qua phiếu điều tra phỏng vấn

Phương pháp phân tích, xử lý số liệu: Sau khâu thu thập thông tin, tiến hành tổng hợp thông tin theo phương pháp phân tổ thống kê để tiện cho việc phân tích,

xử lý số liệu sát thực tế và hiệu quả nhất Phân tích số liệu là giai đoạn cuối của quá trình nghiên cứu, nó biểu hiện kết quả của toàn bộ quá trình tập trung nghiên cứu

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đưa ra các căn cứ khoa học của việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN Qua đó chỉ ra những điểm hợp lý và chưa hợp lý của việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN từ thực

tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Thông qua việc đánh giá tổ chức thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam từ đó cung cấp các căn cứ thực tiễn và các giải pháp chính sách theo hướng phù hợp với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, với tình hình phát triển của địa phương, góp phần phát triển bền vững của địa phương và cả nước

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận văn được bố cục gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB

sử dụng vốn NSNN

Trang 9

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách quản lý

dự án đầu tư XDCB sử dụng nguồn vốn NSNN từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến

Trang 10

Có nhiều khái niệm khác nhau về dự án đầu tư:

Xét về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai

Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định

để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai

Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời gian dài

Xét trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch chi tiết của một công cuộc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Xét theo góc độ này dự án đầu tư là một hoạt động kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (một đơn

vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án)

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại thì: “Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định”

Theo Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 của Quốc Hội ngày 26/11/2014 thì: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu

Trang 11

tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [31, tr.1]

Như vậy, một cách chung nhất có thể đưa ra khái niệm: Dự án đầu tư được hiểu là một ý đồ tiến hành một công việc đầu tư cụ thể nhằm đạt được mục tiêu xác định trong điều kiện nguồn lực nhất định và khoảng thời gian nhất định

1.1.1.2 Quản lý dự án đầu tư và chính sách quản lý dự án đầu tư

Quản lý dự án đầu tư là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực

và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về

kỹ thuật, chất lượng sản phẩm dịch vụ bằng các phương pháp và điều kiện tốt nhất

cho phép [38, tr.10]

Quản lý dự án đầu tư bao gồm ba giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, điều phối thực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giám sát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định

Lập kế hoạch: Là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hành động thống nhất

Điều phối thực hiện: Là quá trình phân phối nguồn lực, điều phối và quản lý tiến độ thời gian Giai đoạn này chi tiết hóa thời gian, lập lịch trình cho từng công việc và toàn bộ dự án (khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc), trên cơ sở đó, bố trí tiền vốn, nhân lực và thiết bị phù hợp

Giám sát: Là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thực hiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quá trình thực hiện, tổng kết và đánh giá

Chính sách quản lý dự án đầu tư là sự tác động của bộ máy nhà nước vào quá trình đầu tư XDCB từ bước chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến kết thúc đầu tư nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn NSNN và thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã đặt ra

1.1.2 Sự cần thiết của chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách nhà nước

Trong tiến trình đổi mới và phát triển hiện nay ở nước ta, nhu cầu về đầu tư

Trang 12

xây dựng công trình, cơ sở hạ tầng là rất lớn và cực kỳ cấp thiết, đó là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là tiền đề cho việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, thu hút các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài Hiện nay các địa phương trên cả nước đang bùng nổ nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở

hạ tầng, tuy vậy quá trình quản lý, chất lượng và hiệu quả quản lý các dự án đầu tư xây dựng rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn Do vậy, Nhà nước cần có những chính sách quản lý đầu tư XDCB hợp lý nhằm tạo nên hành lang pháp lý đầy đủ, hoàn thiện, kịp thời, thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để quản lý các dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN theo hướng hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí

1.1.3 Nội dung thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN

Xuất phát từ yêu cầu, nguyên tắc, mục tiêu và phạm vi đầu tư xây dựng cơ bản

sử dụng vốn NSNN, theo hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan (Luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Thông tư hướng dẫn của các Bộ, Ngành Trung ương) Nội dung thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN gồm:

1.1.3.1 Quản lý công tác lập kế hoạch đầu tư

Công tác lập kế hoạch đầu tư phải nhằm góp phần thực hiện các mục tiêu và các định hướng phát triển kinh tế xã hội 5 năm và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các quy hoạch ngành, phù hợp với dự kiến kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm Xác định rõ mục tiêu, thứ tự

ưu tiên trong kế hoạch đầu tư công hàng năm phù hợp với dự kiến kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm và khả năng cân đối các nguồn vốn đầu tư hàng năm, phải phù hợp với khả năng thực hiện và tiến độ giải ngân của từng dự án trong năm Trong kế hoạch đầu tư phải có danh mục các công trình đầu tư xây dựng trong từng thời kỳ và từng năm Các dự án được ghi vào kế hoạch chuẩn bị thực hiện đầu tư hoặc thực hiện đầu tư phải có quyết định đầu tư phù hợp với những quy định của quy chế quản lý đầu tư xây dựng

Trang 13

1.1.3.2 Quản lý công tác lập dự án đầu tư xây dựng công trình

Theo Luật Đầu tư công số 49/2014/QH11 ngày 18/6/2014; Luật Xây dựng số 50/2014/QH11 ngày 18/6/2014, dự án đầu tư xây dựng được lập căn cứ vào các cơ

sở sau: Quy hoạch hoặc kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Quy hoạch xây dựng; Kế hoạch đầu tư đã được phê duyệt hoặc chủ trương đầu tư đã được cấp có thẩm quyền quyết định Nội dung dự

án đầu tư xây dựng gồm hai phần: Phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở

Phần thuyết minh của dự án: Nội dung phần thuyết minh của dự án phải thể hiện được các nội dung chính như sự cần thiết đầu tư, xác định được quy mô, các giải pháp kinh tế - kỹ thuật, nguồn vốn và tổng mức đầu tư

Phần thiết kế cơ sở của dự án: Nội dung phần thiết kế cơ sở của dự án phải thể hiện được giải pháp thiết kế chủ yếu, có thể làm căn cứ để xác định tổng mức đầu tư

và triển khai các bước thiết kế tiếp theo Nội dung thiết kế cơ sở bao gồm: Thuyết minh và các bản vẽ

1.1.3.3 Quản lý công tác thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư

Căn cứ Luật Đầu tư công số 49/2014/QH11 ngày 18/6/2014, Luật Xây dựng

số 50/2014/QH11 ngày 18/6/2014, công tác thẩm định, phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn NSNN cần tập trung những nội dung sau:

Thẩm định phần thuyết minh của dự án gồm những nội dung chính sau: Thẩm định dự án nhằm làm sáng tỏ và phân tích về một loạt các vấn đề có liên quan tới tính khả thi, tính hiệu quả của dự án, đồng thời đánh giá để xác định xem đầu tư dự

án có góp phần đạt được các mục tiêu xã hội hay không Từ đó đưa tới quyết định là

có đầu tư dự án hay không

Thẩm định phần thiết kế cơ sở của dự án gồm những nội dung chính sau: Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với quy hoạch chi tiết xây dựng hoặc tổng mặt bằng được phê duyệt; Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với phương án tuyến công trình được chọn đối với công trình xây dựng theo tuyến; Sự phù hợp của thiết kế cơ sở với vị trí, quy mô xây dựng và các chỉ tiêu quy hoạch đó được chấp thuận đối với công trình xây dựng tại khu vực chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng được phê duyệt; Sự

