1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ TỰ NHIÊN ĐẾN MỘT SỐ CÂY LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

61 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời kì đổi mới và phát triển kinh tế của nước ta hiện nay, nhà nước ta và Đảng ta luôn tạo những điều kiện thuận lợi cho kinh tế tăng trưởng và phát triển. Việc đầu tư phát triển kinh tế không những được chú trọng ở vùng đồng bằng mà còn cả vùng núi, nơi những điều kiện tự nhiên không thuận lợi bằng vùng đồng bằng. Để nắm bắt được những điều kiện thuận lợi hay khó khăn của tự nhiên để nghiên cứu biện pháp phát triển kinh tế phù hợp với từng địa phương miền núi. Trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp chưa vươn mạnh tới vùng xâu vùng xa, nên việc phát triển kinh tế nông nghiệp đặc biệt là sản xuất các loại cây lâm nghiệp lâu năm là hướng xóa đói giảm nghèo bền vững ở vùng núi. Từ đó cần nghiên cứu tác động của tự nhiên đến sự phát triển cây lâm nghiệp lâu năm là rất quan trọng. Tân Sơn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ, được thành lập theo quyêt định 612007NĐCP ngày 09042007 của chính phủ trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn thành lập 2 huyện: huyện Thanh Sơn mới và huyện Tân Sơn. Huyện Tân Sơn nằm ở phía tây nam của tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì 75 km . Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 68.984 ha. Với 17 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Tân Phú, Kiệt Sơn, Minh Đài, Mỹ Thuận, Thu Ngạc, Thạch Kiệt, Thu Cúc, Lai Đồng , Đồng Sơn, Tân Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn, Văn Luông, Long Cốc, Tam Thanh, Vinh Tiền. Địa hình Tân Sơn tương đối phức tạp. Đây là vùng có địa hình cao nhất trong tỉnh, tại đây có những dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc Đông Nam, dốc thoải dần về phía sông Hồng. Sự phân hóa lãnh thổ tương đối phức tạp, chủ yếu là các dãy núi cao và hiểm trở bên cạnh những thung lũng sông bị chia cắt. Sự chênh lệch địa hình giữa các vùng trong huyện khá lớn đỉnh cao nhất là núi xuân sơn cao 1384 m . Huyện Tân Sơn là một huyện miền núi và là địa bàn sinh sống chủ yếu của các đòng bào dân tộc thiểu số của huyện (chiếm gần tới 83% dân số toàn huyện). Do tình hình khai thác và sử dụng lãnh thổ còn mang tính tự phát, thiếu cơ sở khoa học vững trắc và chưa được nghiên cứu định hướng một cách khoa học nên đời sống nhân dân còn thiếu ổn định, kinh tế còn khó khăn. Bên cạnh đó, về lâu về dài không có chiến lược phát triển hợp lí sẽ có nguy cơ cạn kiệt tài nguyên và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Hiện nay, vấn đề nghên cứu để đánh giá đúng tiềm năng về điêu kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xã hội vẫn chưa có cơ sở khoa học vững vàng để đảm bảo hát triểm nông lâm nghiệp bền vững. Quy hoạch hát triển kinh tế xã hội huyện tân Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đến năm 2020, trong đó có những quy hoạch cho việc phát triển nông lâm nghiệp, trong đó ứng dụng ứng dụng cây công nghiệp lâu năm mà đã được triển khai .Trên cơ sở đó chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu : “Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên đến sự phân bố một số cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ” 2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Củng cố lại những kiến thức đã được học về các hợp phần tự nhiên trên lí thuyết, các yếu tố ảnh hưởng của tự nhiên đến đời sống sinh vật, từ đo nắm vững kiến thức địa lí tự nhiên Việt Nam. Cùng với đó là quá trình tiếp cận thực địa từ những bài học thực hành trên trường lớp, có thêm cơ hội kiểm chứng những lí thuyết học trong thực tế tại địa điểm nghiên cứu đúng theo phương châm học đi đôi với hành. Bên cạnh đó, quá trình học tập nghiên cứu đề tài tại Tân Sơn, chúng tôi đã tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong điều tra, đánh giá. Đây sẽ là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc của chúng tôi sau này. 2.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tìm hiểu được một số nhân tố tự nhiên của Tân Sơn ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loại cây lâm nghiệp từ đó đưa ra những biện pháp để một số cây lâm nghiệp có sức sinh trưởng tốt nhất, phù hợp với điều kiện lập địa tại khu vực nghiên cứu huyện Tân Sơn, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả trồng rừng. Đồng thời đưa ra những định hướng trong kinh doanh rừng hiệu quả góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững. 3. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 3.1 Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu cơ sở lí luận. Nghiên cứu những đặc điểm tự nhiên về khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, địa hình... Nghiên cứu những đặc điểm phát triển của một số cây lâm nghiệp trong điều kiện tự nhiên của huyện Tân Sơn. 3.2. Nhiệm vụ của đề tài Phân tích cơ sở lí luận của các nhân tố tự nhiên. Phân tích đặc điểm cơ bản của các nhân tố tự nhiên của huyện Tân Sơn.. Phân tích những ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên đến sự sinh trưởng phát triển của một số cây lâm nghiệp chính của huyện Tân Sơn.   PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1. Lịch sử nghên cứu Trong quá khứ đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề phát triển cây trồng trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Hầu hết các đề tài đã nói lên điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu,..) có nhiều đề tài đã nghiên cứu về cây trồng và năng xuất hiệu quả của chúng như: 2.1.1. Trên thế giới 2.1.1.1.Cây keo Keo lai là tên gọi viết tắt của giống giống lai tự nhiên giữa loài keo tai tượng và keo lá tràm. Giống lai này được Mesrs Hepbum và Shim phát hiện năm 1972 trong nhũng hàng cây trồng ven đường. Năm 1978 khi xem xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland( Australia) Pedkey đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa keo tai tượng và keo lá tràm trong tự nhiên keo lai cũng được phát hiện ở Papu New Guinea (Turm bull 1986, Grinfin,1988) nghiên cứu năm 1987 của Rurelds cho rhaays tại miền Bắc Sabah Malayxia keo lai xuất hiện ở rừng keo tai tượng 34 cây ha còn Wong thì thấy xuất hiện với tỉ lệ 1500 cây. Năm 1991 Cyrin pinso và Robert Nasi đã thấy tại khu Ulukukut cây lai tự nhiên đời f1 sinh trưởng khả năng hơn các giống xuất xứ của keo tai tượng ở Sabah. Các tác giả này cũng cho thấy rằng gỗ của keo lai là trung gian giữa kao tai tượng và keo lá tràm có phẩm chất tốt hơn keo tai tượng. 2.1.1.2. Cây Bạch đàn Bạch đàn urophylla phân bố tự nhiên chủ yếu ở trên 7 đảo (Timor, Flores, Adonara, Lembata, Panta, Alor và Wetar) thuộc quần đảo Sunda của Indonesia; nằm trong khoảng từ 8O30’ đến 10O kinh độ Đông; độ cao vùng phân bố tự nhiên từ 300 3.000 m so với mực nước biển. Theo Webb và các cộng sự tổng kết năm 1980, Eucalyptus urophylla là loài cây thích nghi với những nơi có lượng mưa từ 1.000 1.600 mm và nhiệt độ bình quân năm trên 25OC cho các vùng có độ cao từ 0 500 m; 22,0 24,5oC cho các vùng có độ cao từ 500 1.000 m và 19,5 – 22oC cho cácvùng có độ cao 1000 đến 1500 m. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng kết quả nghiên cứu ở nhiều nước khác trên thế giới đã cho thấy Eucalyptus urophylla không sinh trưởng tốt ở các vùng đất thấp thuộc vùng nhiệt đới ẩm như: New Guinea, quần đảo Solomon và miền Đông Kalimanta của Indonesia. Nguyên nhân chính là do không cạnh tranh nổi với tốc độ phát triển của cỏ dại. Người ta đã đem loài cây này đi trồng ở nhiều nơi trên thế giới. 2.1.1.3. Cây Trám đen Có nhiều dẫn liệu cho thấy người Trung Quốc đã biết ghép cây từ hàng ngàn năm trước công nguyên Aristote (384 322 TCN) đã nói về ghép trong tác phẩm của mình. Thời kỳ phục hưng (1350 1600) người ta chú ý đến ứng dụng thực tiễn của ghép. Nhiều loại cây được đưa vào Châu Âu và duy trì bằng phương pháp ghép. Vào thế kỷ thứ XVI XVII ghép được áp dụng rộng rãi ở nước Anh trong nghề làm vườn và đã nhận thấy vai trò của lớp tượng tầng tuy chưa rõ bản chất của nó. Đầu thế kỷ XVIII, Stephen Hales trong tác phẩm nghiên cứu về “Tuần hoàn của nhựa” trong cây đã nhận thấy sự tồn tại của phần giữa cây và vai trò của nó trong vận chuyển các chất từ rễ lên trên. Cũng trong khoảng thời gian này, Duhamel đã nghiên cứu sự hình thành tổ hợp ghép, sự vận chuyển của nhựa qua chỗ ghép. Năm 1821, Thourin đã mô tả 119 phương pháp ghép và những biến đổi do ghép cây gây ra. Vào năm 1840 một người Pháp tên là Marier de Boissdyver ở vùng rừng Phôngtennơblô đã ghép trên 10.000 cây Thông đen xuất xứ Korzica (Pinus nigra sp. Lariciot) lên gốc ghép Thông đen non trẻ nhằm nhân rộng xuất xứ số giá trị và để sản xuất hạt giống phục vụ trồng rừng. Ở Hà Lan nhờ có giống mớivà nhân giống bằng phương pháp ghép với các loại gốc ghép lùn và nửa lùn mà đã tăng được mật độ trồng trọt (4000 10000 câyha). Cây ghép có ưu điểm là cây sớm ra hoa kết quả. tiện cho việc chăm sóc và thu hái, sản lượng trên một đơn vị diện tích tăng lên đến 45%.. (dẫn theo Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, 2000) (nguồn: Lâm Văn Sáng “Nghiên cứu lựa cây trám đen ưu việt phục vụ cho công tác nhân giống và cải tạo vường tạp bằng cây ghép tại Xã Hà Châu, tỉnh Thái Nguyên” 2.1.1.4. Cây Trẩu Tái sinh tự nhiên của rừng là một quá trình rất phức tạp, tuy vậy vấn đề này cũng đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà lâm học. Khi nghiên cứu tái sinh rừng, người ta thường tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế. Khi nghiên cứu tái sinh rừng, phần lớn các nhà nghiên cứu thường hướng vào tìm hiểu sự thiếu hụt ánh sáng của cây con. Năm 1949, Kozlovxki (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng là thường xuyên đối với cây con. Khi bị che bóng, mật độ và sức sống của cây tái sinh sẽ suy giảm (Walter, 1947; Roussel, 1962, 1967). Những nhận định về vai trò của ánh sáng đối với tái sinh của cây gỗ ở rừng mưa cũng tìm thấy trong các tài liệu của Richards (1952), Banard (1954) và Baur (1961 1962). Khi nghiên cứu vai trò của những yếu tố tối thiểu đối với sinh trưởng của cây con, Karpov (1969) và Rusin (1970) cho rằng, sự cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây con theo yếu tố đa lượng có ảnh hưởng không đáng kể đến sức sống của cây con nước (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 20022003).Theo Mazin (1969), ánh sáng sẽ trở thành yếu tố giới hạn ở những nơi mà nước và chất khoáng không ở mức giới hạn. Khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng của cây gỗ non, Ekta và Singh (2000) đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt tới sự nảy mầm, sự sống sót và quá trình sinh trưởng của cây con. Năm 1981, Sasaki và Mori đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu bóng của một số loài như Shorea talura, Sovalis, Hopea helferei và Vatica odorata. Kết quả cho thấy sinh trưởng của cây con bị ức chế khi cường độ ánh sáng cao hơn 50% . Ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh tưởng của cây đã được đề cập ở mức độ tế bào Kramer (1993), Wagt và cộng sự (1998) . Sands và Mulligan (1990 sự lớn lên của lá rất nhạy cảm với nước (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 20022003). 2.1.1.4. cây Bồ đề Những kết quả nguyên cứu về điều kiện lập địa Nguyên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển, điều này được thể hiện ở sự khác nhau về đặc điểm của các phấu diện đất, đó là độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trưởng rừng trồng trên các loại đất khác nhau là khác nhau. Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swziland, Julian Eván (1992) đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình tương quan sau: Y=18,76+0.0544x30.000022x32+0.0185x4+0.0449x5+0.5346x11 Trong đó: Y chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m) ; X3 là độ cao so với mực nước biển (m) ; X4 độc cao chênh lệch giữa đỉnh đổi và chân đồi (%) ; X5 độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%) ; X11 độ phì của đất đã được xác định Kết quả nguyên cứu của Paydey D. (1983) về loài bạch đàn Eucalyptus Camaldulensis được trồng trên các lập địa khác nhau đã cho thấy : Nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 1020 năm thì năng suất chỉ đạt 510m3năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thì năng suất có thể đạt 30m3năm. Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau. 2.1.2. Ở Việt Nam Phát triển trồng rừng sản xuất ở các tỉnh vùng Tây Bắc là chủ trương của Nhà nước ta hiện nay. Nghiên cứu này được thực hiện trong đề tài Nghiên cứu phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế và bền vững vùng miền núi phía Bắc thuộc chương trình nghiên cứu KHCN phục vụ phát triển nông thôn miền núi phía Bắc. Kết quả đề tài đã xây dựng được 19 ha mô hình rừng trồng sản xuất, trong đó có 8 ha rừng trồng cung cấp gỗ lớn, 7 ha rừng trồng cung cấp gỗ nhỏ và 4 ha rừng trồng cung cấp lâm sản ngoài gỗ. Các mô hình được triển khai xây dựng trong năm 2003 và 2004 tại xã Chiềng Mung huyện Mai Sơn và Chiềng Bôm huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La. Đánh giá bước đầu cho thấy cây trồng trong các mô hình đều có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và chất lượng cây trồng tốt. Mô hình mang lại những hiệu quả rất thiết thực về mặt kinh tế và xã hội. Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đặt ra nhiệm vụ phải trồng 3 triệu ha rừng sản xuất giai đoạn 1998 2010, tuy nhiên cho đến năm 2005 chúng ta mới đạt 49% kế hoạch, so với nhiệm vụ đến năm 2010 chỉ đạt 34%. Chính vì vậy, tại Hội nghị sơ kết Dự án Chính phủ đã chỉ đạo trong thời gian tới cần tập trung đẩy mạnh phát triển trồng rừng sản xuất. Nghiên cứu này được thực hiện từ năm 2002 đến 2005 trong đề tài “Nghiên cứu phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế và bền vững vùng miền núi phía Bắc” thuộc chương trình nghiên cứu KHCN phục vụ phát triển nông thôn miền núi phía Bắc. Keo và bạch đàn là 2 loài cây nhập nội có giá trị kinh tế được trồng phổ biến trên đất trống đồi núi trọc ở nước ta. Một vấn đề được quan tâm, thảo luận nhiều tại các nước có trồng bạch đàn là ảnh hưởng bất lợi của rừng trồng bạch đàn tới môi trường đất đặc biệt là làm khô đất. Nghiên cứu về chế độ nước dưới rừng trồng bạch đàn ở nước ta đã được thực hiện bởi một số tác giả (Hoàng Xuân Tý, 1975; Bùi thị Huế, 1996). Tuy nhiên, các nghiên cứu về đặc điểm chế độ nước của cá thể và quần thể rừng trồng bạch đàn như cường độ thoát hơi nước, sức hút nước của lá, độ thiếu nước của lá, khả năng giữ nước... của rừng còn rất hạn chế. Đó là nội dung rất quan trọng liên quan tới chế độ nước của đất dưới rừng. Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu với Trung tâm nghiên cứu Phù Ninh (1991) tác giả Đỗ Đình Sâm đã nghiên cứu sơ bộ cường độ thoát hơi nước dưới rừng trồng bạch đàn E.Camaldulensis ở Phù Ninh (Phú Thọ). Bùi Thị Huế (1996) có tiến hành nghiên cứu cường độ thoát hơi nước của loài bạch đàn E. Camaldulensis và keo tai tượng A.mangium ở ngoài Bắc. Tuy nhiên các nghiên cứu còn chưa hệ thống, thời gian ngắn và mới tập trung ở các cây non, ở các cá thể hơn là các quần thể rừng. Các nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trong 3 năm ở các điều kiện sinh thái khác nhau (Đại Lải Vĩnh Phúc, Đoan Hùng Phú Thọ, Sông Mây Đồng Nai) trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp Bộ (20012004) “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của một số rừng trồng cây nhập nội chủ yếu đến môi trường đất ở Việt nam”. “Đánh giá thực trạng rừng trồng keo và bạch đàn ở nước ta trong những năm qua”: Trong vòng 50 năm kể từ năm 1943, diện tích rừng tự nhiên nước ta đã bị thu hẹp đáng kể, trung bình mỗi năm bị mất hơn 100.000ha. Chất lượng rừng ngày càng giảm sút, gỗ từ rừng tự nhiên không còn đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước, chưa nói đến xuất khẩu. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ và giấy ngày càng tăng của xã hội, ngành công nghiệp chế biến gỗ và giấy đã và đang phát triển rất mạnh trong thời gian vừa qua. Trong vòng 50 năm kể từ năm 1943, diện tích rừng tự nhiên nước ta đã bị thu hẹp đáng kể, trung bình mỗi năm bị mất hơn 100.000 ha. Ở nước ta hiện nay đã có những nghiên cứu về điều kiện gây trồng cay keo lai của Lê Đình Khả, Đỗ Đình Xâm, Phạm Thế Dũng.., nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng keo lai của Triệu Văn Hùng, Nguyễn Huy Sơn, Đoàn Hoài Nam, nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật lâm sinh trồng rừng keo lai của Lê Đình Khả, Đỗ Đình Xâm, Phạm Thế Dũng, Đỗ Đình Xâm,.. nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của peter core, Đỗ Đình Xâm, Đặng Hoài Nam, Đặng Văn Dung ở một số vùng sinh thái nước ta, nghiên cứu về hấp thụ cacbon của Ngô Đình Quế, Võ Đại Hải, Vũ Tấn Phương, Lương Văn Tiến,.. các nghiên cứu đã góp phần trong việc phát triển rừng keo lai. Đặc biệt là trong lĩnh vực chọn giống, các nghiên cứu đã tạo ra và khảo nghiệm nhiều giống keo lai có năng xuất cao để trồng rừng ở một số vùng sinh thái nước ta. Diện tích rừng trồng phân theo vùng ; Vùng Diện tích trồng rừng (ha) Tỷ lệ (%) : Đông Bắc 933.935 40,2; Tây Bắc 130.645 5,6; Đồng bằng sông Hồng 58.099 2,5; Bắc Trung Bộ 446.122 19,2; Nam Trung Bộ 271.896 11,7; Tây Nguyên 155.909 6,7; Đông Nam Bộ 43.814 4,0; Đồng bằng sông Cửu Long 233.206 1,0; Tổng 2.323.529 100 Nguồn: Lê Minh Cường, 2008 PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU 3.1. Nội dung nghiên cứu và cách thức tiếp cận vấn đề Xác định được những đặc điểm cơ bản của các nhân tố tự nhiên huyện Tân SơnTừ đó phân tích ảnh hưởng của nó đến sự sinh trưởng và phát triển của một số cây lâm nghiệp ở huyện Tân Sơn. Nắm được những kết quả bước đầu của loại cây này với sự phát triển kinh tế của huyện Tân Sơn. Cách thức tiếp cận vấn đề: Dựa trên cơ sở đổi mới của đất nước, hướng phát triển kinh tế lâm nghiệp, kinh tế đồi rừng,..cùng với quá trình gắn bó với thực tế trên địa bàn đó là sự phất triển nhanh của một số cây lâm nghiệp, nhằm nghiên cứu, tìm hiểu những ảnh hưởng của tự nhiên như thế nào? Đặc điểm tự nhiên Tân Sơn có thích hợp hay với các loại cây này không?. 3.2. Phương pháp nghiên cứu 3.2.1. Phương pháp khảo sát thực địa Đối tượng: trong phương pháp này chúng tôi tập chung chủ yếu nghiên cứu điều kiện tự nhiên về rừng sản xuất, các loại cây lâm nghiệp huyện Tân Sơn. Nội dung nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã đi thực tế trên địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu, chụp ảnh tư liệu của các nhân tố tự nhiên ở một số địa điểm chủ yếu dựa trên đặc điểm địa lí tự nhiên và phân hóa không gian lãnh thổ. Kết quả: số iệu cụ thể về diện tích rừng, về các nhân tố tự nhiên. 3.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích, xử lý tài liệu Đối tượng: Số liệu, tài liệu thu thập từ các nguồn khác nhau. Quá trình thực hiện: Đề tài, chúng tôi đã tiến hành thu thập và chọn lọc số liệu liên quan dến khu vực nghiên cứu và sắp xếp theo thời gian. Kết quả: Số liệu đã được chọn lọc, phân tích và xử lí. 3.2.3. Phương pháp phân tích tiếp cận hệ thống Đối tượng: Mối quan hệ giữa các hợp phần tự nhiên trên địa bàn huyện. Nội dung: Dựa vào tài liệu về các hợp phần tự nhiên, phương pháp này được nghiên cứu trong mối quan hệ giữa các hợp phần tự nhiên trên địa bàn huyện, nhằm xác định tính ổn định và biến đổi của chúng. 3.2.4 Phương pháp đánh giá tổng hợp Đối tượng: Các hợp phần tự nhiên. Mối quan hệ giữa tự nhiên với kinh tế sản xuất. Nội dung: Trong nghiên cứu những phương pháp quan trọng thường được nghiên cứu tổng hợp điều các kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và xem chúng trong những mối liên hệ tương quan phụ thuộc lẫn nhau. Một thành phần biến đổi dẫn tới các thành phần khác biến đổi theo. Kết quả: Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên cho sự phát triển cây lâm nghiệp. 3.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng của đề tài là nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên tác động đến sự phân bố một số cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Phạm vi nghiên cứu đề tài: Đặc điểm các nhân tố tự nhiên trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. 3.4. Giới thiệu cấu trúc đề tài Đề tài bao gồm: Mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và mục lục. Trong đó nội dung của đề tài được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của các nhân tố tự nhiên tới phát triển cây lâm nghiệp huyện Tân Sơn Chương 2: Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sự phân bố một số cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Chương 3: Một số giải pháp và định hướng phát triển một sô cây lâm nghiệp PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƯỢC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC NHÂN TỐ TỰ NHIÊN ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÂY LÂM NGHIỆP HUYỆN TÂN SƠN 1.1.Cơ sở lí luận của đề tài 1.1.1. Một số khái niệm 1.1.1.1. Khí hậu Khí hậu là một nhân tố tự nhiên có vai trò rất quan trọng đối với thế giới sinh vật, với đời sống, sản xuất và các lĩnh vực khác của con người thông qua các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, khí áp, mưa, nắng, mây, bức xạ, ánh sáng, chất lượng, không khí... Theo nhà khí hậu học J.Hann “ Khí hậu là toàn bộ các hiện tượng khí tượng đặc trưng cho trạng thái trung bình của khí quyển ở một địa điểm nào đó trên trái đất”; W.Koppen thì cho rằng “khí hậu là trạng thái thời tiết trung bình và quá trình thời tiết nói chung ở một nơi”; L.S.Bécgơ định nghĩa “khí hậu là trạng thái trung bình của hiện tượng khí tượng có thể ảnh hưởng đến thực vật, động vật, con người và các loại hình thổ nhưỡng”. Theo B.P.Alixop: “Khí hậu của một nơi nào đó là chế độ thời tiết đặc trưng nhiều năm, được tạo nên bởi bức xạ mặt trời, đặc tính của bề mặt đệm và hoàn lưu khí quyển”. Nguồn: Hoàng Ngọc Oanh_ Địa lí Tự nhiên đại cương 2 1.1.1.2 Sông ngòi Sông ngòi: “ Sông ngòi là những dải chũng có độ dốc 1 chiều trong đó nước chảy thường xuyên theo trọng lực”. Sau đó là: “ Sông ngòi là những dòng chảy thường xuyên”. Cuối cùng, để biểu thị cho các thành phần khác nhau của dòng chảy có thể nói: “ Sông ngòi là tổng thể của các dòng chảy thường xuyên”. Nguồn: Hoàng Ngọc Oanh_ Địa lí Tự nhiên đại cương 2 Hệ thống sông ngòi: Nước rơi từ khí quyển hay nước tuyết và băng tan sau một thòi gian chảy tràn trên mặt đất dốc sẽ tập trung lại thành dòng chảy. Các dòng chảy nhỏ chảy vào các dòng chảy lớn hơn... rồi cuối cùng đổ vào một dòng chảy lớn nhất để tiêu nước vào một đối tượng nào đó: hồ đầm, biển và đại dương... các dòng chảy trong phạm vi nào đó hợp thành một hệ thống sông ngòi bao gồm dòng chính , phụ lưu, chi lưu. Nguồn: Hoàng Ngọc Oanh _Địa lí Tự nhiên đại cương 2 1.1.1.3. Địa hình Địa hình, phần mặt đất với các yếu tố trên bề mặt của nó như dáng đất, chất đất, thủy hệ, lớp thực vật, đường giao thông, điểm dân cư, các địa vật... Trong quân sự, địa hình được đánh giá theo đặc điểm dáng đất, khả năng cơ động, điều kiện quan sát, ngụy trang và các điều kiện tự nhiên khác. Nguồn: Nguyễn Trọng Hiếu_ Địa lí tự nhiên đại cương 1 1.1.1.4. Thổ nhưỡng Cuối thế kỉ 19, lần đầu tiên khái niệm về đất trên cơ sở phát sinh học mới được đề xuất bởi nhà thổ nhưỡng học người Nga V. V. Đôcutsaep( 18461903): “ Đất là một vật thể tự nhiên hoàn toàn độc lập, là sản phẩm của hoạt động tổng hợp của đá mẹ, khí hậu, sinh vật, tuổi và địa hình địa phương”. Sau này, nhiều nhà thổ nhưỡng học đã nêu ra các định nghĩa khác, nhưng định nghĩa của V. R. Viliam (18631930) cho ta nhận thức đầy đủ hơn về đất: “Đất là lớp tơi xốp ở bề mặt lục địa, có khả năng cho thu hoạch thực vật. Độ phì là một tính chất hết sức quan trọng của đất, là đặc trưng cơ bản của đất”. Nguồn: Nguyễn Kim Chương_ Địa lí tự nhiên đại cương 3 1.1.1.5. Sinh vật Năm 1970, viện sĩ Nga – X. V.Kalexnik đã nêu ra một định nghĩa cụ thể về sinh quyển : ‘‘ Sinh quyển là mọt bộ phận của vỏ hành tinh chứa đầy vật chất sống và ác sản phẩm do hoạt động sống của chúng sinh ra’’. Trong “ Bách khoa thư địa lí Xô viết” (1988) định nghĩa : “ Sinh quyển là một trong những quyển của lớp vỏ Trái Đất mà thành phần , cấu trúc và năng lượng của nó chủ yếu được xác định bởi hoạt động của các cơ thể sống. Khái niệm về “ sinh quyển” gần với khái niệm về “ lớp vỏ địa lí” bao gồm phần khí quyển gần bề mặt đất, thủy quyển và phần trên của thạch quyển, chúng tương tác với nhau bằng chu trình sinh hóa phức tạp của dòng vật chất và năng lượng, có giới hạn trên xâm nhập vào tầng khí quyển ở độ cao 30 km, vào sâu trong thạch quyển tới 45 km dưới mặt đất và đến đáy sâu của đại dương thế giới” Nguồn: Nguyễn Kim Chương_ Địa lí tự nhiên đại cương 3 1.1.1.6. đặc điểm tự nhiên chung của tỉnh phú thọ .Vị trí địa lý Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng miền núi trung du Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ 200 55’ đến 210 43’ vĩ độ Bắc, 1040 48’ đến 1050 27’ kinh độ Đông. Địa giới hành chính của tỉnh tiếp giáp với: Tỉnh Tuyên Quang về phía Bắc; Tỉnh Hòa Bình về phía Nam; Tỉnh Vĩnh Phúc về phía Đông; Thành phố Hà Nội về phía Đông Nam; Tỉnh Sơn La, Yên Bái về phía Tây. Nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc, Phú Thọ có vị trí địa lý mang ý nghĩa là trung tâm tiểu vùng Tây Đông Bắc; cách trung tâm Hà Nội khoảng 80km về phía Bắc, cách sân bay Quốc tế Nội Bài khoảng 60km. Với vị trí “ngã ba sông” điểm giao nhau của sông Hồng, sông Đà và sông Lô, là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Phú Thọ là đầu mối trung chuyển, giao lưu kinh tế giữa các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và hai tỉnh Quảng Tây, Vân Nam, Trung Quốc. Nằm trong vành đai của các tuyến trục giao thông quan trọng: đường bộ có Quốc lộ 2, Cao tốc Nội Bài Lào Cai, đường Hồ Chí Minh, đường sắt có tuyến đường xuyên Á, đường sông chạy từ Trung Quốc qua các tỉnh phía Tây vùng Đông Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới tỏa đi Hà Nội, Hải Phòng và các khu vực khác. Với vị trí địa lý này, Phú Thọ hội tụ các điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao thương với các vùng trong nước và quốc tế.

