Bên cạnh đó, ASEAN cũng tạocho Việt Nam môi trường phát triển năng động, và là thị trường lớn của Việt Nam không nhữngtrong hoạt động xuất nhập khẩu mà cả hoạt động đầu tư,… Đề tài “Việt
Trang 1QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
GVHD: GS TS Võ Thanh Thu
Đề tài:
VIỆT NAM VÀ ASEANs
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
Danh sách nhóm
1 Trần Thị Thái Châu –NT3
2 Nguyễn Thị Tuyết Nga – NT3
3 Lê Thị Xuân Nhân – NT3
4 Vũ Thị Tuấn Hưng – NT2
5 Phạm Thị Kim Loan - NT2
TPHCM, ngày 11 tháng 10 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ASEAN 4
1 Tổng quan về ASEAN 4
2 Quan hệ đầu tư Việt Nam – ASEANs 7
3 Quan hệ Thương mại và đầu tư Việt Nam – ASEAN 10
4 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam 16
II CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮ CÁC NƯỚC ASEANs: 21
1 Chương trình hợp tác thương mại: 21
2 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực hải quan: 21
3 Hợp tác trong công nghiệp 22
4 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và lương thực: 23
III CHƯƠNG TRÌNH THUẾ QUAN ƯU ĐÃI CÓ HIỆU LỰC CHUNG (CEPT) 28
1 Nội dung của chương trình: 28
2 Điều kiện để được hưởng thuế Nhập khẩu ưu đãi theo chương trình CEPT 30
3 Các danh mục hàng hóa chương trình CEPT áp dụng tại Việt Nam: 31
IV CỘNG ĐỒNG ASEAN 32
1 Giới thiệu tổng quát về cộng đồng ASEAN: 32
2 So sánh cộng đồng ASEAN và EU 36
V CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC CỦA ASEAN VỚI CÁC NƯỚC NGOÀI KHỐI 39
1 Hiệp định thương mại tự do đã kí kết 39
2 Hiệp định thương mại tự do đang đàm phán 58
KẾT LUẬN 61
DANH MỤC TRA CỨU 62
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, các tổ chức khu vực không ngừng ra đời và lớn mạnh.ASEAN – Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association Southeast Asia Nations) là mộttrong số đó Việt Nam cũng đang bắt nhịp với xu thế hội nhập sâu rộng này, vai trò của ViệtNam trong các tổ chức này ngày càng vững mạnh Việt Nam đã tích cực trong các hoạt độngchung của toàn khối, và từng nắm giữ những vị trí quan trọng Bên cạnh đó, ASEAN cũng tạocho Việt Nam môi trường phát triển năng động, và là thị trường lớn của Việt Nam không nhữngtrong hoạt động xuất nhập khẩu mà cả hoạt động đầu tư,…
Đề tài “Việt Nam – ASEANs, cơ hội thách thức trong hoạt động thương mại đầu tư” mànhóm thưc hiện mong muốn tìm hiểu vai trò đối tác quan trọng giữa Việt Nam và các quốc giatrong khối, qua đó tìm hiểu những khó khăn thách thức mà Việt Nam gặp phải cũng như là cơhội mà Việt Nam nắm bắt được trong quá trình hội nhập Ngoài ra nhóm cũng mong muốn hiểu
rõ các chương trình hợp tác của ASEAN và các khối khác ngoài khu vực; cũng như hành độngcủa Việt Nam trong lộ trình hội nhập này để có thể hiểu sâu sắc hơn
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy nhómmong nhận được sự góp ý từ cô để đề tài của nhóm được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 4I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ASEAN
1 Tổng quan về ASEAN
1.1 Lịch sử hình thành
Theo trang web của Bộ Ngoại Giao Việt Nam
Từ sau năm 1945, nhiều quốc gia đã ra đời dưới những hình thức khác nhau ở Đông Nam
Á Năm 1945, Indonesia, Việt Nam và Lào tuyên bố độc lập Năm 1946, Mỹ trao trả độc lập choPhilippines
Năm 1947, Anh trao trả độc lập cho Miến Điện (nay là Myanmar) Năm 1965, Singaporetách khỏi Liên bang Malaysia, tuyên bố thành nước cộng hòa độc lập
Ngày 31/12/1983, Anh trao trả độc lập cho Bruney Thái Lan không là thuộc địa trực tiếpcủa một đế quốc nào nên sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II vẫn là quốc gia độc lập
Sau khi giành được độc lập, nhiều nước Đông Nam Á đã có dự định thành lập một tổchức khu vực nhằm tạo nên sự hợp tác phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật vàvăn hóa; đồng thời hạn chế ảnh hưởng của các nước lớn đang tìm cách biến Đông Nam á thành
“sân sau” của họ
Trong quá trình tìm kiếm sự hợp tác giữa các nước Đông Nam Á, nhiều tổ chức khu vực
đã xuất hiện và một số hiệp ước giữa các nước trong khu vực được ký kết
Tháng 1/1959, Hiệp ước Hữu nghị và Kinh tế Đông Nam Á (SEAFET), gồm Malaysia vàPhilippines ra đời
Ngày 31/7/1961, Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) - gồm Thái Lan, Philippines và Malaysiađược thành lập
Tháng 8/1963, một tổ chức gồm Malaysia, Philippines và Indonesia, gọi tắt làMAPHILINDO, được thành lập
Tuy nhiên, những tổ chức và Hiệp ước trên đây đều không tồn tại được lâu do những bấtđồng giữa các nước về vấn đề lãnh thổ và chủ quyền ASA, MAPHILINDO không thành công,nhưng nhu cầu về một tổ chức hợp tác khu vực rộng lớn hơn ở Đông Nam Á ngày càng lớn
Trong khi đó, sau Chiến tranh Thế giới thứ II, các trào lưu hình thành “chủ nghĩa khuvực” trên thế giới đã xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của Cộng đồng Kinh tế Châu Âu(EEC); Khu vực Thương mại Tự do Mỹ Latin (LAFTA); Thị trường chung Trung Mỹ(CACM) Việc thành lập các tổ chức khu vực này đã tác động đến việc hình thành ASEAN
Trang 5Từ thành công của EEC, các nước Đông Nam Á đều thấy rằng việc hình thành các tổchức khu vực sẽ giúp thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế thông qua tăng cường hợp tác kinh tế, buônbán và phân công lao động.
Về mặt chính trị, các tổ chức khu vực giúp củng cố tình đoàn kết khu vực và giúp cácnước vừa và nhỏ có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề quốc tế
Về mặt xã hội, chủ nghĩa khu vực có thể đưa ra các phương hướng hợp tác để giải quyết
có hiệu quả các vấn đề đặt ra cho các nước thành viên
Sau nhiều cuộc thảo luận, ngày 8/8/1967, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Indonesia,TháiLan, Philippines, Singapore và Phó Thủ tướng Malaysia ký tại Bangkok bản Tuyên bố thành lậpHiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
Từ 5 nước thành viên ban đầu, đến nay ASEAN đã có 10 quốc gia thành viên, gồmIndonesia, Thái Lan, Philippines, Singapore, Malaysia, Bruney (năm 1984), Việt Nam(năm1995), Lào (năm 1997), Myanmar (năm 1997) và Campuchia (năm1999)
ASEAN có diện tích khoảng 4.464.322 km2, dân số gần hơn 600 triệu người, chiếm 9%dân số Thế giới Tổng GDP khoảng 3,5 nghìn tỷ USD (Năm 2012)1
Thực tiễn đã chứng minh rằng, một Đông Nam Á thống nhất đã thúc đẩy cho hợp tác và
vị thế ASEAN ngày càng lớn mạnh, là tiền đề quan trọng để ASEAN trở thành một cộng đồng.1.2 Những cột mốc phát triển quan trọng
1.2.1 Tuyên bố ASEAN:
Ngày 8/8/1967, tại Bangkok, Thái Lan, Bộ trưởng phụ trách các vấn đề chính trị kiêm Bộtrưởng Ngoại giao Indonesia, Phó Thủ tướng Malaysia, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines, Bộtrưởng Ngoại giao Singapore và Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan đã ra Tuyên bố ASEAN
Đây là Tuyên bố thành lập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á với mục tiêu đẩy mạnhtăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, phát triển văn hóa; tăng cường hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau cũngnhư thúc đẩy hòa bình, ổn định trong khu vực
1.2.2 Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự do và trung lập:
Ngày 27/11/1971, tại Kuala Lumpur, Malaysia, Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia,Malaysia, Philippines, Singapore và Đặc phái viên của Hội đồng Hành pháp Quốc gia Thái Lan
đã ký và công bố “Tuyên bố về khu vực hòa bình, tự do và trung lập ở Đông Nam Á” - Tuyên bốZOPFAN
Trang 6Tuyên bố quan trọng này đã định ra các mục tiêu cơ bản và lâu dài của ASEAN là xâydựng Đông Nam á thành một khu vực hòa bình, tự do và trung lập, không có sự can thiệp dướibất cứ hình thức nào của các cường quốc bên ngoài.