Trang 14

phù hợp của việc kết nối với hạ tầng kỹ thuật của khu vực; Sự hợp lý của phương án công nghệ, dây chuyền công nghệ đối với công trình có yêu cầu công nghệ; Việc áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về xây dựng, môi trường, phòng cháy, chữa cháy; Điều kiện năng lực hoạt động xây dựng của tổ chức tư vấn, năng lực hành nghề của

cá nhân lập thiết kế cơ sở theo quy định

1.1.3.4 Quản lý công tác đấu thầu

Quản lý đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng được những yêu cầu của bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu Quản lý công tác đấu thầu được thực hiện theo quy định của Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013

[28, tr.18] với các nội dung chính như sau: Để thực hiện một dự án đầu tư có thể áp

dụng một trong ba phương thức chủ yếu là: Tự làm, chỉ định thầu và đấu thầu Tuỳ theo quy mô, tính chất, tiêu chuẩn kỹ thuật của từng dự án để quy định hình thức đấu thầu (đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế…), quy định phương thức đấu thầu (một giai đoạn, một túi hồ sơ; một giai đoạn, hai túi hồ sơ ) nhằm mục đích giảm chi phí đầu tư, nâng cao chất lượng công trình, rút ngắn thời gian thực hiện dự án

1.1.3.5 Quản lý giai đoạn thực hiện triển khai dự án đầu tư

Quản lý điều kiện khởi công: Các dự án đầu tư XDCB đủ điều kiện khởi công khi có mặt bằng toàn bộ hoặc từng phần theo tiến độ xây dựng, có đủ nguồn vốn để đảm bảo tiến độ xây dựng công trình, có giấy phép xây dựng theo quy định, có đầy

đủ hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, có hợp đồng thi công xây dựng, có biện pháp để đảm bảo an toàn vệ sinh môi trường trong quá trình thi công xây dựng, có thuyết minh biện pháp tổ chức thi công hợp lý

Quản lý tiến độ thi công xây dựng công trình: Các công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng, phù hợp với tổng tiến độ của

dự án đã được phê duyệt Đối với công trình xây dựng có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ xây dựng công trình phải được lập cho từng giai đoạn, tháng, quý, năm Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát và các bên liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình

và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn

bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tổng tiến độ của dự án

Trang 15

Quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình: Việc thi công xây dựng công trình phải được thực hiện theo khối lượng của hợp đồng đã ký giữa các bên liên quan Khối lượng thi công xây dựng được tính toán, xác nhận giữa Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng, tư vấn giám sát theo thời gian hoặc giai đoạn thi công

và được đối chiếu với khối lượng thiết kế được duyệt để làm cơ sở nghiệm thu, thanh toán theo hợp đồng Khi có khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán xây dựng công trình được duyệt thì Chủ đầu tư và nhà thầu thi công xây dựng phải xem xét để xử lý Khối lượng phát sinh được Chủ đầu tư hoặc người quyết định đầu tư chấp thuận, phê duyệt là cơ sở để thanh toán, quyết toán công trình Việc khai khống, khai tăng khối lượng hoặc thông đồng giữa các bên tham gia dẫn đến làm sai khối lượng thanh toán bị pháp luật nghiêm cấm

Quản lý an toàn lao động trên công trường: Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp an toàn cho người lao động, thiết bị, phương tiện thi công và công trình trước khi thi công xây dựng; có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn, phổ biến, tập huấn các quy định về an toàn lao động Đối với một số công việc yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thì người lao động phải có giấy chứng nhận huấn luyện an toàn lao động Pháp luật nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được huấn luyện

và hướng dẫn về an toàn lao động Các biện pháp an toàn và nội quy về an toàn phải được thể hiện công khai trên công trường xây dựng Những vị trí nguy hiểm cần phải được cảnh báo và bố trí người hướng dẫn Nhà thầu thi công xây dựng, Chủ đầu tư và các bên có liên quan phải thường xuyên kiểm tra giám sát công tác an toàn lao động Khi xảy ra sự cố mất an toàn phải tạm dừng hoặc đình chỉ thi công đến khi khắc phục xong mới được tiếp tục thi công Người để xảy ra các vi phạm về

an toàn lao động thuộc phạm vi quản lý của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng theo phân cấp quản lý có trách nhiệm kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất công tác quản lý an toàn lao động

Quản lý môi trường xây dựng: Nhà thầu thi công xây dựng phải thực hiện các biện pháp bảo đảm về môi trường cho người lao động trên công trường và bảo vệ môi trường xung quanh, gồm có biện pháp chống bụi, chống ồn, xử lý phế thải và

Trang 16

thu dọn hiện trường Nhà thầu thi công xây dựng, Chủ đầu tư phải có trách nhiệm kiểm tra giám sát việc thực hiện bảo vệ môi trường xây dựng, đồng thời chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường Nếu nhà thầu thi công xây dựng không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường thì Chủ đầu tư,

cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường có quyền đình chỉ thi công xây dựng và yêu cầu nhà thầu thực hiện đúng biện pháp bảo vệ môi trường Người để xảy ra các hành vi làm tổn hại đến môi trường trong quá trình thi công xây dựng công trình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại

1.1.3.6 Quản lý công tác bàn giao, bảo hành công trình và khai thác sử dụng

Quản lý công tác bàn giao, bảo hành công trình và khai thác sử dụng được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Tùy theo điều kiện cụ thể

mà công trình hoặc từng phần công trình hoặc hạng mục công trình đã hoàn thành

sẽ được tổ chức nghiệm thu và bàn giao đưa vào khai thác theo yêu cầu của chủ đầu

tư hoặc đơn vị khai thác sử dụng

Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm bảo hành công trình do mình xây dựng Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình, thiết bị công nghệ có trách nhiệm bảo hành thiết bị do mình cung cấp Công tác bảo hành công trình gồm có khắc phục, sửa chữa, thay thế thiết bị hư hỏng, khiếm khuyết do lỗi của nhà thầu gây ra Thời gian bảo hành công trình, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ được xác định theo loại, cấp công trình xây dựng và quy định của nhà sản xuất hoặc hợp đồng đã ký (không ít hơn 6 tháng đối với công trình từ cấp II trở xuống và không ít hơn 12 tháng đối với công trình từ cấp I trở lên) Sau khi nghiệm thu hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng Đơn vị quản lý sử dụng công trình thỏa thuận với nhà thầu về quyền và trách nhiệm bảo hành, thời gian bảo hành, kinh phí bảo hành Trong quá trình khai thác, đơn vị quản lý sử dụng phải tuân thủ các quy định về điều kiện vận hành của công trình để nâng cao hiệu quả sử dụng và tuổi thọ của công trình

1.1.4 Các bước thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN

Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Trang 17

Để đưa các chính sách nói chung và chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN nói riêng vào cuộc sống cần phải xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đây là cơ sở, là công cụ quan trọng để triển khai thực hiện chính sách, các nội dung nhiệm vụ trong kế hoạch cung cấp các nguồn lực cho việc thực hiện chính sách, việc kiểm tra, đôn đốc thực thi chính sách, việc xác định hợp lý thời gian thực hiện chính sách Hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc vào chất lượng, tính chính xác, tính khả thi của kế hoạch Cần phải xây dựng kế hoạch cụ thể

