Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng, đẩy mạnh giải quyết việc làm, trong đó có giải quyết việc làm cho thanh niên.Cụ thể tại Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Tru
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐOÀN KIM THANH
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN TỪ THỰC TIỄN QUẬN BA ĐÌNH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Chính sách công
Mã số: 834 04 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI NHẬT QUANG
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm luôn là chủ để nóng không những chỉ riêng ở Việt Nam mà còn là vấn đề chung của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có cả những nước phát triển Theo Báo cáo của Cơ quan thống kê Hàn Quốc trong tháng 9 năm 2017 cho thấy tỉ lệ thất nghiệp của nhóm thanh niên tăng cao nhất trong 18 năm qua.Tỉ lệ thất nghiệp của thanh niên Hàn Quốc độ tuổi từ
15 đến 29 hiện ở mức 8%, gấp đôi tỉ lệ thất nghiệp trung bình của cả nước Ở
xứ sở kim chi, một việc làm ổn định không chỉ là "cần câu cơm" mà còn là yếu tố quyết định sự thành bại và chỗ đứng trong xã hội của mỗi cá nhân [15] Năm 2018, tại Italy, thanh niên phải thức đậy từ nửa đêm để đi xin việc làm là tình trạng phổ biến, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên tại nước này lên tới 30% [16] Tại Hoa Kỳ, tổng số người thất nghiệp trong năm 2008 đã lên tới con số cao
kỷ lục kể từ năm 1945 Bộ Lao động Hoa Kỳ cũng công bố tháng 10 năm
2008, số lượng người thất nghiệp là 423.000 và tháng 11 là 584.000 người.Tuy nhiên, với nhiều nỗ lực của Chính phủ Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ của Tổng thống Donal Trump, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ đã giảm và trung bình mỗi tháng nền kinh tế nước này tạo ra 185.000 việc làm mới Số việc làm mới được tạo ra trong tháng vừa qua chủ yếu trong các lĩnh vực khai mỏ, chăm sóc y tế, bảo hiểm xã hội và giải trí Tuy nhiên, vấn đề giải quyết việc làm tại nước này vẫn còn nhiều thách thức
Ở nước ta, thanh niên là lực lượng lao động lớn của xã hội và là nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Hằng năm có khoảng 1,2 - 1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động [4]
Theo kết quả điều tra lao động và việc làm toàn quốc của Bộ Lao động
- Thương binh và Xã hội [3], số lượng và tỷ lệ thanh niên tham gia hoạt động kinh tế tăng đều từ năm 2008 đến nay Năm 2008, số thanh niên hoạt động
Trang 3kinh tế của cả nước là hơn 16 triệu người, chiếm 67,2% tổng số thanh niên (38,7% lực lượng lao động xã hội); năm 2009, số thanh niên hoạt động kinh tế tăng thành gần 18 triệu người, chiếm 75,4% tổng số thanh niên (36,6% lực lượng lao động xã hội); năm 2010 con số đó là 17,1 triệu người, chiếm 75,9% tổng số thanh niên (33,7% lực lượng lao động xã hội).Dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, thực trạng việc làm của thanh niên trong thời gian gần đây diễn biến khá phức tạp.Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong thanh niên vẫn gia tăng Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi lao động thiếu việc làm tăng từ 3% (năm 2008) lên 5,6% (năm 2009) và 4,1% (năm 2010), trong đó khu vực thành thị là 2%; khu vực nông thôn là 4,9%
Tình trạng thất nghiệp cũng có xu hướng tăng mạnh, tập trung chủ yếu
ở nhóm thanh niên đô thị Tỷ lệ thanh niên thất nghiệp chiếm 4,2% (năm 2008); 4,1% (năm 2009) và tăng lên 5,2% (năm 2010), trong đó ở khu vực đô thị là 7,8%, cao gần gấp hai lần nông thôn (4,3%)
Số đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp ở nhóm thanh niên cũng chiếm
tỷ lệ khá cao Trong số những người hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng thì
số người ở độ tuổi dưới 24 là 12.275 người (chiếm 24,5%); từ 25 - 40 tuổi là 31.366 người (chiếm 62,7%); trên 40 tuổi là 6.416 người (chiếm 12,8%)[2]
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng, đẩy mạnh giải quyết việc làm, trong đó có giải quyết việc làm cho thanh niên.Cụ thể tại Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc triển khai các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng lao động trẻ, giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho thanh niên đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa phương quan tâm thực hiện với nhiều hình thức khác nhau Tuy nhiên trên
Trang 4thực tế, sự nhìn nhận, đánh giá của cán bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và thanh niên địa phương về hiệu quả đạt được của các hoạt động này còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thanh niên
Nhận thấy tính cấp thiết của vấn đề nêu trên, là học viên cao học chuyên ngành Chính sách công và hiện đang công tác tại Ủy ban nhân dân Quận Ba Đình, học viên chọn đề tài “Thực hiện Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ để nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như giải quyết vấn đề trong thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về giải quyết việc làm cho thanh niên, tiêu biểu như sau:
2.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- Năm 1997 O’Higgin lại cho xuất bản công trình nghiên cứu “The challenges of youth unemployment”, nói về tình trạng thất nghiệp của giới trẻ, một thách thức lớn đối với nhiều quốc gia hiện nay, nhất là các quốc gia có nền kinh tế chậm phát triển và đang phát triển [8]
- Năm 1998 Manning.C đã xuất bản ấn phẩm “Choosy Youth or unwanted youth - a survey or unemployment” [7] nói về sự lựa chọn, mong muốn của giới trẻ hiện nay trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp, nhằm tránh khỏi tình trạng thất nghiệp đang đe dọa thường xuyên do những biến động khó lường của kinh tế thế giới, cũng như nền kinh tế của mỗi quốc gia
Các công trình nghiên cứu của các học giả nói trên đề cập về việc làm của đối tượng lao động thanh niên trong bối cảnh khoa học và công nghệ đạt được những thành tựu đáng kể Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng 4.0 đang diễn ra, máy móc càng ngày càng thay thế con người trong nhiều vị trí việc làm, thì những công trình khoa học nêu trên là bài học kinh nghiệm để
Trang 5Đảng, Nhà nước ta hoạch định và ban hành các chính sách về việc làm cho thanh niên
2.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Các công trình nghiên cứu tổng quan về chính sách giải quyết việc làm
Tác giả Đỗ Thị Xuân Phượng với đề tài: “Phát triển thị trường sức lao
động, giải quyết việc làm qua thực tế ở Hà Nội” (2005), [9], luận án tiến sĩ
kinh tế đã đi từ thực trạng việc làm của lao động ở Hà Nội, các vấn đề nảy sinh
để khái quát thành giải pháp, biện pháp khắc phục Tác giả đã khái quát thực tế
từ thị trường sức lao động và việc làm ở Hà Nội để đánh giá về vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động ở Hà Nội, bởi lẽ thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa - kinh tế - chính trị của cả nước, nơi tập trung nhiều lao động từ các tỉnh, thành phố khác nên thị trường sức lao động ở Hà Nội có diễn biến khá phức tạp về số lượng, chất lượng, cơ cấu, thành phần
2.2.2 Các công trình nghiên cứu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, khuyến khích đầu tư nhằm tạo việc làm
Phạm Thị Kim Thư với luận văn thạc sỹ “Quản lý nhà nước đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội” (2014) [14], Luận
văn đã phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác này.Đây là công trình khá toàn diện không chỉ nghiên cứu, đánh giá và đưa ra giải pháp về việc thực thi chính sách, mà còn các hoạt động khác của QLNN như xây dựng các văn bản pháp quy, kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội; điều này góp phần phát triển doanh nghiệp một cách bền vững
2.2.3 Các công trình nghiên cứu về chính sách tín dụng
Ngô Quỳnh An với luận án tiến sĩ “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm
cho thanh niên Việt Nam” bảo vệ năm 2012 tại trường đại học KTQD, [1], đã
Trang 6phân tích và đánh giá thực trạng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang hội nhập quôc tế Bên cạnh đó, luận án cũng đề cập những giải pháp, bao gồm giải pháp về tín dụng nhằm hỗ trợ thanh niên tự tạo việc làm
2.2.4 Các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề
Ngô Thùy Hương với luận văn thạc sĩ “Các giải pháp đào tạo nghề cho
thanh niên dân tộc trên địa bàn tỉnh Đăklăk” bảo vệ năm 2015[6], đã phân
tích, đưa ra thực trạng đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc trên địa bàn tỉnh Đăklăk, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện công tác này
2.2.5 Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động
Nguyễn Văn Thắng với luận án tiến sĩ “Chính sách việc làm cho thanh
niên vùng thu hồi đất của Hà Nội”, [13], Luận án tập trung nghiên cứu, phân
tích thực trạng các chính sách việc làm cho thanh niên vùng thu hồi đất của
Hà Nội và đưa ra các giải pháp hoàn thiện việc thực hiện các chính sách này Trong đó, luận án cũng nghiên cứu và đưa ra giải pháp về xuất khẩu lao động cho thanh niên vùng thu hồi đất của Hà Nội
Các công trình nghiên cứu nêu trên là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị đối với định hướng nghiên cứu của học viên, tuy nhiên các công trình này chưa đề cập tới việc thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại một địa bàn (quận, huyện) cụ thể Từ đó, học viên định hướng nghiên cứu thực hiện các chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên tại Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội là không trùng lắp với các công trình nêu trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn của Quận Ba Đình, để từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về lao động của Quận nói
Trang 7chung và cụ thể là việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở khoa học về chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
- Đưa ra phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách giải quyết việc
làm cho thanh niên
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp qua các số liệu thống kê, báo cáo của Quận Ba Đình và các báo, tạp chí
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: luận văn góp phần cung cấp một cách có hệ thống
Trang 8những vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
- Ý nghĩa thực tiễn: thông qua nghiên cứu, luận văn đánh giá một cách khách quan việc thực hiện những chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên từ thực tiễn Quận Ba Đình, từ đó là cơ sở tham khảo cho Quận hoàn thiện công tác này cũng như là kinh nghiệm cho các quận, huyện trên cả nước tham khảo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở khoa học của chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Chương 2: Thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh
niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách giải
quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trang 9Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
CHO THANH NIÊN
1.1 Cơ sở lý luận về chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm việc làm
Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp… người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau Chính vì thế, không
có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm
Có thể hiểu, việc làm là một phạm trù tồn tại khách quan trong nền sản xuất xã hội, phụ thuộc vào các điều kiện hiện có của nền sản xuất Người lao động được coi là có việc làm khi chiếm giữ một vị trí nhất định trong hệ thống sản xuất của xã hội Nhờ có việc làm mà người lao động mới thực hiện được quá trình lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội, cho bản thân
Ở Việt Nam, khái niệm việc làm đã được quy định tại Điều 13 của Bộ luật lao động: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [10]
Khái niệm trên nói chung khá bao quát, nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản Thứ nhất, hoạt động nội trợ không được coi là việc làm, trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ.Thứ hai, khó có thể so sánh tỷ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau, phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi là việc làm, nhưng ở quốc gia
Trang 10khác, ví dụ đánh bạc ở Việt Nam bị cấm, nhưng ở Thái Lan và Mỹ lại được coi là một nghề Thậm chí nghề này rất phát triển, vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu.Trong thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) còn khuyến cáo và đề cập tới việc làm nhân văn hay việc làm bền vững
1.1.1.2 Khái niệm giải quyết việc làm
Theo khái niệm việc làm nêu ở phần trên, việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ ) để sử dụng sức lao động đó Rõ ràng tạo được việc làm cho người lao động hoặc tạo nhiều việc làm luôn gắn với quá trình phát triển kinh tế xã hội, phát huy sức mạnh tiềm năng của con người, phát huy trí tuệ người lao động để tạo ra nhiều của cải cho xã hội Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nêu rõ “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” Vấn
đề giải quyết việc làm cho người lao động là cần thiết, không những mang tầm quốc gia mà vượt ra bên ngoài khu vực và thế giới Tuỳ thuộc vào các cách thức tiếp cận và mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta đưa ra khái niệm về giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc để có các việc làm chất lượng, đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng được mục tiêu phát triển đất nước
Với khái niệm trên, việc giải quyết việc làm không chỉ có nhiệm vụ chức năng của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của xã hội, của các cơ quan doanh nghiệp và ngay bản thân người lao động
Trang 111.1.1.3 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm
Nhà nước đóng vai trò và chịu trách nhiệm chính trong việc giải quyết việc làm thông qua các công cụ quản lý nhà nước Một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước để giải quyết các vấn đề của xã hội nói chung và giải quyết việc làm nói riêng đó là chính sách Chính sách giải quyết việc làm
có thể hiểu là những biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về việc làm như thất nghiệp, khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, hỗ trợ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh để tạo việc làm cho người lao động
Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc Chính vì vậy, chính sách nhà nước là một trong những tác động quan trọng rất mạnh đến việc làm của người lao động như khuyến khích các doanh nghiệp mở rộng sản xuất như giảm thuế tiền sử dụng đất, thuê nhà xưởng, văn phòng, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng điện đường, trường trạm nhằm phục vụ cho các công trình sản xuất Chính sách chính sách nhà nước tác động toàn diện đến vấn đề giải quyết việc làm Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nguồn lao động, tuyển dụng, bố trí sắp xếp lao động phù hợp năng lực và yêu cầu 1.1.1.4 Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
- Khái niệm thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá
mà người ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên
Về mặt sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai đoạn
Trang 12xác định trong quá trình “tiến hóa” của cơ thể Các nhà tâm lý học thường nhìn nhận thanh niên là một giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thơ phụ thuộc sang hoạt động độc lập với tư cách là một công dân có trách nhiệm
Còn theo Luật thanh niên do Quốc Hội ban hành ngày 29/11/2005 qui định “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”, góc tiếp cận xác định độ tuổi để xác định một người được gọi là thanh có quyền và nghĩa vụ sống và làm việc theo pháp luật của NN Việt Nam qui định
- Khái niệm chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là một bộ phận của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động nói chung Đặc biệt ở chỗ, đối tượng của các chính sách này là dành cho thanh niên Ở nước ta, căn cứ Luật Thanh Niên số 53/2005/QH11, thanh niên là những người trong độ tuổi
từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi Do đó, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên là các biện pháp của Nhà nước tác động tới xã hội nhằm giải quyết các vấn đề về việc làm cho thanh niên như khắc phục tình trạng thất nghiệp, khuyến khích, hỗ trợ thanh niên tự tạo việc làm, khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp trong và ngoài nước phát triển việc làm và tiếp nhận đội ngũ thanh niên vào làm việc [11]