1.2.3 Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á:
Ngày 24/2/1976, tại Bali, Indonesia, nguyên thủ quốc gia các nước ASEAN ký Hiệp ướcThân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Bali).Hiệp ước nhằm thúc đẩy hòa bình vĩnhviễn, tình hữu nghị và hợp tác lâu bền giữa nhân dân các bên tham gia Hiệp ước, góp phần tăngcường sức mạnh, tình đoàn kết và quan hệ chặt chẽ hơn giữa các nước Đông Nam Á
1.2.4 Hiến chương ASEAN:
Từ Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 10 (năm 2004), lãnh đạo các nước ASEAN đã nhấttrí xây dựng bản Hiến chương ASEAN Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 (năm 2007),lãnh đạo các nước ASEAN đã ký thông qua Hiến chương ASEAN và ra Tuyên bố chung khẳngđịnh quyết tâm hoàn tất việc phê chuẩn Hiến chương trong vòng một năm
Ngày 15/12/2008, Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực sau khi được tất cả cácnước thành viên ASEAN phê chuẩn Đây là một sự kiện quan trọng, là bước ngoặt lịch sử củaHiệp hội trong hơn 40 năm hình thành và phát triển
Hiến chương ASEAN đánh dấu một bước chuyển mình cơ bản của Hiệp hội sang mộtgiai đoạn mới, trở thành một tổ chức liên chính phủ, có tư cách pháp nhân và hoạt động dựa trên
cơ sở pháp lý là Hiến chương ASEAN; đồng thời, phản ánh sự trưởng thành của ASEAN, thểhiện tầm nhìn và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của các nước thành viên ASEAN, nhất là của các
vị lãnh đạo, về mục tiêu xây dựng một ASEAN liên kết chặt chẽ, vững mạnh hơn, để hỗ trợ chomục tiêu hòa bình và phát triển của cả khu vực cũng như của từng nước thành viên
1.3 Các nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN:
1.3.1 Các nguyên tắc làm nền tảng cho quan hệ giữa các quốc gia thành viên và với
bên ngoài:
Trong quan hệ với nhau, các nước ASEAN luôn tuân theo các nguyên tắc chính
đã được nêu trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á là:
Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dântộc của tất cả các dân tộc;
Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sựcan thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;
Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện;
Không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực;
Trang 7 Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả;
1.3.2 Các nguyên tắc điều phối hoạt động của Hiệp hội:
Nguyên tắc nhất trí, tức là một quyết định chỉ được coi là của ASEAN khi đượctất cả các nước thành viên nhất trí thông qua
Nguyên tắc bình đẳng
Nguyên tắc 6-X, theo đó hai hay một số nước thành viên ASEAN có thể xúc tiếnthực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nước còn lại chưa sẵn sàng tham gia,không cần phải đợi tất cả mới cùng thực hiện
1.3.3 Các nguyên tắc khác:
Trong quan hệ giữa các nước ASEAN đang dần dần hình thành một số các nguyên tắc,tuy không thành văn, không chính thức song mọi người đều hiểu và tôn trọng áp dụng như:nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền tố cáo nhau qua báo chí,giữ gìn đoàn kết ASEAN và giữ bản sắc chung của Hiệp hội
2 Quan hệ đầu tư Việt Nam – ASEANs
2.1 Tình hình FDI trên Thế giới
Bảng 1: Nguồn vốn FDI thế giới những năm qua 2
Nguồn vốn FDI trong những năm qua có nhiều biến động Trước khủng hoảng năm 2008,nguồn Đầu tư FDI tăng mạnh từ 1,48 nghìn tỷ USD lên 2,0 nghìn tỷ USD Từ thời gian kung3hoảng đến 2010 FDI mới có dấu hiệu tăng lên và đến 2011 con số này là 1,6 nghìn tỷ USD
Trang 8Tuy nhiên kinh tế 2012 không mấy khả quan cho tình hình của FDI, nguồn đầu tư nàygiảm từ 1,6 nghìn tỷ (2011) xuống còn 1,31 nghìn tỷ Theo dự báo của các chuyên gia, FDI trongthời gian tới sẽ tăng nhưng sẽ không tăng nhiều ít nhất là qua năm 2013 này.
Ngoài ra nguồn vốn FDI có sự dịch chuyển trong đầu tư Các nhà đầu tư đang có nhữnglựa chọn mới về môi trường đầu tư của mình Hiện nay có sự dịch chuyển nguồn vốn đầu tư từcác nước phát triển sang các nước đang phát triển, có khả năng tăng trường cao Cụ thể như,trước tình hình kinh tế Trung Quốc đang nóng lên trong giá nhân công tăng và đồng nội tệ tănggiá, các nhà đầu tư đã tìm sang những thị trường mới như Đông Nam Á – một thị trường đangphát triển, mạnh về nguồn lực lao động chi phí thấp; thị trường nội đại rộng lớn và các nướctrong khu vựa này có một khả năng phát triển năng động trong tình hình khó khăn chung của Thếgiới
2.2 Tình hình đầu tư của các nước ASEANs vào Việt Nam
Tổng vốn đầu tư đăng
ký (Triệu USD)
Vốn điều
lệ (Triệu USD)
là Malaysia với 444 dự án và Thái Lan là 317 dự án Ít nhất là Lào chỉ với 8 dự án
2.3 Tình hình đầu tư của Việt Nam ra các nước ASEANs
Tính chung cả vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm trong Quý I năm 2013 các doanhnghiệp Việt Nam đã đầu tư ra nước ngoài 2,65 tỷ USD
Trang 92.3.1 Tình hình ĐTRNN Quý I năm 2013
Trong quý I năm 2013 đã có 22 dự án đầu tư ra nước ngoài được cấp giấy chứng nhậnđầu tư với tổng vốn đầu tư là 720,7 triệu USD Quy mô vốn đầu tư đăng ký trung bình cho một
dự án đạt trên 32,7 triệu USD
Trong quý I năm 2013 có 5 lượt dự án tăng vốn đầu tư, với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt1,9 tỷ USD Trong đó có dự án Công ty liên doanh Rusvietpetro của Tập đoàn dầu khí Việt Namtại Liên bang nga tăng vốn đầu tư lên tới 1,4 tỷ USD và dự án thăm dò muối mỏ tại Lào củaTổng công ty hóa chất Việt Nam tăng vốn 518,9 triệu USD
Như vậy, tính chung cả vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm của các doanh nghiệpViệt Nam ra nước ngoài trong Quý I năm 2013 đạt 2,65 tỷ USD
Trong Quý I các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực khai khoáng,chiếm 72,3% vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là lĩnh vực dịch vụ lưu trú, ăn uống với 3 dự án, tổngvốn đầu tư 335 triệu USD, chiếm 12,6% tổng vốn đầu tư Lĩnh vực thông tin và truyền thôngđứng thứ ba với 237,7 triệu USD, chiếm 8,9% tổng vốn đầu tư
Trong Quý I năm 2013 các doanh nghiệp Việt Nam đã đăng ký đầu tư sang 12 quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong đó vốn đầu tư tập trung nhiều nhất tại Liên bang Nga với1,4 tỷ USD, chiếm 52,7% Tiếp theo là các quốc gia Lào (20,1%) và Myanmar (11,3%)
2.3.2 Tình hình ĐTRNN lũy kế đến Quý I năm 2013
Tính đến 20/3/2013 đã có 742 dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam với tổng vốnđầu tư đăng ký đạt 15,5 tỷ USD Các dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam tập trung phầnlớn trong lĩnh vực khai khoáng với 99 dự án, tổng vốn đầu tư 4,6 tỷ USD, (chiếm 13,3% về số dự
án và 46% tổng vốn đầu tư); tiếp theo là lĩnh vực Nông, lâm nghiệp, thủy sản với 80 dự án, tổngvốn đầu tư 1,9 tỷ USD (chiếm 10,8% số dự án và 12,6% tổng vốn đầu tư); lĩnh vực sản xuất điệnđứng thứ ba với 1,8 tỷ USD vốn đầu tư, chiếm 12,1%
Đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã đầu tư sang 59 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong
đó, Lào đứng vị trí thứ nhất với có 227 dự án, tổng vốn đầu tư trên 4,2 tỷ USD (chiếm 30,6% số
dự án và 27,1% vốn đầu tư), Campuchia đứng vị trí thứ 2 với 129 dự án, tổng vốn đầu tư đăng kýđạt 2,7 tỷ USD (chiếm 17,4% số dự án và 17,6% vốn đầu tư) Tiếp theo là Liên bang Nga (chiếm15,2% vốn đầu tư), Venezuela (11,8% vốn đầu tư) và các quốc gia khác
Riêng trong nội khối ASEAN tính đến 20/3/2013 Việt Nam đã đầu tư được 436 dự án,trong đó Lào có số dự án được đầu tư nhiều nhất là 227 dự án, số vốn trên 4 tỷ USD Sau Lào làCampuchia, được các nhà đầu tư Việt Nam quan tâm thứ 2 với 129 dự án, vốn trên 2 tỷ USD.Các nước còn lại trong khối như Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Brunei số dự an chỉ dừng ở mức
Trang 10một con số Nhìn chung hai thị trường Lào và Campuchia nhận được sự quan tâm trong đầu tưnhiều hơn hẳn.