Trang 1

DANH SÁCH BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của Tân Sơn

Bảng 2.1 Các yếu tố khí hậu cho sự phát triển cây keo tai tượng

Bảng 2.2 Các yếu tố địa hình

Bảng 2.3 Các yếu tố đất

Bảng 2.4 Sinh trưởng Trám đen trong các công thức thí nghiệm

Bảng 2.5 So sánh điều kiện tự nhiên Tân Sơn với điều kiện thích

nghi của 1 số loại cây lâm nghiệp

Bảng 2.6 Nhận xét khả năng phù hợp của một số loại cây lâm

nghiệp với điều kiện tự nhiên Tân Sơn

Bảng 2.7 Nhận xét khả năng phù hợp của các loại cây lâm nghiệp

đối với diều kiện kinh tế xã hội của địa phương

Bảng 2.8 Quy hoạch rừng đặc dụng tỉnh Phú Thọ đến năm 2020

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trang 2

Trong thời kì đổi mới và phát triển kinh tế của nước ta hiện nay, nhà nước

ta và Đảng ta luôn tạo những điều kiện thuận lợi cho kinh tế tăng trưởng và pháttriển Việc đầu tư phát triển kinh tế không những được chú trọng ở vùng đồngbằng mà còn cả vùng núi, nơi những điều kiện tự nhiên không thuận lợi bằngvùng đồng bằng Để nắm bắt được những điều kiện thuận lợi hay khó khăn của

tự nhiên để nghiên cứu biện pháp phát triển kinh tế phù hợp với từng địa phươngmiền núi Trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp chưa vươn mạnh tới vùng xâuvùng xa, nên việc phát triển kinh tế nông nghiệp đặc biệt là sản xuất các loại câylâm nghiệp lâu năm là hướng xóa đói giảm nghèo bền vững ở vùng núi Từ đócần nghiên cứu tác động của tự nhiên đến sự phát triển cây lâm nghiệp lâu năm

là rất quan trọng

Tân Sơn là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ, được thành lập theoquyêt định 61/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của chính phủ trên cơ sở điềuchỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn thành lập 2 huyện: huyện ThanhSơn mới và huyện Tân Sơn Huyện Tân Sơn nằm ở phía tây nam của tỉnh PhúThọ, cách thành phố Việt Trì 75 km Tổng diện tích tự nhiên của huyện là68.984 ha Với 17 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các xã: Tân Phú, Kiệt Sơn,Minh Đài, Mỹ Thuận, Thu Ngạc, Thạch Kiệt, Thu Cúc, Lai Đồng , Đồng Sơn,Tân Sơn, Xuân Đài, Kim Thượng, Xuân Sơn, Văn Luông, Long Cốc, TamThanh, Vinh Tiền Địa hình Tân Sơn tương đối phức tạp Đây là vùng có địahình cao nhất trong tỉnh, tại đây có những dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc -Đông Nam, dốc thoải dần về phía sông Hồng Sự phân hóa lãnh thổ tương đốiphức tạp, chủ yếu là các dãy núi cao và hiểm trở bên cạnh những thung lũngsông bị chia cắt Sự chênh lệch địa hình giữa các vùng trong huyện khá lớn đỉnhcao nhất là núi xuân sơn cao 1384 m

Huyện Tân Sơn là một huyện miền núi và là địa bàn sinh sống chủ yếucủa các đòng bào dân tộc thiểu số của huyện (chiếm gần tới 83% dân số toànhuyện) Do tình hình khai thác và sử dụng lãnh thổ còn mang tính tự phát, thiếu

cơ sở khoa học vững trắc và chưa được nghiên cứu định hướng một cách khoahọc nên đời sống nhân dân còn thiếu ổn định, kinh tế còn khó khăn Bên cạnh