1.1.2 Vai trò, sự cần thiết của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
1.1.2.1 Vai trò của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Lao động là một trong những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp Công dân có sức lao động phải được làm việc để duy trì sự tồn tại của bản thân và góp phần xây dựng xã hội, thực hiện các nghĩa
vụ của họ đối với những người xung quanh trong cộng đồng Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm
Trang 13là vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội
Pháp luật lao động quy định trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ
và các cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc hội và hệ thống các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp) Đối với
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập chương trình và quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện quyết định đó, đồng thời có trách nhiệm báo cáo về
Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính
Từ những quy định trên, có thể thấy, ủy ban nhân dân cấp huyện nói chung và trong hoạt động của ủy ban nhân dân Quận có trách nhiệm thực hiện chỉ đạo của chính quyền cấp tỉnh về giải quyết việc làm, từ đó triển khai xuống cấp cơ sở (cấp xã)
1.1.2.2 Sự cần thiết của thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Sự ổn định, an toàn trật tự và phát triển kinh tế luôn là mục tiêu của quản lý nhà nước từ trung ương tới địa phương Đặc biệt là một trong những trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế hàng đầu của cả nước như quận Ba Đình , thì những mục tiêu nêu trên càng được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta kỳ vọng Do đó trách nhiệm của chính quyền địa phương trong thực hiện chính sách GQVL nhằm đáp ứng hai lý do chính như sau:
- Một là, GQVL là nội dung quan trong góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội Thật vậy, nhiều công trình khoa học đã chứng minh, những nơi tội phạm gia tăng, tình hình mất trật tự xã hội xảy ra thường là những nơi nghèo đói, tình trạng thất nghiệp tràn lan; hay nói theo cách dân gian ta ngày xưa là: “nhàn cư, vi bất thiện” Bên cạnh đó, trách nhiệm của chính quyền địa phương là giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, do vậy, GQVL cho thanh niên là góp phần quan trọng để đạt mục tiêu trật tự, an toàn xã hội
Trang 14- Hai là, GQVL là góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, đây vừa là trách nhiệm vừa là mong muốn của mọi nhà nước nói chung hay của chính quyền địa phương nói riêng Trên cơ sở người dân nói chung, hay thanh niên trong độ tuổi lao động được tạo công ăn việc làm, có thu nhập ổn định thì mới tạo ra của cải, vật chất đóng góp cho xã hội nói chung và ngân sách địa phương nói riêng Cũng từ đó, nguồn ngân sách lại được đầu tư cho cơ sở hạ tầng và các dịch vụ an sinh xã hội của chính địa phương đó, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân địa phương
1.1.3 Nội dung chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Giải quyết việc làm cho thanh niên là những nỗ lực của chính quyền địa phương, các tổ chức chính trị xã hội, hiệp hội nghề nghiệp, các doanh nghiệp, các chủ thể sử dụng lao động cùng chính nỗ lực của thanh niên nhằm tạo ra những điều kiện thúc đẩy việc kết hợp sức lao động thanh niên với tư liệu sản xuất tạo ra của cải vật chất cho xã hội, mang lại thu nhập hợp pháp cho thanh niên, cho người sử dụng lao động
Có nhiều hoạt động liên quan đến giải quyết việc làm nhưng luận văn chủ yếu tập trung vào những hoạt động như sau:
1.1.3.1 Thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng cho thanh niên để tìm và tự tạo việc làm
Trong bối cảnh chung của thế giới và tại Việt Nam hiện nay, số lượng việc làm thường không đáp ứng được nhu cầu của người lao động Do đó, một cách hiệu quả nhất là khuyến khích thanh niên khởi nghiệp, tự tìm và tạo việc làm cho bản thân Tuy vậy, yếu tố cần thiết đầu tiên cần đáp ứng đó là có nguồn vốn để khởi nghiệp Nhưng không phải đối tượng nào cũng có thể vay vốn từ ngân hàng, bên cạnh đó, hình thức vay vốn ngân hàng chỉ giải quyết có những cá nhân nhỏ lẻ và có nguồn lực đảm bảo cho phần vốn vay Để đa số
Trang 15thanh niên có nhu cầu khởi nghiệp và có nguồn vốn phục vụ cho những đầu tư ban đầu, Nhà nước đưa ra chính sách về hỗ trợ tín dụng, từ đó triển khai xuống địa phương để thực hiện chính sách này Điều này đáp ứng được số lượng lớn nhu cầu thanh niên cần nguồn vốn cho khởi nghiệp đồng thời tránh được tình trạng “tín dụng đen” trong xã hội để giảm gánh nặng về lãi cho người khởi nghiệp trong quá trình hoạt động ban đầu.Trách nhiệm của địa phương là bố trí ngân sách, phối hợp kêu gọi các nguồn khác để thành lập một loại hình quỹ tín dụng nhằm sử dụng cho mục địch giải quyết việc làm tại chính địa phương đó.Việc lập, quản lý và sử dụng quỹ này được quy định tại các VBQPPL hiện hành
1.1.3.2 Thiện việc thực hiện chính sách đào tạo nghề
Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp Chất lượng nguồn lao động là yếu tố then chốt quyết định sực phát triền kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Một trong những minh chứng rõ nét nhất là đất nước Nhật Bản - một quốc gia nghèo nàn về tài nguyên và gắn liền với nhiều thiên tai nhưng con người nơi đây đã chăm chỉ và không ngừng sáng tạo để vượt qua những cản trở của thiên nhiên để trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới; là tấm gương sáng cho các nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam Một trong những phương pháp giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động là hệ thống giáo dục của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng phải hiện đại, phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và phù hợp với đối tượng người học Trong
hệ thống giáo dục của một quốc gia sẽ gồm nhiều cấp bậc khác nhau trong đó đào tạo nghề là một khâu quan trọng và tác động rõ rệt đến chất lượng đội ngũ lao động Đào tạo nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế -
xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí
Trang 16Hiện nay, đào tạo nghề không chỉ còn là trách nhiệm cá nhân của người lao động mà còn là trách nhiệm chính của Nhà nước nói chung và địa phương nói riêng Bởi lẽ việc đào tạo nghề có phù hợp với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội hay không? Chất lượng đào tạo có đáp ứng với yêu cầu công việc
mà xã hội cần hay không? Đấy là trách nhiệm trong tổ chức, quản lý của Nhà nước Cụ thể hơn, việc đào tạo nghề đáp ứng đúng chất lượng, đúng số lượng
mà xã hội cần thì địa phương thực hiện tốt chính sách này sẽ gặp nhiều thuận lợi trong ổn định an ninh xã hội và phát triển kinh tế của chính địa phương đó 1.1.3.3 Thực hiện chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn để tạo việc làm
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã xác định cần chú trọng phát triển “kinh tế tư nhân” xem kinh tế tư nhân là động lực quan trọng
để phát triển đất nước, hay Chính phủ đã quan niệm rằng “Quốc gia khởi nghiệp” và “Chính phủ kiến tạo” Điều này cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, phát triển nhằm góp phần thúc đẩy nền kinh tế nói chung và giải quyết việc làm nói riêng
Nhà nước thực hiện các biện pháp sau đây nhằm hỗ trợ các hoạt động đầu tư trong nước: Giao đất hoặc cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai; Xây dựng kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp để cho thuê làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; Lập và khuyến khích các quỹ hỗ trợ đầu tư để cho vay đầu tư trung hạn và dài hạn; Góp vốn thông qua các quỹ
hỗ trợ đầu tư, ngân hàng thương mại, công ty tài chính vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế trên cơ sở cùng có lợi; khuyến khích các ngân hàng, tổ chức tín dụng và công ty tài chính nhà nước bảo lãnh tín dụng đầu tư cho nhà đầu tư tư nhân trong nước; Hỗ trợ và tổ chức thực hiện các chương trình, dịch vụ khuyến khích đầu tư, gồm: Tư vấn quản lý và kinh doanh; Tư vấn pháp lý; Tổ chức dạy nghề và đào tạo cán bộ kỹ thuật; Đào tạo