STT
Quốc gia/
vùng lãnh thổ Số dự án
Vốn đầu tư của dự án ở nước ngoài (USD)
Vốn đầu tư của nhà đầu tư
VN (USD)
Vốn điều lệ của nhà đầu
3 Quan hệ Thương mại và đầu tư Việt Nam – ASEAN
Quan hệ buôn bán giữa Việt Nam và các nước thành viên ASEAN ngày càng phát triển.Đặc biệt khi luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam ban hành 1987 với chính sách mở cửa nềnkinh tế thị trường cả quan hệ thương mại lẫn quan hệ hợp tác và đầu tư giữa nước ta với cácnước ASEAN đang được nâng lên cao hơn
3.1 Trao đổi thương mại hàng hóa Việt Nam – ASEAN 9 tháng đầu năm 2013
Việt Nam chính thức trở thành thành viên ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông NamÁ) từ năm 1995 Từ đó đến nay, Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trên nhiều lĩnh vựcquan trọng, trong đó phải kể đến tình hình thương mại giữa Việt Nam và ASEAN ngày càng pháttriển
Trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam vẫn duy trì vị trí thứ 5 về kimngạch ngoại thương và có tốc độ tăng xuất nhập khẩu cao hơn rất nhiều so với tốc độ tăng chungcủa toàn khối Tuy nhiên, trị giá xuất nhập khẩu của Việt Nam ra thị trường thế giới lại chiếm tỷ
Trang 11trọng khá khiêm tốn (năm 2011 chiếm 8,4% toàn khối – theo số liệu cập nhật ngày 14/01/2013trên Trang thông tin điện tử của ASEAN).
Tỷ trọng kim ngạch xuất nhập khẩu ra thế giới của từng nước thành viên ASEAN trong
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của ASEAN năm 2011 5
Tổng trị giá trao đổi hàng hoá giữa Việt Nam và các nước nội khối ASEAN trong năm
2012 đạt 37,83 tỷ USD,tăng 9,7% so với năm trước và chiếm 16,6% tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu của cả nước
Trang 12Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam và
ASEAN giai đoạn 2005-2012 6
Năm 2012, trong bối cảnh sức mua trên các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản,Hàn Quốc…giảm sút đã ảnh hưởng lớn đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam Tốc độ tăngxuất khẩu sang các thị trường lớn hầu hết đều thấp hơn so với tốc độ tăng của năm trước và xuấtsang thị trường ASEAN cũng không ngoại lệ Cụ thể, xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng22,7% (năm 2011 là 45,3%), sang Nhật Bản tăng 21% (năm 2011 là 39,5%); sang Hàn Quốctăng 18% (năm 2011 là 52,5%) ; sang Hoa Kỳ tăng 16,2% (năm 2011 là 18,9%) và xuất khẩusang ASEAN tăng 25,7% (năm 2011 là 31,2%)
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang thị trường ASEAN đạt 17,08 tỷUSD, tăng 25,7% (tương ứng tăng 3,49 tỷ USD) so với một năm trước đó và chiếm 14,9% tổngkim ngạch xuất khẩu của cả nước
Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN năm qua tăng mạnh là do trị giá xuất khẩucủa một số nhóm hàng tăng cao như: máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện tăng 844 triệuUSD, điện thoại các loại & linh kiện tăng 750 triệu USD, cao su tăng 339 triệu USD, sắt thép cácloại tăng 243 triệu USD, cà phê tăng 224 triệu USD Chỉ tính riêng 5 nhóm hàng này đã đónggóp gần 2,4 tỷ USD, chiếm tới 81% trong tổng số tăng thêm của kim ngạch xuất khẩu sangASEAN năm nay Tuy nhiên, xuất khẩu gạo (mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số cácnhóm hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN) giảm mạnh, giảm 518 triệu USD
so với năm trước
Ở chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá Việt Nam nhập khẩu từ thị trường này là 20,76 tỷUSD, giảm 0,7%và chiếm tới 18,2% tổng kim ngạch nhập khẩu cả nước từ tất cả các thị trườngtrên thế giới
Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường các nước ASEAN trong năm 2012giảm nhẹ so với năm trước, chủ yếu do nhập khẩu một số nhóm hàng chủ lực suy giảm như xăngdầu giảm 379 triệu USD, linh kiện & phụ tùng xe máy giảm 373 triệu USD, sắt thép các loạigiảm 297 triệu USD, linh kiện & phụ tùng ôtô giảm 189 triệu USD, dầu mỡ động thực vật giảm
125 triệu USD Tuy nhiên, nhập khẩu máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện (nhóm hàngchiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ ASEAN) lại có mứctăng đột biến, tăng tới 77,5% (tương ứng tăng 1,1 tỷ USD) so với năm 2011
3.2 Về cán cân thương mại hàng hoá giữa Việt Nam và ASEAN
Số liệu thống kê cho thấy năm 2012 mức thâm hụt cán cân thương mại tiếp tục nghiêng
về phía Việt Nam với 3,68 tỷ USD nhưng đã giảm mạnh so với mức nhập siêu 7,33 tỷ USD củanăm 2011, bằng 21,6% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này
Trang 13Cán cân thương mại của các nước thuộc khối ASEAN với Việt Nam năm 2012 7
Trong năm 2012, Việt Nam thâm hụt thương mại với 4 thị trường và đạt mức thặng dưvới 5 thị trường trong khối Trong đó, Singapore là thị trường đứng đầu về thâm hụt thương mạicủa Việt Nam trong nội khối ASEAN, với mức thâm hụt là 4,34 tỷ USD; tiếp theo là Thái Lanvới 3,17 tỷ USD, Brunây với 593 triệu USD,…Ở chiều ngược lại, Campuchia là thị trường cóthặng dư thương mại lớn nhất với Việt Nam, đạt 2,34 tỷ USD; tiếp theo Malaixia đạt 1,08 tỷUSD,…
Xuất khẩu 8 tháng đầu
Trang 14(8 tháng đầu năm 2013) 8 Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu: Trong năm qua, Việt Nam chủ yếu xuất sang ASEAN
các nhóm hàng chủ lực như: gạo, dầu thô, sắt thép, điện thoại các loại & linh kiện, máy móc thiết
bị dụng cụ & phụ tùng, xăng dầu các loại, máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện…
Xuất khẩu tháng 8/2013
Xuất khẩutháng 8/2013
3,165,344,87
9CAMPUCHI
khẩu từ khu vực thị trường này chủ yếu là những mặt hàng thiết yếu, nguyên phụ liệu đầu vàophục vụ sản xuất trong nước như: xăng dầu; nguyên phụ liệu ngành dệt may da giày; máy vi tính,sản phẩm điện tử & linh kiện; máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng; chất dẻo nguyên liệu;…Trị giá của 4 nhóm hàng này chiếm hơn 46% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từASEAN
Nhiều nhóm hàng được nhập khẩu từ thị trường này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kimngạch nhập khẩu của Việt Nam từ tất cả các thị trường trên thế giới như: xăng dầu, dầu thô, giấycác loại, chất dẻo nguyên liệu, dầu mỡ động thực vật, gỗ & sản phẩm gỗ …
Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy ASEAN là khu vực thị trườngxuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam, đứng sau thị trường Hoa Kỳ; và là đối tác lớn thứ hai (sauTrung Quốc) cung cấp hàng hoá cho Việt Nam trong nhiều năm qua
8 Nguồn: Tổng cuc Hải quan Việt Nam
Trang 153.3 Về các đối tác trong ASEAN:
Trong năm qua, Singapore tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, nhập
khẩu của Singapore chiếm 32,56% so với cả khối ASEAN Tiếp theo là Thái Lan đạt chiếm tỷtrọng 29.98%, Malaixia chiếm tỷ trọng 15,63%, Inđônêxia tỷ trọng 9,5% Cụ thể được biểu diễnqua hai biểu đồ dưới đây
Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN tháng 8/2013
Trang 16Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ thị trường ASEAN tháng 8/2013
4 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
(Trung Quốc : nước có nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, Úc, Newzealand với nền kinh tếnăng động, nền công nghiệp phát triển, Ấn Độ: thị trường rộng lớn với dân số đứng thứ 2 thếgiới, Nhật Bản với nền khoa học kĩ thuật rất phát triển,Hàn Quốc: nền kinh tế được kì vọng lêntop dẫn đầu thế giới trong thời gian tới)
Việt Nam được mở rộng không gian hợp tác với các nước trên thế giới, hoà nhập
và cộng đồng khu vực Thông qua ASEAN chúng ta tiếp xúc, hợp tác với nhiều tổ chức trên thếgiới để làm bạn và hợp tác song phương, tạo tiếng nói trên chính trường quốc tế, không nằmngoài quy luật xu thế phát triển chung của thế giới là hợp tác đa dạng hoá, đa phương hoá, đòihỏi chính sách ngoại giao và hợp tác với bạn bè trên thế giới là tất yếu
Trang 17 Phát huy được lợi thế tương đối: Việt Nam sẽ xuất khẩu những mặt hàng sử dụngnhững yếu tố rẻ và gần như là sẵn có ở trong nước và nhập khẩu những mặt hàng có sử dụngnhững yếu tố đắt đỏ, khan hiếm.Điều đó dẫn đến sự chuyên môn hóa, khai thác được lợi thế, tiếtkiệm được nguồn lực khan hiếm, đem lại lợi ích lớn hơn cho việc xuất nhập khẩu của đất nước.
4.1.2 Học hỏi, tiếp thu và được chuyển giao khoa học kĩ thuật,công nghệ tiên tiến trên thế giới
Việt Nam có thể hợp tác kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm sản xuất và kinhdoanhxuất khẩu với các nước trong khu vực
Việc thu hút đầu tư nước ngoài sẽ làm cho chuyển giao khoa học kĩ thuật, côngnghệ dễ dàng, nhanh chóng hơn
4.1.3 Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu thương mại
Việc thành lập ACFTA cũng góp phần tạo động lực để Việt Nam chuyển đổi cơ cấuthương mại theo hướng tập trung khai thác các mặt hàng có thế mạnh xuất khẩu Khu vực mậudịch tự do sẽ giúp chuyên môn hoá hơn trong sản xuất dựa trên các lợi thế so sánh -Vì thế màthu nhập thực tế do nguồn tài nguyên được tối ưu hoá trong phân phối có thể sẽ được tăng lên.Cạnh tranh khốc liệt sẽ đòi hỏi mức độ chuyên môn hoá cao hơn, từ đó làm tăng hiệu quả chonền kinh tế
Xu hướng nâng cao tỷ trọng hàng công nghiệp, sản phẩm có công nghệ cao,đã qua chếbiến ….trong cơ cấu hàng xuất khẩu sẽ được đẩy mạnh.Thể hiện ở việc trong 8 tháng đầu năm
2013, cơ cấu hàng xuất khẩu đã đa dạng hơn, và tăng dần tỷ trọng hàng công nghệ cao : máy vitính, sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại… đã vượt mặt các mặt hàng xuất khẩu truyềnthống.Những mặt hàng này được giảm thuế quan rất nhanh chóng nên đem lại lợi nhuận, giá trịgia tăng rất cao cho sản xuất
Thị trường mà ASEAN đã có FTA như Hàn Quốc, Nhật Bản và Trung Quốc Các sảnphẩm sản xuất có tỷ lệ “nội khối” 60% được xem là sản phẩm vùng ASEAN, sẽ được hưởng các
ưu đãi khi xuất khẩu sang các thị trường khu vực ASEAN đã có FTA
4.1.4 Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và nâng cao năng lực cạnh tranh
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN + Trung Quốc, Nhật Bản, New Zealand,… được hìnhthành về cơ bản dựa trên những nguyên tắc của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), do vậy sẽtạo ra một môi trường bình đẳng cho các bên tham gia trao đổi thương mại.Việt Nam sẽ nhậnđược những ưu đãi đặc biệt trong quá trình thực hiện ACFTA,… như kéo dài thời hạn thực hiệncam kết, hỗ trợ về kỹ thuật, thực hiện chương trình thu hoạch sớm
Trang 18Ngày 3/9/2013, Diễn đàn kinnh tế thế giới WEF đã công bố báo cáo năng lực cạnh tranhtoàn cầu 2013-2014, năng lực cạnh tranh của Việt Nam đã tăng 5 bậc, đứng thứ 70/148 nướctheo 12 tiêu chí: thể chế pháp luật, cơ sở hạ tầng, giáo dục, quy mô thị trường, môi trường kinh tế
vi mô,…
4.1.5 Xây dựng các cơ sở cho các quan hệ song phương và đa phương
Yêu cầu các nước phải tìm hiểu môi trường chính trị, pháp luật của nhau, Việt Nam khităng cường mối quan tâm đối với các vấn đề chính trị, pháp luật sẽ giúp cho các hoạt động xuấtnhập khẩu Việt Nam sang Trung Quốc, Nhật Bản, Úc,…., dễ dàng, đáp ứng các yêu cầu đòi hỏi
để có những chính sách, biện pháp phù hợp, đồng thời bảo vệ lợi ích cho các doanh nghiệp xuấtnhập khẩu trong nước
Tạo mối quan hệ hợp tác tốt đẹp, lâu dài với các nước trước đây chưa có cơ hội được hợptác, tạo điều kiện hợp tác trên nhiều lĩnh vực
Hoạt động của khu vực ASEAN + Trung Quốc, Úc, Nhật Bản,…tạo điều kiện để cácnước hợp tác giải quyết các vấn đề xã hội của khu vực như: bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tàinguyên nước, rừng, ngăn chặn tình trạng gây ô nhiễm môi trường qua biên giới, tăng cường hợptác chống ma tuý, phá bỏ các đường dây buôn bán ma tuý qua biên giới, hợp tác chống buôn lậu
và gian lận thương mại, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, ngăn ngừa các dịch bệnh lây lan qua biêngiới
4.1.6 Tác động tới thu hút đầu tư của các nước ngoại khối vào Việt Nam:
Khi thâm nhập thị trường Trung Quốc,Nhật Bản đầu tư tại nước sở tại thì các nước khácthể đầu tư vào Việt Nam sau đó xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường này Hiện nay, các nhàđầu tư ở các nước ngoại khối đang có xu hướng chuyển dần đầu tư sang Việt Nam thậm chí rútvốn chuyển từ nước ngoài để đầu tư sang Việt Nam, nơi có môi trường đầu tư ít rủi ro hơn, chiphí thấp hơn…