Trang 3

đó, về lâu về dài không có chiến lược phát triển hợp lí sẽ có nguy cơ cạn kiệt tàinguyên và ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường Hiện nay, vấn đề nghêncứu để đánh giá đúng tiềm năng về điêu kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiêncủa huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế xãhội vẫn chưa có cơ sở khoa học vững vàng để đảm bảo hát triểm nông lâmnghiệp bền vững Quy hoạch hát triển kinh tế xã hội huyện tân Tân Sơn, tỉnhPhú Thọ đến năm 2020, trong đó có những quy hoạch cho việc phát triển nônglâm nghiệp, trong đó ứng dụng ứng dụng cây công nghiệp lâu năm mà đã được

triển khai Trên cơ sở đó chúng tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu : “Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên đến sự phân bố một số cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”

2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Củng cố lại những kiến thức đã được học về các hợp phần tự nhiên trên líthuyết, các yếu tố ảnh hưởng của tự nhiên đến đời sống sinh vật, từ đo nắm vữngkiến thức địa lí tự nhiên Việt Nam Cùng với đó là quá trình tiếp cận thực địa từnhững bài học thực hành trên trường lớp, có thêm cơ hội kiểm chứng những líthuyết học trong thực tế tại địa điểm nghiên cứu đúng theo phương châm học điđôi với hành Bên cạnh đó, quá trình học tập nghiên cứu đề tài tại Tân Sơn,chúng tôi đã tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trongđiều tra, đánh giá Đây sẽ là những kiến thức rất cần thiết cho quá trình nghiêncứu, học tập và làm việc của chúng tôi sau này

2.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần tìm hiểu được một số nhân tố tự nhiêncủa Tân Sơn ảnh hưởng đến sinh trưởng của các loại cây lâm nghiệp từ đó đưa

ra những biện pháp để một số cây lâm nghiệp có sức sinh trưởng tốt nhất, phùhợp với điều kiện lập địa tại khu vực nghiên cứu huyện Tân Sơn, góp phần nângcao năng suất và hiệu quả trồng rừng Đồng thời đưa ra những định hướng trongkinh doanh rừng hiệu quả góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững

Trang 4

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

3.1 Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu cơ sở lí luận

Nghiên cứu những đặc điểm tự nhiên về khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng,địa hình

Nghiên cứu những đặc điểm phát triển của một số cây lâm nghiệp trongđiều kiện tự nhiên của huyện Tân Sơn

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Phân tích cơ sở lí luận của các nhân tố tự nhiên

Phân tích đặc điểm cơ bản của các nhân tố tự nhiên của huyện Tân Sơn Phân tích những ảnh hưởng của nhân tố tự nhiên đến sự sinh trưởng pháttriển của một số cây lâm nghiệp chính của huyện Tân Sơn

Trang 5

PHẦN II: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Lịch sử nghên cứu

Trong quá khứ đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề phát triển câytrồng trên thế giới cũng như ở Việt Nam Hầu hết các đề tài đã nói lên điều kiện

tự nhiên (địa hình, khí hậu, ) có nhiều đề tài đã nghiên cứu về cây trồng và năngxuất hiệu quả của chúng như:

Năm 1991 Cyrin pinso và Robert Nasi đã thấy tại khu Ulukukut cây lai tựnhiên đời f1 sinh trưởng khả năng hơn các giống xuất xứ của keo tai tượng ởSabah Các tác giả này cũng cho thấy rằng gỗ của keo lai là trung gian giữa kaotai tượng và keo lá tràm có phẩm chất tốt hơn keo tai tượng

2.1.1.2 Cây Bạch đàn

Bạch đàn urophylla phân bố tự nhiên chủ yếu ở trên 7 đảo (Timor, Flores, Adonara, Lembata, Panta, Alor và Wetar) thuộc quần đảo Sunda củaIndonesia; nằm trong khoảng từ 8O30’ đến 10O kinh độ Đông; độ cao vùng phân

bố tự nhiên từ 300 - 3.000 m so với mực nước biển Theo Webb và các cộng sựtổng kết năm 1980, Eucalyptus urophylla là loài cây thích nghi với những nơi cólượng mưa từ 1.000 - 1.600 mm và nhiệt độ bình quân năm trên 25OC cho các

Trang 6

vùng có độ cao từ 0 - 500 m; 22,0 - 24,5oC cho các vùng có độ cao từ 500 1.000 m và 19,5 – 22oC cho cácvùng có độ cao 1000 đến 1500 m Tuy nhiên,cũng cần lưu ý rằng kết quả nghiên cứu ở nhiều nước khác trên thế giới đã chothấy Eucalyptus urophylla không sinh trưởng tốt ở các vùng đất thấp thuộc vùngnhiệt đới ẩm như: New Guinea, quần đảo Solomon và miền Đông Kalimanta củaIndonesia Nguyên nhân chính là do không cạnh tranh nổi với tốc độ phát triểncủa cỏ dại Người ta đã đem loài cây này đi trồng ở nhiều nơi trên thế giới.

-2.1.1.3 Cây Trám đen

Có nhiều dẫn liệu cho thấy người Trung Quốc đã biết ghép cây từ hàng ngàn năm trước công nguyên Aristote (384 - 322 TCN) đã nói về ghép trong tác phẩm của mình Thời kỳ phục hưng (1350 - 1600) người ta chú ý đến ứng dụng thực tiễn của ghép Nhiều loại cây được đưa vào Châu Âu và duy trì bằng phương pháp ghép Vào thế kỷ thứ XVI - XVII ghép được áp dụng rộng rãi ở nước Anh trong nghề làm vườn và đã nhận thấy vai trò của lớp tượng tầng tuy chưa rõ bản chất của nó Đầu thế kỷ XVIII, Stephen Hales trong tác phẩm nghiên cứu về “Tuần hoàn của nhựa” trong cây đã nhận thấy sự tồn tại của phần giữa cây và vai trò của nó trong vận chuyển các chất từ rễ lên trên Cũng trong khoảng thời gian này, Duhamel đã nghiên cứu sự hình thành tổ hợp ghép, sự vận chuyển của nhựa qua chỗ ghép Năm 1821, Thourin đã mô

tả 119 phương pháp ghép và những biến đổi do ghép cây gây ra Vào năm 1840một người Pháp tên là Marier de Boissdyver ở vùng rừng Phôngtennơblô đãghép trên 10.000 cây Thông đen xuất xứ Korzica (Pinus nigra sp Lariciot) lêngốc ghép Thông đen non trẻ nhằm nhân rộng xuất xứ số giá trị và để sản xuấthạt giống phục vụ trồng rừng Ở Hà Lan nhờ có giống mớivà nhân giống bằngphương pháp ghép với các loại gốc ghép lùn và nửa lùn mà đã tăng được mật độtrồng trọt (4000- 10000 cây/ha) Cây ghép có ưu điểm là cây sớm ra hoa kết quả

tiện cho việc chăm sóc và thu hái, sản lượng trên một đơn vị diện tích tăng lên đến 45% (dẫn theo Trần Thế Tục, Hoàng Ngọc Thuận, 2000) (nguồn: Lâm

Trang 7

Văn Sáng “Nghiên cứu lựa cây trám đen ưu việt phục vụ cho công tác nhân giống và cải tạo vường tạp bằng cây ghép tại Xã Hà Châu, tỉnh Thái Nguyên”

2.1.1.4 Cây Trẩu

Tái sinh tự nhiên của rừng là một quá trình rất phức tạp, tuy vậy vấn đề này cũng đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà lâm học Khi nghiên cứu tái sinh rừng, người ta thường tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế Khi nghiên cứu tái sinh rừng, phần lớn các nhà nghiên cứu thường hướng vào tìm hiểu sự thiếu hụt ánh sáng của cây con Năm 1949, Kozlovxki (Dẫn theoNguyễn Văn Thêm, 1992) cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng là thường xuyên đốivới cây con Khi bị che bóng, mật độ và sức sống của cây tái sinh sẽ suy giảm(Walter, 1947; Roussel, 1962, 1967) Những nhận định về vai trò của ánh sángđối với tái sinh của cây gỗ ở rừng mưa cũng tìm thấy trong các tài liệu củaRichards (1952), Banard (1954) và Baur (1961 - 1962) Khi nghiên cứu vai tròcủa những yếu tố tối thiểu đối với sinh trưởng của cây con, Karpov (1969) vàRusin (1970) cho rằng, sự cải thiện điều kiện sinh trưởng của cây con theo yếu

tố đa lượng có ảnh hưởng không đáng kể đến sức sống của cây con nước (Dẫntheo Nguyễn Văn Thêm, 2002-2003).Theo Mazin (1969), ánh sáng sẽ trở thànhyếu tố giới hạn ở những nơi mà nước và chất khoáng không ở mức giới hạn Khinghiên cứu về sinh thái của hạt giống và sinh trưởng của cây gỗ non, Ekta vàSingh (2000) đã nhận thấy rằng, cường độ ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt tới sựnảy mầm, sự sống sót và quá trình sinh trưởng của cây con Năm 1981, Sasaki

và Mori đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá khả năng chịu bóng của một số loàinhư Shorea talura, Sovalis, Hopea helferei và Vatica odorata Kết quả cho thấysinh trưởng của cây con bị ức chế khi cường độ ánh sáng cao hơn 50% Ảnhhưởng của chế độ tưới nước đến sinh tưởng của cây đã được đề cập ở mức độ tếbào Kramer (1993), Wagt và cộng sự (1998) Sands và Mulligan (1990 sự lớnlên của lá rất nhạy cảm với nước (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2002-2003)

2.1.1.4 cây Bồ đề

Những kết quả nguyên cứu về điều kiện lập địa

Nguyên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất khác

Trang 8

nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển, điều này được thể hiện ở sự khác nhau

về đặc điểm của các phấu diện đất, đó là độ dày tầng đất, cấu trúc vật lý, hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng, phản ứng của đất (độ pH) và nồng độ muối Đây chính là nguyên nhân dẫn đến khả năng sinh trưởng rừng trồng trên các loạiđất khác nhau là khác nhau Khi đánh giá khả năng sinh trưởng của loài Thông Pinus patula ở Swziland, Julian Eván (1992) đã chứng minh khả năng sinh trưởng về chiều cao của loài Thông này có quan hệ khá chặt (R=0,81) với các yếu tố địa hình và đất thông qua phương trình tương quan sau:

Y=-18,76+0.0544x3-0.000022x32+0.0185x4+0.0449x5+0.5346x11

Trong đó:

- Y chiều cao vút ngọn tại thời điểm 12 tuổi (m) ;

- X3 là độ cao so với mực nước biển (m) ;

- X4 độc cao chênh lệch giữa đỉnh đổi và chân đồi (%) ;

- X5 độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%) ;

- X11 độ phì của đất đã được xác định

Kết quả nguyên cứu của Paydey D (1983) về loài bạch đàn Eucalyptus

Camaldulensis được trồng trên các lập địa khác nhau đã cho thấy :

Nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-20 năm thì năng suất chỉ đạt 5-10m3/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt đới ẩm thì năng suất có thì năng suất có thể đạt 30m3/năm Kết quả này lại một lần nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng khác nhau

2.1.2 Ở Việt Nam

Phát triển trồng rừng sản xuất ở các tỉnh vùng Tây Bắc là chủ trương củaNhà nước ta hiện nay Nghiên cứu này được thực hiện trong đề tài Nghiên cứuphát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế và bền vững vùng miền núiphía Bắc thuộc chương trình nghiên cứu KHCN phục vụ phát triển nông thônmiền núi phía Bắc Kết quả đề tài đã xây dựng được 19 ha mô hình rừng trồngsản xuất, trong đó có 8 ha rừng trồng cung cấp gỗ lớn, 7 ha rừng trồng cung cấp

gỗ nhỏ và 4 ha rừng trồng cung cấp lâm sản ngoài gỗ

Trang 9

Các mô hình được triển khai xây dựng trong năm 2003 và 2004 tại xãChiềng Mung huyện Mai Sơn và Chiềng Bôm huyện Thuận Châu tỉnh Sơn La.Đánh giá bước đầu cho thấy cây trồng trong các mô hình đều có tỷ lệ sống cao,sinh trưởng và chất lượng cây trồng tốt Mô hình mang lại những hiệu quả rấtthiết thực về mặt kinh tế và xã hội.

Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng đặt ra nhiệm vụ phải trồng 3 triệu ha rừngsản xuất giai đoạn 1998- 2010, tuy nhiên cho đến năm 2005 chúng ta mới đạt49% kế hoạch, so với nhiệm vụ đến năm 2010 chỉ đạt 34% Chính vì vậy, tạiHội nghị sơ kết Dự án Chính phủ đã chỉ đạo trong thời gian tới cần tập trung đẩymạnh phát triển trồng rừng sản xuất Nghiên cứu này được thực hiện từ năm

2002 đến 2005 trong đề tài “Nghiên cứu phát triển trồng rừng sản xuất có hiệu quả kinh tế và bền vững vùng miền núi phía Bắc” thuộc chương trình nghiên cứu

KHCN phục vụ phát triển nông thôn miền núi phía Bắc

Keo và bạch đàn là 2 loài cây nhập nội có giá trị kinh tế được trồng phổbiến trên đất trống đồi núi trọc ở nước ta Một vấn đề được quan tâm, thảo luậnnhiều tại các nước có trồng bạch đàn là ảnh hưởng bất lợi của rừng trồng bạchđàn tới môi trường đất đặc biệt là làm khô đất Nghiên cứu về chế độ nước dướirừng trồng bạch đàn ở nước ta đã được thực hiện bởi một số tác giả (HoàngXuân Tý, 1975; Bùi thị Huế, 1996)

Tuy nhiên, các nghiên cứu về đặc điểm chế độ nước của cá thể và quầnthể rừng trồng bạch đàn như cường độ thoát hơi nước, sức hút nước của lá, độthiếu nước của lá, khả năng giữ nước của rừng còn rất hạn chế Đó là nội dungrất quan trọng liên quan tới chế độ nước của đất dưới rừng Trong khuôn khổhợp tác nghiên cứu với Trung tâm nghiên cứu Phù Ninh (1991) tác giả Đỗ ĐìnhSâm đã nghiên cứu sơ bộ cường độ thoát hơi nước dưới rừng trồng bạchđàn E.Camaldulensis ở Phù Ninh (Phú Thọ) Bùi Thị Huế (1996) có tiến hànhnghiên cứu cường độ thoát hơi nước của loài bạch đàn E Camaldulensis và keotai tượng A.mangium ở ngoài Bắc Tuy nhiên các nghiên cứu còn chưa hệ thống,thời gian ngắn và mới tập trung ở các cây non, ở các cá thể hơn là các quần thểrừng Các nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành trong 3 năm ở các điều kiện

Trang 10

sinh thái khác nhau (Đại Lải -Vĩnh Phúc, Đoan Hùng - Phú Thọ, Sông Mây - Đồng

Nai) trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu cấp Bộ (2001-2004) “Nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của một số rừng trồng cây nhập nội chủ yếu đến môi trường đất ở Việt nam”.

“Đánh giá thực trạng rừng trồng keo và bạch đàn ở nước ta trong những năm qua”: Trong vòng 50 năm kể từ năm 1943, diện tích rừng tự nhiên nước ta

đã bị thu hẹp đáng kể, trung bình mỗi năm bị mất hơn 100.000ha Chất lượngrừng ngày càng giảm sút, gỗ từ rừng tự nhiên không còn đáp ứng đủ nhu cầu sửdụng trong nước, chưa nói đến xuất khẩu Để đáp ứng nhu cầu sử dụng gỗ vàgiấy ngày càng tăng của xã hội, ngành công nghiệp chế biến gỗ và giấy đã vàđang phát triển rất mạnh trong thời gian vừa qua Trong vòng 50 năm kể từ năm

1943, diện tích rừng tự nhiên nước ta đã bị thu hẹp đáng kể, trung bình mỗi năm

bị mất hơn 100.000 ha

Ở nước ta hiện nay đã có những nghiên cứu về điều kiện gây trồng caykeo lai của Lê Đình Khả, Đỗ Đình Xâm, Phạm Thế Dũng , nghiên cứu về đặcđiểm sinh trưởng keo lai của Triệu Văn Hùng, Nguyễn Huy Sơn, Đoàn HoàiNam, nghiên cứu về biện pháp kĩ thuật lâm sinh trồng rừng keo lai của Lê ĐìnhKhả, Đỗ Đình Xâm, Phạm Thế Dũng, Đỗ Đình Xâm, nghiên cứu về hiệu quảkinh tế của peter core, Đỗ Đình Xâm, Đặng Hoài Nam, Đặng Văn Dung ở một

số vùng sinh thái nước ta, nghiên cứu về hấp thụ cacbon của Ngô Đình Quế, VõĐại Hải, Vũ Tấn Phương, Lương Văn Tiến, các nghiên cứu đã góp phần trongviệc phát triển rừng keo lai Đặc biệt là trong lĩnh vực chọn giống, các nghiêncứu đã tạo ra và khảo nghiệm nhiều giống keo lai có năng xuất cao để trồngrừng ở một số vùng sinh thái nước ta

Diện tích rừng trồng phân theo vùng ; Vùng Diện tích trồng rừng (ha) Tỷ

lệ (%) :

Đông Bắc 933.935 40,2; Tây Bắc 130.645 5,6; Đồng bằng sông Hồng58.099 2,5; Bắc Trung Bộ 446.122 19,2; Nam Trung Bộ 271.896 11,7; TâyNguyên 155.909 6,7; Đông Nam Bộ 43.814 4,0; Đồng bằng sông Cửu Long233.206 1,0; Tổng 2.323.529 100

Trang 11

Nguồn: Lê Minh Cường, 2008

Trang 12

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU

3.1 Nội dung nghiên cứu và cách thức tiếp cận vấn đề

Xác định được những đặc điểm cơ bản của các nhân tố tự nhiên huyện TânSơnTừ đó phân tích ảnh hưởng của nó đến sự sinh trưởng và phát triển của một

số cây lâm nghiệp ở huyện Tân Sơn Nắm được những kết quả bước đầu của loạicây này với sự phát triển kinh tế của huyện Tân Sơn

Cách thức tiếp cận vấn đề: Dựa trên cơ sở đổi mới của đất nước, hướngphát triển kinh tế lâm nghiệp, kinh tế đồi rừng, cùng với quá trình gắn bó vớithực tế trên địa bàn đó là sự phất triển nhanh của một số cây lâm nghiệp, nhằmnghiên cứu, tìm hiểu những ảnh hưởng của tự nhiên như thế nào? Đặc điểm tựnhiên Tân Sơn có thích hợp hay với các loại cây này không?

3.2 Phương pháp nghiên cứu

3.2.1 Phương pháp khảo sát thực địa

Đối tượng: trong phương pháp này chúng tôi tập chung chủ yếu nghiêncứu điều kiện tự nhiên về rừng sản xuất, các loại cây lâm nghiệp huyện Tân Sơn

Nội dung nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã đithực tế trên địa bàn nghiên cứu, tìm hiểu, chụp ảnh tư liệu của các nhân tố tựnhiên ở một số địa điểm chủ yếu dựa trên đặc điểm địa lí tự nhiên và phân hóakhông gian lãnh thổ

Kết quả: số iệu cụ thể về diện tích rừng, về các nhân tố tự nhiên

3.2.2 Phương pháp thu thập, phân tích, xử lý tài liệu

Đối tượng: Số liệu, tài liệu thu thập từ các nguồn khác nhau

Quá trình thực hiện: Đề tài, chúng tôi đã tiến hành thu thập và chọn lọc sốliệu liên quan dến khu vực nghiên cứu và sắp xếp theo thời gian

Kết quả: Số liệu đã được chọn lọc, phân tích và xử lí

3.2.3 Phương pháp phân tích tiếp cận hệ thống

Đối tượng: Mối quan hệ giữa các hợp phần tự nhiên trên địa bàn huyện

Trang 13

Nội dung: Dựa vào tài liệu về các hợp phần tự nhiên, phương pháp nàyđược nghiên cứu trong mối quan hệ giữa các hợp phần tự nhiên trên địa bànhuyện, nhằm xác định tính ổn định và biến đổi của chúng.

Kết quả: Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên cho sự phát triển câylâm nghiệp

3.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng của đề tài là nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố tự nhiên tácđộng đến sự phân bố một số cây lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh PhúThọ

Phạm vi nghiên cứu đề tài: Đặc điểm các nhân tố tự nhiên trên địa bànhuyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

3.4 Giới thiệu cấu trúc đề tài

Đề tài bao gồm: Mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và mụclục Trong đó nội dung của đề tài được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của các nhân tố tự nhiên tới phát triểncây lâm nghiệp huyện Tân Sơn

Chương 2: Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sự phân bố một số câylâm nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Một số giải pháp và định hướng phát triển một sô cây lâmnghiệp

Trang 14

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƯỢC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA CÁC NHÂN

TỐ TỰ NHIÊN ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN CÂY LÂM NGHIỆP

HUYỆN TÂN SƠN 1.1.Cơ sở lí luận của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Khí hậu

Khí hậu là một nhân tố tự nhiên có vai trò rất quan trọng đối với thếgiới sinh vật, với đời sống, sản xuất và các lĩnh vực khác của con người thôngqua các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, khí áp, mưa, nắng, mây, bức xạ, ánh sáng, chấtlượng, không khí

Theo nhà khí hậu học J.Hann “ Khí hậu là toàn bộ các hiện tượng khí tượng đặc trưng cho trạng thái trung bình của khí quyển ở một địa điểm nào đó trên trái đất”; W.Koppen thì cho rằng “khí hậu là trạng thái thời tiết trung bình

và quá trình thời tiết nói chung ở một nơi”; L.S.Béc-gơ định nghĩa “khí hậu là trạng thái trung bình của hiện tượng khí tượng có thể ảnh hưởng đến thực vật, động vật, con người và các loại hình thổ nhưỡng” Theo B.P.Alixop: “Khí hậu của một nơi nào đó là chế độ thời tiết đặc trưng nhiều năm, được tạo nên bởi bức xạ mặt trời, đặc tính của bề mặt đệm và hoàn lưu khí quyển”.