Trang 17và nâng cao kiến thức quản lý; Cung cấp thông tin kinh tế; Phổ biến và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho các chủ đầu tư được sử dụng với mức phí ưu đãi các công nghệ mới tạo ra bởi vốn ngân sách nhà nước
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hàng năm công
bố quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; công bố quỹ đất chưa sử dụng, quỹ đất đang có nhu cầu cho thuê, kèm theo danh mục các dự án kêu gọi đầu tư của địa phương trên các phương tiện truyền thông đại chúng và tại trụ sở của UBND để các nhà đầu tư có nhu càu đầu tư tham gia
Nhìn chung, Nhà nước đang nỗ lực hoàn thiện hệ thống chính sách nhằm thu hút đầu tư và phát triển khu vực tư một cách bền vững, nhưng quan trọng là chính quyền địa phương phải nghiêm túc thực hiện các chính sách nêu trên, để tránh tình trạng “trên dải thảm, dưới dải đinh” như Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã từng đề cập
1.1.3.4 Thực hiện chính sách xuất khẩu lao động
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, có một thuật ngữ mới được đưa
ra đó là “công dân toàn cầu”, có thể hiểu theo nghĩa là khi một người có kiến thức, kỹ năng, am hiểu các nền văn hóa thì có thể sinh sống và lao động ở các quốc gia khác nhau mà mình mong muốn Bên cạnh đó, nguồn việc làm trong nước chưa đáp ứng kì vọng về số lượng của người lao động thì xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp tốt để giảm tỷ lệ thất nghiệp ở các quốc gia Trong những năm qua, số lượng người đi xuất khẩu lao động của nước ta ngày càng gia tăng.Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý Lao động Ngoài nước, Bộ LĐTB & XH có khoảng 500.000 LĐVN đang làm việc tại hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những nước nhận số lượng lớn LĐVN như: Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc.[16] Tuy nhiên, không chỉ cần tăng về số lượng lao động được xuất khẩu đi nước ngoài làm việc, mà chất lượng tay
Trang 18nghề cần gia tăng, bên cạnh đó các vấn đề về quyền lợi của người lao động ở nước ngoài, việc tuân thủ, chấp hành pháp luật của nước ngoài và ý thức văn hóa của người lao động Việt Nam tại nước ngoài là những vấn đề cần hoàn thiện hơn nữa Do đó, ngay từ khâu đào tạo, bồi dưỡng và quản lí nguồn lao động trong nước là trách nhiệm của chính quyền địa phương nhằm hướng tới mục tiêu tạo ra một nguồn lao động đảm bảo chất lượng, có văn hóa tốt để đưa đi ra nước ngoài làm việc, từ đó đảm bảo cuộc sống ổn định cho người lao động và cũng thu về các nguồn lợi từ người lao động đóng góp về cho đất nước Để thực hiện tốt chính sách xuất khẩu lao động, chính quyền địa phương cần làm tốt hơn nữa từ công tác lập qui hoạch, kế hoạch, đào tạo nguồn lao động cho đến công tác quản lý, kiểm soát tình hình người lao động chuẩn bị ra nước ngoài làm việc cho đến khi những người này quay về nước
1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Trong quá trình thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên, có một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này như sau:
- Quy mô đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của địa phương
Sự phát triển sản xuất kinh doanh xét về qui mô đầu tư phụ thuộc rất lớn vào các điều kiện tự nhiên cũng như kế hoạch, chính sách phát triển kinh
tế - xã hội ở các địa phương Nhiệm vụ của mỗi địa phương là sử dụng và phát huy tối đa các điều kiện tự nhiên chi phối sản xuất kinh doanh, trên cơ sở
đó xây dựng kế hoạch chính sách phát triển đúng đắn, bền vững nhằm mục tiêu quan trọng là phát triển con người – chủ thể và động lực chủ yếu của nền sản xuất và mọi hoạt động xã hội Thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Chính phủ đã ban hành và hoàn thiện hệ thống chính sách và cơ chế quản lý cho sự phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi để các ngành, các hình thức kinh tế các vùng phát triển, tạo nhiều
Trang 19việc làm mới, đáp ứng từng bước nhu cầu việc làm và nâng cao đời sống của người lao động nói chung, lao động thanh niên nói riêng
Bên cạnh đó, đầu ra của thị trường là một phần quan trọng của yếu tố quy mô đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh của địa phương Thị trường đầu
ra của sản xuất hàng hóa ở các địa phương trong nước ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến giải quyết việc làm cho thanh niên Một khi hàng hóa ứ đọng không bán được là sự phản ánh rõ nét hạn chế về trình độ tổ chức sản xuất, kinh doanh, trình độ tay nghề của các lực lượng lao động; từ đó dẫn đến phá sản doanh nghiệp và thất nghiệp tất yếu sẽ xảy ra Theo đó, nâng cao trình độ quản lý, tổ chức sản xuất của chủ thể sử dụng lao động và nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trẻ là nhân tố quyết định sức sống vững bền của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
- Số lượng, chất lượng lao động thanh niên
Số lượng lao động thanh niên là yếu tố đầu tiên để chính quyền địa phương và doanh nghiệp dự báo có thể giải quyết được bao nhiêu việc làm trong tổng lực lượng thanh niên đến độ tuổi lao động Số lượng lao động thanh niên chi phối đến giải quyết việc làm còn phải tính đến tỷ lệ thất nghiệp
ở thành phố và nông thôn Theo tính toán của Bộ Lao động, Thương binh và
xã hội thì tình trạng thất nghiệp của thanh niên ở khu vực thành thị trong những năm gần đây dao động từ 5-8%; trong đó, một số tỉnh, thành phố thường có tỉ lệ thất nghiệp cao là Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ… Tình trạng thất nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào cấp độ đào tạo và nhóm ngành nghề đào tạo.Tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, số lượng sinh viên qua đào tạo được tuyển dụng rất ít, trong khi số lượng đã tốt nghiệp ngày càng gia tăng Nhiều ngành đào tạo khó kiếm việc làm như nông, lâm, thuỷ sản …Điều
đó, cho thấy chất lượng lao động thanh niên là yếu tố chi phối mạnh nhất đến khả năng giải quyết việc làm của xã hội
Trang 20Chất lượng lao động thanh niên là yếu tố then chốt mà người sử dụng lao động dựa vào đó để tuyển dụng lao động Do đó, phải nâng cao chất lượng giáo dục hướng nghiệp, bồi dưỡng, đào tạo và đào tạo lại lực lượng lao động thanh niên để nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của lao động than niên, đáp ứng tốt hơn cầu về lao động của các cơ sở sản xuất kinh doanh ở địa phương Ngoài các yếu tố trên, còn các yếu tố khác ảnh hưởng đến vấn đề giải quyết việc làm như: trình độ kỹ năng, phẩm chất, tính kỷ luật lao động, sức khoẻ, thể chất của lao động thanh niên Phong tục, tập quán, thói quen, trình
độ dân trí, ý thức chấp hành pháp luật, trình độ văn minh của xã hội
- Cơ chế, chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên
Để giải quyết việc làm cho thanh niên, vấn đề quan trọng hàng đầu là Chính phủ phải tạo ra môi trường thuận lợi một mặt, để người sử dụng lao động có thể tạo ra nhiều chỗ làm việc thu hút đáng kể lao động thanh niên, mặt khác để bản thân lao động thanh niên có thể tự tạo việc làm…thông qua
cơ chế, chính sách cụ thể của Chính phủ
Cơ chế về giải quyết việc làm cho lao động nói chung, thanh niên nói riêng đều dựa trên sự đánh giá khách quan tình trạng thất nghiệp trên thực tế của lực lượng lao động, trong đó đa phần ở lứa tuổi thanh niên hiện nay Đồng thời đánh giá rất rõ khả năng của nền kinh tế thị trường có thể thu hút
số lượng lao động là bao nhiêu trong từng thời kỳ Việc từng bước hình thành
cơ chế phân bố lao động theo các quy luật của thị trường lao động, đổi mới cơ chế chính sách xuất khẩu lao động…sẽ tạo ra các điều kiện cho giải quyết việc làm tốt hơn
Các chính sách về giải quyết việc làm là những chính sách chi phối trực tiếp và gián tiếp đến cung và cầu về lao động, làm cho cung và cầu về lao động xích lại gần nhau, phù hợp với nhau thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa
cơ cấu lao động với cơ cấu kinh tế Các chính sách chủ yếu thường được đề
Trang 21cập đến là chính sách phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế; chính sách về lao động, việc làm, tiền lương, thu nhập; chính sách về đất đai; chính sách về thuế; chính sách về giáo dục và đào tạo; chính sách về xuất khẩu lao động
