1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về TPP hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên thái bình dương

105 154 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 854,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cũng đang gặp khó khăn trong việc đàm phán với Hoa Kỳ về vấn đề tiếp cậnthị trường sữa của nước này.Phiên đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP lần thứ 17 đã diễn ra t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

BÀI THUYẾT TRÌNH MÔN HỌC: Quan Hệ Kinh Tế Quốc Tế

ĐỀ TÀI: Tìm hiểu về TPP-Hiệp Định đối tác kinh tế chiến lược xuyên

Trang 2

MỤC LỤC

I GIỚI THIỆU VỀ TPP: 7

I.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH: 7

I.2 DIỄN TIẾN SƠ LƯỢC: 8

I.3 MỤC TIÊU: 10

I.4 PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH: 11

I.5 CÁC VÒNG ĐÀM PHÁN: 12

I.5.1 SƠ LƯỢC CÁC VÒNG ĐÀM PHÁN: 12

I.5.2 MỘT SỐ ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý QUA CÁC VÒNG ĐÀM PHÁN: 14

II MỘT SỐ NỘI DUNG ĐÀM PHÁN CHỦ YẾU: 23

II.1 ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DỆT MAY 23

II.2 ĐỐI VỚI SẢN PHẨM DA GIÀY 25

II.3 LAO ĐỘNG 26

II.3.1 Về tiêu chuẩn lao động tối thiểu 27

II.3.2 Các biện pháp xử lý đối với hàng hóa xuất khẩu mà việc sản xuất vi phạm các tiêu chuẩn lao động 28

II.3.3 Nghiệp đoàn lao động 29

II.4 DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC- SOE 30

II.5 SỞ HỮU TRÍ TUỆ – IP 31

III TÌNH HÌNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC HIỆN ĐANG ĐÀM PHÁN TPP: 35

III.1 TÌNH HÌNH CHUNG: 36

i Bảng 1: Giá trị nhập khẩu từ các nước đang đàm phán TPP vào Việt Nam từ năm 2011 36

ii Bảng2: Giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến các nước đang đàm phán TPP từ năm 2011 37

iii Bảng 3: Giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đến các nước TPP từ năm 2011 38

Trang 3

iv Bảng 4: Giá trị xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam đến các nước đang đàm

phán TPP từ năm 2011 40

III.2 CÁC MỐI QUAN HỆ SONG PHƯƠNG: 41

III.2.1 QUAN HỆ VIỆT NAM-HOA KÌ 41

Biểu đồ 1: kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-Singapore từ 2007-2012 42

v Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu từ Việt Nam sang Hoa Kì 2012.43 III.2.2 QUAN HỆ VIỆT NAM -NHẬT BẢN 44

III.2.1 QUAN HỆ VIỆT NAM-SINGAPORE 44

Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- Singapore giai đoạn 2006-202 .45

vi Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu sang Singaporegiai đoạn 2009 – 2012 46

Biểu đồ 3: Cơ cấu một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang Singapore trong năm 2012 48

vii Bảng 7:Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu từ Singapore giai đoạn 2009- 2012 49

Biểu đồ 4: Cơ cấu nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu từ Singapore trong năm 2012 50

III.2.2 QUAN HỆ VIỆT NAM-MAYLAYSIA 50

Biểu đồ 5: kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam- Malaysia từ 2006-2012 51

viii Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chính sang Malaysia từ năm 2009-2012 52

III.2.1 QUAN HỆVIỆT NAM – BRUNEI 54

ix Bảng 9: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Brunei từ năm 2008 54

x Bảng 10: các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang brunei năm 2012 55

xi BảNG 11: các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Brunei năm 2012 56

III.2.2 QUAN HỆ VIỆT NAM – PERU 56

xii Bảng 12: Kim ngạch thương mại của Việt Nam và Peru giai đoạn 2004-201256 xiii Bảng 13: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Peru năm 2012 .58 xiv Bảng 14: Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Pêru năm 2012 59

Trang 4

III.2.3 QUANHỆVIỆT NAM-CHILE: 59

xv Bảng 15: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam vàChile 59

xvi Bảng 16: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Chi-lê năm 201260 xvii Bảng 17: Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Chi-lê năm 2012 60

III.2.4 QUANHỆ VIỆT NAM-NEW ZEALAND: 61

xviii Bảng 18: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và NewZealand từ năm 2011 62 xix Bảng 19: Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang New Zealand năm 2012 62 xx Bảng 20: Các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ New Zealandnăm 2012 .63 IV CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM GIA NHẬP TPP: 64

IV.1 CƠ HỘI : 65

IV.1.1 CÚ HÍCH CHO NỀN KINH TẾ: 65

IV.1.2 CƠ HỘI CHO XUẤT KHẨU: 65

IV.1.2.1 Cơ hội mở rộng thị trường: 66

xxi Bảng 21: các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2012 67

IV.1.2.2 Cơ hội đối với các ngành hàng xuất khẩu chủ lực: 68

xxii Bảng 22: các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2013 68 IV.1.2.3 Thu hút nhiều hơn FDI từ các nước đối tác TPP: 71

xxiii Bảng 23: 10 nhà đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Việt Nam năm 2012 71

IV.1.3 CƠ HỘI TĂNG THU NHẬP: 72

xxiv Bảng 24: mức tăng thu nhập năm 2012 73

IV.1.4 CÁC LỢI ÍCH KHÁC: 74

IV.1.4.1 Lợi ích thuế quan (đối với thương mại hàng hóa): 74

IV.1.4.2 Lợi ích tiếp cận thị trường (đối với thương mại dịch vụ và đầu tư) 77

IV.1.4.3 Các lợi ích khai thác được từ thị trường trong nước 77

IV.2 THÁCH THỨC: 79

IV.2.1 THÁCH THỨC VỚI THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA: 79

IV.2.1.1 Giảm thuế quan đối với hàng hóa từ các nước đối tác TPP 79

Trang 5

IV.2.1.2 Hàng nhập khẩu từ các nước TPP vào Việt Nam gia tăng mạnh, với giá cả cạnh

tranh hơn 80

IV.2.1.3 Việc mở cửa các thị trường dịch vụ 80

IV.2.1.4 Việc thực thi các yêu cầu cao liên quan đến việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 83 IV.2.1.5 Việc mở cửa thị trường mua sắm công 84

IV.2.2 THÁCH THỨC ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGOÀI (CÁC NƯỚC TPP).85 IV.2.2.1 Các yêu cầu/tiêu chuẩn cao về môi trường và lao động: 86

IV.2.2.2 Các thủ tục ràng buộc về ban hành và thực thi các quy định về TBT, SPS, phòng vệ thương mại… 87

IV.2.2.3 Thách thức với xuất khẩu 88

V PHỤ LỤC 1: 89

VI TÀI LIỆU THAM KHẢO: 108

Phụ lục mục lục: Mục lục phần bảng: i Bảng 1: Giá trị nhập khẩu từ các nước đang đàm phán TPP vào Việt Nam từ năm 2011 36

ii Bảng 2: Giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến các nước đang đàm phán TPP từ năm 2011

………37

iii Bảng 3: Giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đến các nước TPP từ năm 2011 38

iv Bảng 4: Giá trị xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam đến các nước đang đàm phán TPP từ năm 2011 40

v Bảng 5: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu từ Việt Nam sang Hoa Kì 2012 43

vi Bảng 6: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu sang Singaporegiai đoạn 2009 – 2012 ……… 46

Trang 6

vii Bảng 7:Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu từ Singapore giai đoạn 2009- 2012.