để có thể xác định được mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, các nguồn lực, thời gian và giải pháp tổ chức thực hiện chính sách Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách cần được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống Các cơ quan có nhiệm

vụ triển khai thực thi chính sách từ Trung ương đến địa phương đều phải xây dựng

kế hoạch, chương trình thực hiện Kế hoạch triển khai thực hiện gồm: Kế hoạch tổ

chức điều hành; Kế hoạch cung cấp các nguyên liệu; Kế hoạch thời gian triển khai

thực hiện; Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc, thực thi đưa chính sách vào cuộc sống

Ngoài ra, trong kế hoạch thực hiện chính sách cần phải xây dựng nội quy, quy chế tổ chức điều hành thực hiện chính sách; về nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức tham gia tổ chức điều hành chính sách; về biện pháp, giải pháp khen thưởng, kỷ luật đối với cá nhân, tập thể trong tổ chức thực hiện Việc lập kế hoạch thực hiện chính sách tốt sẽ giúp cho việc thực thi được khả thi và không phải qua điều chỉnh, bổ sung trong quá trình thực hiện

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách

Phổ biến tuyên truyền thực hiện chính sách là một hoạt động quan trọng trong thực hiện chính sách Triển khai, phổ biến các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động quản lý dự án và các chính sách Quản lý dự án đầu tư XDCB, trong

đó tập trung ở các lĩnh vực: Thanh toán và quyết toán vốn đầu tư xây dựng, các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu, đồng thời triển khai, phổ biến các văn bản

cấp trên về đầu tư xây dựng nhằm giúp cho doanh nghiệp (Nhà thầu thi công, tư

vấn ), cơ quan nhà nước, cán bộ công chức có trách nhiệm tổ chức thực thi chính

sách nhận thức đầy đủ tính chất, tầm quan trọng, vai trò, quy mô của chính sách

Trang 18

quản lý dự án đầu tư XDCB để chủ động, tích cực tìm kiếm các giải pháp thích hợp cho việc thực hiện mục tiêu chính sách và triển khai thực hiện có hiệu quả, đảm bảo cho các dự án đầu tư hoàn thành đúng tiến bộ, đảm bảo chất lượng và các mục tiêu

mà dự án đã đặt ra, tránh thất thoát, lãng phí nguồn NSNN

Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Trong tổ chức và thực hiện các chính sách nói chung, chính sách quản lý dự

án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN nói riêng thì công tác phân công, phối hợp thực hiện có ý nghĩa quan trọng, tác động đến hiệu quả thực hiện chính sách Muốn tổ chức thực hiện chính sách có hiệu quả cần phải phân công, phối hợp một cách chặt chẽ, hợp lý giữa các cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương Cần phải phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể của cơ quan chủ trì và cơ quan phối hợp Thông qua việc phân công, phối hợp thực hiện chính sách một cách khoa học

sẽ phát huy được những nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách Trong phân công nhiệm vụ cần chú ý đến khả năng, trình độ năng lực chuyên môn, thế mạnh của từng tổ chức, cá nhân, hạn chế tình trạng chồng chéo nhiệm vụ và trách nhiệm không rõ ràng

Bước 4: Duy trì chính sách

Duy trì thực hiện chính sách là làm cho chính sách được tồn tại và phát triển trong môi trường thực tế Muốn cho chính sách được duy trì đòi hỏi phải có sự đồng tâm, hợp lực của cả người tổ chức, người thực hiện và môi trường tồn tại Các

cơ quan quản lý nhà nước cần sử dụng hệ thống, công cụ quản lý để tác động nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho việc thực thi chính sách Các tổ chức, người dân và toàn xã hội có trách nhiệm tham gia thực hiện yêu cầu của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ, tăng cường thực hiện dân chủ để cùng tham gia quản lý xã hội Những hoạt động đồng bộ trên sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì chính sách trong quá trình phát triển xã hội

Bước 5: Điều chỉnh chính sách

Điều chỉnh chính sách là một hoạt động cần thiết, diễn ra thường xuyên trong tiến trình tổ chức thực hiện chính sách, nhằm mục đích đảm bảo cho chính sách phù

Trang 19

hợp với yêu cầu quản lý và tình hình thực tế Nó được thực hiện bởi cơ quan quản

lý nhà nước về xây dựng Theo quy định, cơ quan nào ban hành chính sách thì

cơ quan đó điều chỉnh, bổ sung chính sách Nhưng trên thực tế việc điều chỉnh

cơ chế, biện pháp chính sách diễn ra khá linh hoạt, vì thế các cơ quan quản lý nhà nước của từng địa phương cần chủ động điều chỉnh cơ chế chính sách cho phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của địa phương mình, miễn là không làm thay đổi mục tiêu của chính sách Một nguyên tắc cần phải chấp hành khi điều chỉnh chính sách là phải để chính sách đó tiếp tục tồn tại, chỉ được điều chỉnh cơ chế, các giải pháp thực hiện mục tiêu chính sách hoặc bổ sung, hoàn chỉnh mục tiêu theo yêu cầu thực tế Nếu điều chỉnh làm thay đổi mục tiêu, nghĩa là làm thay đổi chính sách thì xem như chính sách đã đó thất bại

Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách

Để thực hiện tốt chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN thì một trong những nhiệm vụ quan trọng cần tập trung thực hiện đó là tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chủ trương, đánh giá tiến độ và kết quả thực hiện công tác quản lý dự án đầu tư XDCB Kiểm tra việc chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ, ngành của Trung ương đối với việc thực hiện các chương trình, kế hoạch về c ô n g t á c q u ả n l ý và sự phối hợp của các ban, ngành tại địa phương khi thực hiện Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm nhằm đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước được thực hiện đem

lại hiệu quả cao Tuy nhiên, trên thực tế khi triển khai thực hiện chính sách không phải

cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cũng làm tốt, làm nhanh như nhau Vì thế cần phải đôn đốc để vừa thúc đẩy các cơ quan, tổ chức, cá nhân nỗ lực nhiều hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời vừa phòng, chống các hành vi vi phạm quy định trong thực

hiện chính sách

Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách

Cùng với việc xây dựng và triển khai thực hiện thì việc đánh giá chính sách

là một khâu không thể thiếu của quy trình chính sách “Đánh giá chính sách công là hoạt động kiểm tra chính sách bằng các tiêu chí cụ thể như sự phù hợp, đầy đủ,

Trang 20

tính hiệu quả, hiệu suất và tác động của chính sách nhằm cải thiện việc hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết thành công các vấn đề chính sách công trong tương lai”

Tổng kết việc thực hiện chính sách để trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm

là một khâu không thể thiếu trong quá trình thực hiện chính sách quản lý dự án đầu

tư XDCB sử dụng vốn NSNN Vì tổng kết việc thực hiện chính sách quản lý dự án

là phân tích và khái quát những vấn đề thực hiện chính sách, những mặt thực hiện được và những mặt chưa thực hiện được, còn bất cập trong chính sách để rút ra bài học cho chỉ đạo tiếp theo cũng như bổ sung, phát triển chính sách nói chung, chủ trương đường lối, chính sách quản lý dự án đầu tư nói riêng Không có tổng kết việc thực hiện chính sách thì không có chính sách tiếp theo Thông qua tổng kết thực tiễn, giúp người cán bộ xây dựng chính sách, đưa ra những quyết định phù hợp với thực tế ở địa phương mình Tổng kết thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư giúp phát hiện ra những vấn đề thực tiễn đặt ra chưa được giải quyết, những quyết định chưa phù hợp, chưa hiệu quả cần phải sửa đổi, bổ sung Mặt khác, chính thông qua quá trình tổng kết thực hiện chính sách mỗi cán bộ xây dựng chính sách mới có điều kiện để rèn luyện tư duy lý luận, tư duy biện chứng, khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, trên cơ sở đó nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý

1.2 Thực tiễn về thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN

1.2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách quản lý dự án đầu

tư XDCB sử dụng vốn NSNN

1.2.1.1 Nhân tố khách quan

Điều kiện tự nhiên: Đầu tư XDCB là hoạt động thường được tiến hành ngoài trời, do đó nó chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu Ở mỗi vùng, mỗi lãnh thổ có điều kiện tự nhiên khác nhau nên chính sách quản lý dự án cũng cần phù hợp với điều kiện tự nhiên từng địa phương

Điều kiện kinh tế - xã hội: Điều kiện kinh tế - xã hội là một trong những căn

cứ quan trọng ảnh hưởng tới quá trình kiểm soát Kinh tế xã hội phát triển có ảnh

Trang 21

hưởng lớn đến nguồn thu NSNN, quy mô nguồn thu sẽ quyết định nguồn chi Thị xã Điện Bàn là một địa phương đang trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ, nhu cầu chi cho đầu tư phát triển rất lớn tuy nhiên nguồn lực tài chính từ Ngân sách địa phương còn hạn chế Các dự án đầu tư xây dựng cần đầu tư ngày càng nhiều, trong khi ngân sách hạn hẹp đây là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác cân đối, lập và giao kế hoạch ngân sách cho các công trình xây dựng và là một trong những nguyên nhân gây ra nợ đọng xây dựng cơ bản

Điều kiện về khoa học – công nghệ: Khi nhu cầu đầu tư XDCB ngày càng tăng thì khối lượng công việc trong từng khâu của đầu tư XDCB ngày càng nhiều do đó ứng dụng phát triển công nghệ sẽ tiết kiệm thời gian giải quyết công việc, đảm bảo công việc được diễn ra nhanh chóng, chính xác và thống nhất Vì vậy việc xây dựng cơ sở vật chất ứng dụng khoa học – công nghệ hiện đại là một đòi hỏi tất yếu

Ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng ngân sách đầu tư XDCB: Nếu ý thức chấp hành hay năng lực các các đơn vị sử dụng ngân sách không cao trong việc quản lý tài chính, kỹ thuật, báo cáo không trung thực tình hình thực hiện dự án thì sẽ dẫn đến những thiếu sót thậm chí sai phạm trong việc thực hiện chính sách quản lý đầu

tư Do đó năng lực của chủ đầu tư, nhà thầu trong việc thực hiện dự án đầu tư XDCB là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của dự án đầu tư

1.2.1.2 Nhân tố chủ quan

Tổ chức bộ máy quản lý: Hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thị xã là phòng, ban, tổ chức, cá nhân và mối quan hệ phối hợp thông qua chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư XDCB Quy trình thực hiện hoạt động đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN giữa các

cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư XDCB ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lý đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách nhà nước của thị xã Bộ máy tổ chức, quy trình thực hiện cần gọn nhẹ Cơ chế phối hợp nhuần nhuyễn, ăn khớp sẽ tạo điều kiện cho quá trình đầu tư XDCB

Chế độ chính sách do địa phương ban hành: Chế độ chính sách phải mang tính

Trang 22

khả thi, phù hợp với pháp luật hiện hành của Nhà nước, đảm bảo công tác thực hiện chính sách quản lý diễn ra chặt chẽ, tuy nhiên tinh giảm các thủ tục không cần thiết tránh gây phiền hà, sách nhiễu Bên cạnh đó chế độ chính sách phải mang tính ổn định, tránh thay đổi nhiều tạo điều kiện cho triển khai thực hiện

Năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư XDCB: Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu lực, chất lượng của công tác thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN trên địa bàn thị xã Bởi họ là chủ thể quản lý nhà nước về đầu tư XDCB Năng lực của cán bộ quản lý không những ảnh hưởng đến quá trình hoạch định chính sách, tham mưu đề xuất các chính sách, các quy định, quy chế phù hợp mà còn ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách Một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm hiệu lực, chất lượng của quản lý nhà nước cũng như thất thoát, lãng phí ngân sách đầu tư XDCB là do năng lực cán bộ quản lý chưa đạp ứng được yêu cầu của thực tế

và phẩm chất đạo đức bị tha hóa, biến chất, quan liêu, cửa quyền, tham nhũng

1.2.2 Kinh nghiệm thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN ở một số nước trên thế giới

1.2.2.1 Nhật Bản

Một quốc gia mà Việt Nam cần nghiên cứu học hỏi trong vấn đề quản lý dự án đầu tư phát triển đó là Nhật Bản Ban đầu Nhật Bản áp dụng “Phương pháp cạnh tranh giá cả”, theo đó hợp đồng xây dựng được ký với công ty thi công công trình đáp ứng được các yêu cầu của bên đặt hàng với giá cả thấp nhất Tuy nhiên việc cạnh tranh giá khốc liệt làm cho các hiện tượng tiêu cực trong đấu thầu có cơ hội phát sinh, nổi bật như việc thông đồng, dàn xếp giữa các nhà thầu, có thể làm cho các nhà thầu có năng lực cao nhưng “cạnh tranh lành mạnh” mất cơ hội trúng thầu Việc đảm bảo chất lượng và ứng dụng các đổi mới, tiến bộ kỹ thuật vào công trình càng trở nên khó khăn hơn Nhật Bản đã thay đổi phương phá cũ bằng “Phương pháp đánh giá tổng hợp” – nhà thầu được chọn là nhà thầu có khả năng thực hiện công trình tốt nhất với sự đánh giá tổng hợp của yếu tố giá cả và chất lượng phương pháp này được Quốc Hội Nhật Bản thông qua bằng Luật “Thúc đẩy đảm

Trang 23

bảo chất lượng công trình” Theo phương pháp đánh giá tổng hợp, giá cả và các tiêu chí kỹ thuật quan trọng trong đó có: độ bền công trình, độ an toàn thi công, mức giảm thiểu tác động môi trường, hiệu suất công việc, chi phí vòng đời của dự án, mức độ tiết kiệm nguyên vật liệu được xem xét đồng thời với giá bỏ thầu Trong đó, điểm đánh giá kỹ thuật là điểm xác định theo các tiêu chí quy định tại hồ sơ thầu có xét đến điểm được cộng thêm tùy theo nội dung phương án kỹ thuật đề xuất và không cho điểm đối với trường hợp phương án kỹ thuật đề xuất không phù hợp Sau khi chấm thầu bằng phương pháp đánh giá tổng hợp, chủ đầu tư sẽ chọn được nhà thầu trúng thầu là nhà thầu có “số điểm đánh giá” cao nhất Đồng thời với việc lựa chọn nhà thầu tốt nhất như đã nêu, các cơ quan xét thầu vẫn chú trọng xem xét nghiêm khắc các nhà thầu vi phạm qui định chống phá giá nhằm ngăn chặn nhà thầu

bỏ giá thấp bất hợp lý chỉ nhằm mục đích thắng thầu Một trong những giải pháp đang được áp dụng ở Nhật Bản là thực thi và công khai hệ thống khảo sát giá cả đấu thầu thấp và ban bố hệ thống giới hạn giá cả thấp nhất