4.1.7 Cắt giảm thuế:
Cắt giảm thuế quan và phi thuế quan sẽ làm giảm giá hàng xuất khẩu của cácnước thành viên trên thị trường của nhau, tạo chủng có lợi thế cạnh tranh hơn so với những mặthàng cùng loại nhưng không phải là thành viên của khối
Thuế giảm dẫn đến giá nguyên vật liệu nhập khẩu giảm, giảm chi phí sản xuất ,giảm giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh
4.2 Thách thức
4.2.1 Gia tăng áp lực cạnh tranh
Trang 19 Sự tương đồng trong tài nguyên, cơ cấu sản phẩm, đặc điểm lao động với cácnước trong khối cũng như với Trung Quốc,… do vậy sẽ gặp khó khăn trong việc xuất khẩu hànghoá vào thị trường thế giới, đặc biệt là các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật
Cạnh tranh gay gắt hơn: các mặt hàng xuất khẩu trong nước sẽ bị cạnh tranh gaygắt với hàng hóa Trung Quốc.Hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc sẽ tràn ngập thị trường trongnước một khi thuế nhập khẩu được dỡ bỏ.Gây khó khăn cho chính thị trường nội địa trong việcduy trì và tăng cường thị phần của mình
Khi có chương trình cắt giảm thuế quan thì nếu không tăng nhanh khả năngcạnhtranh với các doanh nghiệp trong ASEAN thì hàng hóa VN chẳng những khó xuấtkhẩu mà còn khó tiêu thụ tại thị trường nội địa
Thủ tục hải quan còn rườm rà, phức tạp làm hạn chế thương mại
Việc rà soát, điểu chỉnh chính sách quản lí các mặt hàng nhập khẩu chưa phù hợpvới tình hình thực tế, cũng như giám sát chặt chẽ hàng hóa nhập khẩu đảm bảo phù hợp với camkết quốc tế chưa thật sự linh hoạt, còn nhiều bất cập, không theo kịp thế giới
4.2.3 Làm nảy sinh nhiều vấn đề chính trị, xã hội phức tạp
Hàng lậu: với việc tăng cường hàng hóa giao dịch giữa Việt Nam và Trung Quốc ngàycàng nhiều như vậy, việc hàng lậu của Trung Quốc và các nước khác sang Việt Nam sẽ càngtrầm trọng hơn.Ví dụ khoảng hơn 70-80% cửa hàng giày dép bán các sản phẩm lậu của TrungQuốc, gây thiệt hại nặng nề cho ngành sản xuất giày dép trong nước
Tội phạm kinh tế quốc tế, rửa tiền, tội phạm công nghệ cao,….sẽ tăng
4.2.4 Khoảng cách về trình độ phát triển với các nước
Một thực tế khách quan được thừa nhận rằng Việt Nam chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
là tất yếu nhưng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam hiện còn thấp, có nguy cơ tụt hậu
xa hơn về kinh tế trong quá trình hội nhập Những khó khăn phức tạp đối với Việt Nam trong
Trang 20quá trình hội nhập đều bắt nguồn từ khoảng cách phát triển khá xa về kinh tế Mặc dù kinh tếViệt Nam những năm qua đã có sự tăng trưởng với tốc độ cao nhưng Việt Nam còn phải vượtmột khoảng cách rất dài mới đuổi kịp các nước.
Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa tận dụng triệt để các điều kiện thuận lợi màviệc thực hiện đầy đủ các cam kết theo CEPT/AFTA đã và đang tạo ra cho hàng hóa Việt Namvào thị trường ASEAN
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn thông tin, do
đó không nắm bắt được những ưu đãi của ASEAN dành cho các nước trong khu vực
Trang 21II.CÁC CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC KINH TẾ GIỮ CÁC NƯỚC ASEANs:
Để xây dựng ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do các nước trong khu vực đã thôngqua 9 chương trình hợp tác kinh tế
1 Chương trình hợp tác thương mại:
1.1 Chương trình xây dựng ASEAN thành khu mậu dịch tự do AFTA bằng thực hiện kế hoạch thu thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung - CEPT 1.2 Chương trình hợp tác hàng hóa: thành lập ngân hàng dữ liệu Asean Data Bank on Commodities ADBC, dự án nghiên cứ thị trường hàng hóa.
1.3 Hội chợ thương mại Asean: thực hiện hàng năm luân phiên các nước với sự tham gia nhiều nước trong và ngoài khu vực
Tháng 12/2012, hội chợ thương mại Ấn Độ -ASEAN, tổ chức tại New Delhi, Ấn Độ.Tháng 9/2013, hội chợ thương mại Trung Quốc -ASEAN lần thứ 10 tổ chức tại NamNinh, Trung Quốc
1.4 Chương trình tham hảo ý kiến tư nhân.
1.5 Chương trình phối hợp lập trường trong các vấn đề thương mại quốc tế có tác động đến ASEAN nhằm bảo đảm quyền lợi của các nước ASEAN trên trường quốc tế.
2 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực hải quan:
2.1 Thực hiện thống nhất phương pháp tính thuế hải quan giữa các nước ASEAN
Các nước ASEAN đã thỏa thuận hợp tác nhằm hài hòa phương pháp định giá hải quangiữa các nước thành viên và đã thống nhất áp dụng phương pháp định giá hải quan GTV củaGATT từ năm 2000, phương pháp công bằng, trung lập và phù hợp với thực tế thương mại
2.2 Thực hiện hài hoà các thủ tục hải quan.
Trang 22Để tạo thuận lợi cho thương mại trong ASEAN, cần phải đơn giản hoá và hài hoà thủ tụchải quan của các nước thành viên ASEAN đã thống nhất ưu tiên thực hiện hài hoà các thủ tụchải quan trong hai lĩnh vực:
Mẫu khai báo CEPT chung: Hàng hoá luân chuyển giữa các nước ASEAN cầnphải hoàn thành 3 loại thủ tục hải quan: chứng nhận xuất xứ, thủ tục xuất khẩu và thủ tục nhậpkhẩu Vì phần lớn các chi tiết trong các mẫu khai báo hải quan là giống nhau, do đó các nướcASEAN đã có sáng kiến đơn giản hoá thủ tục đối với các sản phẩm thuộc diện CEPT bằng cáchgộp cả 3 mẫu này thành một Mẫu chung ASEAN CEPT (Common ASEAN CEPT Form)
Thủ tục xuất và nhập khẩu chung: thủ tục nộp khai báo hàng hoá khi xuất khẩu;thủ tục nộp khai báo hàng hoá khi nhập khẩu; kiểm tra hàng hoá; cấp giấy chứng nhận xuất sứhồi tố; hoàn thuế
Việc đơn giản hoá thủ tục hải quan sẽ được tiến hành dựa trên những hướng dẫn tại Côngước Kyoto - Công ước quốc tế về thủ tục hải quan, trên các nguyên tắc: rõ ràng, thống nhất, thúcđẩy tính hiệu quả và đơn giản trong quản lý hải quan
Hải quan các nước ASEAN cũng đã thống nhất thiết lập các "hành lang xanh" (Greenlines) - cửa giải quyết thủ tục hải quan dành riêng cho các sản phẩm được nhập khẩu theoChương trình CEPT - tại hải quan cửa khẩu của từng nước thành viên Theo Malaysia việc thiếtlập Hành lang xanh giảm được thời gian hoàn thành các thủ tục hải quan trung bình từ 9 giờ 30phút xuống còn 3 giờ 45 phút