………49

viii Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chính sang Malaysia từ năm 2009-2012 .52 ix Bảng 9: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với Brunei từ năm 2008 54

x Bảng 10: các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang brunei năm 2012 55

xi BảNG 11: các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Brunei năm 2012 56

xii Bảng 12: Kim ngạch thương mại của Việt Nam và Peru giai đoạn 2004-2012 56

xiii Bảng 13: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Peru năm 2012 58

xiv Bảng 14: Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Pêru năm 2012 59

xv Bảng 15: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam vàChile 59

xvi Bảng 16: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Chi-lê năm 2012 60

xvii Bảng 17: Các mặt hàng nhập khẩu chính của Việt Nam từ Chi-lê năm 2012 60

xviii Bảng 18: Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và NewZealand từ năm 2011 62

xix Bảng 19: Các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang New Zealand năm 2012 62

xx Bảng 20: Các mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ New Zealandnăm 2012 63

xxi Bảng 21: các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam năm 2012 67

xxii Bảng 22: các sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 9 tháng đầu năm 2013 68

xxiii Bảng 23: 10 nhà đầu tư nước ngoài nhiều nhất vào Việt Nam năm 2012 71

xxiv Bảng 24: mức tăng thu nhập năm 2012 73

Mục lục phần biểu đồ: Biểu đồ 1: kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-Singapore từ 2007-2012 42

Biểu đồ 2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- Singapore giai đoạn 2006-202 45

Biểu đồ 3: Cơ cấu một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang Singapore trong năm 2012 48

Biểu đồ 4: Cơ cấu nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu từ Singapore trong năm 2012 50

Biểu đồ 5: kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam- Malaysia từ 2006-2012 51

Trang 7

Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương

Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement

I GIỚI THIỆU VỀ TPP:

I.1.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH:

Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương(Trans-PacificStrategic Economic Partnership Agreement - viết tắt TPP) là một hiệp định thươngmại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại

tự do chung cho các nước trong khu vực châu Á Thái Bình Dương

Trước đây, TPP được biết đến với tên tiếng Anh là Pacific Three CloserEconomic Partnership (P3-CEP) và được tổng thống Chile, thủ tướng Singapore

và thủ tướng New Zealand đưa ra thảo luận tại một cuộc họp các nhà lãnh đạo củaAPEC diễn ra tại Los Cabos, Mexico Brunei nhanh chóng tham gia đàm phán ởvòng 5 vào tháng 04 năm 2005 Sau vòng đàm phán này, hiệp định lấy tên làPacific-4 (P4)

Trang 8

Các nhà lãnh đ o c a các n ạo của các nước thành viên và các nước đang đàm ủa các nước thành viên và các nước đang đàm ước thành viên và các nước đang đàm c thành viên và các n ước thành viên và các nước đang đàm c đang đàm phán g p nhau t i m t h i ngh th ặp nhau tại một hội nghị thượng đỉnh của TPP vào năm 2010 ạo của các nước thành viên và các nước đang đàm ột hội nghị thượng đỉnh của TPP vào năm 2010 ột hội nghị thượng đỉnh của TPP vào năm 2010 ị thượng đỉnh của TPP vào năm 2010 ượng đỉnh của TPP vào năm 2010 ng đ nh c a TPP vào năm 2010 ỉnh của TPP vào năm 2010 ủa các nước thành viên và các nước đang đàm

Lo i hi p ạo của các nước thành viên và các nước đang đàm ệp ước ước thành viên và các nước đang đàm c Hiệp định thương mại tự do

Ngày th o ảo 3 tháng 6 năm 2005

Ngày ký

Đ a đi m ị thượng đỉnh của TPP vào năm 2010 ểm

18 tháng 7 năm 2005Wellington, New Zealand

Có hi u l c ệp ước ực

Đi u ki n ều kiện ệp ước

28 tháng 5 năm 2006 (New Zealand and Singapore); 12 tháng 7 năm 2006 (Brunei); 8 tháng 11 năm 2006 (Chile)

2 phê chuẩn

Bên tham dực 4 nước sáng lập (Brunei, Chile, Singapore

and New Zealand)

N i l u gi ơi lưu giữ ư ữ Chính phủ New Zealand

Các ngôn ngữ Tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha

I.2.DIỄN TIẾN SƠ LƯỢC:

Lần đầu tiên, 4 nước Singapore, Chile, Newzealand, Brunei ký Hiệp địnhnày vào ngày 3/6/2005 và TPP có hiệu lực ngày 28/5/2006

Tháng 9/2008, Hoa Kỳ tỏ ý định muốn tham gia đàm phán TPP, sau đótháng 11/2008 các nước Australia, Peru cũng tuyên bố tham gia, tiếp đến làCanada tham gia vào tháng 10/2012 và mới đây nhất, Nhật Bản tham gia đàm phánvào tháng 3/2013

Trang 9

Việt Nam đã tuyên bố tham gia TPP với tư cách là thành viên đầy đủ từngày 13/11/2010.

Như vậy, đến thời điểm này, TPP gồm 12 nước thành viên: Australia,Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, Newzealand, Peru,Singapore, Hoa Kỳ và Việt Nam

Với sự tham gia của các nền kinh tế lớn trên thế giới (như Hoa Kỳ, NhậtBản, Australia ), TPP trở thành khu vực kinh tế hơn 790 triệu dân, đóng góp40% GDP và chiếm 1/3 thương mại toàn cầu

Hiện 12 nước thành viên TPP đang tiếp tục bàn thảo nhằm đạt sự thống nhấtrộng rãi vào tháng 10 và sẽ ký Hiệp định vào cuối năm nay

  Các nước thành viên hiện tại

  Các nước đang Đang đàm phán

Qu c gia ốc gia Tr ng thái ạo của các nước thành viên và các nước đang đàm Ngày Australia Đang đàm phán tháng 11 năm 2008

Trang 10

Brunei Sáng lập tháng 6 năm 2005

Malaysia Đang đàm phán tháng 10 năm 2010

United States Đang đàm phán tháng 2 năm 2008

I.3.MỤC TIÊU:

 Cắt giảm thuế quan theo lộ trình từ 2006 đến 2015

 Thông qua các vấn đề thương mại phi thuế quan như xuất xứ hàng hóa, cácbiện pháp phòng vệ thương mại, các biện pháp vệ sinh dịch tễ, hàng rào kỹthuật đối với thương mại, sở hữu trí tuệ, mua sắm công, chính sách cạnhtranh

 Thông qua các vấn đề phi thương mại như hợp tác trong lĩnh vực môitrường, lao động

Hội nhập các nền kinh tế thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương thông quaviệc giảm 90% các loại thuế xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên trước ngày

01 tháng 01, 2006 và cắt giảm bằng không tới năm 2015 Đây là một thỏa thuận

Trang 11

toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh chính của một hiệp định thương mại tự do,bao gồm trao đổi hàng hóa, các quy định về xuất xứ, can thiệp, rào cản kỹ thuật,trao đổi dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ, các chính sách của chính quyền

I.3.PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH:

So với các hiệp định BTA, AFTA và trong WTO, TPP mở rộng hơn cả vềthương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ Ngoài ra cònbao gồm các vấn đề phi thương mại như mua sắm chính phủ, môi trường, lao động,công đoàn, hỗ trợ cho các DN vừa và nhỏ

 Thuế quan: tiến hành cắt giảm hầu hết các loại thuế (giảm 90% các loại thuếxuất nhập khẩu giữa các nước thành viên trước ngày 1-1-2006 và cắt giảmbằng không tới năm 2015)

 Các vấn đề về vệ sinh dịch tễ (SPS) và hàng rào kỹ thuật trong thương mại(TBT): liên quan đến quan ngại của Hoa Kỳ về vấn đề thịt bò (nguy cơ bòđiên) và các quy định hạn chế nhập khẩu thịt gà, thịt lợn và một số loại tráicây

 Lao động và môi trường : Cải thiện tình trạng môi trường và lao động ở cácnước thông qua việc thiết lập, thực thi tốt các quy định liên quan, đặc biệt làcác vấn đề về quyền lập hội (nghiệp đoàn), quyền tập hợp và đàm phánchung của người lao động, quy định cấm sử dụng mọi hình thức lao độngcưỡng bức, quy định cấm khai thác lao động trẻ em, quy định không phânbiệt đối xử trong lực lượng lao động.; không sử dụng các quy định về laođộng và môi trường để hạn chế bất hợp lý thương mại và đầu tư

Trang 12

 Giải quyết tranh chấp: Chủ yếu xoay quanh vấn đề nhà đầu tư nước ngoàicó thể kiện Chính phủ nước nhận đầu tư ra một thiết chế trọng tài thươngmại quốc tế không.