Những gì diễn ra thời gian qua trong lĩnh vực đấu thầu và đảm bảo chất lượng công trình xây dựng công cộng ở Nhật Bản, một quốc gia tiên tiến, đi trước chúng

ta một khoảng cách khá xa có vẻ như cũng tương tự những vấn đề chúng ta đang gặp phải Vì vậy việc nghiên cứu phương pháp quản lý chi phí và quản lý chất lượng công trình trình xây dựng của Nhật để áp dụng tại Việt Nam chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả như mong muốn Quan trọng là chúng ta có quyết tâm làm và vận dụng hay không Để có những công trình có chất lượng vĩnh cửu, thực sự “sạch” không có việc bôi trơn không có tham nhũng, tiêu cực, chạy dự án trước hết xử

nghiêm những kẻ chạy dự án, đầu tư dàn trải, thông thầu “rút ruột” công trình [39]

1.2.2.2 Hàn Quốc

Trung tâm quản lý đầu tư hạ tầng công - tư thuộc Viện Phát triển Hàn Quốc là

cơ quan chịu trách nhiệm tiến hành lập Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi đối với các

dự án đầu tư công có quy mô lớn Bộ Chiến lược và Tài chính chịu trách nhiệm thẩm định, thông qua và quyết định việc loại bỏ hoặc chuyển sang giai đoạn nghiên cứu khả thi các dự án này, bao gồm: Dự án dùng vốn ngân sách trung ương có tổng

Trang 24

mức đầu tư từ 50 tỷ won (tương đương 50 triệu USD) trở lên, bao gồm cả dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và không xây dựng cơ sở hạ tầng như các chương trình đầu tư nghiên cứu phát triển và phúc lợi xã hội Dự án dùng vốn ngân sách của địa phương

và các dự án hợp tác công tư có nguồn vốn hỗ trợ của ngân sách trung ương trên 30

tỷ won (khoảng 30 triệu USD) Sau khi Bộ Chiến lược và Tài chính thẩm định, Báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án nêu trên sẽ được trình ra Quốc hội Hàn Quốc xem

xét, quyết định [39]

Tiểu kết Chương 1

Từ việc nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn NSNN có thể thấy rằng việc thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB là công việc do con người trực tiếp thực hiện, điều hành, phản ánh các vấn đề mang tính quy luật được dự báo và được chủ quan hóa một cách khoa học để chỉ đạo quá trình biến những ý tưởng, quan điểm, mục tiêu của dự án đầu tư trở thành hiện thực, thành sản phẩm và kết quả mà nó đã được dự kiến trước Kết quả của việc nâng cao công tác thực hiện chính sách quản

lý dự án đầu tư XDCB có sử dụng vốn NSNN sẽ góp phần rất lớn trong việc đưa nền kinh tế phát triển ổn định, thu hút đầu tư, đáp ứng được các nhu cầu về y tế, văn hoá, giáo dục, hành chính công,…

Trang 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ DỰ ÁN

ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH

NHÀ NƯỚC TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN,

TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Tổng quan về thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Vị trí địa lý, kinh tế - xã hội của thị xã Điện Bàn

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thị xã Điện Bàn nằm về phía Bắc của tỉnh Quảng Nam, có vị trí địa lý từ

15050’ - 15057’ vĩ độ Bắc và 1080 - 108020’ kinh độ Đông Phía Bắc, Tây Bắc tiếp giáp với huyện Hoà Vang và quận Ngũ Hành Sơn – thành phố Đà Nẵng Phía Nam, Đông Nam tiếp giáp với huyện Duy Xuyên và thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Phía Đông tiếp giáp biển Đông, phía Tây tiếp giáp với huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Diện tích tự nhiên 216,32 km2, dân số trung bình năm 2016 là 208.178 người Toàn thị xã được chia thành 20 đơn vị hành chính trực thuộc Đất đai thị xã Điện Bàn khá tốt, có độ phì nhiêu cao, nhóm đất phù sa chiếm đến 69,67% tổng diện tích đất, cho phép thâm canh nông nghiệp theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng Bên cạnh đó, Điện Bàn là một vùng đồng bằng ven biển nên địa hình tương đối bằng phẳng, độ chênh cao thấp, thuận lợi cho phát triển đô thị - công nghiệp Có bờ biển cát trắng, nước trong, sông nước hiền hòa thuận lợi cho khai thác du lịch

2.1.1.2 Kinh tế - xã hội

Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất toàn nền kinh tế giai đoạn 2014-2017 tăng bình quân/năm là 13,22% Trong đó: Ngành công nghiệp – xây dựng tăng 11,55%/năm, với sản phẩm chủ lực là nhóm ngành công nghiệp chế biến, may mặc,

da giày Ngành dịch vụ tăng 19,44% /năm, chủ yếu là thương mại, dịch vụ ăn uống giải khát, du lịch Ngành nông-lâm-thủy sản: vẫn giữ vững mức tăng trưởng bình quân 4,6%/năm, sản phẩm nông nghiệp chủ yếu là lúa, ngô, bò, lợn, thủy sản

Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực, có sự dịch chuyển tăng dần tỷ

Trang 26

trọng giá trị ngành dịch vụ giảm dần tỷ trọng giá trị ngành nông nghiệp Đây là sự dịch chuyển hoàn toàn phù hợp nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của đô thị

Công tác quản lý và chi tiêu ngân sách nhà nước đã có nhiều tiến bộ, thu ngân sách năm sau đều cao hơn năm trước; nhưng do nguồn thu trên địa bàn chưa đảm bảo chi, nên NSNN phải cân đối hàng năm để đáp ứng được các nhiệm vụ thường xuyên và các công tác đầu tư phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn thị xã

Các vấn đề về lĩnh vực văn hóa - xã hội trên địa bàn thị xã Điện Bàn được giải quyết khá tốt Toàn thị xã hiện có 93,7% hộ đạt gia đình văn hóa, có 163/182 thôn, khối phố đạt thôn, khối phố văn hóa, 10 xã đạt xã văn hóa, 88,5% cơ quan đạt cơ quan văn hóa Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có nhiều tiến bộ, với quy mô ngày một

mở rộng, toàn thị xã có 01 trường đại học, 01 trường cao đẳng, 02 trường trung cấp nghề, 01 Trung tâm giáo dục, 05 trường Trung học phổ thông Riêng hệ thống giáo dục thuộc thị xã quản lý (từ Trung học cơ sở trở xuống) có 58/69 trường đạt chuẩn quốc gia; 20/20 xã, phường đã hoàn thành phổ cập mẫu giáo 5 tuổi; phổ cập tiểu học đúng độ tuổi ở mức độ 2 và trung học cơ sở đúng độ tuổi; 20/20 xã, phường hoàn thành phổ cập bậc trung học Công tác đào tạo cán bộ, đào tạo nghề, hướng nghiệp, giáo dục cộng đồng được chú trọng phát triển Tuy nhiên, ngành giáo dục - đào tạo còn gặp một số khó khăn Trên một số địa bàn, cơ sở vật chất trường học bị xuống cấp, thiếu các phòng chức năng, thiếu trang thiết bị dạy và học…Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng ngừa dịch bệnh được tiến hành thường xuyên, công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân được quan tâm đúng mức Hiện nay toàn thị

xã có 02 bệnh viện, 01 phòng khám đa khoa khu vực, 20 trung tâm y tế xã, phường (Đã có 16/20 xã đạt chuẩn mới của quốc gia) Hệ thống truyền thanh cơ sở phát triển đều khắp các xã, 100% số thôn có hệ thống truyền thanh với 266 cụm loa, 1200 loa công cộng Công tác đền ơn, đáp nghĩa, chăm sóc người có công được thường xuyên chú trọng, giải quyết tốt, kịp thời các chế độ chính sách cho người có công cách mạng Bên cạnh đó, công tác xóa đói giảm nghèo, bảo trợ xã hội cũng được quan tâm chỉ đạo với tỷ lệ hộ nghèo tính đến năm 2017 giảm còn 2,71%, hộ cận nghèo giảm còn 3,49%