Nguồn: Hoàng Ngọc Oanh_ Địa lí Tự nhiên đại cương 2

1.1.1.2 Sông ngòi

Sông ngòi: “ Sông ngòi là những dải chũng có độ dốc 1 chiều trong đónước chảy thường xuyên theo trọng lực” Sau đó là: “ Sông ngòi là những dòngchảy thường xuyên” Cuối cùng, để biểu thị cho các thành phần khác nhau củadòng chảy có thể nói: “ Sông ngòi là tổng thể của các dòng chảy thường xuyên”

Nguồn: Hoàng Ngọc Oanh_ Địa lí Tự nhiên đại cương 2

Hệ thống sông ngòi: Nước rơi từ khí quyển hay nước tuyết và băng tansau một thòi gian chảy tràn trên mặt đất dốc sẽ tập trung lại thành dòng chảy

Trang 15

Các dòng chảy nhỏ chảy vào các dòng chảy lớn hơn rồi cuối cùng đổ vào mộtdòng chảy lớn nhất để tiêu nước vào một đối tượng nào đó: hồ đầm, biển và đạidương các dòng chảy trong phạm vi nào đó hợp thành một hệ thống sông ngòibao gồm dòng chính , phụ lưu, chi lưu.

Nguồn: Hoàng Ngọc Oanh _Địa lí Tự nhiên đại cương 2

1.1.1.3 Địa hình

Địa hình, phần mặt đất với các yếu tố trên bề mặt của nó như dáng đất, chất đất, thủy hệ, lớp thực vật, đường giao thông, điểm dân cư, các địa vật Trong quân sự, địa hình được đánh giá theo đặc điểm dáng đất, khả năng cơ động, điều kiện quan sát, ngụy trang và các điều kiện tự nhiên khác

Nguồn: Nguyễn Trọng Hiếu_ Địa lí tự nhiên đại cương 1

Năm 1970, viện sĩ Nga – X V.Kalexnik đã nêu ra một định nghĩa cụ thể

về sinh quyển : ‘‘ Sinh quyển là mọt bộ phận của vỏ hành tinh chứa đầy vật chất sống và ác sản phẩm do hoạt động sống của chúng sinh ra’’.

Trong “ Bách khoa thư địa lí Xô viết” (1988) định nghĩa : “ Sinh quyển là một trong những quyển của lớp vỏ Trái Đất mà thành phần , cấu trúc và năng lượng của nó chủ yếu được xác định bởi hoạt động của các cơ thể sống Khái niệm về “ sinh quyển” gần với khái niệm về “ lớp vỏ địa lí” bao gồm phần khí

Trang 16

quyển gần bề mặt đất, thủy quyển và phần trên của thạch quyển, chúng tương tác với nhau bằng chu trình sinh hóa phức tạp của dòng vật chất và năng lượng,

có giới hạn trên xâm nhập vào tầng khí quyển ở độ cao 30 km, vào sâu trong thạch quyển tới 4-5 km dưới mặt đất và đến đáy sâu của đại dương thế giới”

Nguồn: Nguyễn Kim Chương_ Địa lí tự nhiên đại cương 3

1.1.1.6 đặc điểm tự nhiên chung của tỉnh phú thọ

.Vị trí địa lý

Phú Thọ là tỉnh thuộc vùng miền núi trung du Bắc Bộ, có tọa độ địa lý từ

200 55’ đến 210 43’ vĩ độ Bắc, 1040 48’ đến 1050 27’ kinh độ Đông Địa giớihành chính của tỉnh tiếp giáp với:

- Tỉnh Tuyên Quang về phía Bắc;

- Tỉnh Hòa Bình về phía Nam;

- Tỉnh Vĩnh Phúc về phía Đông;

- Thành phố Hà Nội về phía Đông Nam;

- Tỉnh Sơn La, Yên Bái về phía Tây

Nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng

và vùng Tây Bắc, Phú Thọ có vị trí địa lý mang ý nghĩa là trung tâm tiểu vùngTây - Đông - Bắc; cách trung tâm Hà Nội khoảng 80km về phía Bắc, cách sânbay Quốc tế Nội Bài khoảng 60km Với vị trí “ngã ba sông” - điểm giao nhaucủa sông Hồng, sông Đà và sông Lô, là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội,Phú Thọ là đầu mối trung chuyển, giao lưu kinh tế giữa các tỉnh vùng đồng bằngBắc Bộ với các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam và hai tỉnh Quảng Tây, VânNam, Trung Quốc Nằm trong vành đai của các tuyến trục giao thông quantrọng: đường bộ có Quốc lộ 2, Cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đường Hồ Chí Minh,đường sắt có tuyến đường xuyên Á, đường sông chạy từ Trung Quốc qua cáctỉnh phía Tây vùng Đông Bắc đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới tỏa đi Hà Nội, HảiPhòng và các khu vực khác

Với vị trí địa lý này, Phú Thọ hội tụ các điều kiện thuận lợi cho phát triểnkinh tế, giao thương với các vùng trong nước và quốc tế

Địa hình, địa mạo

Trang 17

Địa hình tỉnh Phú Thọ mang đặc điểm nổi bật là chia cắt tương đối mạnh

vì nằm ở phần cuối của dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao

và miền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Căn cứvào địa hình, có thể chia Phú Thọ thành hai tiểu vùng cơ bản sau:

Tiểu vùng Tây Nam hay hữu ngạn sông Hồng gồm các huyện: ThanhSơn, Tân Sơn, Yên Lập, Tam Nông, Thanh Thủy, Cẩm Khê và một phần của HạHòa có diện tích tự nhiên gần 2.400km2, bằng 67,94% diện tích tự nhiên toàntỉnh; độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200 - 500m Đây là tiểu vùng cónhững lợi thế phát triển chủ yếu như: trồng cây ôn đới, cây công nghiệp ngắnngày và dài ngày, cây lâm nghiệp, chăn nuôi đại gia súc, khai thác khoáng sản,

du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng Tuy nhiên, tiểu vùng này có nhiều khó khăn vềgiao thông và dân trí còn thấp nên việc khai thác tiềm năng nông, lâm, khoángsản để phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế

Tiểu vùng Đông Bắc hay tả ngạn sông Hồng gồm thành phố Việt Trì, thị

xã Phú Thọ và các huyện: Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Ba, Đoan Hùng và phầncòn lại của Hạ Hòa, có diện tích tự nhiên 1.132,5km2,, bằng 32,06% diện tích tựnhiên toàn tỉnh Địa hình đặc trưng của tiểu vùng này là các đồi gò thấp, pháttriển trên phù sa cổ (bình quân 50 - 200m) xen kẽ với những dộc ruộng vànhững cánh đồng bằng ven sông Đây là vùng tương đối thuận lợi cho phát triểncây công nghiệp, cây ăn quả, sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy sản và chănnuôi Một số khu vực tập trung những đồi gò thấp tương đối bằng phẳng (tậptrung chủ yếu ở vùng Đông Nam của tỉnh) thuận lợi cho phát triển các khu côngnghiệp, cụm công nghiệp và phát triển các hạ tầng kinh tế - xã hội khác

Do phân cấp địa hình, diện tích đất đồi núi, đất dốc của tỉnh Phú Thọ chiếm64,52% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích đất có độ dốc >150 chiếmtới 51,6%; sông suối chiếm 4,26% tổng diện tích tự nhiên; địa hình bị chia cắtmạnh gây cản trở không nhỏ cho giao thông, giao lưu kinh tế - văn hóa, pháttriển kinh tế - xã hội và đời sống của nhân dân

Khí hậu

Trang 18

Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, điểm nổi bật là mùađông khô, lượng mưa ít, hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc; mùa hènắng, nóng, mưa nhiều, hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Nam Nhiệt độbình quân 23 độ C, tổng lượng mưa trung bình từ 1.600 - 1.800mm/năm, độ ẩmkhông khí trung bình hàng năm 85 - 87%.

Nhìn chung, khí hậu Phú Thọ phù hợp cho sinh trưởng và phát triển đadạng hóa các loại cây trồng nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc

Thủy văn

Nằm ở trung lưu của hệ thống sông Hồng, hệ thống sông ngòi của tỉnhphân bố tương đối đồng đều, gồm 3 con sông lớn là Sông Hồng, Sông Đà vàSông Lô cùng với hàng chục sông, suối nhỏ khác đã tạo ra nguồn cung cấp nướcchủ yếu cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân

Hệ thống sông, suối của tỉnh mang theo hàm lượng phù sa khá lớn, khoảng 1kg/m3, làm cho các dòng chảy thường bị bồi lấp Với đặc điểm thủy văn như trên,Phú Thọ có điều kiện phát triển vận tải thủy, nuôi trồng thủy sản, đủ nguồn nướcmặt cung cấp cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Yên Lập, phía Đông giáp huyệnThanh Sơn của tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp huyện Đà Bắc của tỉnh Hòa Bình, phíaTây giáp huyện Văn Chấn của tỉnh Yên Bái và huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La

Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 68.858 ha

Diện tích đất nông nghiệp: 5.297 ha

Trang 19

Diện tích đất lâm nghiệp: nghiệp:52.577,5 ha

Kiểu địa hình núi thấp: Hình thành trên các trầm tích lục nguyên uốn nếp,tác dụng xâm thực, bóc mòn Thuộc đại hình các dãy núi cao từ 300- 700m phân

bố chủ yếu ở phía Nam, Tây Nam đến phía Bắc khu vực Núi ở đây có hìnhdạng mềm mại,đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình chỉ 20o có thung lũng

mở rộng hơn vùng núi phía Tây Bắc

Kiểu đồi: Có độ cao dưới 300m, phân bố chủ yếu ở phía Đông khu vực

Có hình dạng đồi lượn sóng mềm mại, được cấu tạo từ các loại đá trầm tích vàbiến chất hạt mịn Hiện nay đã được trông chè Xanh chè Shan

Thung lũng và bồn địa: Phân bố chủ yếu ở các xã Đồng Sơn, Xuân Đài

và Kim Thượng Đây là các thung lũng sông suối mở rộng, địa hình bằng phẳng,

độ dốc rất thoải, trong đó có trầm tích phù xa rất thuận lợi cho canh tác nôngnghiệp Thung lũng lớn nhất là mường Tằn (trên 400 ha ruộng nước)

Huyện Tân Sơn chủ yếu là rừng tự nhiên, núi cao, riêng vùng lõi và vùngđệm ( phòng hộ) của vườn quốc gia Xuân Sơn chiếm trên 15.000 ha nằm trongmột vùng đồi núi thấp và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa nơi kết thúc củadãy Hoàng Liên Sơn Vùng đồi núi thấp và tỏa rộng từ Hữu ngạn sông Hồngsang Tả ngạn sông Đà, bao gồm huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ Sông Bứa và cácchi lưu của nó tỏa rất nhiều nhánh ra gần như khắp vùng Nhìn toàn cảnh các

Trang 20

dãy đồi núi chỉ cao chừng 600- 700m nhìn dáng khá mềm mại vì chúng đượccấu tạo từ các loại đá phiến biến chất quen thuộc, cao nhất là đỉnh Voi (1.386m), tiếp theo là núi Ten (1.244m), núi Cẩn (1.144m).

