PHẦN MỞ ĐẦUToán học là môn học vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tượng. Hiện nay một số học sinh không thích học toán hoặc ngại học toán vì cho rằng môn toán là môn học khó. Đặc biệt, đối với học sinh trường THCSTHPT DTNT Liên Huyện phía nam vấn đề này lại càng khó hơn bởi khả năng tư duy trừu tượng của học sinh dân tộc rất hạn chế.Một số học sinh chăm chỉ học tập nhưng thành tích lại không cao. Các em chỉ học phần nào biết bài nấy, học bài sau quên bài trước không liên kết được các kiến thức của bài trước vào bài sau.Trong bộ môn toán, nhất là hình học 8 chương I đa số học sinh cho là khó nhớ vì có nhiều kiến thức, làm cho học sinh dễ nhằm lẫn các kiến thức nên các em chỉ học vẹt các định nghĩa, tính chất, dấu hiệu nhận biết của các hình mà không nhớ được bản chất của các hình nên không vận dụng được vào làm bài tập. Về phía giáo viên lối truyền thụ từ trước đến nay chủ yếu là giáo viên trình bày những kiến thức. Trong những tiết học có nhiều kiến thức hay ôn tập chương giáo viên chỉ liệt kê nội dung khiến thầy và trò chưa hệ thống hết kiến thức một cách đầy đủ gây khó khăn trong việc ứng dụng vào bài tập. Với những lý do trên yêu cầu giáo viên phải đổi mới phương pháp nhằm giúp học sinh hứng thú trong học tập, có điều kiện khắc sâu kiến thức của mình, làm chủ kiến thức của mình và áp dụng được kiến thức của mình vào bài tâp.Với những lý do trên tôi đưa ra giải pháp ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương I hình học 8 nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức, nhớ các kiến thức dễ dàng hơn.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Toán học là môn học vừa mang tính cụ thể vừa mang tính trừu tượng Hiện nay một số học sinh không thích học toán hoặc ngại học toán vì cho rằng môn toán là môn học khó Đặc biệt, đối với học sinh trường THCS&THPT DTNT Liên Huyện phía nam vấn đề này lại càng khó hơn bởi khả năng tư duy trừu tượng của học sinh dân tộc rất hạn chế
Một số học sinh chăm chỉ học tập nhưng thành tích lại không cao Các em chỉ học phần nào biết bài nấy, học bài sau quên bài trước không liên kết được các kiến thức của bài trước vào bài sau
Trong bộ môn toán, nhất là hình học 8 chương I đa số học sinh cho là khó nhớ
vì có nhiều kiến thức, làm cho học sinh dễ nhằm lẫn các kiến thức nên các em chỉ học vẹt các định nghĩa, tính chất, dấu hiệu nhận biết của các hình mà không nhớ được bản chất của các hình nên không vận dụng được vào làm bài tập
Về phía giáo viên lối truyền thụ từ trước đến nay chủ yếu là giáo viên trình bày những kiến thức Trong những tiết học có nhiều kiến thức hay ôn tập chương giáo viên chỉ liệt kê nội dung khiến thầy và trò chưa hệ thống hết kiến thức một cách đầy
đủ gây khó khăn trong việc ứng dụng vào bài tập
Với những lý do trên yêu cầu giáo viên phải đổi mới phương pháp nhằm giúp học sinh hứng thú trong học tập, có điều kiện khắc sâu kiến thức của mình, làm chủ kiến thức của mình và áp dụng được kiến thức của mình vào bài tâp.Với những lý do trên tôi đưa ra giải pháp "ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương I - hình học 8" nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp học sinh dễ tiếp thu kiến thức, nhớ các kiến thức dễ dàng hơn
