1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng và những điểm mới theo Bộ luật dân sự 2015

17 737 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 46,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ VÀ CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠINGOÀI HỢP ĐỒNG1. Khái niệm trách nhiệm dân sựKhái niệm trách nhiệm dân sựNghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp lý giữa bên có quyền và bên có nghĩa vụ xác định, tại đó bên có nghĩa vụ bị pháp luật cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ. Về điểm này, Bộ luật Dân sự Pháp qui định “hợp đồng giao kết hợp pháp có giá trị như luật đối với các bên giao kết” (Điều 134). Khoản 1 điều 302 Bộ luật dân sự quy định: “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.” Như vậy, người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm dân sự. Nếu các bên thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình thì quan hệ pháp luật phát sinh là quan hệ nghĩa vụ, còn trong trường hợp nghĩa vụ bị vi phạm, quan hệ phát sinh sau đó là quan hệ trách nhiệm.Tóm lại, trách nhiệm dân sự là hậu quả pháp lý bất lợi, áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân sự để buộc chủ thể này phải khắc phục những tổn thất đã gây ra. Đặc điểm của TNDSNhư trên đã phân tích, TNDS được hiểu là một trách nhiệm pháp lý cho nên nó sẽ mang những đặc tính nói chung của trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, vì đây là TNDS nói riêng nên sẽ có những đặc điểm riêng biệt thuộc về TNDSThứ nhất: Căn cứ phát sinh TNDS phải là hành vi vi phạm pháp luật dân sự: Đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự;Thứ hai: TNDS là biện pháp cưỡng chế mang tính tài sản. Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự mục đích mà các bên hướng đến là lợi ích. Chính vì vậy, lợi ích mà các bên hướng tới sẽ mang tính tài sản và đó là trách nhiệm bù đắp cho bên bị vi phạm một lợi ích nhất định từ bên vi phạmThứ ba: TNDS là trách nhiệm của bên vi phạm trước bên có quyền, lợi ích bị xâm phạmThứ tư: Chủ thể chịu TNDS ngoài người vi phạm nghĩa vụ còn có thể là những chủ thể khác như: Pháp nhân, cơ quan, tổ chức, người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên…Thứ năm: Hậu quả bất lợi mà người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu có thể là việc phải thực hiện nghĩa vụ, thực hiện đúng và thực hiện đủ nghĩa vụ và nếu có thệt hại thực tế từ vi phạm đó thì sẽ phát sinh thêm trách nhiệm bồi thường thiệt hại.Thứ sáu: TNDS nhằm đền bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm.2. Các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng+ Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng. Trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần. Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định. Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu.+ Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: Làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định.+ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại. Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên. Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại. II. CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT GÂY RA VÀ DO TÀI SẢN GÂY RA2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật gây ra 2.1.1. Có thiệt hại xảy ra Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản do người bị thiệt hại, do đó không có thiệt hại thì không đặt ra vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác. Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân , tổ chức. trong trách nhiệm hình sự với một số tội có cấu thành hình thức thì không đòi hỏi có hậu quả vật chất. Ngay với một số tội có cấu thành vật chất thì trong một số trường hợp cá biệt, hậu quả chưa xảy ra nhưng do tính chất của hành vi nguy hiểm có khả năng chưa gây hậu quả lớn cũng đã cấu thành tội phạm hoặc ngược lại, đối với một số tội như tội thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc vi phạm các quy định về an toàn giao thông thì phải có thiệt hại nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm. Nhưng trong trách nhiệm dân sự chỉ cần có thiệt hại dù không nghiêm trọng cung phải bồi thường. vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi thường vì vậy, cần xác định thiệt hại:

Trang 1

MỞ ĐẦU

Trong lịch sử pháp luật thế giới, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự Trải qua các thời kì lịch sử và ở những nước khác nhau, quy định về người phải bồi thường, cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường cũng như mức độ bồi thường…có sự khác biệt Vấn đề này phụ thuộc vào quan điểm giai cấp, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Trong lịch sử pháp luật của nước ta nói riêng, dù dưới hình thức nào thì cũng có thể nhận định chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất hiện từ rất sớm Ngày nay, do sự phát triển của xã hội, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không còn được coi là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận Xuất phát từ ý nghĩa quan trọng của chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lý luận cũng như trong thực tiễn, em xin nghiên cứu về đề

tài: “căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng những điểm mới của BLDS 2015 so với 2005”

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰVÀ CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT

HẠINGOÀI HỢP ĐỒNG 2

1 Khái niệm trách nhiệm dân sự 2

2 Các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 3

II CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT GÂY RA VÀ DO TÀI SẢN GÂY RA 4

2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành

vi trái pháp luật gây ra 4

2.1.1 Có thiệt hại xảy ra 4 2.1.2 Có hành vi trái pháp luật 5 2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật 7 2.1.4 Có lỗi của người gây ra thiệt hại 8

2.2 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 10 2.3 Ví dụ minh họa về căn cứ phát sinh ngoài hợp đồng 14

KẾT LUẬN 15

Trang 3

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM DÂN SỰVÀ CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠINGOÀI HỢP ĐỒNG

1 Khái niệm trách nhiệm dân sự

Khái niệm trách nhiệm dân sự

Nghĩa vụ dân sự là một quan hệ pháp lý giữa bên có quyền và bên có nghĩa

vụ xác định, tại đó bên có nghĩa vụ bị pháp luật cưỡng chế thực hiện nghĩa vụ Về điểm này, Bộ luật Dân sự Pháp qui định “hợp đồng giao kết hợp pháp có giá trị như luật đối với các bên giao kết” (Điều 134) Khoản 1 điều 302 Bộ luật dân sự quy định: “Bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.” Như vậy, người

vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu hậu quả bất lợi là trách nhiệm dân sự Nếu các bên thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình thì quan hệ pháp luật phát sinh

là quan hệ nghĩa vụ, còn trong trường hợp nghĩa vụ bị vi phạm, quan hệ phát sinh sau đó là quan hệ trách nhiệm

Tóm lại, trách nhiệm dân sự là hậu quả pháp lý bất lợi, áp dụng đối với chủ thể vi phạm pháp luật dân sự để buộc chủ thể này phải khắc phục những tổn thất

đã gây ra

Đặc điểm của TNDS

Như trên đã phân tích, TNDS được hiểu là một trách nhiệm pháp lý cho nên nó sẽ mang những đặc tính nói chung của trách nhiệm pháp lý Tuy nhiên, vì đây là TNDS nói riêng nên sẽ có những đặc điểm riêng biệt thuộc về TNDS

Thứ nhất: Căn cứ phát sinh TNDS phải là hành vi vi phạm pháp luật dân

sự: Đó là việc không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy

đủ nghĩa vụ của người có nghĩa vụ dân sự;

Thứ hai: TNDS là biện pháp cưỡng chế mang tính tài sản Trong quan hệ

nghĩa vụ dân sự mục đích mà các bên hướng đến là lợi ích Chính vì vậy, lợi ích

Trang 4

mà các bên hướng tới sẽ mang tính tài sản và đó là trách nhiệm bù đắp cho bên bị

vi phạm một lợi ích nhất định từ bên vi phạm

Thứ ba: TNDS là trách nhiệm của bên vi phạm trước bên có quyền, lợi ích

bị xâm phạm

Thứ tư: Chủ thể chịu TNDS ngoài người vi phạm nghĩa vụ còn có thể là

những chủ thể khác như: Pháp nhân, cơ quan, tổ chức, người đại diện theo pháp luật cho người chưa thành niên…

Thứ năm: Hậu quả bất lợi mà người vi phạm nghĩa vụ phải gánh chịu có

thể là việc phải thực hiện nghĩa vụ, thực hiện đúng và thực hiện đủ nghĩa vụ và nếu có thệt hại thực tế từ vi phạm đó thì sẽ phát sinh thêm trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Thứ sáu: TNDS nhằm đền bù hoặc khôi phục lại quyền và lợi ích bị xâm phạm.