 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và mua sắm công: tăng mức độ bảo hộ cácquyền sở hữu trí tuệ cao hơn so với mức đã kí kết trong WTO

I.4.CÁC VÒNG ĐÀM PHÁN:

I.4.1 SƠ LƯỢC CÁC VÒNG ĐÀM PHÁN:

Trong suốt 3 năm, từ năm 2010 tính đến ngày 30/8/2013, TPP đã trải qua 19vòng đám phán, từng vòng đàm phán từng bước hoàn thiện những mục tiêu mà cácbên đưa ra:

Australia, Hoa Kỳ, New Zealand, Chile, Singapore, Brunei, Peru và Vi t Nam ệp ước

Vòng 2 14-18 tháng

6/2010

SanFrancisco,Hoa Kỳ

V i s tham gia c a 9 n ớc thành viên và các nước đang đàm ực ủa các nước thành viên và các nước đang đàm ước thành viên và các nước đang đàm c

Australia, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Vi t Nam ệp ước Vòng 5 14-18 tháng Santiago, 9 n ước thành viên và các nước đang đàm ừ vòng 4 c t vòng 4

Trang 13

9 n ước thành viên và các nước đang đàm c

9 n ước thành viên và các nước đang đàm c

Vòng 14 6-15 Tháng

9/2012

Leesburg,Virginia,Hoa Kỳ

9 n ước thành viên và các nước đang đàm c

Vòng 15 3-12 tháng

12/ 2012

Auckland,New Zealand

Có thêm s tham gia c a ực ủa các nước thành viên và các nước đang đàm

Mexico và Canada Vòng 16 4-13 tháng

3/ 2013 Singapore 11 n ước thành viên và các nước đang đàm c

Vòng 17 15-24 tháng

5/2013 Lima, Peru

Ngày 23/7/2013, Nh t B n đã ật Bản đã ảo chính tr thành thành viên th ở thành thành viên thứ ứ

12 tham gia đàm phán Vòng 18 15-24 Kota 12 n ước thành viên và các nước đang đàm c

Trang 14

12 n ước thành viên và các nước đang đàm c

I.4.2 MỘT SỐ ĐIỂM ĐÁNG CHÚ Ý QUA CÁC VÒNG ĐÀM PHÁN:

Vòng đàm phán chính thức thứ nhất của TPP được tổ chức tại Melbournevào ngày 15-19 tháng 3 năm 2010, với sự tham gia của hơn 200 quan chức củaAustralia, Hoa Kỳ, New Zealand, Chile, Singapore, Brunei, Peru và Việt Nam

Các nhà đàm phán TPP trao đổi quan điểm về hàng loạt các vấn đề: dịch vụ,thương mại điện tử và công nghệ xanh Các bên tập trung vào việc làm sao để côngviệc kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu vực trở nên nhanh chóng, thuậntiện và tạo ra các sản phẩm giá rẻ hơn, và làm thế nào để hiệp định này sẽ thúc đẩy

sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào thương mại Kết quả đạt được từvòng đàm phán này đã đem lại cho TPP một khởi đầu mạnh mẽ

Trang 15

 Thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp nhỏ.

 Các vấn đề liên quan đến giảm thủ tục hải quan

 Thúc đẩy tính thống nhất pháp lý, bao gồm thông qua khuyếnkhích hợp tác giữa các cơ quan quản lý

 Tập trung vào tính minh bạch trong quản lý và điều hành

Ngoài ra, lần này cũng đạt được các tiến triển về hàng loạt các vấn đề truyềnthống của FTA bao gồm hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, mua sắm chính phủ, sở hữu trítuệ, các rào cản kỹ thuật đối với thương mại, chính sách cạnh tranh, các vấn đềpháp lý và xây dựng năng lực Các cuộc thảo luận cũng tập trung vào loại điềukhoản nào quy định về thương mại và lao động, thương mại và môi trường phùhợp với TPP

Vòng 3 được tổ chức tại Brunei từ ngày 4 đến ngày 9 tháng 10 năm 2010 với

sự tham gia của một thành viên mới, Malaysia

Vòng này tiếp tục thảo luận về các vấn đề như hàng hóa công nghiệp, nôngnhiệp, các tiêu chuẩn, dịch vụ, đầu tư , dịch vụ ngân hàng, sở hữu trí tuệ, mua sắmchính phủ, cạnh tranh, lao động và môi trường và thông qua các quy tắc xuất xứkhu vực

Các nước TPP cũng tiếp tục đàm phán về các cam kết nền, bao gồm:

 Tăng kết nối thông qua tạo cơ hội tối đa hiệu quả của chuỗicung ứng trong khu vực

 Tăng tính thống nhất về pháp lý trong khu vực

 Tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tận dụngđược TPP

Trang 16

 Hỗ trợ phát triển.

Vòng này được tổ chức tại Auckland từ ngày 6-10 tháng 12/2010, với sựtham gia của 9 nước (Australia, Brunei, Chile, Malaysia, New Zealand, Peru,Singapore, Mỹ và Việt Nam), tiếp tục đạt được tiến bộ về tất cả các vấn đề đàmphán Bên cạnh đó, các đối tác TPP cũng đạt được tiến bộ về các cam kết nền vềcác vấn đề của thế kỷ 21 như:

 Thúc đây hội nhập khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chẳnghạn như thông qua xem xét làm thế nào để TPP có thể hỗ trợ vàtăng cường hiệu quả của các chuỗi cung ứng trong kinh doanh

 Tăng tính thống nhất và tương thích của các hệ thống pháp lýtrong TPP để mà các doanh nghiệp có thể hoạt động dễ dànghơn trong thị trường TPP

 Tạo ra một “hiệp định sống” mà có thể thích nghi với sự thanhđổi của môi trường kinh doanh và có thể kết nạp thêm thànhviên mới

 Hỗ trợ phát triển, bao gồm hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lựcliên tục và phù hợp

Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP: được tổ chức tại Santiago

từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 2 năm 2011, với sự tham gia của 9 nước Các bêncũng đang xem xét các đề xuất về các cam kết nền về các vấn đề chung, tập trungvào:

Trang 17

 Một đề xuất về tăng cường cạnh tranh và thúc đẩy kinh doanhtrong khu vực.