2.3 Thực hiện áp dụng một danh mục biểu thuế hài hoà thống nhất của ASEAN.
ASEAN đang xây dựng một Danh mục biểu thuế hài hoà chung ASEAN (AHTN) Danhmục biểu thuế này sẽ dựa trên phiên bản mới nhất của Hệ thống Hài hoà miêu tả và mã số hànghoá do Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) ban hành Danh mục AHTN sẽ có tối đa là 7000 dòngthuế và sẽ bắt đầu được áp dụng từ năm 2000 Việc thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan cóhiêu lực chung (CEPT) đã làm tăng thương mại trong nội bộ ASEAN :
Năm 1993 : xuất khẩu trong ASEAN là 43,26 Tỷ Đôla Mỹ
Năm 1996 : xuất khẩu trong ASEAN là 79,99 Tỷ Đôla Mỹ, tăng trung bình hàngnăm 18,8%
3 Hợp tác trong công nghiệp
Từ 1976, hợp tác phát triển công nghiệp luôn được ASEAN coi là một trong những lĩnhvực quan trọng trong hợp tác kinh tế Cho tới nay đã có 5 kế hoạch hợp tác được thực hiện nhằmtăng cường khả năng cạnh tranh của khu vực trong lĩnh vực công nghiệp
Trang 23Các Dự án Công nghiệp ASEAN (AIP) được đề ra năm 1976 nhằm xây dựng các dự áncông nghiệp có quy mô lớn có khả năng đáp ứng được những nhu cầu cơ bản và đảm bảo sửdụng có hiệu quả các nguồn lực của khu vực.
Bổ sung Công nghiệp ASEAN (AIC) Kế hoạch AIC được thiết lập năm 1981 và sau đóđược chi tiết hoá bằng chương trình BBC nhằm khuyến khích hợp tác sản xuất và trao đổi phụtùng và linh kiện ô-tô, tạo điều kiện chuyên môn hoá trong việc sản xuất các sản phẩm này trongkhu vực Đến năm 1991, các chương trình này được mở rộng đến các sản phẩm khác ngoàingành công nghiệp ô-tô
Liên doanh Công nghiệp ASEAN (AIJV) Chương trình này được thiết lập năm 1983 vớimục tiêu khuyến khích hơn nữa đầu tư nước ngoài vào khu vực cũng như đầu tư trong nội bộ khuvực, và đẩy mạnh sản xuất thông qua các hoạt động tập trung nguồn lực và phân chia thị trường.Các sản phẩm của các dự án thuộc chương trình này được ưu đãi giảm thuế quan 50% so vớimức thuế suất tối huệ quốc trong thời hạn 8 năm
Chương trình Hợp tác Công nghiệp ASEAN (AICO) Đứng trước sự phát triển nhanhchóng của công nghiệp khu vực và trong bối cảnh Chương trình CEPT để thực hiện AFTA đangtừng bước đi vào thực hiện làm cho BBC và AIJV không còn phát huy tác dụng, ngày 27/4/1996tại Singapore, các Bộ trưởng kinh tế ASEAN đã ký Hiệp định về Chương trình Hợp tác Côngnghiệp ASEAN (AICO) để thay thế cho BBC và AIJV
4 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và lương thực:
4.1 Hợp tác trong nông nghiệp
Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 4 năm 1992 tại Singapore đã ký kết Hiệp định khung vềhợp tác nông nghiệp
Các hoạt động hợp tác:
4.1.1 Hợp tác về cây trồng:
Tập trung vào kiểm dịch và phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng Các nước ASEAN đãthông qua những nguyên tắc cho việc hài hoà hoá các biện pháp kiểm dịch thực vật, đầu tiên ápdụng thử nghiệm cho 2 loại nông sản là lúa và xoài Cùng với đó, các nước đang phối hợp nghiêncứu để xây dựng tiêu chuẩn mức dư lượng thuốc trừ sâu tối đa đối với các loại rau, và đang xemxét việc xây dựng mạng lưới phòng trừ sâu bệnh toàn ASEAN (IPM)
Trang 244.1.2 Hợp tác về chăn nuôi:
Tập trung chủ yếu vào công tác kiểm dịch động vật, xuất bản "Sổ tay các nguyên tắc vàthủ tục đăng ký vắc-xin động vật", rất cần thiết cho việc phối hợp xây dựng vùng an toàn dịchbệnh động vật giữa các nước ASEAN
4.1.3 Hợp tác về đào tạo và khuyến nông:
Tổ chức các chương trình đào tạo và tập huấn nông nghiệp như Chương trình huấn luyệnIPM đối với rau quả, các cuộc trao đổi giữa những người làm công tác chính sách, giảng dạy vànông dân của các nước thành viên
4.1.4 Hợp tác khuyến khích thương mại nông, lâm sản ASEAN:
Các nước ASEAN đã nhất trí thông qua Chương trình khuyến khích thương mại nông,lâm sản ASEAN, trong đó các nước trao đổi thông tin, phối hợp chính sách thúc đẩy xuất khẩunhững mặt hàng có tầm quan trọng đối với các nước ASEAN Các nước đã chọn ra 11 mặt hàngnông sản xuất khẩu của ASEAN để tập trung phối hợp công tác xúc tiến xuất khẩu trên thịtrường thế giới Mỗi nước thành viên sẽ được chỉ định là nước chủ trì đối với một mặt hàng.Tháng 10/1997, Việt Nam đã được chấp nhận là nước chủ trì các hoạt động xúc tiến thương mại
cà phê
4.2 Hợp tác trong lâm nghiệp
Hoạt động hợp tác trong lĩnh vực này tập trung vào công tác phòng chống cháy rừng, bảo
vệ và phòng chống dịch bệnh rừng ASEAN đã thành lập Viện quản lý rừng có trụ sở tạiMalaysia nhằm phối hợp những cố gắng của các nước thành viên để bảo tồn, quản lý và pháttriển bền vững rừng
4.3 Hợp tác về thuỷ sản
Hợp tác trong lĩnh vực này được thực hiện chủ yếu thông qua Chương trình phối hợp vàphát triển nuôi trồng hải sản, bao gồm các hoạt động nghiên cứu về môi trường, đánh giá vùngven biển phục vụ nuôi trồng hải sản nước lợ, quản lý tài nguyên hải sản ở vùng hồ, đầm
4.4 Hợp tác về lương thực
Tháng 10/1979, các nước ASEAN ký Hiệp định thành lập Quỹ an ninh lương thực nhằmgiúp đỡ nhau khi xảy ra tình hình khẩn cấp Mỗi nước thành viên đóng góp vào Quỹ một lượnglương thực dựa trên sản lượng lương thực của mình Gạo là mặt hàng đầu tiên được quy địnhtrong Quỹ, theo đó các nước đóng góp như sau: Indonesia 12,000 tấn; Lào 3,000 tấn; Malaysia6,000 tấn; Myanmar 14,000 tấn; Philippines 12,000 tấn; Singapore 12,000 tấn; Thái lan 15,000tấn; và Việt Nam 14,000 tấn Hiện nay tổng số gạo dự trữ của Quỹ là 84,000 tấn Các nước
Trang 25ASEAN đang nghiên cứu để đưa tiếp thêm một số mặt hàng : đậu tương, ngô, đường vào Quỹ anninh lương thực và nâng số lượng gạo dự trữ lên khoảng 11 triệu tấn mới có ý nghĩa thực tế trongtrường hợp khẩn cấp xẩy ra.