Ngày 10/3/2014, Điện Bàn được Bộ Xây dựng công nhận đạt tiêu chuẩn đô thị

Trang 27

loại 4 (Tại Quyết định số 222/QĐ-BXD), ngoài các tiêu chuẩn được chấm điểm theo quy định thì Điện Bàn còn có vị trí địa kinh tế đặc biệt quan trọng của tỉnh Quảng Nam và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, nằm trong cụm đô thị động lực Chân Mây – Đà Nẵng – Điện Bàn – Hội An – Tam Kỳ - Vạn Tường Ngày 11/3/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Quyết định thành lập thị xã Điện Bàn với diện tích tự nhiên là 21.632 ha, dân số trung bình 208.178 người, thị

xã Điện Bàn có 20 đơn vị hành chính, trong đó có 7 phường với diện tích tự nhiên

là 7.340 ha, dân số 79.909 người

2.1.2 Tổng quan về các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước của thị xã Điện Bàn

Trong 5 năm qua Điện Bàn đã tập trung huy động nguồn lực đẩy mạnh đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, diện mạo khu vực đô thị và nông thôn có nhiều chuyển biến rõ rệt Thực hiện tốt công tác GPMB, TĐC để Trung ương, tỉnh đầu tư xây dựng đường cao tốc, nâng cấp quốc lộ 1A, ĐT603, 607A, 610B, tập trung nguồn đầu tư các tuyến đường ĐH trọng điểm như ĐH8, ĐH9 - tạo sự kết nối cho vùng đông và vùng Tây Kết cấu hạ tầng nông thôn như GTNĐ, BTKM, GTNT được triển khai mạnh mẽ trong các thôn, khối phố góp phần tạo nên diện mạo nông thôn mới, đáp ứng tốt yêu cầu đi lại trong sản xuất và lưu thông của bà con nhân dân Về hạ tầng du lịch và công nghiệp, những năm qua tập trung đầu tư đủ để cơ bản đáp ứng nhu cầu mở rộng và đầu tư mới của một số doanh nghiệp, tính đồng bộ

và hoàn thiện sẽ được tiếp tục đầu tư trong giai đoạn 2016-2020 Về hạ tầng xã hội như trường học, trạm y tế, các thiết chế văn hóa xã hội đã có kế hoạch đầu tư cụ thể hơn trên cơ sở có sự hỗ trợ rất lớn từ ngân sách tỉnh qua chương trình MTQG xây dựng NTM

Tổng vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản trên địa bàn thị xã từ nguồn ngân sách địa phương trong 04 năm giai đoạn 2011-2014 là 814,680 tỷ đồng gồm: ngân sách thị xã chi là 570,123 tỷ đồng, ngân sách xã chi 244,577 tỷ đồng, tốc độ tăng chi đầu

tư bình quân 4 năm 17,09%/năm, trong đó nguồn đầu tư từ nguồn vốn tập trung tăng bình quân trên 50%/năm, nguồn vốn từ CTMT, MTQG tăng bình quân

Trang 28

39,4%/năm, riêng nguồn vốn đầu tư từ nguồn tiền sử dụng đất, nguồn chuyển nguồn

và nguồn vốn huy động giảm bình quân dưới 10%, nguyên nhân chủ yếu do thị trường bất động sản những năm vừa qua đóng băng, nguồn thu tiền đất hằng năm không đạt dự toán giao để đầu tư, tuy nhiên nguồn thu từ tiền sử dụng đất cũng chiếm tới 29,43% , nguồn chuyển nguồn chiếm 18,55% so với tổng nguồn Ước nhu

cầu vốn đầu tư năm 2015 là 233,228 tỷ đồng (trong đó : ngân sách thị xã chi là

170,374 tỷ đồng, ngân sách xã chi 62,854 tỷ đồng) Ước thực hiện tốc độ tăng đầu

tư bình quân giai đoạn 2011-2015 là 7,98%/năm, chiếm tỷ lệ 12,03% sơ với tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội

Danh mục các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2014-2018: Bảng 2.1 Danh mục các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước

quyết định phê duyệt

chủ trương đầu tư)

Năm bắt đầu đầu

tư TMĐT

Trong đó NS thị xã đầu tư

Tổng NSTX

Chi tiết phân bổ Năm

(Nông thôn mới) 2014 1.764 1.014 1.014

5 Mẫu giáo Điện Tiến

6

Mẫu giáo Điện

Phương (Nông thôn

Trang 29

TT

DANH MỤC

DỰ ÁN

(Các dự án đã có

quyết định phê duyệt

chủ trương đầu tư)

Năm bắt đầu đầu

tư TMĐT

Trong đó NS thị xã đầu tư

Tổng NSTX

Chi tiết phân bổ Năm

17

Đầu tư điện trang trí

cảnh quan đô thị (thay

Trang 30

TT

DANH MỤC

DỰ ÁN

(Các dự án đã có

quyết định phê duyệt

chủ trương đầu tư)

Năm bắt đầu đầu

tư TMĐT

Trong đó NS thị xã đầu tư

Tổng NSTX

Chi tiết phân bổ Năm

Minh Điện Phương

(không thi công đoạn

Trang 31

TT

DANH MỤC

DỰ ÁN

(Các dự án đã có

quyết định phê duyệt

chủ trương đầu tư)

Năm bắt đầu đầu

tư TMĐT

Trong đó NS thị xã đầu tư

Tổng NSTX

Chi tiết phân bổ Năm

40 Nâng cấp Trung tâm văn hóa thị xã 2014 2.000 2.000 2.000

41 Mở rộng phòng trưng bày đèn cổ tại Bảo tàng 2014 394 394 394

Trang 32

TT

DANH MỤC

DỰ ÁN

(Các dự án đã có

quyết định phê duyệt

chủ trương đầu tư)

Năm bắt đầu đầu

tư TMĐT

Trong đó NS thị xã đầu tư

Tổng NSTX

Chi tiết phân bổ Năm

44 Vệt dân cư hai bên đường ĐH8 2014 4.500 4.500 3.615 885

45 Vệt dân cư hai bên đường ĐH9 2014 2.500 2.500 1.500 1.000

Đầu tư từ nguồn sự nghiệp nên không phải phê duyệt Chủ trương đầu tư theo Luật đầu tư công

Trang 33

Tình hình đầu tư của các ngành, lĩnh vực như sau:

Bảng 2.2 Tình hình đầu tư của các ngành, lĩnh vực

TT Danh mục

công trình

Tổng mức đầu

tư dự kiến

Trong đó

Số dự án NSTX Vốn

khác

NS tỉnh,

NS TW

Đệ trình các tổ chức quốc tế tài trợ TỔNG CỘNG 1.492.776 603.522 62.840 824.515 1.900 104

Trang 34

Đề án phát triển một số lĩnh vực văn hóa:

