Hồ Chí Minh TÓM TẮT Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ nhiễm và các yếu tố liên quan tới nhiễm nấm ở khoang miệng của bệnh nhân ung thư.. - Mô tả một số yếu tố liên quan với tình tr
Trang 1TỶ LỆ NHIỄM NẤM Ở MIỆNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊU QUAN
TRÊN BỆNH NHÂN UNG THƯ ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN 103 VÀ
BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT NĂM 2015-2017
Mai Anh Lợi1, Lê Thành Đồng1, Nguyễn Khắc Lực2, Nguyễn Đức Công3, Đỗ
Ngọc Ánh2
1 Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Tp HCM,
2 Học viện Quân y,
3 Bệnh viện Thống Nhất – Tp Hồ Chí Minh
TÓM TẮT
Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỷ lệ nhiễm và các yếu tố liên quan tới
nhiễm nấm ở khoang miệng của bệnh nhân ung thư Nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng được thực hiện tại 2 Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Thống Nhất từ 1/2015 đến 10/2017 và Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng Tp Hồ Chí Minh từ 10/2017 đến 02/2018 Tổng số 332 bệnh nhân ung thư và 107 người bình thường khỏe mạnh được thu thập thông tin và bệnh phẩm dịch miệng để phát hiện nhiễm nấm phục vụ cho phân tích, so sánh Dịch miệng được soi tươi và nuôi cấy trên môi trường thạch Sabouraud có kháng sinh và được xác định nhiễm nấm khi quan sát thấy nấm dưới kính hiển vi Kết quả cho thấy, tỷ lệ nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư (43,07%) cao hơn có ý nghĩa thống
kê (p < 0,05) so với ở người bình thường khỏe mạnh (4,67%) Có sự liên quan giữa nhiễm nấm miệng với tình trạng điều trị xạ trị, hóa trị liệu trên 3 đợt và giảm albumin máu
Từ khóa: tỷ lệ, mối liên quan, nhiễm nấm, khoang miệng, ung thư
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tổn thương ở khoang miệng do nấm là một bệnh hay gặp, thường do Candida, trong đó Candida albicans là loài phổ biến nhất [4], [14] Ở người khỏe mạnh, tỷ lệ nhiễm nấm Candida ở khoang miệng dao động từ 17-75% và chúng sống hội sinh,
thường không gây ra tổn thương gì [9], [11] Tuy nhiên, ở những cơ thể có hệ miễn dịch suy giảm (sử dụng thuốc ức chế miễn dịch kéo dài, HIV/AIDS, ung thư), mắc hội chứng chuyển hóa, bỏng nặng… nhiễm và xuất hiện các tổn thương do nấm ở miệng
có thể là những dấu hiệu dự báo của một bệnh lý toàn thân khác [6]
Ung thư là bệnh ngày càng trở nên phổ biến và có xu hướng gia tăng không chỉ
ở các nước phát triển mà cả các nước đang phát triển do sự kéo dài tuổi thọ, ô nhiễm môi trường, thay đổi về lối sống và thói quen có hại cho sức khỏe [1] Hàng năm, thế giới có khoảng trên 6 triệu người chết do ung thư [1], [7] Theo Ambrus JL và CS (1975), nhiễm trùng là nguyên nhân chính gây ra 36% trường hợp tử vong ở bệnh nhân ung thư và là nguyên nhân phối hợp trong 68% trường hợp [5] Vì vậy, phát hiện và dự phòng nhiễm trùng, trong đó có nhiễm nấm sẽ giúp ngăn ngừa, cải thiện được các biến chứng, nâng cao chất lượng và kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân [8], [10]
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu:
- Xác định tỷ lệ nhiễm nấm niêm mạc miệng của bệnh nhân ung thư điều trị tại
Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Thống Nhất năm 2015-2017
- Mô tả một số yếu tố liên quan với tình trạng nhiễm nấm niêm mạc miệng của bệnh nhân ung thư
Trang 22 ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Địa điểm thu thập mẫu bệnh phẩm ở bệnh nhân: Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Thống Nhất – Tp Hồ Chí Minh
+ Địa điểm thu thập mẫu bệnh phẩm ở nhóm chứng: Viện SR-KST-CT Tp Hồ Chí Minh
+ Địa điểm phân tích mẫu: Viện SR-KST-CT Tp Hồ Chí Minh, Labo nấm Bộ môn Ký sinh trùng – Học viện Quân y
- Thời gian nghiên cứu: các mẫu bệnh phẩm dịch miệng của bệnh nhân được thu thập
từ 1/2015 đến 10/2017 Mẫu dịch miệng của người bình thường khỏe mạnh được thu thập từ 10/2017 đến 2/2018
2.2 Đối tượng nghiên cứu
2.2.1 Bệnh nhân nghiên cứu
Nhóm bệnh: 332 bệnh nhân bị ung thư đang được điều trị tại Bệnh viện Quân y
103 (165 bệnh nhân) và Bệnh viện Thông Nhất - Tp Hồ Chí Minh (167 bệnh nhân)
Nhóm chứng: gồm 107 người bình thường khỏe mạnh.