Chủ trương về tạo việc làm đã được Đảng ta nêu rõ: “Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân, mọi nhà đầu tư mở mang ngành nghề, tạo nhiều việc làm cho người lao động Mọi công dân đều được tự do hành nghề, thuê mướn nhân công theo pháp luật Phát triển dịch vụ việc làm Tiếp tục phân bổ lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước, tăng dân cư các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh quốc phòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu.Giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị và thiếu việc làm ở nông thôn”
- Sự nỗ lực của các chủ thể trong giải quyết việc làm
Đối với lực lượng lao động thanh niên: Cơ hội lựa chọn việc làm ngày càng được mở rộng Người lao động đã chủ động tự tìm việc trong bối cảnh các thành phần kinh tế đa dạng như hiện nay và giảm bớt sự thụ động chờ vào sắp xếp việc làm của Nhà nước Người lao động có xu hướng tìm việc phù hợp với năng lực cũng như theo các mong muốn khác về việc làm (ví dụ như muốn làm việc trong môi trường năng động, sáng tạo hay trong môi trường ít
áp lực, hay trong môi trường có điều kiện làm việc tốt v.v )
Đối với người sử dụng lao động trong các thành phần kinh tế: Họ được khuyến khích làm giàu hợp pháp cho nên một khi các thành phần kinh tế được quan tâm phát triển, nghĩa là các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có điều kiện đẩy mạnh đầu tư sản xuất kinh doanh sẽ tạo nhiều việc làm cho người lao động Các chủ thể của thành phần kinh tế ngoài kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, được tự do tổ chức sản xuất kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm, mở ra khả năng to lớn giải quyết việc làm cho lao động thanh niên
Đối với Nhà nước: Vai trò, trách nhiệm của Nhà nước chi phối mạnh mẽ
Trang 22đến giải quyết việc làm, nhất là trong điều kiện cơ chế thị trường Hiện nay, thay vì bao cấp trong giải quyết việc làm, nhà nước tập trung vào việc tạo ra cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo hành lang pháp luật, xóa bỏ hàng rào về hành chính tạo điều kiện môi trường kinh tế, pháp luật đảm bảo cho mọi người được
tự do đầu tư phát triển sản xuất, tạo thêm việc làm, tự do hành nghề, hợp tác và thuê mướn lao động, cơ hội việc làm được tăng lên và ít bị ràng buộc bởi các nguyên tắc hành chính và ý chí chủ quan của Nhà nước
Tóm lại, giải quyết việc làm cho thanh niên chịu sự chi phối của các nhân tố kinh tế - xã hội, số lượng và chất lượng lực lượng lao động thanh niên, cơ chế và chính sách giải quyết việc làm, thị trường đầu ra, sự nỗ lực của các chủ thể trong giải quyết việc làm Bởi vây, để giải quyết tốt việc làm cho thanh niên phải chú trọng phát triển mặt tích cực của các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm và chất lượng lao động, mặt khác, phải có những biện pháp hữu hiệu chủ động nhằm triệt tiêu những mặt tiêu cực của các nhân tố đó
1.2 Kinh nghiệm quốc tế, trong nước và bài học kinh nghiệm cho Quận
Ba Đình
1.2.1 Kinh nghiệm quốc tế trong việc giải quyết việc làm
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc [5]
Tính đến thời điểm năm 2011 dân số của Trung Quốc là 1347,7 triệu người, với lực lượng lao động là 785,8 triệu người Trung Quốc là một nước nông nghiệp với số dân nông thôn chiếm trên 70% dân số (năm 2011).Số lượng nông dân vẫn cao và không giảm qua các năm Trung Quốc là một nước thực hiện CNH, HĐH khá thành công trong hơn hai thập kỷ qua, nhiều vùng nông thôn, diện tích canh tác ngày càng bị thu hẹp đã dẫn tới có khoảng 100-120 triệu lao động nông thôn không có việc làm và thiếu việc làm ở mức nghiêm trọng Dòng lao động nông thôn nhập cư vào thành phố rất lớn trong các năm đầu CNH, HĐH, vấn đề giải quyết việc làm ở các thành phố trở nên
Trang 23gay gắt Trước tình hình đó, chính phủ Trung Quốc rất coi trọng giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn ngay tại địa phương qua việc phát triển doanh nghiệp hương trấn, để thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương” Đây là những doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc rất nhỏ Có tới 99% xí nghiệp hương trấn có không quá 50 lao động Chính quyền Trung Quốc xếp các doanh nghiệp này vào một khu vực riêng Trong bối cảnh lúc đó của một nền kinh tế thiếu công việc và thu nhập, tăng sức mua trong nông thôn và cung cấp những mặt hàng cần thiết Cụ thể số lao động trong các doanh nghiệp này
đã tăng từ 28 triệu năm 1978 đến 135 triệu của năm 1996
Chính phủ Trung Quốc có chính sách hỗ trợ, phát triển hệ thống các lớp, cơ sở dạy nghề nhằm đáp ứng cho phát triển doanh nghiệp hương trấn.Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp hương trấn mở các lớp dạy nghề bên cạnh doanh nghiệp để đào tạo lao động Doanh nghiệp hương trấn
đã sử dụng những người lao động ở nông thôn có chuyên môn, dám nghĩ, dám làm, trưởng thành từ thực tiễn để đào tạo tay nghề cho những người vừa tốt nghiệp các cấp
Chính phủ Trung Quốc có chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo, dạy nghề, tích cực đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các khu vực đô thị hóa nhanh như Thẩm Quyến, ngoại thành Bắc Kinh, Thượng Hải để tạo điều kiện cho lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, các cụm kinh tế mở Các thành phố mới phát triển của Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao (30- 35%/năm) nên thu hút một lượng lao động nông thôn rất lớn vào các ngành công nghiệp và dịch vụ Trong khi đó, nguồn lao động ở nông thôn dồi dào, có trình độ văn hóa khá cao, vì vậy, đào tạo lao động ở nông thôn để đáp ứng nhu cầu sử dụng của các vùng đô thị hóa nhanh, ngành mới phát triển mạnh như điện tử, công nghiệp lắp ráp, chế tạo, chế biến
Trang 24thực phẩm, vật liệu xây dựng, ngành sắt thép được chính phủ và chính quyền các địa phương rất quan tâm
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản [18]
Nhật Bản coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất nước Từ đầu thập niên 1980, Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: đào tạo những thế
hệ mới có tính năng động, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn sâu, có khả năng suy nghĩ và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và xu thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu Luật Dạy nghề được ban hành năm 1958, được chỉnh sửa vào năm 1978, hướng vào thiết lập và duy trì hệ thống huấn luyện nghề nghiệp, bao gồm hệ thống “dạy nghề công” mang tính hướng nghiệp và “dạy nghề được cấp phép” là giáo dục và huấn luyện nghề cho từng nhóm công nhân trong hãng xưởng do các công ty đảm nhiệm và được chính quyền công nhận là dạy nghề Các hình thức huấn luyện nghề gồm: “dạy nghề
cơ bản” cho giới trẻ mới ra trường; “dạy tái phát triển khả năng nghề nghiệp” chủ yếu cho những công nhân không có việc làm; và “nâng cao tay nghề” cho công nhân đang làm việc trong các hãng xưởng Những thay đổi về cấu trúc
KT - XH, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tác động đến nhiều lĩnh vực và nội dung huấn luyện làm mở rộng khung dạy nghề truyền thống Kết quả là đến năm 1985, Luật Dạy nghề được chỉnh sửa và đổi tên thành Luật Khuyến khích Phát triển Nguồn nhân lực và cụm từ “phát triển nguồn nhân lực” được dùng để chỉ quan niệm mới về dạy nghề Hiện nay, Nhật Bản thực hiện phát triển nguồn nhân lực theo một hệ thống huấn luyện suốt đời
1.2.1.3 Kinh nghiệm đào tạo nghề của CHLB Đức [19]
Ở CHLB Đức, hệ thống đào tạo nghề là sự kết hợp giữa việc học trong một môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của công ty và một cơ sở
Trang 25có năng Hệ thống đào tạo nghề kép ở CHLB Đức có một số ưu điểm sau:
Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông bắt buộc, theo quy định của Chính phủ CHLB Đức, học sinh có thể tham gia vào học nghề ở lứa tuổi 15-
18 Tham gia vào hệ thống đào tạo nghề, học sinh có thể lựa chọn hình thức đào tạo toàn bộ tại trường hoặc hệ thống đào tạo nghề kép.Hiện nay, 2/3 học sinh trong nhóm độ tuổi này đã chọn hình thức đào tạo nghề kép.Tiêu chuẩn được lựa chọn vào hệ thống đào tạo nghề kép phụ thuộc vào chất lượng học nghề của học sinh