Bảng 2.3 Danh mục dự án văn hóa

1 Công viên Mẹ Thứ

2 Khu trung tâm thể dục thể thao bắc tỉnh Quảng Nam tại thị xã Điện Bàn

3 Bể bơi Điện Nam Trung

4 Bể bơi Điện Thọ

5 Cải tạo cảnh quan Công viên Tháp Bằng An

6 Cổng chào phía Nam thị xã Điện Bàn

7 Cổng chào phía Bắc thị xã Điện Bàn

8 Xây dựng vườn tượng bảo tàng

9 Xây dựng Tượng đài Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi

13 Trùng tu di tích, bình quân mỗi năm bố trí 1 tỷ đồng

14 Hỗ trợ thiết chế văn hóa cấp xã: 300 triều đồng/ thiết chế

15 Hỗ trợ thiết chế văn hóa thôn: 50 triệu đồng/ thiết chế

(Nguồn: Báo cáo Kế hoạch đầu tư công trung hạn thị xã Điện Bàn giai đoạn

2011-2015 và giai đoạn 2016-2020, tr.5)

Tuy nhiên, hiện nay trong lĩnh vực đầu tư cho các thiết chế văn hóa trên địa bàn thị xã, ngoài Đề án được HĐND thị xã phê chuẩn thì ngân sách thị xã cần tập trung nguồn để đối ứng theo cơ chế mà HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã ban hành để hỗ trợ cho các thiết chế văn hóa tại Quyết định 2233/QĐ-UBND ngày 21/7/2014 về phê duyệt mức hỗ trợ kinh phí đầu tư từ ngân sách, ngân sách tỉnh đối với một số công trình xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc chương trình MTQG xây dựng NTM, Quyết định 3486/QĐ-UBND ngày 28/9/2015 về việc phê duyệt Đề án đầu tư tu bổ

di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn

2016-2020, Quyết định 1196/QĐ-UBND ngày 6/4/2015 phê duyệt Đề án xây dựng và

Trang 35

phát triển Trung tâm văn hóa thể thao xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015-2025

Đề án phát triển sự nghiệp truyền thanh - truyền hình:

Thực hiện Đề án trong năm 2014, 2015 ngoài việc đầu tư xây mới Trụ Ăngten cho Đài truyền thanh thị xã, ngân sách thị xã đã đối ứng để đầu tư mua sắm trang thiết bị cho Đài truyền thanh 4 xã, bình quân mỗi xã 322 triệu đồng Trong năm

2016, 2017, tùy tình hình nguồn thu của ngân sách thị xã, UBND thị xã cân đối ngân sách thị xã hằng năm từ nguồn sự nghiệp truyền thanh – truyền hình trình HĐND thị xã để cân đối cho 16 xã, phường còn lại mua sắm trang thiết bị Mức hỗ trợ theo Đề án đã được HĐND thị xã phê chuẩn là 322 triệu đồng/1 đài

Đề án phát triển sự nghiệp thể dục - thể thao:

Trong Đề án đã được HĐND thị xã phê chuẩn, kế hoạch năm 2014-2017 đầu

tư các dự án sau: Nâng cấp Trung tâm văn hóa – thể thao thị xã; Xây dựng nhà tập bóng bàn; Nâng cấp khu thể thao gồm sân bóng chuyền, hồ bơi; Xây dựng Khu trung tâm thể dục – thể thao Tuy nhiên, trong khả năng cân đối nguồn lực giai đoạn 2014-2017 và tính bức thiết của các dự án, UBND thị xã trình HĐND đầu tư: Nâng cấp Trung tâm văn hóa – thể thao Các dự án còn lại cần tính đến sự khớp nối trong dài hạn với Khu trung tâm thể dục thể thao Khả năng cân đối ngân sách địa phương

để đầu tư Khu trung tâm thể dục thể thao là rất khó khăn Vì vậy, trong thời gian đến UBND thị xã tiếp tục xúc tiến tìm nguồn đầu tư cho dự án Khu trung tâm thể dục - thể thao từ nguồn hỗ trợ của ngân sách TW, ngân sách tỉnh, xã hội hóa

Đề án kiên cố hóa mặt đường ĐH:

Căn cứ Nghị quyết số 134/2014/NQ-HĐND ngày 11/12/2014 của HĐND tỉnh

và Quyết định số 1243/QĐ-UBND ngày 8/4/2015 của UBND tỉnh về phê duyệt Đề

án kiên cố hóa mặt đường các tuyến đường ĐH giai đoạn 2015-2020 theo đó Điện Bàn được tỉnh hỗ trợ nâng cấp 17,4km Cơ chế về nguồn vốn tỉnh quy định như sau: Ngân sách tỉnh hỗ trợ 60% (không bao gồm chi phí GPMB); Ngân sách thị xã, xã, huy động nhân dân đóng góp 40% Để thực hiện Đề án kiên cố hóa mặt đường ĐH, UBND thị xã kính trình HĐND thị xã cơ chế nguồn ngân sách thị xã như sau: Ngân

Trang 36

sách thị xã 40% giá trị xây lắp và chi phí khác Chi phí GPMB (nếu có) huy động nhân dân trong vùng dự án đóng góp Với cơ chế này, trong giai đoạn 2014 -2017, ngân sách thị xã cân đối nguồn cho Đề án này là 27,140 tỷ

Đề án giao thông nông thôn:

Căn cứ Nghị quyết số 159/2015/NQ-HĐND ngày 7/7/2015 của HĐND tỉnh và Quyết định 2740/QĐ-UBND ngày 6/8/2015 của UBND tỉnh về phê duyệt Đề án phát triển GTNT trên địa bàn tỉnh Theo Đề án, ngân sách tỉnh hỗ trợ 35% chi phí xây dựng công trình tính theo đơn giá xây dựng mặt đường GTNT để Điện Bàn kiên

cố hóa 49,31km đường GTNT Cơ chế hỗ trợ kiên cố hóa GTNT theo Đề án của tỉnh như sau: Ngân sách thị xã hỗ trợ 20% chi phí xây dựng công trình tính theo đơn giá xây dựng mặt đường GTNT Với cơ chế này, trong giai đoạn 2014-2017, ngân sách thị xã cân đối nguồn cho Đề án này 8,022 tỷ

2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước từ thực tiễn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam

2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị đầu tư

2.2.1.1 Công tác lập kế hoạch và bố trí vốn đầu tư

Nguồn vốn còn lại bố trí cho các dự án chuyển tiếp hoặc khởi công mới theo nguyên tắc: Năm đầu bố trí vốn khoảng 30% so với tổng mức đầu tư của dự án, từ năm thứ 2 trở đi bố trí vốn đạt 60% - 70% so với tổng mức đầu tư của dự án, sau khi quyết toán dự án hoàn thành bố trí thanh toán dứt điểm trong thời gian không quá 3 năm Riêng đối với năm 2016, thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công, ngoài việc ưu tiên bố trí thanh toán dứt điểm các dự án đã quyết toán dự án hoàn thành thì còn ưu tiên bố trí 10% dự phòng so với tổng nguồn vốn của kế hoạch đầu

tư công trung hạn 2016-2020, nguồn vốn còn lại mới bố trí cho các dự án chuyển tiếp hoặc khởi công mới

Trang 37

Bảng 2.4 Kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB giai đoạn 2014-2017