1.2.2.2 Khí hậu

Khu vực đặc trưng vùng mang những nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đớigió mùa, nhưng do tác động của địa hình nên các yếu tố khí hậu biến đổi mạnh

mẽ trong không gian và theo thời gian

Nhiệt độ không khí trung bình năm cũng có xu thế giảm dần theo sự tăngdần của độ cao địa hình Nhiệt độ không khí trung bình năm giảm xuống dưới

15o C ở vùng núi cao và tăng lên tới 20 - 24o C ở cùng trung du và đồng bằng.Nhiệt độ không khí cũng biến đổi theo mùa Trong thời kì gió mùa mùa hạ, nhiệt

độ trung bình các tháng từ 15- 20oC ở vùng núi, và từ 20- 30oC ở vùng trung du

và đồng bằng Trong thời kỳ gió mùa mùa đông, nhiệt độ không khí trung bìnhkhoảng từ 10oC 15oC ở vùng núi và 15- 20oC ở vùng trung du và đồng bằng

Lượng mưa: Do ảnh hưởng của địa hình nên lượng mưa trong năm phân

bố không đều trong hệ thống sông, tổng lượng mưa trong năm từ 1100mm 1200mm ở những nơi khuất gió mùa ẩm, đến trên 4000mm ở sườn núi đón giómùa ẩm Lượng mưa khu vực thuộc loại trung bình và thường có những nơi códông nên luợng mưa năm đạt khoảng 1800mm - 2000mm Số ngày mưa toànnăm khoảng 130- 140 ngày

-Mùa mưa kéo dài 5 tháng, từ tháng 5 đến tháng 10 Trong mùa mưa tậptrung tới 80% lượng mưa cả năm Lượng mưa tăng dần từ đầu màu đến giữamùa, đạt tới cực đại vào tháng 8 (tháng có bão nhiều nhất ở vùng này) Lượngmưa trung bình tháng 8 vào khoảng 300 - 350mm Các tháng 6, 7, 9 mỗi thángcũng thu được mưa khoảng 300- 350mm

Mùa ít mưa 6 tháng còn lại là mùa ít mưa, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4năm sau Lượng mưa trung bình của các tháng này vào khoảng 20- 40mm.Tháng có lượng mua cực tiểu là tháng 1 với 15- 20mm

Gió: Mùa đông: Gió thịnh hành trong mùa đông là hướng Đông Bắc và hướng Bắc với tần suất khá lớn 45% - 48% Mùa hạ: Gió có hướng Đông và

Trang 21

Đông Nam chiếm ưu thế 60- 70% Tốc độ gió khá lớn, trung bình lên đến2.5m/s.Tốc độ gió mạnh nhất gặp vào mùa hạ khi có bão, đạt tới 30 -35m/s mùadông cũng có thể gặp gió giật tới 15- 20m/s khi có gió mùa Đông Bắc tràn về.

Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm khoảng 80% - 85%, biếnđổi không lớn trong khu vực Tuy nhiên độ ẩm cũng thay đổi theo mùa

1.2.2.3 Thổ nhưỡng

Được hình thành trong một nền địa chất phức tạp (có nhiều kiểu địa hình

và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phân hoá khí hậu, thuỷ văn

đa dạng và phong phú nên có nhiều loại đất được tạo thành trong khu vực này.Một số loại đất chính có nhiều giá trị trong khu vực :

Đất feralit có mùn trên núi trung bình: Được hình thành trong điều kiệnmát ẩm, độ dốc lớn, không có nước đọng, không có kết von và tầng mùn dày, tỷ

lệ mùn cao (8 - 10%) Phân bố ở độ cao từ 700- 1500m, tập trung ở phía Tây củakhu vực, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)

Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp: Là loại đất có quá trìnhferalit mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá mẹ và độ ẩm củađất Loại đất này phân bố dưới 700m, có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày,

ít đá lẫn, khá màu mỡ, thích hợp cho các loại cây rừng phát triển

Đất hình thành trong vùng núi đá vôi: Đá vôi là loại đá cứng, khó phonghoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó nênđất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá

Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng: Là loạiđất phì nhiêu, tầng dày, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon Hàngnăm được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ

Toàn huyện Tân Sơn còn 8.897,62 ha đất chưa sử dụng, trong đó:

Đất bằng chưa sử dụng: 15,58 ha

Đất đồi núi chưa sử dụng: 8.583,5 ha

Núi đá không có rừng cây: 298,54 ha

Từ các số liệu thống kê trên cho thấy, diện tích đất chưa sử dụng còn khálớn, có thể chuyển sang mục đích phát triển nông - lâm nghiệp

Trang 22

Bảng 1.1 Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp của huyện Tân Sơn (2016)

10,526,862,6

nguồn: [1]

Từ bảng trên, chúng ta có thể thấy diện tích đất lâm nghiệp đạt trên 51nghìn ha Trong đó rùng tự nhiên phòng hộ chiếm 26,8% diện tích, còn 62,6%diện tích còn lại thuộc về diện tích rừng sản xuất Rừng dặc dụng chỉ chiếm10.5% diện tích đất Có thể nói dieenjt ích rừng sản xuất chiếm tỉ trọng cao nhất

và đang có xu hướng tăng trong hiện nay Do diện tích đất rừng sản xuất khá lớnnên đã tạo điều kiện thuân lợi cho việc phát triển cây lâm nghiệp với quy môlớn, đặc biệt đất Feralit lại rất phù hợp cho đặc tính của các loại cây này Chỉtiêng diện tích đất lâm nghiệp đã đóng gớp không nhỏ vào độ che phủ đất trốngcủa huyện , chiếm tới 74%

1.2.2.4 Mạng lưới sông ngòi

Mạng lưới sông ngòi của huyện tân tương đối phức tạp Chủ yếu là cácsuối nhỏ đổ ra con sông Bứa, sông có chiều dài 117 km và diện tích lưu vực là1.355 km² Có hệ thống phụ lưu chằng chịt, hai nguồn cung cấp nước chủ yếubắt nguồn từ hai nơi Nơi thứ nhất,nước được cung cấp từ vùng núi Tân Langhuyện Phù Yên tỉnh Sơn La Nơi thứ hai, nước được cung cấp từ hệ thống núiphía tây nam của xã Kim Thượng giáp danh với tỉnh Hòa Bình Các suối là phụlưu của sông bứa hàng năm cung cấp nước cho dòng sông, lưu vực không ngừngđược mở rộng, tuy nhiên do độ dốc lớn lên sông ngòi Tân Sơn có thể coi là hungbạo vào mùa mưa, gây lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất ven sông Sông Bứa là một

Trang 23

nhánh phụ lưu sông Hồng, nơi tiếp giáp và hòa dòng là ở thị xã Phú Thọ Sôngngòi Tân Sơn cũng đóng vai trò quan trọng cho hạ lưu.

1.2.2.5 Sinh vật

Có thể nói vùng đất Tân Sơn là vùng đa dạng sinh học và còn tồn tại duynhất ở Phú Thọ Tân Sơn có vườn quốc gia Xuân Sơn, nơi lưu giữ và bảo vệ đa

đa dạng sinh học lớn của Tỉnh cũng như của quốc gia.Vườn quốc gia Xuân Sơn

có tổng diện tích 15.048 ha, trong đó khu bảo vệ nghiêm ngặt ( còn gọi là vùnglõi) có diện tích 9.099 ha Hệ thực vật đã thống kê được 1.179 loài, 650 chi, 175

họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch Như vậy, hệ thực vật vườn quốc giaXuân Sơn chiếm 11% tổng số loài, 28% tổng số chi và 57% tổng số họ của hệthực vật Việt Nam Phân tích chi tiết hơn thì hệ thực vật Xuân Sơn hiện có 96loài đặc hữu, chiếm tỉ lệ gần 10% tổng số loài của hệ thực vật, tương đương với

tỷ lệ này ở hệ thực vật Việt Nam theo công bố gần đây nhất của GS.TSKHNguyễn Nghĩa Thìn Các loài đặc hữu là nguồn gen quý vì người Việt Nam,không có bất kỳ nơi nào khác trên Trái Đất

Hệ thực vật vườn quốc gia Xuân Sơn có 46 loài được ghi trong Sách đỏ,Danh lục đỏ Việt Nam và Nghị định 32/CP của Chính phủ, trong đó, 14 loàithuộc nhóm EN (nguy cấp), 30 loài thuộc nhóm VU (sẽ nguy cấp), 1 loài thuộcnhóm LR (ít nguy cấp) và 1 loài thuộc nhóm IIA (hạn chế khai thác và sử dụng)

Ngoài giá trị về mặt khoa học, hệ thực vật Xuân Sơn còn là nguồn tàinguyên có ý nghĩa kinh tế, trong đó có 541 loài (chiếm 44,5% tổng số loài của

hệ thực vật) là cây thuốc; 249 loài cho gỗ; 145 loài làm thức ăn; 95 loài làm câycảnh v.v Cần phải nhấn mạnh rằng, vườn quốc gia Xuân Sơn không chỉ hệ thựcvật có tính đa dạng sinh học cao, mà hệ động vật cũng khá phong phú, mặc dùtính đa dạng sinh học đã bị suy giảm Vào những năm 60 của thế kỷ trước, vườntừng có hổ, báo hoa mai, báo gấm v.v

Qua phỏng vấn, trừ hổ không còn nhận được thông tin gì về sự tồn tại còncác loại báo hoa mai, báo gấm vẫn được ghi nhận là có ở vườn Kết quả điều tra,

Trang 24

khảo sát động vật có xương sống đã thống kê được 76 loài thú thuộc 24 họ, 8 bộ,

241 loài chim thuộc 50 họ, 16 bộ; 75 loài bò sát, ếch nhái thuộc 20 họ, 5 bộ và

91 loài cá thuộc 23 họ, 7 bộ Hệ động vật có nhiều loài được ghi vào Sách ĐỏViệt Nam (2007), Danh lục đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 32/CP, trong đóthú có 29 loài, chim 188 loài, bò sát ếch nhái có 22 loài và cá 5 loại Trong sốcác loài thú có cu ly nhỏ, voọc đen má trắng, vượn đen má trắng, sóc bay lôngtai Về chim hiện có một quần thể công khoảng 30-40 cá thể Đây là quần thểcông duy nhất còn tồn tại ở vườn quốc gia Xuân Sơn

1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

Vị trí địa lí:

Huyện Tân Sơn nằm về phía tây nam của tỉnh Phú Thọ, phía bắc giáphuyện Yên Lập, phía nam giáp huyện Đà Bắc tỉnh Hòa Bình, phía tây giáphuyện Văn Trấn tỉnh Yên Bái và Huyện Phù Yên tỉnh Sơn La, phía đông giáphuyện Thanh Sơn, có trung tâm huyện nằm ở xã Tân Phú và có quốc lộ 32Achạy qua Huyện Tân Sơn cách Việt trì 75km và cách thủ đô Hà Nội 117km có

vị trí thuận lợi cho giao thương giữa huyện với các trung tâm kinh tế lớn củatỉnh và của cả nước Quan hệ giao thương giữa huyện với các huyện trong tỉnh

và ngoài tỉnh ngày càng được đẩy mạnh góp phần nâng cao đời sống của nhândân nơi đây

Địa hình:

Tân sơn là vùng núi trung du có địa hình đồi núi thấp ( trừ khu vực phíatây, tây nam, vườn quốc gia Xuân Sơn) tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triểncây nông nghiệp và cây lâm nghiệp giá trị kinh tế cao Núi cao chỉ chiếm 10,4%diện tích nên Tân Sơn vẫn là vùng có điều kiện địa hình thuận lợi cho phát triểnkinh tế- văn hóa-xã hội

Khí hậu:

Khí hậu chịu ảnh hưởng khá rõ rệt của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa cómùa đông lạnh Khí hậu có sự khác biệt về mùa đông và mùa hạ Mùa hạ nóng

Trang 25

ẩm mưa nhiều thuận lợi trồng nông nghiệp Mùa đông lạnh khô Tương ứng vớimùa mưa kéo dài 5 tháng, mùa ít mưa kéo dài 6 tháng Là điều kiện hạn chế đểtrồng lúa Trên thực tế, vào mùa đông nhân dân sẽ trồng các loại rau quả mùađông để giảm mức ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc.