 Làm thế nào để tăng cường sự tham gia của các doanh nghiệpvừa và nhỏ vào thương mại khu vực

 Làm thế nào để làm sâu sắc thêm mối liên kết sản xuất và chuỗicung ứng giữa các nước TPP

 Làm thế nào để tăng cường sự gắn kết giữa các hệ thống phápluật của các nước TPP nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữacho thương mại

 Làm thế nào để thúc đẩy sự phát triển

Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) được tổ chức tại TP HồChí Minh, Việt Nam từ ngày 15 đến ngày 24 tháng 6/2011

Trang 18

Các bên đã làm việc nhằm củng cố các vấn đề hiện tại và xem xét các đềxuất mới ở các nhóm làm việc, bao gồm sở hữu trí tuệ, dịch vụ, minh bạch, truyềnthông, hải quan và môi trường

Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã diễn ra tại Chicago,

Mỹ từ ngày 6 đến ngày 15 tháng 9 năm 2011

Tại vòng đàm phán này, đã đạt được bước tiến quan trong trong các vấn đềHải quan, Kiểm dịch động thực vật (SPS), các Hàng rào kỹ thuật trong Thươngmại (TBT), vấn đề Viễn thông và Mua sắm Chính phủ Những thảo luận chi tiết vềcác vấn đề “ngang” như phương thức nhằm tăng cường lợi ích của Hiệp định đốivới các Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tăng khả năng cạnh tranh, tính chặt chẽ pháp lý

và phát triển

Vòng thứ chin của TPP kết thúc vào ngày 28/10/2011 tại Lima, Peru sau 10ngày đàm phán với 870 đại biểu tham dự, bao gồm các nhà đàm phán, các bên liênquan và giới truyền thông Một đề xuất mới về vấn đề Doanh nghiệp Nhà nước(SOEs) cũng được đưa ra và sẽ được thảo luận trong nhóm làm việc về Chính sáchCạnh tranh

Trang 19

nghiệp và dệt may cũng có buổi gặp mặt Tất cả đều tạo nên những tiến bộ hơn nữatrong việc thu hẹp khoảng cách giữa các vấn đề

Nhật Bản, Canada và Mexico đã chính thức bảy tỏ mong muốn tham gia vàoTPP Các nước trong TPP đều tán thành điều này và sẽ bắt đầu quá trình thảo luậnsong phương với các nước này về mức độ sẵn sàng và khả năng của họ

Vòng thứ 11 của TPP diễn ra tại Melbourne, Australia từ ngày 1-9 tháng 3năm 2012 Đây là vòng đàm phán đầy đủ đầu tiên bao gồm tất cả các nhóm đàmphán kể từ hội nghị các nhà lãnh đạo TPP tại Honolulu giữa tháng 11 năm ngoái

Các nhóm đàm phán đã làm việc cùng nhau nhằm phát triển và thực hiện các

kế hoạch chi tiết để chấm dứt đàm phán Đàm phán đã đạt được tiến triển đáng kể

ở các vấn đề như thống nhất pháp lý, minh bạch, cạnh tranh và tạo điều kiện chokinh doanh, lợi ích của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, và phát triển Một số nhómđồng ý gặp mặt giữa kỳ để đẩy nhanh đàm phán

Trang 20

vực Ngoài ra, 9 quốc gia TPP cũng đã tiếp tục cố gắng đàm phán về các gói thuếquan đầy tham vọng mà có thể giúp các quốc gia này tiếp cận thị trường của nhautrên các lĩnh vực dệt may, nông nghiệp và công nghiệp.

Vòng thứ 13 TPP diễn ra từ ngày 2-10 tháng 7/2012 tại San Diego,California, Hoa Kỳ đã đạt được những tiến triển quan trọng Tại vòng đàm phánlần này, các nhà đàm phán tiếp tục tiến đến kết thúc hơn 20 chương của Hiệp định

Vòng thứ 14 TPP đã diễn ra tại Leesburg, Virginia từ ngày 6-15 tháng9/2012 Sau 10 ngày đàm phán, các nhà đàm phán từ các nước đối tác TPP đã nỗlực làm việc trên 29 chương của Hiệp định

Vòng này diễn ra từ ngày 4 đến ngày 13 tháng 3 năm 2013 tại Singapore với

sự tham gia của 11 nước

Trang 21

Đến vòng thứ 16 nhưng đàm phán mới chỉ hoàn thành được 03 vấn đề là Hảiquan, Viễn thông, Hài hòa pháp lý và phát triển Các vấn đề khác đều đang còn rấtnhiều tranh cãi Các vấn đề chủ yếu được đàm phán trong vọng này là:

 SỞ HỮU TRÍ TUỆ: bao gồm yêu cầu điều chỉnh các quy định sở hữu trítuệ theo hướng tăng quyền của chủ sở hữu, giảm các điều kiện đăng ký bảohộ và tăng cường các biện pháp thực thi

 DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC: các yêu cầu về minh bạch hóa và cácnguyên tắc nhằm đảm bảo doanh nghiệp nhà nước sẽ cạnh tranh bình đẳngvới doanh nghiệp tư nhân

 ĐẦU TƯ : cơ chế giải quyết tranh chấp giữa Nhà đầu tư và Nhà nước nơinhận đầu tư, theo đó nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiện nước nhận đầu tư

ra một tổ chức trọng tài tư

 LAO ĐỘNG: Chương lao động đưa ra hình phạt tiền và cả trừng phạtthương mại dựa trên khối lượng thương mại bị ảnh hưởng bởi các vi phạmquy định về lao động

 MUA SẮM CÔNG: các quy định về mua sắm công ở cấp trung ương, cácgói thầu của các cấp chính quyền địa phương nhưng do trung ương cấp vốn

sẽ vẫn phải mở cửa cho các nhà cung cấp nước ngoài cạnh tranh như bìnhthường

 SẢN PHẨM DỆT MAY: đề xuất áp dụng quy tắc xuất xứ “từ sợi trở đi”(yarn-forward) đối với hàng dệt may trong TPP

 ĐỐI VỚI MỘT SỐ SẢN PHẨM KHÁC: DA GIÀY, SỮA VÀ ĐƯỜNG : về

da giày, đây là vấn đề tranh cãi giữa Việt Nam và Hoa Kỳ New Zealand

Trang 22

cũng đang gặp khó khăn trong việc đàm phán với Hoa Kỳ về vấn đề tiếp cậnthị trường sữa của nước này.

Phiên đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) lần thứ 17

đã diễn ra tại Li-ma, Pê-ru từ ngày 15 đến ngày 24/5/2013

Tại Phiên đàm phán, các nước đã thảo luận những nội dung còn tồn tại trongnhiều lĩnh vực và đạt được tiến bộ đáng kể trong các chương như các biện pháp vệsinh và kiểm dịch động thực vật , phòng vệ thương mại, thương mại điện tử, dịch

vụ xuyên biên giới, quy tắc xuất xứ, pháp lý và thể chế

Từ ngày 15 đến 25/7/2013, Phiên đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên TháiBình Dương (TPP) lần thứ 18 đã diễn ra tại Kota Kinabalu, Malaysia Ngày23/7/2013, Nhật Bản đã chính trở thành thành viên thứ 12 tham gia đàm phán Hiệpđịnh TPP Các nước đã thống nhất một chương trình làm việc cụ thể để thúc đẩyđàm phán, hướng tới mục tiêu tự do hóa một cách toàn diện các lĩnh vực mở cửathị trường đối với các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp và dệt may

Vòng này bắt đầu tại Brunei từ ngày 23 đến ngày 30 tháng 8 năm 2013.Đoàn đàm phán Việt Nam đã tích cực thúc đẩy đàm phán và đạt được nhiều tiếnbộ, đặc biệt trong các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu chủ lực như dệtmay, da giày, thủy hải sản

Trang 23

II.MỘT SỐ NỘI DUNG ĐÀM PHÁN CHỦ YẾU:

Đây là một trong những vấn đề tốn nhiều thời gian và gây nhiều tranh cãinhất trong TPP, đặc biệt đối với các nước có lợi ích liên quan, trong đó có ViệtNam

Liên quan đến vấn đề xuất khẩu hàng dệt may sang các nước thuộc TPP,Hoa kỳ đề xuất quy tắc yarn-forward Theo đó, các sản phẩm dệt may chỉ đượchưởng thuế suất 0% nếu từ sợi trở đi được làm từ các nước TPP.Theo quy định củaTPP, nếu Việt Nam đàm phán thành công TPP điều kiện để đáp ứng ưu đãi thuếsuất 0% khi xuất hàng vào Mỹ, thì một trong những điều kiện tiên quyết là tỷ lệ nộiđịa hóa trong từng sản phẩm dệt may phải đạt tối đa Đồng nghĩa, mọi khâu đoạn

từ kéo sợi, dệt – nhuộm – hoàn tất và may phải được làm tại Việt Nam

Tại vòng đàm phán 16 diễn ra từ ngày 4 đến 13 tháng 3 năm 2013 tạiSingapore, một trong những vấn đề then chốt cần được giải quyết giữa Việt nam vàHoa Kỳ là hàng dệt may và đã có một vài dấu hiệu tích cực trong vòng đàm phánnày Văn phòng đại diện Thương mại Hoa Kỳ( USTR) đã đưa ra định nghĩa về

“nguồn cung ngắn hạn (short – supply)” cho quy tắc xuất xứ nghiêm ngặt “từ sợitrở đi” (yarn – forward) đối với dệt may mà Hoa Kỳ đề xuất trước đó Việt Namcũng đã thể hiện rõ ràng mong muốn được tìm hiểu kỹ càng hơn về những ngoại lệnày để xem đó có phải là một hướng đi tốt hay không.Đề xuất này của Hoa Kỳ đãgặp phải sự phản đối mạnh mẽ của tất cả các nước TPP trừ Mexico và Peru

Đối với Việt Nam, dệt may là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực,tuy nhiên nguồn nguyên liệu lại chủ yếu nhập từ các nước ngoài TPP như TrungQuốc, Hàn Quốc… Vì thế, Việt Nam là nước phản đối mạnh mẽ nhất đề xuất trêncủa Hoa Kỳ.Việt Nam mong muốn áp dụng quy tắc xuất xứ “cắt và may” (“cut and

Trang 24

sew”) trong TPP để cho phép hàng dệt may của Việt Nam có thể sử dụng cácnguyên liệu từ những nước ngoài TPP mà vẫn được hưởng ưu đãi thuế quan theoTPP

Đồng quan điểm với Việt Nam, Úc cũng phản đối đề xuất trên của Hoa Kỳ

do nước này có một khu vực dệt may nhỏ và dựa vào sợi nhập khẩu là chủ yếu nênmuốn bảo vệ Canada thì coi TPP là cơ hội để cải thiện quy tắc “yarn-forward”trong NAFTA vốn được coi là cản trở sự phát triển của ngành dệt may nước này

Peru ủng hộ “yarn-forward” vì nước này có ngành dệt kim sản xuất trongnước hoàn toàn Còn Mexico, trong khi Chính phủ có vẻ ủng hộ quy tắc “yarn-forward” để bảo vệ ngành sản xuất đã gây dựng dựa trên NAFTA, các nhà sản xuấttrong nướcvẫn còn những quan điểm trái chiều Bên cạnh đó với sự tham gia củaNhật Bản trong thời gian tới, Hoa Kỳ có thể có thêm một đồng minh về vấn đề

“yarn-forward” bởi Nhật Bản cũng có một khu vực dệt may nhỏ và đã được xâydựng nhằm đáp ứng các quy tắc xuất xứ trong các FTA đã ký của nước này (cácquy tắc này lỏng hơn “yarn-forward” nhưng chặt hơn “fabric-forward”)

Theo các nguồn tin, tại vòng đàm phán thứ 15, Hoa Kỳ đã đưa ra đề xuấtmới linh hoạt hơn đối với quy tắc “yarn-forward” Theo đó, bên cạnh nguyên tắcchung là “yarn-forward”, sẽ có các ngoại lệ nằm trong 02 danh mục bổ sung (danhmục các loại hàng dệt may không áp dụng quy tắc này), hay còn được gọi là danhmục nguồn cung ngắn hạn thiếu hụt (short-supply) Có hai loại danh mục nguồncung ngắn hạn là Danh mục thường xuyên và Danh mục tạm thời

 Danh mục thường xuyên-permanent: Bao gồm các sản phẩm khôngđược sản xuất toàn bộ trong TPP và không hy vọng được sản xuấttrong TPP trong tương lai (trong các FTA trước của Hoa Kỳ đã từngcó điều khoản loại này)

Trang 25

 Danh mục tạm thời – temporary: Bao gồm các sản phẩm hiện khôngđược sản xuất toàn bộ trong TPP nhưng có thể có tương lai và vì thếdanh mục sẽ chấm dứt hiệu lực sau một thời gian (khoảng 3 năm), sauđó thì các sản phẩm này sẽ áp dụng quy tắc yarn-forward như bìnhthường.

Các sản phẩm thuộc hai danh mục này sẽ áp dụng quy tắc may”(“cut-and-sew”), có nghĩa là nhà sản xuất trong TPP có thể sử dụng vảinguyên liệu mua từ bất kỳ nơi nào để sản xuất ra sản phẩm may mặc mà vẫn đượchưởng ưu đãi thuế quan theo TPP

“cắt-và-Hiện tại Hoa Kỳ vẫn đang tiếp tục lấy ý kiến nội bộ về các loại sản phẩm dệtmay sẽ đưa vào các danh mục này và hi vọng sẽ đưa ra tại vòng đàm phán tới tạiPeru Hoa Kỳ vẫn một mực cho rằng việc đưa nhiều loại sản phẩm vào các danhmục này hoặc thời hạn áp dụng danh mục tạm thời dài sẽ khiến hàng dệt may nhậpkhẩu từ Việt Nam và các nước TPP có đủ thời gian để “triệt tiêu” ngành sản xuấttại Hoa Kỳ

Bên cạnh sản phẩm dệt may, tiếp cận thị trường đối với giày dép cũng là mộttrong những ưu tiên của Việt Nam trong TPP Đây cũng là vấn đề tranh cãi giữaViệt Nam và Hoa Kỳ Nội dung đàm phán xoay quanh mức độ loại bỏ thuế quancủa sản phẩm này của Hoa Kỳ

Một số công ty sản xuất giày dép trong nội địa Hoa Kỳ như New Balanceđang vận động mạnh để thuyết phục USTR duy trì thuế quan cao và quy tắc xuất

xứ nghiêm ngặt đối với giày dép nhập khẩu Trong khi đó, các công ty sản xuất ởnước ngoài như Nike lại muốn USTR giảm thuế và có các quy định nhập khẩu linh

Trang 26

hoạt hơn Với những quan điểm trái chiều giữa hai nước và trong bản thân nội bộHoa Kỳ như vậy, tiến triển đàm phán về vấn đề mở cửa thị trường hàng hóa nàytrong TPP khá chậm chạp.