Các học sinh tham gia hệ thống này, được dậy các kỹ năng cơ bản cho ngành nghề đã chọn và sau đó được đào tạo chuyên sâu Học sinh có thể theo học ngành của mình 3 ngày tại công ty, những ngày còn lại học tại trường nghề hoặc học sinh có thể sử dụng nhiều thời gian hơn tại công ty, và cũng có thể tham gia học ngoài giờ tại trường nghề Hiện nay, trong chương trình học của hệ thống đào tạo nghề kép thì các môn chuyên ngành chiếm 60% và các môn phổ thông chiếm 40%
Tên mô hình đào tạo nghề kép còn gắn liền với cơ chế quản lý hệ thống đào tạo nghề ở Đức Chẳng hạn, Chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý trường nghề và Chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề tại công ty Việc dạy nghề tại công ty đều do các công ty trực tiếp tổ chức, song việc kiểm soát lại do Công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát viên và hội đồng công nhân tại công ty thực hiện Trên thực tế, công đoàn tham gia vào mọi công đoạn của hệ thống đào tạo kép trong công ty, từ quá trình lựa chọn học sinh cho đến duy trì một chương trình học hiện đại, kiểm soát chất lượng và bảo vệ công nhân khỏi nguy cơ như bị trả lương thấp hoặc không được đào tạo đầy đủ
Hệ thống đào tạo nghề kép được điều chỉnh bởi nhu cầu cung cấp vị trí đào tạo của các công ty Các công ty là người quyết định số lượng công nhân
Trang 26được đào tạo và đào tạo theo chuyên ngành nào Công ty được quyền tự do lựa chọn các ứng cử viên được tham gia đào tạo Tuy nhiên, trong việc thực hiện những chức năng như vậy, công ty phải tuân thủ hàng loạt những quy chế do Chính phủ Liên bang đặt ra với sự tư vấn của các đoàn thể xã hội
Sau khi học sinh tốt nghiệp từ hệ thống đào tạo nghề kép, tình hình việc làm của học sinh nói chung tốt, phần lớn học sinh xin được việc làm ngay Theo báo cáo về hệ thống đào tạo kép của Bộ Giáo dục và Khoa học CHLB Đức cho biết, sau 6 tháng học sinh tốt nghiệp từ hệ thống đào tạo nghề kép, khoảng 60% học sinh nhận được việc làm với hợp đồng không hạn chế, có nghĩa là hợp đồng trong thời gian 3-4 năm, rồi sau đó ký tiếp hoặc hợp đồng vĩnh viễn nếu cả hai bên mong muốn, 10% thất nghiệp, 17% tham gia quân ngũ hoặc nhận hợp đồng ngắn hạn (từ 6 tuần cho đến 5 năm) và 13% tham gia đào tạo tiếp Trong số những học sinh có việc làm ngay, 78% học sinh được làm việc theo đúng chuyên ngành đào tạo Thông thường, các học sinh theo học các khóa đào tạo nghề trong các công ty lớn có cơ hội việc làm lớn hơn so với học sinh theo học các khóa đào tạo trong các công ty nhỏ Theo số liệu thống kê, có khoảng 80% học sinh tốt nghiệp học nghề trong các công ty lớn được ở lại làm việc tại công ty đã đào tạo Chỉ số này khiêm tốn hơn nhiều đối với đào tạo trong các công ty nhỏ, sử dụng chưa đến 1/2 số học sinh họ đã đào tạo Song, nhờ chất lượng đào tạo của hệ thống đào tạo nghề kép, nên cơ hội việc làm của các học sinh tốt nghiệp không được công ty đào tạo thuê vẫn cao Hơn nữa, thường xuyên diễn ra quá trình trao đổi giữa hãng tổ chức đào tạo và hãng không tổ chức đào tạo, nên việc điều chỉnh về các quyết định đào tạo và sử dụng được diễn ra theo điều kiện thị trường lao động Một yếu tố chủ chốt tạo ra hiệu quả cao của hệ thống đào tạo nghề kép ở Đức là chất lượng cao, chế độ đãi ngộ tốt là các động cơ khuyến khích mạnh của giáo viên trong cả hai bộ phận, tại trường nghề và tại công ty.Khả năng cung cấp
Trang 27các giáo viên có chất lượng cao là một tiêu chuẩn chính yếu, cho phép các hãng thực hiện quá trình đào tạo trong hệ thống đào tạo kép.Các giáo viên đào tạo tại hãng được lựa chọn từ các xưởng và phòng làm việc của công ty và phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc Họ còn phải là những người có
đủ năng lực sư phạm và chuyên môn để tham gia giảng dạy Các yêu cầu chuyên môn là một chứng chỉ thợ chính thức của ngành cộng với 1,5 năm đào tạo thêm tại các lớp học buổi tối của trường kỹ thuật và kỳ thi tốt nghiệp, xác nhận trình độ về cả chuyên môn lẫn sư phạm Đối với những người được lựa chọn làm giáo viên, họ có quyền lợi đi kèm là được chuyển hẳn từ vị trí sản xuất như là “công nhân cổ xanh” sang vị trí làm việc của tầng lớp nhân viên
cổ trắng, với 20 giờ dạy trong một tuần, thay cho khoảng thời gian tăng gấp đôi làm việc tại nơi sản xuất Những quyền lợi này là động cơ thực sự cho phép lớp trẻ tham gia đội ngũ giảng dạy tại hệ thống đào tạo nghề kép
Có thể khẳng định, hệ thống đào tạo nghề kép là mô hình đào tạo chiếm
vị trí quan trọng trong hệ thống đào tạo ở CHLB Đức, được thế giới công nhận là mô hình đào tạo tiên tiến với mục đích chính là phát triển một lực lượng lao động chất lượng cao với quy mô ngày càng tăng
1.2.2 Bài học kinh nghiệm cho Quận Ba Đình
Từ kinh nghiệm của những quốc gia trên có thể nhận rút ra những bài học cho Việt Nam nói chung và Quận Ba Đình nói riêng như sau:
Thứ nhất, phải giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên ở ngay tại nông thôn, tránh tình trạng ở nông thôn không tạo ra nhiều vị trí việc làm hoặc nông dân thất nghiệp sau khi bị đô thị hóa, sẽ di cư ra các thành phố lớn
để kiếm việc Việc di cư từ nông thôn ra thành thị sẽ gây áp lực lớn về an sinh
xã hội, an ninh trật tự và làm gia tăng gánh nặng ở các thành phố lớn như ở
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Bài học Trung Quốc cho thấy, cần phát triển hệ thống việc làm đồng đều giữa nông thôn, các làng nghề và hệ thống việc làm
Trang 28dịch vụ, thương mại, công nghiệp tại khu vực thành thị Tại Hà Nội, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả nước vẫn tồn tại song song cả vùng nông thôn và vùng đô thị Do đó, trước tiên cần có định hướng phát triển đúng đắn hai khu vực này từ cấp thành phố, sau đó, chính quyền các quận, huyện phải làm tốt công tác tham mưu để phát triển hệ thống việc làm cho cấp thành phố cũng như triển khai có hiệu quả các chỉ đạo của Trung Ương, cấp thành phố
về phát triển hệ thống việc làm nêu trên
Thứ hai, qua mô hình đào tạo kép của CHLB Đức cũng như sự quan tâm, chú trọng của Nhật Bản đối với hệ thống đào tạo nghề nghiệp, có thể thấy, đào tạo nghề ở nước ta quá lạc hậu, chưa đáp ứng được nhu cầu cả về số lượng và chất lượng của xã hội Cần xem xét lại vấn đề đào tạo nghệ từ Trung Ương đến địa phương ở nước ta Đối với chính quyền quận Ba Đình, cần chủ động tiếp thu những điểm tinh hoa trong đào tạo nghề của các nước phát triển
để tổ chức thực hiện, quản lý trên địa bàn quận Đây là điểm khác biệt lớn nhất khi Luật Tổ chức chính quyền địa phương có hiệu lực, đó là địa phương cần chủ động trong các lĩnh vực mà mình quản lý theo phân công, phân cấp
và nhiệm vụ được giao
Tiểu kết chương 1
Chương 1 của luận văn đã đưa ra các nghiên cứu về thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên nói chung và của quận Ba Đình nói riêng, cụ thể:
Chương 1 của luận văn đã hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên;
Đưa ra nội dung thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên;
Đưa ra những yếu tố ảnh hưởng tới thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên;
Trang 29Đưa ra kinh nghiệm thực tiễn của Trung Quốc, Nhật Bản, CHLB Đức trong giải quyết việc làm cho thanh niên;
Đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, cụ thể là quận Ba Đình
Từ đó, là cơ sở khoa học để nghiên cứu, phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của quận Ba Đình trong chương 2
Trang 30Chương 2 THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO THANH NIÊN CỦA QUẬN BA ĐÌNH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của Quận Ba Đình
Qua số liệu công bố tại cổng thông tin điện tử Quận Ba Đình, luận văn
có thể tổng hợp dữ liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội Quận Ba Đình như sau: [20]
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Thông tin chung:
- Đơn vị: Quận uỷ-HĐND-UBND Quận Ba Đình
- Địa chỉ: 25 phố Liễu Giai, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, Hà Nội
Quận Ba Đình được Chính phủ xác định là Trung tâm hành chính - chính trị quốc gia, nơi tập trung các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ.Đây còn là trung tâm ngoại giao, đối ngoại.Ba Đình có trụ sở nhiều tổ chức quốc tế, sứ quán các nước, nơi thường xuyên diễn ra các hội nghị quan trọng của Nhà nước, quốc tế và khu vực Nhắc đến
Ba Đình lịch sử là nghĩ ngay đến một vùng đất địa linh nhân kiệt với nhiều