2 Các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

+ Có thiệt hại xảy ra: Thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Trách nhiệm BTTH chỉ phát sinh khi có sự thiệt hại về tài sản hoặc sự thiệt hại về tinh thần Sự thiệt hại về tài sản là sự mất mát hoặc giảm sút

về một lợi ích vật chất được pháp luật bảo vệ; thiệt hại về tài sản có thể tính toán được thành một số tiền nhất định Thiệt hại về tinh thần được hiểu là do tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, tín nhiệm, lòng tin… và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất

mà họ phải chịu

+ Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật

trong trách nhiệm dân sự là những xử sự cụ thể của chủ thể được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: Làm những việc mà pháp luật cấm, không làm những việc mà pháp luật buộc phải làm, thực hiện vượt quá giới hạn pháp luật cho phép hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ mà pháp luật quy định

Trang 5

+ Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại Hành vi trái pháp luật sẽ là nguyên nhân của thiệt hại nếu giữa hành vi đó và thiệt hại có mối quan hệ tất yếu

có tính quy luật chứ không phải ngẫu nhiên Thiệt hại sẽ là kết quả tất yếu của hành vi nếu trong bản thân hành vi cùng với những điều kiện cụ thể khi xảy ra chứa đựng một khả năng thực tế làm phát sinh thiệt hại

II CĂN CỨ PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT GÂY RA VÀ

DO TÀI SẢN GÂY RA

2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

do hành vi trái pháp luật gây ra

2.1.1 Có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại xảy ra là tiền đề của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi mục đích của việc áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản

do người bị thiệt hại, do đó không có thiệt hại thì không đặt ra vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác Thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền, do việc xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân , tổ chức trong trách nhiệm hình sự với một số tội có cấu thành hình thức thì không đòi hỏi có hậu quả vật chất Ngay với một số tội có cấu thành vật chất thì trong một số trường hợp cá biệt, hậu quả chưa xảy ra nhưng do tính chất của hành vi nguy hiểm có khả năng chưa gây hậu quả lớn cũng đã cấu thành tội phạm hoặc ngược lại, đối với một số tội như tội thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc

vi phạm các quy định về an toàn giao thông thì phải có thiệt hại nghiêm trọng mới cấu thành tội phạm Nhưng trong trách nhiệm dân sự chỉ cần có thiệt hại dù không nghiêm trọng cung phải bồi thường vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải

có trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi thường vì vậy, cần xác định thiệt hại:

Trang 6

+ Thiệt hại về tài sản, biểu hiện cụ thể là sự mất mát tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản Đây là những thiệt hại vật chất của người bị thiệt hại;

+ Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe làm phát sinh thiệt hại về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi thường, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe;

+ Tổn thất về tinh thần: Đời sống tinh thần là phạm trù rất rộng bao gồm nhiều vấn đề và chỉ tồn tại đối với xã hội loài người như đau thương cảnh góa bụa, mồ côi, sự xấu hổ…về nguyên tắc không thể trị giá được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá trị như trong trao đổi và không thể phục hồi được Nhưng với mục đích an ủi, động viên đối với người bị thiệt hại về tinh thần, cũng như moojtbieejn pháp giáo dục nhằm ngăn chặn người có hành vi trái pháp luật,

BLDS quy định người xâm hại phải: “bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần” cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi cuẩ người

đó phải gánh chịu

2.1.2 Có hành vi trái pháp luật

Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín,tài sản là một quyền tuyệt đối của công dân, mọi tổ chức Mọi người đều phải tôn trọng những quyền

đó của chủ thể khác, không được thực hiện bất cứ hành vi nào “xâm phạm” đến các quyền tuyệt đối đó Bởi vậy, điều 584 BLDS quy định: “Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn

Trang 7

do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.”