Đối với Việt Nam, Việt Nam muốn Hoa Kỳ loại bỏ thuế cho mặt hàng xuấtkhẩu trọng điểm này Bởi, ngành da giày Việt Nam hiện phải nhập khẩu nguyênliệu da chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ Đây đều là nhữngquốc gia không tham gia TPP Song để được hưởng thuế suất ưu đãi 0% từ TPP,thì yêu cầu đặt ra là phải nhập khẩu nguyên liệu từ các nước thành viên TPP, hoặcđòi hỏi tỷ lệ nguyên phụ liệu nội địa hóa phải đạt tối thiểu 40%

Đàm phán về lao động là vấn đề mới được đưa vào trong các FTA gần đây

và gây ra chia rẽ đáng kể trong quan điểm giữa các nước đang phát triển và cácnước phát triển Hoa Kỳ đặc biệt nhấn mạnh và đưa ra nhiều đòi hỏi cao đối vớivấn đề này trong TPP (bao gồm cả những vấn đề nhạy cảm và có cách hiểu khácnhau giữa các nước như quyền lập hội, quyền can thiệp vào các trường hợp sửdụng lao động trẻ em, quyền can thiệp của Nhà nước vào các tranh chấp laođộng…)

Gần đây, Tổ chức Công đoàn thế giới (ITUC) đã đưa ra một bản Dự thảoChương lao động và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến lao động cho đàmphán TPP1, dựa trên Hiệp định Thương mại tự do Hoa Kỳ - Peru (hai thành viêncủa TPP hiện tại) Dự thảo này được sự ủng hộ của 07 tổ chức công đoàn lớn ở cácnước thành viên TPP (trong đó có Liên minh Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ và Các

tổ chức liên đoàn các ngành công nghiệp Hoa Kỳ AFL-CIO; Hội đồng các liên

1 Phụ lục 1

Trang 27

đoàn lao động Australia ACTU, Hội đồng các liên đoàn lao động New ZealandCTU…).

Một số nội dung được đề cập như : các tiêu chuẩn lao động tối thiểu; cácbiện pháp xử lý đối với hàng hóa xuất khẩu mà việc sản xuất vi phạm các tiêuchuẩn lao động; quyền tự do lập hội và giải quyết các tranh chấp lao động

II.3.1.VỀ TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG TỐI THIỂU.

Hoa Kỳ yêu cầu các nước phải chấp nhận và thực thi trong pháp luậtnội địa các quyền nêu tại Tuyên bố về các Quyền lao động cơ bản ILO 1998

và nhiều tiêu chuẩn khác thậm chí còn cao hơn cả các tiêu chuẩn trong FTAHoa Kỳ - Peru Tuy nhiên, phần lớn các nước từ chối thi hành đầy đủ cácquyền lao động mà Hoa Kỳ đã đề xuất Việt Nam trong vấn đề này có thểcũng không khó để đàm phán tuy nhiên cũng vấp phải nhiều khó khăn ViệtNam là một thành viên của ILO từ rất sớm (năm 1980), đã thiết lập khungkhổ pháp luật về lao động của mình theo hướng phù hợp với các tiêu chí cơbản về lao động của tổ chức này Việt Nam đã phê chuẩn 18 Công ước củaILO2 Liên quan đến các vấn đề lao động cơ bản, trong số 8 Công ước “hạtnhân” của Tổ chức này, Việt Nam đã phê chuẩn 5 Công ước quan trọng (baogồm Công ước số 100 về công bằng trong tiền công/tiền lương; Công ước số

111 về Phân biệt đối xử về lao động và việc làm; Công ước 182 về các Hìnhthức tồi tệ nhất của lao động trẻ em; Công ước 138 về tuổi lao động tốithiểu; Công ước 29 về Lao động cưỡng bức) Liên quan đến cơ chế giảiquyết tranh chấp liên quan đến lao động, năm 2008 Việt Nam cũng đã phêchuẩn Công ước 144 về Cơ chế tham vấn ba bên Với việc tham gia cácCông ước này, Việt Nam đã có các sửa đổi pháp luật cũng như điều chỉnh cơ

2 ILO : Tổ chức lao động quốc tế ( International Labour Organization)

Trang 28

chế thực thi để đảm bảo tuân thủ các quy định liên quan với sự hướng dẫn và

hỗ trợ kỹ thuật của ILO

II.3.2.CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU MÀ VIỆC SẢN XUẤT VI PHẠM CÁC TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG

Vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong vòng đàm phán đó là việc xử lýđối với hàng hóa xuất khẩu mà việc sản xuất vi phạm các tiêu chuẩn laođộng Hoa Kỳ đã đưa ra trong đề xuất Chương lao động của mình các hìnhphạt tiền và cả trừng phạt thương mại/trade sanctions dựa trên khối lượngthương mại bị ảnh hưởng bởi các vi phạm quy định về lao động theo cáchtiếp cận của FTA Hoa Kỳ - Peru

Đối với Việt Nam, Malaysia và Brunei từ đầu đã phản đối các điềukhoản thực thi nặng nề trong Chương lao động này Đối với Việt Nam, mặc

dù đã tham gia nhiều công ước quốc tế về lao động, đây là lần đầu tiên vấn

đề này được đưa vào khuôn khổ một FTA mà Việt Nam tham gia Nhữngyêu cầu quá cao về nội dung và thực thi trong đề xuất về lao động của Hoa

Kỳ có thể khiến cho Việt Nam gặp nhiều khó khăn và rủi ro khi thực hiện.Một ví dụ điển hình, đề xuất này yêu cầu áp dụng biện pháp ngăn chặn tạibiên giới hàng hóa được sản xuất bởi lao động trẻ em trong khi một lượnglớn hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam được sản xuất ở quy mô hộ giađình Vì vậy nếu áp dụng quy định này, hàng thủ công mỹ nghệ của ViệtNam sẽ bị chặn ngay tại biên giới các nước TPP

Trang 29

Canada, nước vốn ủng hộ các FTA có các điều khoản về lao động,tiếp cận vấn đề này theo cách của hiệp định NAFTA, tức là chỉ giới hạn cácbiện pháp xử lý vi phạm các điều khoản về lao động ở hình thức phạt tiền.

Úc và New Zealand vốn có tiêu chuẩn lao động cao nhưng cũng thamgia vào nhóm phản đối đề xuất của Hoa Kỳ Có nguồn tin khác nói rằngNew Zealand ủng hộ các quy định về lao động trong Hiệp định hợp tác Kinh

tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương cũ (gọi tắt là P4) mà nước này cùngvới Singapore, Chile và Brunei là thành viên – những quy định này có tiêuchuẩn thấp hơn nhiều so với yêu cầu của Hoa Kỳ trong TPP bởi không tạo racác nghĩa vụ mới, bắt buộc và có thể bị khiếu kiện về các quyền lao động.Mexico thì có vẻ không thực sự ủng hộ NAFTA nhưng chưa có ý kiến rõràng

II.3.3.NGHIỆP ĐOÀN LAO ĐỘNG

Một trong những vấn đề nhạy cảm tại Việt Nam, đó là quyền tự do lập hội(nghiệp đoàn lao động) - Một trong những điều kiện quan trọng khi tham gia đàmphán TPP Đối với các nước có các tổ chức công đoàn lớn như Hoa Kỳ, Úc thì ủnghộ việc tự do nghiệp đoàn Ngược lại, Singapore và Việt Nam lại khó khăn trongviệc thự thi Hiện nay ở VN chỉ có Công đoàn, là tổ chức hoàn toàn chịu sự lãnhđạo của Nhà nước, hay nói cách khác là của Đảng Chấp nhận "Quyền lập hội" chongười lao động thì Công đoàn Việt Nam sẽ phải đổi mới cả về chức năng nhiệm

vụ, cả về phương thức hoạt động, và sau đó có thể là các đoàn thể quần chúng kháccũng sẽ noi gương

Trang 30

Hoa Kỳ là nước đầu tiên đưa ra đề xuất về SOE trong TPP vào tháng10/2011, trong đó có các yêu cầu về minh bạch hóa và các nguyên tắc nhằm đảmbảo doanh nghiệp nhà nước sẽ cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp tư nhân Tuynhiên, các nước TPP lại có các phản ứng trái chiều.