Trang 38

Năm 2015 là mốc cuối kết thúc giai đoạn đầu tư 2011-2015 và năm 2016 là thời kỳ đầu của giai đoạn đầu tư 2016-2020, từ cuối năm 2015 hầu như toàn bộ các văn bản về đầu tư xây dựng đã được Quốc hội, Chính phủ, Bộ, Ngành ban hành thay thế, đặc biệt là việc ra đời của Luật Đầu tư công đã giúp cho công tác quản lý đầu tư xây dựng chặt chẽ hơn

Thông qua bảng 2.4, kết quả thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB giai đoạn 2014

- 2017 ta nhận thấy mặc dù tổng kế hoạch vốn năm 2014 thấp nhưng cơ cấu bố trí vốn cho dự án chuyển tiếp và khởi công mới lại tăng Nguyên nhân là do: Để Điện Bàn được công nhận thị xã vào năm 2015 thì năm trước đó là năm 2014 cần phải đẩy mạnh đầu tư để đạt được các tiêu chí đề ra Vì lẽ đó mà nợ XDCB đối với các

dự án đã hoàn thành trong những năm này tăng cao Năm 2015 so với những năm trước đó thì tổng số dự án chuyển tiếp và đầu tư mới chỉ xấp xỉ 70% so với năm trước, nhưng cơ cấu bố trí vốn tăng gấp 1,5 lần Nguyên nhân là do: Đa số các dự án chuyển tiếp này là các dự án trọng điểm chiếm tỷ lệ vốn cao (Dự án: Đường nối từ Quốc lộ 1A-ĐT609 vào trung tâm xã ngập lụt huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam:

154 tỷ; ĐH9 50 tỷ) và đang trong giai đoạn kết thúc Các dự án sau khi quyết toán

bố trí thanh toán dứt điểm trong thời gian không quá 3 năm, nhưng Điện Bàn thực hiện chưa triệt để nên năm nào cũng treo nợ đối với các dự án đã hoàn thành Tại Bảng 2.7 cũng phản ánh được điều này, cụ thể những năm đầu tư cao điểm 2014,

2015 nợ các dự án đã hoàn thành xấp xỉ 70 tỷ thì đến năm 2016 đã thanh toán đạt gần 70% Dù tỷ lệ thanh toán nợ XDCB đối với các dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng ở năm 2016 tăng khá nhiều so với những năm trước nhưng vẫn còn nợ hơn 30%, con số này phản ánh khả năng cân đối nguồn vốn chưa bám sát thực tế Đó là chưa kể đến số nợ so với dự toán đối với các dự án chuyển tiếp Năm 2016, thời kỳ đầu của giai đoạn đầu tư 2016-2020 trước khi bố trí vốn cho dự án chuyển tiếp cũng như đầu tư mới Điện Bàn vẫn ưu tiên thanh toán dứt điểm nợ, tuy nhiên tỷ lệ nợ đối với các dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng ở năm này tăng là do một phần nợ các năm trước chuyển sang, một phần là do năm 2016 là thời kỳ đầu của giai đoạn đầu

tư 2016-2020 nên vẫn tiếp tục đầu tư một số dự án mới Số nợ so với dự toán đối

Trang 39

với các dự án chuyển tiếp tuy có giảm nhưng vẫn còn khá cao Mặc dù đã có nhiều

nổ lực trong giải quyết nợ XDCB song vấn đề này vẫn “lùng bùng” trong nhiều năm qua, gây ra các hậu quả như: công trình thi công dở dang, kéo dài, hiệu quả đầu tư kém; chủ đầu tư không có nguồn vốn để thanh toán cho giá trị khối lượng thực hiện

2.2.1.2 Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán

Công tác lập, thẩm định và phê duyệt dự án đầu tư được thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định tại Luật Đầu tư công số 49/2014/QH11 ngày 18/6/2014; Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, đúng theo quy định tại các Nghị định của Chính phủ như: Nghị định số 59/2015/NĐ-CP; Nghị định số 32/2015/NĐ-CP…Trên cơ sở chủ trương đầu tư đã được duyệt, Chủ đầu tư tiến hành lựa chọn các đơn vị tư vấn lập dự án đầu tư, sau đó các cơ quan chuyên môn

về xây dựng sẽ thẩm định và trình phê duyệt dự án đầu tư Công tác lập, thẩm định, phê duyệt đảm bảo theo quy định, đồng thời chủ động điều chỉnh, bổ sung kịp thời phù hợp với biến động thực tế, đảm bảo hiệu quả cao hơn về mặt kinh tế, xã hội, hiệu quả đầu tư dự án

Bảng 2.5 Kết quả thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư XDCB

Trang 40

trả nợ do vậy mà việc đầu tư mới cũng được cân nhắc kỹ, những dự án nào cấp thiết mới được xem xét đầu tư Sang đến năm 2016, năm đầu của giai đoạn đầu tư mới 2016-2020, các văn bản về XDCB đã thay thế hầu như toàn bộ, số dự án thẩm định

và tỷ lệ được phê duyệt đều giảm dần là do công tác lập, thẩm định, phê duyệt được

“siết chặt” và đòi hỏi sát với thực tế hơn, phù hợp với tính khả thi của nguồn vốn, không nặng về hình thức như trước đây

Tuy nhiên, công tác lập, thẩm định dự án đầu tư còn bộc lộ những yếu điểm sau:

Độ chính xác của công tác thiết kế, thẩm định chưa cao do chất lượng hồ sơ dự

án đầu tư cũng như thiết kế kỹ thuật chưa bám sát thực tế như: dữ liệu nghiên cứu hiện trạng còn sơ sài, số liệu khảo sát chưa chuẩn xác, công tác thiết kế rập khuôn chưa sát với thực tế dẫn đến việc phải khảo sát, thiết kế lại hoặc phải phải thẩm định

dự án lại, bổ sung, điều chỉnh thiết kế, phương án thi công nhiều lần, kéo theo là làm thay đổi dự toán, làm chậm tiến độ thi công gây lãng phí thời gian, tiền của Một số dự án phương án thiết kế không hợp lý, sử dụng vật tư, vật liệu không phù hợp với loại công trình (sử dụng vật liệu quá đắt tiền cho công trình cấp thấp); việc chọn hệ số an toàn quá cao, tính toán không chặt chẽ gây lãng phí vật liệu xây dựng Công tác thẩm định đa số chiếu theo các thông số của tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng ít quan tâm đến yếu tố phù hợp với địa phương, phù hợp với nhu cầu sử dụng, không sát với thực tế, không cân đối được nguồn vốn dẫn đến điều chỉnh tăng tổng mức đầu tư so với phê duyệt ban đầu lên nhiều lần

Thời gian thẩm định của một số dự án kéo dài do mỗi một nội dung thẩm định

do một cơ quan chịu trách nhiệm nên việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan tốn nhiều thời gian và thiếu chặt chẽ

Công tác lập, thẩm định dự án đầu tư theo quy định của Nhà nước được nhà thầu đánh giá khá cao (theo số liệu khảo sát tại bảng 2.6) xấp xỉ 90%, tuy nhiên chất lượng việc lập và thẩm định còn thấp do tính rập khuôn, chưa bám sát nhu cầu sử dụng Công tác phê duyệt dự án đúng theo quy định và nhanh chóng nhận được kết quả đánh giá khá thấp, chỉ đạt 52% Mặc dù quy trình đầu tư xây dựng đã được Điện Bàn đưa vào quy trình ISO từ năm 2010 nhằm giảm thiểu thời gian phê duyệt các thủ tục hành chính, nhưng kết quả đạt được vẫn không như mong đợi

Ngày đăng: 23/11/2018, 07:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w