Trang 2NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
Việc đổi mới phương pháp giáo dục nhằm đem lại cho người học có sự say mê, hứng thú, sáng tạo trong học tập, tự phát huy được khả năng tiếp thu kiến thức, lĩnh hội, tự mình nắm vững kiến thức là một việc rất cần thiết, nhất là trong thời đại hiện nay
Điều 28.2 của Luật giáo dục 2005 đã ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng của từng lớp học; môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú cho học sinh" Phương pháp dạy học bằng sử dụng sơ đồ tư duy đáp ứng được những yêu cầu đó
Trước đây để học sinh nắm bắt được kiến thức theo một hệ thống, nhất là trong các tiết ôn tập chương thì tôi thường hệ thống các kiến thức ấy theo cách dùng sơ đồ tóm tắt và do giáo viên thực hiện hoàn toàn Sau khi được phổ biến sơ đồ tư duy trong dạy học, tôi đã mạnh dạn áp dụng, đồng thời cũng mạnh dạn cho học sinh tự thể hiện
sự nắm bắt kiến thức của bài học thông qua sơ đồ tư duy
Sau một thời gian sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học, tôi thấy học sinh của mình phần nào có sự tiến bộ hơn trong việc lĩnh hội kiến thức, phát triển tính sáng tạo, tích cực hơn trong học tập, nhớ bài hơn sau mỗi tiết học
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
Theo kế hoạch năm học 2014 - 2015 của trường THCS&THPT DTNT Liên Huyện phía nam chọn chuyên đề cho cả nhà trường là: " Tạo hứng thú học tập của học sinh qua môn mình phụ trách" Và tôi đã chọn sử dụng sơ đồ tư duy trong các tiết dạy và tôi thấy hiệu quả trong quá trình giảng dạy, khơi dậy được sự hứng thú của học sinh, và bước đầu thấy được sự hiểu quả của nó
Trang 3Học sinh trường THCS&THPT DTNT Liên Huyện phía nam học tập trung ở trường ngoài thời gian dành cho sinh hoạt cá nhân thời gian còn lại học sinh chủ yếu
là thời gian học nên việc áp dụng sơ đồ tư duy có thể thực hiện được
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh lớp 8A2 trường THCS&THPT DTNT Liên Huyện Phía Nam với sỉ số
28 năm học 2014 -2015
Học sinh lớp 7A1 trường THCS&THPT DTNT Liên Huyện Phía Nam với sỉ số
28 năm học 2016 -2017
Học sinh lớp 8A1 trường PTDTNT THCS&THPT DTNT Liên Huyện Phía Nam với sỉ số 25 năm học 2017-2018
IV NỘI DUNG THỰC HIỆN
1 Khái niệm sơ đồ tư duy là gì?
Sơ đồ tư duy còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung,
hệ thống hoá một chủ đề bằng cách kết hợp sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết Đây là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả
Sơ đồ tư duy đóng vai trò là công cụ đồ hoạ trực quan nối các từ khoá và hình ảnh liên quan với nhau, sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ tích cực nhất cho giáo và học sinh khi dạy - học các bài nghiên cứu kiến thức mới, bài ôn tập, tổng kết, hoặc củng cố, hệ thống hoá kiến thức sau mỗi bài, mỗi phần Sơ đồ tư duy giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán Sơ đồ tư duy hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng một cách rõ ràng Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, sơ đồ tư duy cho phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng
Trang 4
2 Cấu tạo
Ở giữa sơ đồ là một hình ảnh trung tâm (hay một cụm từ) khái quát chủ đề Gắn liền với hình ảnh trung tâm là các nhánh cấp 1 mang các ý chính làm rõ chủ đề