2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng nghiên cứu
- Nhóm bệnh
+ Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: là các bệnh nhân được chẩn đoán chắc chắn
bị ung thư dựa vào kết quả giải phẫu bệnh và đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu; Bệnh
nhân không bị ung thư; Bệnh nhân được chẩn đoán ung thư trên lâm sàng nhưng chưa
có kết quả giải phẫu bệnh
- Nhóm chứng
+ Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm chứng: là những người bình thường khỏe mạnh, được xác định không mắc các bệnh lý mạn tính như tiểu đường, gout, các bệnh tự miễn; không sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, thuốc corticoid và thuốc kháng sinh kéo dài trong vòng 1 tháng trở lại đây
+ Tiêu chuẩn loại trừ nhóm chứng: người không đồng ý tham gia nghiên cứu; người mắc các bệnh lý mạn tính như tiểu đường, gout, các bệnh tự miễn; người sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, thuốc corticoid và thuốc kháng sinh kéo dài trong vòng 1 tháng trở lại đây
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Dụng cụ: tăm bông vô trùng (để lấy mẫu), que đè lưỡi, đèn pin, đèn cồn, que
cấy, tủ ấm, lam kính, lamen, kính hiển vi, bút viết…
- Sinh phẩm hóa chất: môi trường Sabouraud, dung dịch NaCl 0.9%, nước cất,
cồn 70 độ, cồn đốt…
- Trang thiết bị: tủ an toàn sinh học cấp II, tủ cấy vi sinh…
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có đối chứng, có phân tích dựa trên kết quả xác định nhiễm nấm và các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
* Cỡ mẫu và lựa chọn mẫu nghiên cứu
- Nhóm bệnh
Trang 3Cỡ mẫu nghiên cứu được tính theo công thức 2
1 /2 2
(1 )
d
Trong đó, p là
tỷ lệ nhiễm nấm ở miệng bệnh nhân ung thư, lấy p = 0,778 (tham khảo kết quả ở nghiên cứu của Mustafa A Aldossary và CS (2016) tại Irắc) [12]; d là sai số cho phép, lấy d = 0,05 Với sai số cho phép d = 0,05 ta có 2
1 /2
Z = 1,96 Thay các giá trị vào công thức trên ta có n = 266
Trên thực tế, 332 bệnh nhân ung thư được lựa chọn nghiên cứu
Các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư đồng ý tham gia nghiên cứu được phân loại thành các nhóm sau: ung thư hệ tạo máu; ung thư cơ quan tiêu hóa; ung thư cơ quan hộ hấp; ung thư hệ tiết niệu, sinh dục, tuyến vú và ung thư khác Ở mỗi nhóm chọn ngẫu nhiên hoặc toàn bộ số bệnh nhân cho đủ số lượng nghiên cứu
- Nhóm chứng: gồm 107 người bình thường khỏe mạnh được chọn ngẫu nhiên
theo các tiêu chí không mắc các bệnh lý mạn tính như tiểu đường, gout, các bệnh tự miễn; không sử dụng thuốc ức chế miễn dịch, thuốc corticoid và thuốc kháng sinh kéo dài trong vòng 1 tháng trở lại đây
* Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu
- Phương pháp thu thập bệnh phẩm nghiên cứu