Việc “xâm phạm” mà gây thiệt hại có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình

sự, hành chính, dân sự, kể cả những hành vi vi phạm đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, vi phạm các quy tắc sinh hoạt trong từng cộng đồng dân cư…

Hànhvi gây thiệt hại thông thường thể hiện dưới dạng hành động chủ thể

đã thược hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện các hành vi đó

Hành vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành

vi theo nghĩa vụ mà pháp luật hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực hiện các hành

vi đó Ví dụ khi đang điều khiển phương tiện giao thông, có mộ em bé chạy ra đường, khoảng cách giữa người chủ lái xe và em bé quá ngắn để có thể phanh gấp để ngăn chặn tai nạn xảy ra Khi đó, người lái xe đã lái rẽ sang đâm vào một ngôi nhà ven đường, gây thiệt hị trị giá 2 triệu đồng trong trường hợp này, hành

vi của người điều khiển xe không được coi là trái pháp luật bởi đây là tình thế cấp thiết, người gây thiệt hại đã gây ra một thiệt hại nhỏ hơn so với hậu quả có thể xảy ra Tuy nhiên, khi vượt quá giới hạn của tình thế cấp thiết, người gây thiệt hại vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường điều này được quy định rõ tại điều Điều

595 BLDS 2015: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

1 Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.

2 Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

Trang 8

2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật

Thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật hay ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra Điều này được quy định tại điều 584 BLDS 2015 Hành vi xâm phạm tài sản, tính mạng là nguyên nhân, và thiệt hại là hậu quả hành vi của hành vi đó Tuy nhiên, xác định mối tương quan nhân quả là vấn đề rất phức tạp Phạm trù nguyên nhân và kết quả là cặp phạm trù trong triết học Nhân quả là mối liên hệ nội tại, khách quan, và tất yếu giữa các sự vật hiện tượng cũng như xã hội, trong đó một là nguyên nhân và sau nó là kết quả Việc xác địnhmối quan hệ nhân quả chính là sự liên hệ khách quan đó Nguyên nhân bao giười cũng có trước kết quả và kết quả là hậu quả của nguyên nhân Xem xét mối liên hệ nhân quả giữa các hiện tượng xã hội, trong đó con người sinh sống và hoạt động phức tạp hơn nhiều so với các hiện tượng tự nhiên khác Vì vậy, việc xem xét chỉ có ý nghĩa khihanhf vi của con người là hậu quả của hành vi đó được đánh giá dưới góc độ xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng tới hành vi của con người , liên quan đến con người vào thời điểm có hành vi và hậu quả xảy ra

Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn Do đó, cần phải xem xét, phân tích, đánh giá tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác dịnh đúng trách nhiệm người gây ra thiệt hại

2.1.4 Có lỗi của người gây ra thiệt hại

Lỗi hiểu theo góc độ luật học, từ xưa đến nay có nhiều học giả, trong đó có các luật gia đã quan tâm nhận xét rất khác nhau trong việc xác định thế nào là yếu

tố lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng Ví dụ như: Theo học thuyết cổ điển, lỗi định nghĩa là

“một hành vi bất hợp pháp có thể quy trách nhiệm cho người làm hành vi ấy”.

Hoặc như luật dân sự La Mã cũng như Luật dân sự; khoa học pháp luật dân sự

Trang 9

của các nước Châu Âu lục địa đều không đề cập đến trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra khi xác định lỗi Mà theo Luật La Mã, lỗi (Culpa) là sự không tuân thủ hành vi mà pháp luật yêu cầu:

“Không có lỗi nếu như tuân thủ tất cả những gì được yêu cầu” Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết, lỗi được thống nhất hiểu là là trạng thái tâm lý của con người có thể làm chủ, nhận thức được hành vi của mình và hậu quả do hành vi đó mang lại Việc đánh giá hình thức, mức độ lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng khác với trách nhiệm hình sự Trong trách nhiệm hình sự, hình thức và mức độ lỗi có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định tội danh và quyết định hình phạt Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác định kẻ phạm tội có lỗi trong việc thực hiện hành vi phạm tội Trong khi đó, đối với trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại vấn đề hình thức lỗi

và mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm Về nguyên tắc, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi người gây thiệt hại có lỗi, bất kể lỗi đó là lỗi cố ý hay lỗi vô ý Xung quanh vấn đề lỗi, một câu hỏi thường được đặt ra đó là: Mọi trường hợp trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng đều tiên niệm có

sự thiệt hại, nhưng có phải mọi sự thiệt hại có đều phát sinh trách nhiệm không? Hay sự thiệt hại đó còn cần phải do một lỗi gây ra? Về vấn đề này có hai quan điểm: một quan điểm cố điển cho rằng phải có lỗi mới có trách nhiệm, một quan điểm khác lại chủ trương trách nhiệm khách quan không cần điều kiện lỗi Khuynh hướng cổ điển đặt căn bản của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng trên ý niệm lỗi của người gây ra thiệt hại cho người khác Theo đó, lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường Chỉ khi nào một người do lỗi của mình mà gây thiệt hại, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khác thì mới phải bồi thường Cơ sở để người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường là họ phải chứng minh lỗi của người gây thiệt hại Đây cũng là quan điểm của Điều 604 BLDS:

“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm, uy tín, …”Giá trị của khuynh hướng cổ điển khi đặt trách nhiệm

trên nền tảng lỗi là đã xác định phạm vi của tự do cá nhân: mọi người trong xã hội đều được tự do hoạt động, sự tự do ấy chỉ bị giới hạn bởi quyền lợi của người

Trang 10

khác; vậy chỉ khi nào một người do lỗi của mình mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì mới phải bồi thường Song trong tình trạng kinh

tế xã hội ngày nay, khuynh hướng cổ điển nhiều khi tỏ ra chật hẹp và không che chở được một cách có hiệu quả quyền lợi cho nạn nhân trong khi việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại là một đòi hỏi cấp thiết và chính đáng Thực vậy, trong trường hợp thiệt hại xảy ra mà không có ai chứng kiến, hoặc xảy ra mà không do lỗi của ai cả, nếu buộc nạn nhân phải dẫn chứng lỗi, tức là gián tiếp bác

bỏ quyền đòi bồi thường của nạn nhân Ngoài ra khuynh hướng cổ điển cũng không giải thích được trách nhiệm của người chưa thành niên và người mất năng lực hành vi về các thiệt hại do họ gây ra Khuynh hướng thứ hai đó là khuynh hướng chủ trương trách nhiệm khách quan, không cần điều kiện lỗi Khuynh hướng này đặt ra trách nhiệm khách quan cho người gây ra thiệt hại, do đó, trong mọi trường hợp, người này đều phải chịu trách nhiệm bồi thường Khuynh hướng này cũng không thỏa đáng vì bảo đảm sự bồi thường cho nạn nhân trong mọi trường hợp không hẳn là một giải pháp ích lợi cho xã hội Trên lập trường lợi ích công cộng còn phải quan tâm đến quyền tự do hoạt động của cá nhân, nếu thừa nhận sự bồi thường mà không đòi hỏi lỗi, mọi sự hoạt động của cá nhận sẽ bị tê liệt vì ai nấy đều không khỏi e sợ gây thiệt hại phải bồi thường mặc dầu không phạm lỗi Từ những lập luận trên, cùng với thực tế cho thấy các tai nạn mang tính khách quan nhiều khi nằm ngoài sự chi phối, điều khiển của con người ngày càng gia tăng cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, cơ giới hóa, đe dọa tới sự an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người, để bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ nạn nhân Bộ luật dân sự Việt Nam được xây dựng trên cơ sở dung hòa cả hai khuynh hướng trên Bên cạnh những điều khoản quy định yếu tố lỗi là một trong những điều kiện bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, BLDS Việt Nam cũng áp dụng chế độ trách nhiệm khách quan đối với các thiệt hại do tác động của các phương tiện cơ giới, của súc vật và vật

vô tri thức khác Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp có thể phát sinh mà không cần điều kiện lỗi Ví dụ tại Khoản 3 Điều 627 quy

định là: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn

Ngày đăng: 21/11/2018, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w