Trang 31làng nghề cổ truyền đậm dấu ấn lịch sử như hoa Ngọc Hà, lụa Trúc Bạch, đúc đồng Ngũ Xã, bánh cốm Yên Ninh
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Qua gần 20 năm đổi mới, Đảng bộ quận luôn dành sự quân tâm đến việc củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền từ quận đến cơ
sở Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức phát triển toàn diện để đáp ứng kịp thời trước sự đòi hỏi của công cuộc đổi mới đất nước Trong chỉ đạo luôn coi trọng công tác giữ gìn an ninh chính trị, TTATXH, gắn công tác quốc phòng với an ninh và kinh tế, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển Từ chỗ cơ cấu kinh tế yếu kém, sản xuất gặp nhiều khó khăn, đời sống người dân bấp bênh, quận đã tập trung chỉ đạo tìm ra hướng đi thích hợp với tinh thần: Đổi mới nhanh chóng, ổn định tình hình, hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn Bằng những giải pháp cụ thể thúc đẩy kinh tế phát triển, cơ cấu hợp lý, thu hút được nhiều lao động, nộp ngân sách Nhà nước tăng bình quân hàng năm 12,95%, ước tăng trưởng các năm từ 2000
- 2004 là 20%/năm; tổng giá trị 5 năm đạt 7.283.350 triệu đồng, trong đó: Thương nghiệp 2.244.009 triệu đồng chiếm tỷ trọng 30,81%, khách sạn, nhà hàng 495.480 triệu đồng, chiếm 6,8%, du lịch 169.936 triệu đồng chiếm 2,33%; các ngành dịch vụ khác chiếm 1876.450 triệu đồng, chiếm 28,65% Cơ cấu kinh tế do Đại hội Đảng bộ quận Ba Đình lần thứ XXII xác định "Thương mại - dịch vụ và du lịch - công nghiệp" đã đạt được: Thương mại đạt 37,74% lao động nộp ngân sách 69,95%; dịch vụ và du lịch đạt 17,53% lao động, nộp ngân sách 11,76%; công nghiệp đạt 25% lao động, nộp ngân sách 12,35%
Cùng với phát triển sản xuất, công nhân lao động có tay nghề, kỹ thuật cao xuất hiện ở một số ngành nghề mới như: dầu khí, du lịch, điện tử, truyền tải điện Đa số có việc làm và thu nhập ổn định, đời sống được cải thiện và nâng lên, trong đó 25% có trình độ chuyên môn trung cấp kỹ thuật, 80% tốt
Trang 32nghiệp THPT, 35% có trình độ cao đẳng, đại học trở lên
Trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, nhiều hoạt động đạt chất lượng cao, Ba Đình là quận đầu tiên trong cả nước đạt phổ cập giáo dục tiểu học và THCS, xóa xong lớp học ca 3, phòng học cấp 4 Đến nay 53 cơ sở GDĐT thuộc quận,
15 đơn vị thuộc sở, ngành với 100% đội ngũ cán bộ giáo viên đều đạt và vượt chuẩn Công tác xã hội hóa giáo dục được thực hiện tốt từ cơ sở với những mô hình trường bán công, dân lập, tư thục Năm 2004, từ những kinh nghiệm đúc rút từ thực tiễn, Ba Đình lại đi tiên phong thực hiện cải cách hành chính với cơ chế 1 cửa ở quận và tất cả 14 phường thuộc quận Qua 7 tháng thực hiện, cấp quận giải quyết thủ tục hành chính cho 7899/7983 hồ sơ đạt tỉ lệ 99%, trong đó
7791 hồ sơ đã được giải quyết xong đúng hẹn đạt 99%, thu lệ phí đạt 279.788.000 đồng Cấp phường đã giải quyết 3573/3924 hồ sơ đạt tỉ lệ 90%
Từ những dữ liệu trên có thể thấy, Quận Ba Đình có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội thuận lợi, là nơi thu hút nguồn lao động nói chung và thanh niên trên cả nước đến sinh sống, làm việc Từ đó, vừa là cơ hội để Ba Đình tiếp tục là trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế hàng đầu của cả nước nhưng cũng là thách thức đối với chính quyền địa phương trong việc đảm bảo trật tự
an toàn xã hội và phát triển kinh tế địa phương
2.2 Thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình
2.2.1 Tổng quan về các chính sách việc làm hiện nay
Để nghiên cứu và đánh giá việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình, trước tiên, luận văn đưa ra góc nhìn tổng quan về các chính sách việc làm hiện nay Có nhiều góc nhìn, cách tiếp cận về chính sách việc làm ở nước ta, theo Bộ Luật Lao động năm 2012, có thể bao quát hệ thống chính sách việc làm qua sáu (06) nhóm chính như sau:
- Chính sách hoàn thiện thể chế phát triển thị trường lao động;
Trang 33- Chính sách kết nối cung cầu lao động;
- Chính sách hỗ trợ lao động di chuyển;
- Chính sách tín dụng ưu đãi cho sản xuất, kinh doanh;
- Chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài;
- Chính sách cho phép lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; Các nhóm chính sách này bao gồm nhiều chính sách để thực hiện, giải quyết một nhiệm vụ hay vấn đề nào đó, nhưng mục đích chung nhất là giải quyết việc làm cho người lao động nói chung và thanh niên trên địa bàn Quận
Ba Đình nói riêng
Trên cơ sở thẩm quyền của chính quyền quận Ba Đình và phạm vi nội dung nghiên cứu việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên trong chương 1, luận văn nghiên cứu thực trạng các chính sách này trong hoạt động của chính quyền quận Ba Đình với những chính sách như sau:
2.2.1.1 Chính sách về tín dụng cho thanh niên tìm việc, tự tạo việc làm
Thông qua việc ban hành gần 20 chính sách tín dụng ưu đãi, sử dụng cơ chế cho vay tín dụng thông qua các chương trình, tổ chức, hội đoàn thể, Nhà nước hỗ trợ vốn sản xuất, kinh doanh cho các nhóm yếu thế như lao động nghèo, lao động nông thôn, lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, lao động vùng chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp, các tổ chức kinh doanh thu hút nhiều lao động Trên cơ sở Bộ luật Lao động ban hành ngày 18 tháng 6 năm 2012, Chính phủ đã ban hành nhiều các văn bản để cụ thể hóa chính sách tín dụng cho thanh niên để tạo việc làm
- Ngày 05/04/2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 71/2005/QĐ-TTg về cơ chế quản lý, điều hành vốn cho vay của Quỹ quốc gia
về việc làm;
- Ngày 23/01/2008 Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 15/2008/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định
Trang 3471/2005/QĐ-TTg về cơ chế quản lý, điều hành vốn cho vay của Quỹ quốc gia
về việc làm Trên cơ sở đó, chính sách tín dụng tạo việc làm được thực hiện đến nay có các điểm cơ bản như sau:
+ Vốn cho vay của Quỹ quốc gia về việc làm (gọi là Quỹ cho vay giải quyết việc làm) được dùng để cho vay hỗ trợ các dự án nhỏ nhằm tạo thêm việc làm, được quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương
+ Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước về Chương trình giải quyết việc làm và Quỹ cho vay giải quyết việc làm, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ nguồn vốn, và giao chỉ tiêu thực hiện cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan trung ương của các tổ chức đoàn thể: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hội Người mù Việt Nam và Bộ Quốc phòng, gọi chung là cơ quan thực hiện Chương trình
- Đối với người lao động có hoàn cảnh đặc biệt: Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, thanh niên: hỗ trợ hộ nghèo vay vốn phát triển sản xuất thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo; Quyết định số 32/2007/QĐ-TTg ngày 05/3/2007 về việc cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; Quyết định số 126/2008/QĐ-TTg ngày 15/9/2008 về vay vốn phát triển sản xuất cho hộ dân tộc; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án Hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020
Ngoài ra, còn có các biện pháp hỗ trợ như khuyến khích xuất khẩu, ứng trước kế hoạch đầu tư ngân sách nhà nước của các năm sau đã tác động trực
Trang 35tiếp tới vấn đề duy trì việc làm và thu nhập cho người lao động trong bối cảnh suy giảm kinh tế, người mất việc làm gia tăng
2.2.1.2 Chính sách đào tạo nghề
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng về định hướng phát triển dạy nghề, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dạy nghề từ 2011 - 2020 Đến nay dạy nghề đã được phục hồi sau một thời gian dài bị suy giảm, từng bước được đổi mới và phát triển đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong kinh doanh, dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành ở nước ta từng bước được hình thành góp phần nâng cao vị thế, vai trò của dạy nghề trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia Hiện nay có 3 cấp dạy nghề bao gồm:
+ Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành của một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề;
+ Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc;
+ Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế
Đào tạo nghề là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước được các cấp, các ngành quan tâm Trong những năm qua Chính phủ đã có những chính sách khuyến khích phát triển dạy nghề cụ thể như sau: Ngày 28/12/2001 Chính phủ có Quyết định số 201/2001/QĐ- TTg định hướng phát triển dạy
Trang 36nghề từ năm 2001-2010; Nghị quyết số 07/2006/QĐ- BLĐTBXH về việc phê duyết “Quy hoạch phát triển mạng lưới trường CĐN, trường TCN, TTDNđến năm 2010 và định hướng đến năm 2020”; đây là những chính sách rấtquan trọng khẳng định từ nay đến năm 2013 công tác dạy nghề được đặt trên
“đường ray” nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, củng cố an ninh quốc phòng, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
2.2.1.3 Chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư trên địa bàn để tạo việc làm
Với tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp, trong những năm qua, Chính phủ đã có rất nhiều chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.Nhận thấy rõ vai trò, tiềm năng phát triển cũng như khó khăn của khối DNNVV, thời gian qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ, điển hình như: Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 đã khẳng định 10 nguyên tắc và 5 nhóm giải pháp cần thực hiện, nhằm mục tiêu nhà nước kiến tạo; lấy doanh nghiệp là đối tượng phục
vụ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để người dân và doanh nghiệp khởi nghiệp, tự
do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm
Ngày 06/06/2017, Thủ tướng Chính phủ cũng ra Chỉ thị 26/CT-TTg về tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết số 35/NQ-CPngày 16/5/2016, Thủ tướng Chính phủ khẳng định tinh thần “Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp” Chỉ thị nêu rõ, sau hơn một năm kể từ khi ban hành, việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 35 đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận: Tạo chuyển biến tích cực về tư tưởng, nhận thức của bộ máy công quyền với tinh thần phục vụ và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; từng bước tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng
Trang 37trưởng nhanh, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội
Năm 2017 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ được Quốc hội thông qua và đã có hiệu lực ngày 01/01/2018 gồm 4 chương 35 Điều, quy định nguyên tắc, nội dung, nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến hoạt động hỗ trợ… với nhiều quy định ưu đãi, ủng hộ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc sản xuất, kinh doanh Đây là hành lang pháp lý quan trọng để các thành phần của nền kinh tế chung tay hỗ trợ cho sự phát triển mạnh mẽ của DNNVV [20]
2.2.1.4 Chính sách xuất khẩu lao động
Nhà nước đã hình thành một hệ thống chính sách thúc đẩy việc làm ngoài nước, xây dựng các chương trình trọn gói từ đào tạo, cho vay vốn để hỗ trợ người lao động khi về nước, đặc biệt là người lao động thuộc hộ nghèo: Quyết định số 365/2004/QĐ-NHNN về việc cho vay vốn đối với lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; Quyết định số 143/2007/QĐ-TTg ngày 06/7/2007 về việc thành lập, quản lý Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; Quyết định số 71/2009/QĐ-TTg ngày 29/4/2009 phê duyệt Đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn
2009 - 2020
Nhu cầu lao động nói chung và thanh niên trên địa bàn Quận Ba Đình nói riêng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài ngày càng gia tăng Chính quyền Quận Ba Đình đã chủ động phối hợp với Sở Lao động – Thương binh
và Xã hội, Ngân hàng CSXH Hà Nội thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm túc, đúng các quy định của pháp luật và đảm bảo quyền lợi của người dân
2.2.2 Thực trạng thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình
Từ tổng quan các chính sách giải quyết việc làm như trên, căn cứ chức
Trang 38năng, nhiệm vụ của chính quyền Quận Ba Đình đã nêu trong chương I của luận văn, có thể đưa ra thực trạng việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên của Quận Ba Đình dựa trên những hoạt động sau:
2.2.2.1 Thực hiện chính sách hỗ trợ tín dụng cho thanh niên để tìm và tự tạo việc làm
Thực hiện Quyết định của UBND Thành phố về việc giao kế hoạch 613
tỷ đồng nguồn vốn vay Quỹ Quốc gia GQVL cho các quận, huyện, thị xã và các hội đoàn thể năm 2016 Nhìn chung, nguồn vốn giao cho các địa phương đều tăng qua các năm góp phần thực hiện giải pháp hỗ trợ giải quyết việc làm thành phố và các quận, huyện, thị xã Đến ngày 31/12/2016, quỹ đã giải ngân được 513 tỷ đồng, cho gần 3.000 dự án Góp phần thực hiện chính sách tín dụng để GQVL cho thanh niên, Quận Ba Đình đã phối hợp với NHCSXH, Sở
LĐ, TB và XH thành lập các điểm giao dịch lưu động các các phường nhằm tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận dễ dàng.Hiện nay NHCSXH quận Ba Đình có 14 Điểm giao dịch lưu động tại 14 phường với 135 Tổ tiết kiệm và vay vốn Thời gian giao dịch cố định vào một ngày trong tháng được thông báo công khai tại các phường.Các Điểm giao dịch của ngân hàng đã thực hiện tốt nhiệm vụ chuyển tải chính sách tín dụng ưu đãi của Chính phủ và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tiếp cận nguồn vốn cho vay
Để củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các điểm giao dịch, ngân hàng đã tích cực tuyên truyền, nâng cao nhận thức, ý thức cũng như trách nhiệm của tổ viên các Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) Trước hết là ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ ngân hàng trong việc chấp hành thời gian giao dịch, nội quy giao dịch, tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận vốn vay Tại điểm giao dịch, những thông tin mới về chương trình vay vốn, dư nợ tiền vay, tiền gửi… được niêm yết công khai và kịp thời Hàng tháng vào ngày giao dịch, đội ngũ cán bộ NHCSXH được phân công đã thực hiện công
Trang 39tác thu nợ, giải ngân tiền vay, nhận tiền gửi tiết kiệm của tổ viên tổ TK&VV
và huy động tiền gửi tiết kiệm của các cá nhân và tổ chức tại địa bàn Thông qua hoạt động giao dịch, cán bộ ngân hàng sẽ giải thích, hướng dẫn các chính sách, chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ; qua đó, giúp người dân hiểu rõ hơn mục đích, ý nghĩa của các chương trình tín dụng ưu đãi, tham gia giám sát, từ đó hạn chế tối đa những sai sót, góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn
Với những hoạt động thiết thực nêu trên, thông qua khảo sát của 200 thanh niên tham gia vay vốn tại các điểm giao dịch tháng 5 năm 2018, kết quả cho thấy sự hài lòng về việc thực hiện chính sách GQVL của chính quyền Quận Ba Đình như sau:
Bảng 2.1 Mức độ hài lòng của thanh niên về công tác phổ biến, tuyên
truyền chính sách tín dụng của Quận Ba Đình STT Mức độ hài lòng của thanh niênvề
công tác phổ biến, tuyên truyền
Số lượng (Người)
Trang 40khuyết tật, gia đình thương binh, liệt sỹ) Qua đó, số lượng thanh niên trên địa bàn tiếp cận được thông tin chính sách ngày càng gia tăng và được tư vấn kỹ lưỡng Để đánh giá chi tiết sự hài lòng của thanh niên đối với công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách tín dụng có thể dựa trên biểu đồ sau:
Biểu đồ 2.1 Mức độ hài lòng của thanh niên về công tác phổ biến, tuyên
truyền chính sách tín dụng của Quận Ba Đình
Số lượng thanh niên rất hài lòng là 95 người, chiếm tỷ lệ 47%; số lượng thanh niên hài lòng là 61 người, chiếm tỷ lệ 31%; số lượng thanh niên có thái
độ bình thường là 38 người, chiếm tỷ lệ 19%; số lượng thanh niên không hài lòng là 6 người; chiếm tỷ lệ 3% và không có thanh niên nào rất không hài lòng với công tác này Có thể thấy tỷ lệ thanh niên hài lòng và rất hài lòng là 78%, cho thấy công tác tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách tín dụng được chính quyền Quận Ba Đình đang thực hiện tương đối tốt Bên cạnh đó 19% thanh niên đánh giá công tác này ở mức trung bình và 3% thanh niên đánh giá công tác này chưa tốt là những con số cho thấy cần tiếp tục hoàn thiện công tác này trong tương lai
Một tiêu chí nữa để đánh giá việc thực hiện chính sách tín dụng GQVL của Quận là sự hỗ trợ, giải quyết hồ sơ trong quá trình thanh niên làm thủ tục vay vốn,