Bệnh nhân ung thư được khám để xác định tổn thương ở miệng Sau đó, sử dụng tăm bông vô trùng phết lên bề mặt tổn thương (nếu có) để lấy bệnh phẩm Trường hợp miệng không có tổn thương hoặc tổn thương không rõ ràng thì phết tăm bông ở nhiều vị trí (3-5 vị trí) của khoang miệng như bề mặt lưỡi, vòm miệng, thành miệng 2 bên, dưới lưỡi Bệnh phẩm sau đó được soi tươi và cấy trên môi trường Sabouraud dextrose agar (SDA) có kháng sinh Gentamycin ở điều kiện nhiệt độ 35oC
để phát hiện nhiễm nấm
- Đọc kết quả và xác định nhiễm nấm trong bệnh phẩm
+ Đọc kết quả soi tươi: bệnh phẩm được soi tươi trong nước muối sinh lý và đọc kết quả dương tính khi quan sát thấy tế bào men và/hoặc sợi nấm giả
+ Đọc kết quả cấy nấm: Kết quả cấy nấm được đọc 2 lần, lần 1 sau cấy 48 giờ và lần 2 sau cấy 10 ngày Các mẫu bệnh phẩm cấy nấm dương tính dựa vào đặc điểm khuẩn lạc, tế bào nấm khi quan sát trên kính hiển vi ở vật kính 40X
- Kỹ thuật thu thập thông tin, dữ liệu
Các thông tin về tình trạng bệnh lý, tổn thương miệng và kết quả xét nghiệm được ghi chép vào bệnh án nghiên cứu Sau đó thông tin được nhập liệu vào phần mềm thống kê để phân tích kết quả
2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Các số liệu nghiên cứu được xử lý và phân tích bằng các công cụ như SPSS 20.0 for windows…
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Những bệnh nhân đưa vào nghiên cứu là những bệnh nhân đồng ý và chấp nhận cho phép lấy mẫu dịch miệng để xét nghiệm nấm Thông tin của bệnh nhân được mã hóa và bảo mật
3 KẾT QUẢ
3.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
- Ở nhóm chứng, tỷ lệ nam giới thấp hơn nữ giới (46,73% so với 53,27%) Trong khi ở bệnh nhân ung thư, tỷ lệ nam cao hơn nữ (74,40% so với 25,60%)
Trang 4- Phân bố tuổi ở nhóm chứng chủ yếu ≤ 40 (với 68,22%), nhóm 41-60 tuổi chiếm 27,11% và ≥ 61 tuổi chỉ nhiếm 4,67% Trong khi ở nhóm bệnh phân bố tuổi chủ yếu ≥ 61 (với 62,35%), nhóm 41-60 tuổi chiếm 29,82% và ≤ 40 chỉ chiếm 7,83%
- Nhóm ung thư cơ quan tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất (44,58%), tiếp theo là ung thư cơ quan hô hấp (32,23%), ung thư thư hệ tiết niệu, sinh dục, tuyến vú (9,94%), ung thư máu và cơ quan tạo máu (8,73%) Ung thư các cơ quan khác chỉ chiếm 4,52%
3.2 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm và các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư
3.2.1 Kết quả xác định tỷ lệ nhiễm nấm ở miệng bệnh nhân ung thư
Biểu độ 1 Tỷ lệ nhiễm nấm miệng của nhóm chứng và nhóm bệnh
Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư cao hơn một cách có ý
nghĩa thống kê so với người bình thường (43,07% so với 4,67%, p < 0,05)
Biểu độ 2 Tỷ lệ nhiễm nấm miệng ở các nhóm ung thư
Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư cơ quan tiêu hóa cao
nhất (49,32%), tiếp theo là ung thư máu và cơ quan tạo máu (48,28%), ung thư cơ quan
hô hấp (37,38%), ung thư tiết niệu, sinh dục (36,36) và thấp nhất là các loại ung thư khác (26,67%)
3.2.2 Kết quả xác định các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư
Bảng 1 Liên quan giữa tình trạng di căn ung thư và nhiễm nấm ở miệng
Đối tượng Có nhiễm (SL, %) Không nhiễm (SL, %) (SL, %) Tổng số (CI 95%) OR p
Chưa di căn 90 (43,48) 117 (56,52) 207 (100)
0,96
Đã di căn 53 (42,40) 72 (57,60) 125 (100)
Chung 143 (43,07) 189 (56,93) 332 (100)
Trang 5Nhận xét: Chưa tìm thấy có sự liên quan giữa nhiễm nấm miệng với tình trạng di
căn ở bệnh nhân ung thư (OR = 0,96, CI 95% = 0,31 – 1,50, p > 0,05)
Bảng 2 Liên quan giữa xuất hiện giả mạc ở miệng và nhiễm nấm miệng
Đối tượng
Có nhiễm (SL, %)
Không nhiễm (SL, %)
Tổng số (SL, %)
OR
Có giả mạc (43,79)74 95
(56,21)
169 (100)
1,06
Không có giả
mạc
69 (42,33)
94 (57,67)
163 (100)
Chung (n = 332) 143
(43,07)
189
Nhận xét: Chưa thấy có sự liên quan giữa sự xuất hiện giả mạc miệng với tình
trạng nhiễm miệng ở bệnh nhân ung thư (OR = 1,06, CI 95% = 0,69 – 1,64, p > 0,05)
Bảng 3 Liên quan giữa tình trạng giảm albumin máu và nhiễm nấm ở miệng
Đối tượng
Có nhiễm (SL, %)
Không nhiễm (SL, %)
Tổng số (SL, %)
OR
Giảm albumin
máu
49 (62,03)
30 (37,97)
79 (100)
2,77
Không giảm
albumin máu
69 (37,10)
117 (62,90)
186 (100)
Chung (n = 332) 143
(43,07)
189
Nhận xét: Có sự liên quan giữa nhiễm nấm miệng với giảm albumin máu ở bệnh
nhân ung thư (OR = 2,77, CI 95%= 1,61 – 4,77, p < 0,05)
Bảng 4 Liên quan giữa tình trạng điều trị hóa chất, xạ trị và nhiễm nấm ở miệng
Đối tượng
Có nhiễm (SL, %)
Không nhiễm (SL, %)
Tổng số (SL, %)
OR
Điều trị
hóa chất
> 2 đợt 77
(49,04)
80 (50,96)
157
Chưa điều trị hoặc ≤ 2 đợt
66 (37,71)
109 (62,29)
175 (100)
Xạ trị
Đã điều trị (53,25)41 36
(46,75)
77
Chưa điều trị (40,00)102 153
(60,00)
255 (100)
Nhận xét: Có sự liên quan giữa số đợt điều trị hóa trị liệu, xạ trị với tình trạng
nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư Ở những bệnh nhân điều trị hóa chất > 2 đợt hoặc đã xạ trị tỷ lệ nhiễm nấm miệng cao hơn có ý nghĩa so với những điều trị hóa chất
ít hơn 2 đợt hoặc chưa xạ trị (49,04% so với 37,71% và 53,25% so với 40,00%)
Trang 64 BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, đối tượng nghiên cứu 439 người, được chia làm 2 nhóm Nhóm chứng gồm 332 bệnh nhân bị ung thư (165 bệnh nhân của Bệnh viện 103 và 167 bệnh nhân của Bệnh viện Thống Nhất) và nhóm chứng gồm 107 người bình thường khỏe mạnh Phân bố tuổi ở nhóm chứng chủ yếu là ≤ 40 (với 68,22%) trong khi ở nhóm bệnh chủ yếu chủ yếu ≥ 61 (với 62,35%) Phân bố tuổi giữa 2 nhóm có sự khác nhau cho thấy xu hướng mắc ung thư thường gặp ở người cao tuổi Theo Nguyễn Bá Đức và
CS (2001) [1], tuổi là yếu tố quan trọng để xác định nguy cơ mắc bệnh ung thư Đối với hầu hết các loại ung thư biểu mô thì tỷ lệ mới mắc tăng rõ rệt theo tuổi Điều này được giải thích là tuổi càng cao thì càng có nhiều thời gian phơi nhiễm với các tác nhân gây ung thư [1]