4.5 Hợp tác về đầu tư
ASEAN duy trì vị thế là khu vực đầu tư hấp dẫn, thu hút 108,2 tỷ USD vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài (FDI) năm 2012 với các đối tác hàng đầu là EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ Đầu tưnội khối ASEAN cũng tiếp tục đà tăng trưởng, đạt mức 20 tỷ USD năm 2012, chiếm 18,5% tổngvốn FDI vào ASEAN.10
Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài của các nước ASEAN là nhằm tăng cường năng lựcchế tạo và xuất khẩu các sản phẩm mang tính cạnh tranh cao
Các nước ASEAN đã thực hiện một số sáng kiến nhằm tăng cường hợp tác trên các lĩnhvực thị trường vốn, khuyến khích và bảo hộ đầu tư nước ngoài Các nước ASEAN đã thông quaHiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ngày 15/12/1987 Cùng với việc Việt Nam gia nhậpASEAN, hiệp định này đã được sửa đổi bổ xung thành Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu
tư ASEAN
Để đảm bảo nâng cao hơn nữa tính thu hút đầu tư nước ngoài vào khu vực và để cạnhtranh với các khu vực khác trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, các nước ASEAN đã quyếtđịnh xây dựng Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA) Công việc chuẩn bị cho Hiệp định khung về Khuvực Đầu tư ASEAN đang được khẩn trương tiến hành để có thể ký kết vào tháng 9/1998 Mụcđích của Hiệp định này nhằm tăng mạnh dòng đầu tư vào ASEAN cả từ các nước trong và ngoàikhối bằng việc nâng cao tính hấp dẫn và tính cạnh tranh đầu tư
Để thực hiện nội dung của hiệp định AIA, ASEAN đề ra 3 chương trình:
Chương trình hợp tác và thuận lợi hóa
Trang 264.6.1 Đẩy mạnh hợp tác giữa các nước thành viên ASEAN trong lĩnh vực dịch vụ nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh, đa dạng hoá năng lực sản xuất, cung cấp
và phân phối dịch vụ trong nội bộ cũng như ra ngoài khu vực;
4.6.2 Xoá bỏ đáng kể các hàng rào hạn chế thương mại dịch vụ giữa các nước thành viên;
4.6.3 Thực hiện tự do hoá thương mại dịch vụ bằng cách mở rộng và thực hiện sâu sắc hơn những cam kết mà các nước đã đưa ra tại WTO ví mục đích thực hiện khu vực mậu dịch tự do đối với dịch vụ.
Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 5 tháng 12/1995 tại Bangkok, Thái lan đã quyếtđịnh chọn 7 lĩnh vực dịch vụ quan trọng là tài chính, vô tuyến viễn thông, vận tải hàng hải, vậntải hàng không, du lịch, dịch vụ kinh doanh và dịch vụ xây dựng để thực hiện bước đầu tự do hoáthương mại dịch vụ Các cuộc đàm phán đã được bắt đầu từ 1/1/1996 và tháng 10/1997 đã kýđược Nghị định thư thực hiện cam kết đợt đầu về dịch vụ gồm các lĩnh vực : Bưu chính viễnthông và du lịch
Đến năm 2010, trong lĩnh vực thương mại dịch vụ, 9/10 nước Asean đã hoàn thành camkết gói dịch vụ theo Hiệp định khung về Thương mại dịch vụ ASEAN
4.7 Hợp tác trong lĩnh vực khoáng sản và năng lượng
Việc ký kết Hiệp định Hợp tác Năng lượng năm 1986, được sửa đổi bổ xung năm 1995
đã mở rộng phạm vi hợp tác đến các công việc lập kế hoạch phát triển, đào tạo nhân lực, trao đổithông tin và khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân trong các lĩnh vực sau đây:
Điều tra, khảo sát, lập kế hoạch và phát triển nguồn năng lượng;
Chính sách và kế hoạch năng lượng;
Nghiên cứu và chuyển giao công nghệ;
Sử dụng có hiệu quả và bảo tồn nguồn năng lượng;
Kế hoạch cung cấp và đa dạng hoá năng lượng;
Trang 27 Công nghệ chuyển tải và phân phối năng lượng;
Tiêu chuẩn hoá các thiết bị và cơ sở năng lượng;
An toàn trong quá trình khai thác, sản xuất, chuyển tải và phân phối năng lượng;
an ninh năng lượng;
Năng lượng và môi trường xây dựng một môi trường thuận lợi cho thương mại vàđầu tư trong ngành năng lượng
4.8 Hợp tác trong lĩnh vực tài chính ngân hàng:
Chương trình hợp tác nổi bật nhất là Thoả thuận Trao đổi (Swap Arrangement) giữa cácngân hàng trung ương và các cơ quan tiền tệ của ASEAN được ký kết tại Hội nghị Thượng đỉnhlần thứ hai (8/1977) nhằm cung cấp kịp thời các khoản tín dụng ngắn hạn cho các nước thànhviên đang gặp khó khăn trong thanh toán quốc tế Thoả thuận này hết hạn năm 1992 và được giahạn thêm 5 năm cho đến 5/8/1997 Các nước ASEAN đã nhất trí tiếp tục theo dõi các vấn đề tàichính quốc tế có thể có ảnh hưởng đến ASEAN để kịp thời có biện pháp xử lý
Các ngân hàng thương mại tư nhân ASEAN cũng hợp tác với nhau khá chặt chẽ thôngqua Hiệp hội ngân hàng ASEAN và Công ty Tài chính ASEAN (AFC) để tài trợ cho các giaodịch thương mại và dự án liên doanh Hiện nay ASEAN đang nghiên cứu việc hình thành mộtthoả thuận thích hợp để tạo điều kiện cho việc tư vấn giữa các ngân hàng thương mại ASEAN(ASEAN EXIM Banks) để thúc đẩy các hoạt động thương mại và đầu tư
4.9 Các chương trình hợp tác khác:
Tại hội nghị cấp cao ASEAN diễn ra tại Vientiane (Lào) cuối tháng 11/2004 thỏa thuận
để tiến tới thành lập một thị trường chung ASEAN vào 2020, các nước ASEAN đã kí một thỏathuận nhằm tiến tới xóa bỏ thuế nhập khẩu ở 11 nhóm ngành hàng, trong đó có xe hơi, hàng dệtmay, hàng điện tử
Trang 28III CHƯƠNG TRÌNH THUẾ QUAN ƯU ĐÃI CÓ HIỆU LỰC CHUNG (CEPT)
Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã đặt ra những thách thức to lớn đối vớiASEAN trong việc nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá ASEAN trên thị trường quốc tế và tínhhấp dẫn đối với đầu tư nước ngoài Chính vì vậy tại Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ tư tạiXingapo, ngày 28-1-1992, nguyên thủ các nước ASEAN đã có một quyến định quan trọng nhằmnâng cao hơn nữa mức độ hợp tác trong lĩnh vực thương mại, đó là thành lập Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA) thông qua việc ký kết Hiệp định về chưng trình ưu đãi thuế quan có hiệulực chung (CEPT)
CEPT có nghĩa là thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung, và là mức thuế có hiệu lực, đượcthỏa thuận ưu đãi cho ASEAN, được các nước ASEAN ký kết năm 1992 và được áp dụng cho tất
cả hàng hóa có xuất xứ từ các quốc gia thành viên ASEAN Tất cả các sản phẩm nông sản chếbiến được đưa vào Chương trình cắt giảm thuế quan theo quy định của Hiệp định AFTA Đối vớinhững sản phẩm thuộc diện PTA (thỏa thuận thương mại ưu đãi ASEAN) sẽ được áp dụngchương trình cắt giảm thuế quan có xem xét tới thuế quan sau khi đã áp dụng mức ưu đãi thuếquan thấp nhất (MOP) kể từ ngày 31-12-1992
Xét đến mục đích thiết lập, CEPT là một thoả thuận chung giữa các nước thành viênASEAN về giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn từ 0-5%, đồng thời loại bỏ tất cả cáchạn chế về định lượng và các hàng rào phi quan thuế trong vòng 10 năm, bắt đầu từ 1/1/1993.Tuy nhiên vấn đề giảm thuế quan xuống còn 0-5% còn tùy thuộc theo từng thời điểm đối với cácnước cũ và các nước mới, nhưng thời hạn tối đa để cắt giảm thuế quan là trong vòng 10 năm, tức