Phát triển các nhánh cấp 1 là các nhánh cấp 2 mang các ý phụ làm rõ mỗi ý chính
Sự phân nhánh cứ thế tiếp tục để cụ thể hóa chủ đề, nhánh càng xa trung tâm thì ý càng cụ thể, chi tiết Có thể nói, Sơ đồ tư duy là một bức tranh tổng thể, một mạng lưới tổ chức, liên kết khá chặt chẽ theo cấp độ để thể hiện một nội dung, một đơn vị kiến thức nào đó
3 Các bước thiết kế một sơ đồ tư duy
Để thiết kế một Sơ đồ tư duy dù vẽ thủ công trên trên giấy , hay trên phần mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:
Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình
ảnh minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)
Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm rõ chủ
đề, thì ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm
Ảnh minh họa cấu tạo Sơ đồ tư duy
Trang 5Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm rõ
mỗi ý chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khai thành mạng lưới liên kết chặt chẽ
Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý,
tạo tác động trực quan, dễ nhớ
4 Để sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy môn hình 8, tôi thực hiện như sau:
a Chuẩn bị giáo viên
Nội dung trọng tâm của bài dạy
Sơ đồ tư duy của các bài dạy trong chương I-hình học 8 thiết kế bằng phần mềm Mind Map
Các phương tiện hỗ trợ cho việc trình chiếu sơ đồ tư duy của học sinh như Camera, Sơ đồ tư duy của giáo viên trình chiếu trên phần mềm Power Point
b Chuẩn bị của học sinh
Giấy A4 để lập sơ đồ tư duy cá nhân
Màu vẽ, bút chì, thước để vẽ sơ đồ tư duy
Giấy A0, hoặc bảng nhóm để vẽ sơ đồ tư duy theo nhóm
c Các bước tiến hành
Bước 1: “Làm quen”
Giáo viên giới thiệu một số sơ đồ tư duy vẽ sẵn cho học sinh làm quen (Nên chọn vẽ sơ đồ tư duy ở những bài đã học trong chương trình cho các em vừa tiện theo dõi, tiếp thu tri thức về sơ đồ tư duy, đồng thời vừa thuận lợi trong việc hệ thống hóa kiến thức, học sinh sẽ nhanh tiếp thu hơn vì các em đã học) Giáo viên giới thiệu cấu trúc sơ đồ tư duy, theo mạch kiến thức của bài học cho học sinh nắm
Bước 2: “Đọc hiểu”
Giáo viên chọn những sơ đồ tư duy có kết cấu đơn giản cho học sinh quan sát Sau đó, cho các em dựa vào sơ đồ tư duy để thuyết trình nội dung bài học (kiến thức) được vẽ trong sơ đồ
Bước 3: “Tập vẽ”
Giáo viên đưa ra chủ đề bằng từ khóa (hoặc hình ảnh) ở trung tâm màn hình Ví dụ: Đường trung bình của tam giác, hình thang; hình hình hành, Cho học sinh thực hành vẽ sơ đồ tư duy trên giấy hay bảng phụ
Giáo viên đặt các câu hỏi gợi ý để các em suy nghĩ và vẽ các nhánh cấp 1, cấp
2, cấp 3
Bước 4: “Trang trí”
Sau khi các em vẽ xong sườn của sơ đồ tư duy, giáo viên gợi ý cho các em vẽ chèn thêm những hình ảnh cần thiết để minh họa cho nội dung của sơ đồ, gợi ý cho
Trang 6các em chỉnh sửa đường nét, sử dụng màu sắc để phân biệt, làm nổi bật mạng lưới các
ý trong sơ đồ
Bước 5: “Chia sẻ kinh nghiệm”
Ở bước này, giáo viên thu một số sơ đồ tư các em vừa vẽ theo từng loại (Sơ đồ không triển khai đủ các ý chính, sơ đồ vẽ quá chi tiết đến vụn vặt, sơ đồ vẽ không đúng trọng tâm kiến thức, sơ đồ dùng quá nhiều hình ảnh, màu sắc lòe loẹt, )
5 Ví dụ minh họa
Ví dụ 1: Sơ đồ tư duy bài hình bình hành.