Đất:

Tổng diện tích đất tự nhiên huyện là 68858 ha Trong đó 57958 ha là đấtlâm nghiệp chiếm 84,17%, 2119,45 ha là đất nông nghiệp chiếm 3,07%, 8779 hadất chưa sử dụng chiếm 12,74% Trong số hơn 52577,51 ha đất lâm nghiệp có15048ha thuộc vườn quốc gia Xuân Sơn vói hệ thống động thực vật phong phú,nhiều hang động độc đáo có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm,nghỉ dưỡng

Khó khăn: Bên cạnh điều kiện thuận lợi thì tự nhiên Tân Sơn cũng cónhiều khó khăn:Tuy có đường quốc lộ 32 chạy qua và giáp với 3 tỉnh nhưng docòn nhiều hạn chế nên kinh tế còn chậm phát triển Địa hình cũng phân chia kháphức tạp đặc biệt là khu vực vùng núi việc giao lưu kinh tế khá khó khăn Hằngnăm Tân Sơn cũng chịu nhiều ảnh hưởng của bão và hệ lụy mà nó để lại đó là lũống lũ quét, xạt lở đất, cô lập các xã trong nhiều ngày làm gián đoạn hoạt độngkinh tế giáo dục ảnh hưởng của gió mùa đông bắc hằng năm cũng gây nhiềukhó khăn lớn, đặc biệt là gia súc lớn như trâu, bò Đất chủ yếu là felarit nên noàiviệc trông cây lâm nghiệp thì việc trông cây ăn quả chưa phát triển mạnh TânSơn là vùng có tiềm năng khoáng sản lớn do việc thăm dò và khái thác còn thô

Trang 26

sơ nên sản lượng cũng như chất lượng còn kém, đặc biệt là việc khai thác tráiphép không theo quy hoạch đã làm ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tếcủa vùng.

Trang 27

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN ĐẾN SỰ PHÂN BỐ MỘT SỐ CÂY LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂN

SƠN, TỈNH PHÚ THỌ 2.1 Đặc điểm sinh thái một số cây lâm nghiệp ở huyện Tân Sơn

Các loại cây lâm nghiệp chính trên địa bàn huyện Tân Sơn chủ yếu là cácloại cây Keo, cây Bồ Đề, Xoan Đào, Bạch Đàn Ngoài ra còn có các loại cây chothu hoạch quả đem lại giá trị kinh tế cao như: Trám đen, Cau Các loại cây thânống hiện nay đang được trồng nhiều như: Tre, Vầu, Mai Trên đây sẽ là một sốđặc điểm của một số loại cây chính được ứng dụng trồng nhiều ở Tân Sơn

2.1.1 Cây Keo lai

Trong các giống Keo, thì Keo lai được trồng nhiều và đã gắn bó với bà

con nhân dân rất lâu: Keo lai tự nhiên được phát hiện lần đầu vào năm 1972

trong số các cây keo tai tượng trồng ven đường ở Sabah - Malaixia Ở Thái Lanđầu tiên cũng tìm thấy keo lai được trồng thành đám ở Muak-Lek, Salaburi.Tên phổ thông: Keo Lai

Tên khoa học: Acacia auriculiformis mangium, Acacia hybri

Họ thực vật: Đậu - Fabaceae

Nguồn gốc xuất xứ : Austrailia

Phân bố ở Việt Nam: rộng khắp

Nguồn: ảnh sưu tầm

Trang 28

- Đặc điểm sinh thái: Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn rõ rệt so với

loài keo bố mẹ Với một số dòng keo lai đã chọn lọc trồng thâm canh 3 tuổi đạttrung bình 8,6- 9,8m về chiều cao khoảng 9,8-11,4cm, về đường kính khoảng19,4-27,2 m3/ha/năm về lượng sinh trưởng và 50-77m3/ha Về sản lượng gỗrừng keo lai 7-8 tuổi đạt 150-200m3 gỗ/ha, có thể nhiều hơn 1,5-2 lần rừng Keotai tượng và Keo lá tràm

Keo lai có nhiều hạt và khả năng tái sinh tự nhiên bằng hạt rất mạnh.Rừng trồng 8-10 tuổi sau khi khai thác trắng, đốt thực bì và cành nhánh, hạt nẩymầm và tự tái sinh hàng vạn cây trên 1 ha Tuy nhiên không trồng rừng keo laibằng cây con từ hạt mà phải bằng cây con Nơi thích hợp nhất để trồng đó là ở

vĩ độ 10-22o Bắc, độ cao dưới 500m so với mực nước biển, dốc dưới 25oC Nhiệt

độ bình quân 21-27oC, tối cao tuyệt đối 42,1oC, tối thấp tuyệt đối - 0,8oC Lượngmưa 1400-2400 mm, lượng bốc hơi 540-1200 mm Số tháng mưa trên 100mm là5-6 tháng tập trung trong mùa hè Đất dày trên 50-60cm, thành phần cơ giới từthịt nhẹ đến sét nhẹ, chua pHKCl từ 3,5-5,0 Mùn từ trung bình đến giàu, trên 2%

ở tầng mặt Trảng cỏ cây bụi, không hoặc có cây gỗ rải rác, nứa tép, lồ ô,…,

Keo lai phân bố hầu hết trên lãnh thổ Việt Nam Ở Tân Sơn keo lai cũngđược trồng rộng rãi ở hầu hết các xã: Tân Phú, Kiệt Sơn, Minh Đài, Mỹ Thuận,Thu Ngạc, Thạch Kiệt, Thu Cúc, Lai Đồng, Đồng Sơn, Tân Sơn, Xuân Đài, KimThượng, Xuân Sơn, Văn Luông, Long Cốc, Tam Thanh, Vinh Tiền

2.1.2 Keo tai tượng

Đặc điểm sự phân bố: Keo tai tượng còn có tên khác là keo lá to, keođại, keo mỡ, keo hạt là một cây thuộc phân họ Trinh nữ (Mimosoideae) Địa bànsinh sống của chúng ở Úc và châu Á Người ta sử dụng keo tai tượng để quản lýmôi trường và lấy gỗ Cây keo tai tượng có thể cao 30m với thân thẳng

Đặc điểm sinh thái: Keo tai tượng là dạng cây gỗ lớn, chiều cao từ 7-30

m Đường kính từ 25-35 cm Keo tai tương thích hợp nơi có nhiệt độ bình quânnăm 23-24oC, lượng mưa từ 1.800- 2.000 mm Keo tai tượng là loài cây ưa đất

ẩm, thành phần cơ giới trung bình và thoát nước Vì vậy nên tiến hành trồngrừng sau khi trời mưa hoặc trồng đón mưa trước 1-3 ngày Có thể trồng tập

Trang 29

trung hoặc phân tán đều được Ở Việt Nam, Keo tai tượng được trồng rừng vớimục đích chủ yếu là cải tạo môi trường sinh thái và sản xuất gỗ nhỏ, gỗ nguyênliệu cho ngành công nghiệp chế biến bột giấy, gỗ ván dăm, Một lô rừng Keotai tượng xuất xứ Cardwell của Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy (FRC) đãđược MARD công nhận đủ tiêu chuẩn rừng giống Một vài khảo nghiệm hậu thếcủa lô rừng giống FRC đã cho thấy ở Tuyên Quang, sau trồng 24 tháng, tốc độsinh trưởng chiều cao đạt 2,5-3m/năm Hiện nay, nó có khả năng sản xuất mỗinăm khoảng 200–250 kg hạt giống.

Bảng 2.1 các yếu tố địa hình

Nhân tố

Phân chia Thích hợp Mở rộng Hạn chế Chỉ

tiêu Điểm

Chỉ tiêu Điểm

Chỉ tiêu Điểm

1 Độ cao so với mực nước biển (m) 1-500 3

501-750 2 > 750 1

Địa hình cũng rất quan trọng đối với sự phát triển của cây keo tai tượng, với các chỉ tiêu về độ cao tuyệt đối, độ dốc sườn, và diểm phân chia cũng thể

Hình ảnh cây keo tai tượng( sưu tầm)

Nguồn:[12]

Trang 30

hiện qua sự thích nghi hay không, về độ cao so với mực nước biển: keo tai tượng thích hợp với độ cao từ 1-750 m độ dốc từ 25o trở xuống Cây hạn chế ở

độ cao trên 750 m và độ dốc trên 25o

Bảng 2.2 các yếu tố khí hậu cho sự phát triển keo tai tượng

Nhân tố

Phân chia

Chỉ tiêu Điểm Chỉ tiêu Điểm Chỉ tiêu Điểm

1 Lượng mưa bình quân năm

(mm)

1500;

1300- 2400

có thể chịu được của cây là > 15OC và có thể mở rộng xuống từ 10- 15o C, sốtháng mưa từ 3-5 tháng

Bảng 2.3 các yếu tố đất Nhân tố

Phân chia

Chỉ tiêu Điểm Chỉ tiêu Điểm Chỉ tiêu Điểm

Ngày đăng: 22/11/2018, 22:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Cáo :Tình hình quản lí ,sử dụng đất phát triển kinh tế nông lâm nghiệp trên địa bàn huyện Tân Sơn. Tài liệu báo cáo bí thư tỉnh ủy Hoàng Dân Mạc trong chuyến thăm và làm việc tại huyện Tân Sơn,(2016) Khác
4. Hoàng Ngọc Oanh, Địa lí tự nhiên đại cương 2, NXB Đại học sư phạm Khác
5. Nguyễn Kim Chương, Địa lí tự nhiên đại cương 3, NXB Đại học sư phạm Khác
7. Nguyễn Quang Lâm,( 2012), Đánh giá cảnh quan phúc vụ mục đích phát triển nông-lâm nghiệp theo định hướng phát triển kinh tế- xã hội huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.khóa luân tốt nghiệp năm 2012 Khác
8. Lê Bá Huy, Vũ Chí Hiếu,Vũ Đình Long,(2000) Tài nguyên môi trường và sự phát triển bền vững, NXB khoa học và kĩ thuật Khác
9. Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Thực vật rừng, Giáo trình trường Đại học Lâm nghiệp. Nhà xuất bản Nông nghiệp Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w