là đã hoàn thành vào năm 2003 Đồng thời tiến hành việc giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN
là vấn đề loại bỏ hàng rào phi quan thuế (NTB): hạn ngạch, cấp giấy phép, kiểm soát hành chính
và hàng rào kỹ thuật : kiểm dịch, vệ sinh dịch tễ Cùng với việc tiến hành việc hài hoà các thủ tụcHải quan
1 Nội dung của chương trình:
1.1 Danh mục cắt giảm ngay (IL):
Gồm các sản phẩm mà các nước thành viên đã sẵn sàng cắt giảm thuế Việc cắt giảm thuếcủa các sản phẩm thuộc Danh mục này được chia thành hai lộ trình: lộ trình cắt giảm bìnhthường và lộ trình cắt giảm nhanh
1.1.1 Lộ trình cắt giảm bình thường:
Trang 29Theo Hiệp định được ký kết, việc cắt giảm thuế xuống 0-5% sẽ được thực hiện trongvòng 15 năm, tức là từ ngày l-l-1993 đến ngày l-l- 2008 Tuy nhiên, trong quá trình thực hiệnAFTA, các nước ASEAN đã quyết định đẩy nhanh mốc thời gian này Tại Hội nghị Thượng đỉnhASEAN lần thứ 6 tháng 12/l998, các nguyên thủ đã nhất trí đẩy mốc thời gian hoàn thành việccắt giảm thuế xuống 0-5 % là tới ngày l- 1-2002 đối với ASEAN - 6 Ðối với các nước thànhviên mới gia nhập ASEAN, thời hạn này chậm hơn, tới ngày l- 1-2006 cho Việt Nam, ngày l-l-
2008 cho Lào, Mianma và ngày l-l-2010 cho Campuchia
1.2 Danh mục loại trừ tạm thời (TEL):
Là danh mục gồm các sản phẩm mà các nước chưa sẵn sàng cắt giảm thuế ngay Theoquyết định của Hội nghị Bộ trưởng AEM – 26 từ ngày 22 đến ngày 23-9-1994, danh mục này sẽđược chuyển dần sang Danh mục cắt giảm ngay trong vòng năm năm, kể từ ngày l-l-1996 đếnngày l-l-2000 đối với ASEAN - 6
1.3 Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL):
Là danh mục các sản phẩm sẽ không được đưa vào tham gia AFTA vì lý do bảo vệ anninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người và động thựcvật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ học
1.4 Danh mục nhạy cảm (SEL):
Hiệp định CEPT khi được ký kết không bao gồm các sản phẩm nông nghiệp chưa chếbiến trong phạm vi của nó Tuy nhiên, xuất phát từ nhận thức về vai trò của hàng nông sản chưachế biến đối với phần lớn các nước ASEAN, cũng như về số lượng các nhóm mặt hàng lớn, thuếquan nhập khẩu cao được các nước áp dụng đối với những mặt hàng này, tại Hội nghị AEM - 26tháng 9 năm 1994, các Bộ trưởng Kinh tế đã quyết định đưa nông sản chưa chế biến vào phạm vicủa Hiệp định CEPT để thực hiện AFTA Theo quyết định tại Hội nghị này, các sản phẩm nôngsản chưa chế biến được phân loại thành ba danh mục: Danh mục cắt giảm ngay, Danh mục loạitrừ tạm thời và Danh mục nhạy cảm
Trang 302 Điều kiện để được hưởng thuế Nhập khẩu ưu đãi theo chương trình CEPT
Muốn hưởng nhượng bộ về thuyêt quan khi xuất khẩu hàng hóa trong khối, sản phẩm cần
có những điều kiện sau:
2.1 Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuế của cả nước nhập khẩu và cả nước xuất khẩu, và phải có mức thuế quan (nhập khẩu) bằng hoạc thấp hơn 20%.
2.2 Sản phẩm đó phải có chương trình cắt giảm thuyết được Hội đồng AFTA thông qua.
2.3 Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN tức là phải thỏa mãn yêu cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ít nhất là 40%.
Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào nhập khẩu từ các mức từ khôngphải thành viên ASEAN là giá CIF tại thời điểm nhập khẩu Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, sảnphẩm là đầu vào không xác định được xuất xứ xuất khẩu là giá xác định ban đầu trước khi đưavào chế biến trên lãnh thổ của nước xuất khẩu, là thành viên của ASEAN
2.4 Hàng hóa phải được vận chuyển thảng tới nước xuất khẩu, tức là đáp ứng 1 trong 3 trường hợp:
2.4.1 Hàng hóa được vận tải thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu không
đi qua lãnh thổ của một nước thứ ba.
2.4.2 Hàng hóa quá cảnh qua các nước thành viên ASEAN.
2.4.3 Hàng hóa quá cảnh qua các nước láng giềng của ASEAN do yêu cầu vận tải hoặc bảo quản hàng hóa thuận lợi.
Nếu sản phẩm thõa mãn các yêu cầu trên trừ việc có mức thuế quan nhập khẩu bằng hoạcthấp hơn 20% thì sản phẩm đó chỉ được hưởng thuế suất CEPT cao hơn 20% trước đó hoặc thuếsuất MFN tùy thuộc vào thuế suất nào thấp hơn
Để xác định sản phẩm có đủ điều kiện hưởng ưu đãi thuế quan theo chương trình CEPThay không, mỗi nước thành viên hàng năm xuất bản tài liệu trao đổi ưu đãi CEPT của nướcmình, trong đó thuế của các sản phẩm có mức thuế quan theo CEPT và các sản phẩm đủ điềnkiện hưởng ưu đãi thuế quan của các nước thành viên khác
Trang 313 Các danh mục hàng hóa chương trình CEPT áp dụng tại Việt Nam: 11
3.1 Danh mục loại trừ hoàn toàn:
Gồm 213 nhóm mặt hàng, chiếm 6,2% biểu thuế nhập khẩu Danh mục này được xâydựng phù hợp với Ðiều 9 của Hiệp định CEPT về loại từ chung, gồm các mặt hàng có ảnh hưởngđến an ninh quốc gia, cuộc sống và sức khoẻ của con người và động, thực vật, ảnh hưởng đếncác giá trị lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ và cả một số mặt hàng mà hiện Việt Nam đang nhập khẩunhiều từ các nước ASEAN mà không có khả năng xuất khẩu và đang có thuế suất cao trong biểuthuế
3.2 Danh mục loại trừ tạm thời:
Gồm l.345 nhóm mặt hàng, chiếm 39,2% nhóm mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu, vàchủ yếu gồm các mặt hàng có thuế suất trên 20% và một số mặt hàng tuy có thuế suất cao hơn20% nhưng trước mắt cần thiết phải bảo hộ bằng thuế nhập khẩu, hoặc các mặt hàng đang được
áp dụng các biện pháp phi thuế quan
3.3 Danh mục cắt giảm ngay:
Gồm 1.633 nhóm mặt hàng, chiếm 53% tổng số nhóm mặt hàng trong biểu thuế nhậpkhẩu Danh mục này chủ yếu bao gồm các mặt hàng hiện đang có thuế suất dưới 20%, tức là cácmặt hàng thuộc diện có thể áp dụng ưu đãi ngay theo Hiệp định CEPT Do đó việc xuất khẩu cácmặt hàng này của Việt Nam sẽ được hưởng ngay lập tức các thuế suất ưu đãi CEPT của các nướcASEAN khác, góp phần khuyến khích phát triển các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu của ViệtNam Ngoài ra Danh mục cắt giảm thuế quan cũng bao gồm một số mặt hàng hiện có thuế suấtcao nhưng Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu
3.4 Danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm:
Gồm 23 mặt hàng, chủ yếu là các mặt hàng nông sản chưa chế biến có yêu cầu bảo hộcao như: các loại thịt, trứng gia cầm động vật sống, thóc, gạo lức, đường mía, v.v Các mặt hàngnày hiện đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, quản lý của Bộ chuyênngành,