Sau khi đã hướng dẫn cho học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy ở bài đường trung bình của tam giác, hình thang Học xong bài hình bình hành, tôi yêu cầu học sinh về nhà vẽ
sơ đồ tư duy Sau đó thu một số bài của học sinh rồi dùng camera chiếu lên và cho học sinh nhận xét, giáo viên rút ra kết luận
Hình 1: Sơ đồ tư duy bài hình bình hành của học sinh Ka Niền lớp 8A2
Trong sơ đồ tư duy hình 1 trên nhận xét rằng:
Trang 7Thứ nhất học sinh còn vẽ nhiều hình ảnh không cần thiết( hình ảnh của cây, hình ảnh ông mặt trời, ) Như vậy, sẽ làm cho học sinh tốn nhiều thời gian vào việc trang trí và vô tình rằng đây là một bài vẽ 'thực thụ" chứ không phải là khái quát kiến thức
Thứ hai, phần dấu hiệu nhận biết học sinh làm dấu mũi tên nhưng thế là không đúng với mạch kiến thức và vô tình ta hiểu: từ dấu hiệu thứ nhất mới suy ra được dấu hiệu thứ hai, đến dấu hiệu cuối cùng Giáo viên nhắc cho học sinh tuy sơ đồ tư duy
là sơ đồ mở nhưng trong sơ đồ tư duy phải đảm bảo kiến thức và mạch kiến thức của bài
Hình 2: Sơ đồ tư duy bài hình bình hành của học sinh Điểu Thị Hà lớp 8A2
Trang 8Với sơ đồ tư duy của hình 2:
Học sinh vẽ đảm bảo mạch kiến thức của bài làm rõ được nội dung trọng tâm của bài Tuy nhiên đối với hình 2, học sinh vẫn mắc phải lỗi vẽ một số hình ảnh
không cần thiết đó hình ảnh của hình ảnh của em học sinh, hình ảnh chú chim, Mặt khác, học sinh trình bày phần tính chất không nên đưa dòng: " Trong hình bình hành" vào sơ đồ tư duy, như vậy sẽ không đúng vì tính chất của hình bình hành không có tính chất đó và câu đó không có ý nghĩa Phần dấu hiệu nhận biết trình bày chưa rõ ràng
Hình 3: Sơ đồ tư duy bài hình bình hành của học sinh Điểu Thị Lan lớp 8A2
Với sơ đồ tư duy ở hình 3:
Học sinh vẽ đảm bảo mạch kiến thức của bài làm rõ được nội dung trọng tâm của bài Sơ đồ tư duy học sinh trình bày theo đúng mạch kiến thức của bài Sơ đồ có minh họa hình ảnh và sử dụng màu khá hợp lý, có phần ghi bằng tóm tắt lời bằng kí hiệu; trong phần dấu hiệu nhận biết học sinh có đánh số như thế là rất tốt Nhưng chúng ta lưu ý với học sinh rằng: Nên vẽ hình ảnh trung tâm là hình bình hành nên
Trang 9chính xác hơn Từ hình ảnh trung tâm là hình bình hành đến các định nghĩa, tính chất, dấu hiệu nhận biết nên vẽ các đường dày hơn
Từ những nhận xét trên ta hướng cho học sinh nên vẽ sơ đồ tư duy theo hướng của hình 3 và giáo viên cũng chiếu sơ đồ tư duy của giáo viên cho học sinh tham khảo
Sau khi cho học sinh nhận xét, học sinh tham khảo sơ đồ tư duy của giáo viên Giáo viên định hướng cho học sinh một số lưu ý như sau khi vẽ sơ đồ tư duy:
Vì sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên học sinh có thể vẽ như thế nào tùy thích (như hình hình ảnh của cây tỏa ra nhiều nhánh với mỗi nhánh là một đơn vị kiến thức, hình ảnh của các con vật với mỗi con vật là một đơn vị kiến thức, hình ảnh các đám mây với mỗi đám mây là một đơn vị kiến thức, ) nhưng phải đảm bảo về mặt kiến thức, phải đẹp, có cách trình bày khoa học, cân đối, hài hòa về đường nét, màu sắc
Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh con
Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút sự chú ý của mắt, như vậy Sơ đồ tư duysẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn
Trang 10Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn.
Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ
Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn, các kí hiệu dễ nhớ
Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề
Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp
Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô màu Nếu thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một nhánh, ta có thể hướng dẫn thêm cho các em cách gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó Đây là điều rất mới mẻ, sáng tạo và tiết kiệm rất nhiều thời gian
Giáo viên nhắc nhở thêm các em cần hình thành thói quen tốt: nên lập sơ đồ tư duy trong quá trình chuẩn bị bài mới ở nhà và lập lại sau khi học xong bài trên lớp để
có điều kiện đối chiếu xem mình đã làm được những gì? Những gì mình còn sai sót cần bổ sung, sửa chữa
Nhắc các em sau mỗi bài học nên lưu các sơ đồ tư duy lại để sau này tiện việc
ôn tập, hệ thống kiến thức
Với cách truyền đạt như trên, lập sơ đồ tư duy như thế đã đạt được kết quả tương đối Kết quả bài kiểm tra nhanh:"Em hãy nêu tính chất và dấu hiệu nhận biết hình hình bình hành" có tới 21/28 (75%) học sinh đạt điểm trung bình trở lên Kết quả
đã thể hiện là các em đã tự tin thể hiện được tính sáng tạo của mình thông qua cách lập sơ đồ tư duy Một điều quan trọng là các em ghi nhớ tương đối tốt hơn, vì chính các em đã tham gia vẽ nên sơ đồ tư duy này
Ví dụ 2: Ôn tập chương I – hình học 8
Vì các em đã có sơ đồ tư duy của hầu như các bài nên khi dạy bài này tôi đã cho học sinh mang hết tất cả các sơ đồ tư duy đã lập từ trước đến nay, phân nhóm cho học sinh 3 em vẽ sơ đồ tư duy của chương I
Trang 11Với sơ đồ tư duy các em đã lập tôi vẽ trên bảng hình ảnh trung tâm là tứ giác sau đó vẽ nhánh chính là hình thang, đường trung bình tam giác, hình thang, hình bình hành Sau đó yêu cầu học sinh mang bài của mình lên ghép trên bảng
Thu một số sơ đồ tư duy của các nhóm Sau đó cho học sinh nhận xét Qua đó, tôi nhận thấy rằng học sinh hình thành kiến thức liên kết của chương Việc làm này dẫn đến tốn ít thời gian
Ví dụ 3: Trong năm học 2016-2017 tôi áp dụng vào chương I – hình học 7
Cho các em sau mỗi bài học, học sinh vẽ sơ đồ tư duy như bài hai góc đối đỉnh, đường thẳng vuông góc, đường thẳng song song và ôn tập chương
Sau đó giáo viên cho học sinh xem sơ đồ tư duy minh họa như:
(Sơ đồ tư duy bài đường thẳng vuông góc, đường thẳng song song)
Ví dụ 4: Trong năm học 2017-2018 tôi tiếp tục áp dụng vào chương I – hình học 8 và sau đây là một số sơ đồ tư duy của học sinh:
Trang 12Bài học sinh:
Trang 13bài học sinh:
Bài học sinh:
Trang 14Bài học sinh
Bài học sinh
Trang 156 Hiệu quả của đề tài
Sau một thời gian ứng dụng sơ đồ tư duy vào trong giảng dạy tôi thấy đạt được một số kết quả nhất định sau:
Học sinh phát huy được tính tích cực, sáng tạo, tư duy hơn trong học tập
Các em có được sự tự tin, khả năng trình bày ý kiến theo nhận định riêng của
sơ thân
Tự mình có thể hệ thống lại các kiến thức đã học trong bài, trong chương qua một bức tranh tổng thể là sơ đồ tư duy
Học sinh nhớ bài lâu hơn, thông qua việc tự mình thực hiện, tham gia vẽ sơ đồ
tư duy
Trang 16Nhờ hình ảnh, màu sắc, đường nét, cấu tạo hợp lí của sơ đồ tư duy các em dễ nhận biết được trọng tâm chính của bài, từ đó khắc sâu được kiến thức hơn
Tiết học trở nên sinh động hơn, tạo nên không khí học mà chơi, chơi mà học Kết quả kiểm tra chương 1 lớp 8A2 có 20/28 (71,4%) học sinh trên trung bình Kết quả kiểm tra chương 1 lớp 7 A 1 có 21/28 (75%) học sinh trên trung bình
Kết quả kiểm tra chương 1 lớp 8A 1 có 21/25 (75%) học sinh trên trung bình.