Theo Trợ lý Đai diện Thương mại Hoa Kỳ Daniel Watson, hiện tại các nướcTPP đã “thống nhất về mặt nguyên tắc” rằng nên có một sân chơi bình đẳng giữacác doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân Tuy nhiên, làm thế nào đểđạt được điều này thì vẫn còn nhiều tranh cãi

Australia yêu cầu rằng nếu Hoa Kỳ muốn áp dụng các nguyên tắc nhằm đảmbảo hoạt động của các SOE không gây bóp méo thương mại thì cũng phải áp dụngcác nguyên tắc đối với cạnh tranh trong xuất khẩu hàng nông sản, điều khó có thểchấp nhận bởi Chính phủ Hoa Kỳ Ngoài ra, Australia cũng đề nghị các nguyên tắcnày phải được mở rộng ra cả các SOE ở cấp vùng chứ không chỉ ở cấp quốc gianhư đề xuất của Hoa Kỳ

Singapore thì chỉ có một cấp độ quốc gia nên không có lợi ích gì từ việc ápdụng các nguyên tắc ở cả cấp vùng Tuy nhiên, nước này cho rằng TPP nên áp đặtcác quy định với các công ty dựa trên hành vi (tức là có cạnh tranh bình đẳng haykhông) chứ không nên dựa vào quyền sở hữu của chúng (thuộc sở hữu nhà nướchay tư nhân)

Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, việc áp dụng các quy định dựa trên hành

vi cũng có nhiều vấn đề bởi nếu quy định này đồng nghĩa với việc yêu cầu cácSOE hành động như các doanh nghiệp tư nhân thì điều này sẽ ảnh hưởng đến chứcnăng đầu tiên của các doanh nghiệp nàylà can thiệp vào các mảng thị trường mànếu để tự nó vận hành sẽ không thể cung cấp các hàng hóa và dịch vụ phục vụngười dân theo cách thức/mức độ phù hợp Nhưng cũng có ý kiến cho rằng việc

Trang 31

phải cạnh tranh bình đẳng như các doanh nghiệp tư nhân sẽ khiến các SOE hoạtđộng hiệu quả hơn, cung cấp những hàng hóa và dịch vụ tốt hơn cho người dân và

xã hội

Hiện chưa có thông tin tin cậy về quan điểm của Việt Nam trong vấn đềSOE trong TPP Mặc dù vậy, theo một số chuyên gia, những nguyên tắc minhbạch, cạnh tranh liên quan tới SOE có thể là điều kiện tốt cho quá trình cải cáchSOE và tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp này ở Việt Nam SOE trong TPP, vìvậy, có thể là một động lực tốt để Việt Nam đẩy nhanh quá trình này, mang lại mộtkhung khổ kinh doanh bình đẳng và cạnh tranh hơn giữa các SOE và khu vựcdoanh nghiệp dân doanh

Là một nội dung quan trọng trong Hiệp định, ban đầu được ký kết giữa bốnquốc gia, bao gồm Brunei, Chile, New Zealand và Singapore (sau đây gọi tắt làHiệp định P4), ngoài một số quy định nằm rải rác ở phần đầu, các quy định vềquyền SHTT được đưa vào trong Chương 103 với cấu trúc tương đối đơn giản4, chỉcó 7 điều khoản bao gồm các nguyên tắc về SHTT, các quy định chung, nhãn hiệu,chỉ dẫn địa lý, tên quốc gia và về hợp tác

Về các nguyên tắc, Hiệp định P4 đưa ra ba nguyên tắc: nguyên tắc về thúcđẩy sự phát triển kinh tế, xã hội; nguyên tắc về đạt được sự cân bằng về quyền vànghĩa vụ của người chủ sở hữu quyền với lợi ích hợp pháp của người sử dụng vàcộng đồng đối với các tài sản trí tuệ được bảo hộ; nguyên tắc về tăng cường các

3 Xem Chapter 10, Trans-Paficic Strategic Economic Partnership Agreement, tại:

http://www.mfat.govt.nz/downloads/trade-agreement/transpacific/main-agreement.pdf (truy cập 28/02/2012).

4 Chương 10 gồm 7 điều: Các định nghĩa (10.1), Các nguyên tắc về SHTT (10.2), Các quy định chung (10.3), Nhãn hiệu (10.4), Chỉ dẫn địa lý (10.5), Tên quốc gia (10.6) và Hợp tác (10.7)

Trang 32

quyền sở hữu trí tuệ bằng việc loại bỏ các hoạt động thương mại đối với hàng hóaxâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Về đối tượng của quyền sở hưu trí tuệ, Hiệp định P4 đưa ra quy định cụ thểđiều chỉnh về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và tên gọi quốc gia :

- Đối với nhãn hiệu, quy định của Điều 10.4 chỉ bổ sung thêm hai nghĩa

vụ đối với các bên là mỗi quốc gia phải tạo cơ hội cho các bên có liên quan đểphản đối một đơn đăng ký nhãn hiệu và yêu cầu hủy một nhãn hiệu đã được đăngký Ngoài nghĩa vụ mang tính chất nội dung này, Điều 10.4 cũng khuyến khích cácbên sử dụng Thỏa ước Nice về phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ cho mục đíchđăng ký nhãn hiệu năm 1979

- Đối với chỉ dẫn địa lý, Điều 10.5 dẫn chiếu đến phụ lục 10.A về cácchỉ dẫn địa lý cho rượu và đồ uống của mỗi quốc gia được thừa nhận chung vàdanh mục này có thể được bổ sung trên cơ sở yêu cầu của mỗi bên

- Đối với tên quốc gia, Điều 10.6 quy định các bên phải có nghĩa vụcung cấp các công cụ pháp lý cho các bên có liên quan để ngăn cản việc sử dụngthương mại tên quốc gia đối với hàng hóa nhằm đảm bảo không gây nhầm lẫn chongười tiêu dùng về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa đó

Chính vì các quy định rất đơn giản trong Hiệp định P4 mà các bên tham giađàm phán TPP đã quyết định cần phải đàm phán để tạo nên một khung pháp lý vớinhiều quy định có thể vượt ra khỏi khuôn khổ đang được điều chỉnh bởi TRIPs vàcác điều ước quốc tế khác có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ

Vòng đàm phán thứ 12 của TPP diễn ra tại Dallas, Texas Hoa Kỳ từ ngày 18/5/2012 Ở vòng đàm phán này, các quốc gia đàm phán tiếp tục những vấn đề

Trang 33

8-còn tranh cãi ở vòng đàm phán trước và chú trọng nhiều đến vấn đề thực thi quyền

sở hữu trí tuệ và bằng sáng chế

Bản dự thảo chương sở hữu trí tuệ (bản bị tiết lộ mới nhất tháng 5/2012) doHoa Kỳ đề xuất cho thấy nước này yêu cầu mức độ bảo hộ sở hữu trí tuệ cao hơnnhiều trong TRIPS (Hiệp định WTO về các khía cạnh thương mại của quyền sởhữu trí tuệ), bao gồm yêu cầu điều chỉnh các quy định sở hữu trí tuệ theo hướngtăng quyền của chủ sở hữu, giảm các điều kiện đăng ký bảo hộ và tăng cường cácbiện pháp thực thi Đề xuất này đã bị phản đối bởi nhiều nước TPP đặc biệt là cácnước đang phát triển như Việt Nam, nơi mà ngay việc thực thi các quy định ở mứcTRIPS đã là một thách thức lớn Dưới đây là một số nội dung dự thảo mà Hoa Kỳ

đã đưa ra vào tháng 02/2011 và được sửa đổi lần thứ nhất vào tháng 09/2011:

- Mở rộng phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu cho cả âm thanh, mùi thơm vànhãn hiệu "nổi tiếng" mà nó không "nổi tiếng" ở nội địa, trong khi lại làm giảm sựbảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý, được coi là trái ngược với tính linh hoạt về lựa chọnchính sách trong lĩnh vực này mà TRIPs cho phép

- Mở rộng các nghĩa vụ quốc tế về nội dung và thời gian bảo hộ quyền tácgiả, bao gồm việc mở rộng bảo hộ đối với những lưu trữ "tạm thời" trên Internet vàtăng gấp đôi thời gian bảo hộ tối thiểu bắt buộc đối với nhiều đối tượng thuộcquyền tác giả

- Yêu cầu chấp nhận hình thức gây tranh cãi cao về trách nhiệm chống lừađảo, theo đó, sẽ trừng phạt những hành vi lừa đảo bằng khóa điện tử với bất kỳmục đích nào

Trang 34

- Gia tăng nội dung bảo hộ quốc tế bắt buộc đối với bằng sáng chế, bao gồm

cả việc bảo hộ độc quyền cho các dạng và cách thức sử dụng mới đối với sản phẩm

đã được biết đến, đối với cây trồng, vật nuôi và quy trình chế tạo dược phẩm

- Sửa đổi khung pháp lý quốc tế về các tiêu chuẩn đối với đơn đăng ký, phảnđối, hủy bỏ, công bố thông tin bắt buộc và lợi ích của bằng sáng chế để làm choviệc đạt được các bằng sáng chế trở nên dễ dàng hơn, việc phản đối hoặc hủy bỏbằng sáng chế khó khăn hơn và làm cho việc chuyển giao công nghệ mang lại ít lợiích hơn

- Loại bỏ việc tiếp cận với các linh hoạt trong lĩnh vực dược phẩm[20] đượcquy định trong Luật Mới về Thương mại năm 2007 (2007 New Trade Deal Law)

và Hiệp định Thương mại Tự do giữa Hoa Kỳ và Peru và thay vào đó là các quyđịnh về mở rộng bảo hộ đối với sáng chế và đăng ký bảo hộ độc quyền đối vớithuốc mà không quan tâm đến khả năng chi trả của người bệnh Các quy định này

sẽ dẫn đến giá thuốc tăng cao và khả năng tiếp cận đối với các dược phẩm sẽ giảmxuống, nhất là đối với người dân của các nước đang phát triển

- Đưa ra nhiều chế tài khác nhau, bao gồm cả các chế tài hình sự và tư pháp

- Bổ sung các quy định hạn chế mới về tính hiệu quả của đám phán giá trongchương trình bồi hoàn giá thuốc, một chương trình mà trước đó chưa bao giờ được

đề nghị cho các nước đang phát triển và cũng chưa bao giờ được thực thi ngay tạichính Hoa Kỳ

Đặc biệt, đề xuất của Hoa Kỳ về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với dượcphẩm - gọi tắt là đề xuất về tiếp cận thuốc (trong đó yêu cầu mở rộng phạm vi cácđối tượng có thể được bảo hộ bằng sáng chế dẫn đến hạn chế khả năng tiếp cậnthuốc giá rẻ của người bệnh) đã bị các nước phản đối kịch liệt buộc nước này phải

Trang 35

rút lại đề xuất Đàm phán về vấn đề này vì thế đã bị gián đoạn từ vòng thứ 11 vàotháng 3 năm ngoái để Hoa Kỳ “lấy ý kiến nội bộ” sửa đổi đề xuất.

Theo đề xuất đó, các công ty dược phẩm nắm giữ bằng sáng chế có thể đượctăng cường bảo hộ trong các quy định như liên kết sáng chế5, kéo dài thời hạn bảohộ sáng chế6 và độc quyền dữ liệu 7nếu họ tìm cách đăng ký lưu hành một loạithuốc cụ thể tại một quốc gia TPP trong một khoảng thời gian nhất định sau khithuốc đó đã được cấp phép lưu hành tại một quốc gia khác Nhưng Hoa Kỳ chưabao giờ nói rõ thời hạn của “cửa sổ tiếp cận” này là bao lâu, và đề xuất này đãkhông nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của các công ty thuốc được bảo hộ

III TÌNH HÌNH QUAN HỆ THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC HIỆN ĐANG ĐÀM PHÁN TPP:

i Bảng 1: Giá trị nhập khẩu từ các nước đang đàm phán TPP vào Việt Nam từ năm 2011.

(Đvt: triệu USD)

5Liên kết sáng chế là việc cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp phép lưu hành được yêu cầu phải kiểm tra

xem một loại thuốc mới có vi phạm những sáng chế đã có hay không.

6Kéo dài thời hạn bảo hộ sáng chế là việc kéo dài thời hạn bảo hộ đề bù cho khoảng thời gian đã bị mất đi do

những thủ tục hành chính trong quá đăng ký sáng chế gây ra

7Độc quyền dữ liệu là quy định về khoảng thời gian mà một chủ sở hữu sáng chế được giữ bí mật các dữ liệu thử

nghiệm đã được sử dụng để chứng minh tính an toàn và hiệu quả của một loại thuốc mà không phải chia sẻ cho các nhà sản xuất thuốc giá rẻ, đại trà (thuốc generic – thuốc đã hết thời hạn bảo hộ sáng chế) để được phép lưu hành các loại thuốc tương đương về mặt hóa học.

Trang 36

Và trong vòng 8 tháng đầu năm 2013, tỉ lệ này giảm nhẹ chỉ còn 93% với tổng giátrị đạt 18,512.86 triệu USD.

ii Bảng2: Giá trị xuất khẩu của Việt Nam đến các nước đang đàm phán TPP từ năm 2011

Trang 37

iii Bảng 3: Giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đến các nước TPP từ năm 2011

Trang 39

iv Bảng 4: Giá trị xuất khẩu hàng giày dép của Việt Nam đến các nước đang đàm phán TPP từ năm 2011

III.2.1 QUAN HỆ VIỆT NAM-HOA KÌ

Với sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thươngmại thế giới (WTO) vào năm 2007, thương mại hàng hóa song phương Việt Nam-

Trang 40

Hoa Kỳ trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012 tiếp tục có những bước khởisắc đáng kể Cho đến nay, Hoa kỳ là đối tác lớn thứ hai của Việt Nam trên toàn thếgiới, đứng sau Trung Quốc và là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trongkhu vực châu Mỹ.

Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong trao đổi thương mại vớiHoa Kỳ luôn duy trì mức thặng dư lớn.Cụ thể trong năm 2010, mức thặng dư hànghóa của Việt Nam trong buôn bán trao đổi thương mại với Hoa Kỳ đã vượt qua con

số 10 tỷ USD, cao gấp 26,5% so với năm trước Đến năm 2012, nhờ kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ cao gấp 4 lần so với kim ngạch nhập khẩuhàng hóa của cả nước từ thị trường này, mức xuất siêu của Việt Nam sang Hoa Kỳ

đã lên tới 14,8 tỷ USD

Biểu đồ 1: kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam-Singapore

từ 2007-2012.

Ngày đăng: 21/11/2018, 21:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w