Ung thư cơ quan tiêu hóa và ung thư cơ quan hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (44,59% và 32,43%), ung thư các cơ quan khác đều có tỷ lệ < 10% Tỷ lệ mắc ung thư ở các nhóm cơ quan trong nghiên cứu này phù hợp với các công bố trước đây Theo một khảo sát tại 5 tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Thừa Thiên Huế và Cần Thơ, tỷ lệ mắc ung thư các bộ phận thuộc cơ quan tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao nhất, đứng thứ 2 là cơ quan hô hấp [1] Huỳnh Quyết Thắng (2009) nghiên cứu tại Cần Thơ cũng cho kết quả tương tự [2]
4.2 Tỷ lệ nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư
Ở nghiên cứu này, các bệnh nhân và nhóm chứng được lấy bệnh phẩm dịch miệng để xét nghiệm nhiễm nấm Bệnh phẩm được xác định nhiễm nấm miệng khi có kết quả soi tươi và/hoặc nuôi cấy dương tính Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm nấm ở miệng bệnh nhân ung thư cao hơn nhiều so với ở người bình thường khỏe mạnh (43,07% so với 4,67%, p < 0,05) Toàn bộ các mẫu bệnh phẩm đều dương tính với nấm men.Nhìn chung, tỷ lệ nhiễm nấm ở cả nhóm chứng và ở nhóm bệnh trong nghiên cứu này thấp hơn so với các nghiên cứu khác (Bảng 5)
Bảng 5 Tỷ lệ nhiễm nấm ở bệnh nhân ung thư của nghiên cứu này và một số nghiên cứu
trên thế giới
Nhóm tác giả nghiên cứuNăm Đối tượng nghiêncứu Tỷ lệ nhiễm(%) Mustafa A Aldossary và CS [12] 2016 Bệnh nhân ung thưđang hóa trị liệu 77,8
A Akpan và CS [4] 2002 Bệnh nhân bạch cầucấp đang hóa trị liệu 90,0 Jain M và CS [7] 2015
Bệnh nhân ung thư đang hóa trị liệu và/hoặc xạ trị 70,0 Nghiên cứu này 2015-2017 Bệnh nhân ung thư 43,07
Tỷ lệ nhiễm giữa các nghiên cứu có sự khác nhau có thể do các nghiên cứu trên một loại ung thư và/hoặc trên đối tượng ung thư đang được điều trị hóa trị liệu/xạ trị, trong khi bệnh nhân ung thư ở nghiên cứu này bao gồm cả những bệnh nhân chưa được điều trị gì, điều trị hóa trị liệu và/hoặc xạ trị và trên nhiều loại ung thư khác nhau Tỷ lệ nhiễm nấm miệng cao nhất ở nhóm bệnh nhân ung thư cơ quan tiêu hóa Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Sun H và CS (2016) tại Trung Quốc trên các bệnh nhân ung thư thuộc 3 nhóm ung thư phổi, ung thư tiêu hóa và ung thư hệ tạo máu [14]
Trang 7Tuy nhiên, thứ tự nhiễm của từng nhóm ung thư ở nghiên cứu trên và nghiên cứu này có khác nhau Theo nghiên cứu của Sun H và CS (2016), tỷ lệ nhiễm nấm ở bệnh nhân ung thư tiêu hóa cao nhất, sau đó là ung thư phổi và thấp nhất là ung thư cơ quan tạo máu [14] Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ nhiễm nấm miệng ở ung thư tiêu hóa cao nhất, sau đó tới ung thư cơ quan tạo máu, tiếp theo là ung thư phổi, ung thư tiết niệu sinh dục, tuyến vú Sự khác biệt này có thể do, số bệnh nhân ung thư cơ quan tạo máu chỉ gồm 29 bệnh nhân nên chưa phán ánh đúng tình trạng nhiễm nấm
4.3 Các yếu tố liên quan đến nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư
Di căn ung thư phản ánh giai đoạn bệnh và là chỉ tiêu đánh giá mức độ nặng của bệnh Tuy nhiên, kết quả lại cho thấy chưa có sự liên quan giữa tình trạng di căn ung thư với nhiễm nấm miệng (Bảng 1) Trong báo cào này, chưa so sánh giai đoạn ung thư ở bệnh nhân mà chỉ đơn thuần so sánh có di căn hay không với tình trạng nhiễm nấm miệng nên có thể chưa phản ánh đúng mối liên quan này Tình trạng nhiễm nấm miệng cũng chưa thấy có sự liên quan với sự xuất hiện giả mạc miệng (Bảng 2) Điều này có thể giải thích do giả mạc, hay các tổn thương ở miệng bệnh nhân ung thư do nhiều nguyên nhân gây nên Nhiễm nấm chỉ là 1 dạng tổn thương miệng [3]
Có sự liên quan giữa tình trạng giảm albumin máu, điều trị hóa chất và xạ trị với tình trạng nhiễm nấm miệng ở bệnh nhân ung thư (Bảng 3, Bảng 4) Ở những bệnh nhân
có điều trị xạ trị hoặc điều trị hóa chất > 3 đợt thì tỷ lệ nhiễm nấm miệng tăng lên (Bảng 4) Một số nghiên cứu cũng có cùng kết luận này [7], [13] Lý giải điều này, Jain M và
CS (2016) cho rằng, xạ trị và hóa trị liệu làm tổn thương miễn dịch tại chỗ và toàn thân của cơ thể [7] Ở những bệnh nhân có tình trạng giảm albumin máu, tỷ lệ nhiễm nấm cao hơn rõ rệt so với những bệnh nhân có chỉ số albumin máu bình thường (62,03% so với 37,10%) Điều này cũng dễ lý giải vì albumin là 1 chỉ số gián tiếp đánh giá khả năng miễn dịch của cơ thể Khi albumin máu giảm, chức năng miễn dịch dịch thể của cơ thể kém đi dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng, trong đó có vi nấm
Trên thực tế có nhiều yếu tố liên quan với tình trạng nhiễm nấm ở khoang miệng
đã được ghi nhận, bao gồm: các yếu tố tại miệng như ít nước bọt, thay đổi pH ở miệng, hút thuốc, đeo răng giả và ít vệ sinh răng miệng; các yếu tố toàn thân như tuổi, mắc các bệnh mạn tính, bệnh hệ thống, thực hiện các can thiệp toàn thân [4], [6]
5 KẾT LUẬN
- Tỷ lệ nhiễm nấm ở bệnh nhân ung thư tại 2 Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Thống Nhất là 43,07%, cao hơn có ý nghĩa so với ở người khỏe mạnh bình thường (43,07% so với 4,67, p<0,05)
- Có sự liên quan giữa tình trạng giảm albumin máu, hóa trị liệu và xạ trị với nhiễm nấm ở miệng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Bá Đức; Đào Ngọc Phong (2009), Dịch tễ học bệnh ung thư, Nhà xuất
bản Y học, 279, tr.11-21
2 Huỳnh Quyết Thắng (2009), "Nghiên cứu dịch tễ học mô tả một số bệnh ung thư
tại Cần Thơ 2001-2004", Tạp chí Y học thực thành 667(7/2009), tr 33-37.
3 A Davies và J Epstein (2010), Oral Complications of Cancer and Its Management, OUP Oxford.
4 Akpan A, Morgan R (2002), "Oral candidiasis", Postgrad Med J(78), tr 455–459.
Trang 85 Farah C S et al (2010), "Oral fungal infections: an update for the general
practitioner", Aust Dent J 55 Suppl 1, tr 48-54.
6 Heimdahl A (1999), "Prevention and managenment of oral infections in cancer
patients", Support Care Cancer 1999(7), tr 224-228.
7 Jain M et al (2016), "The Oral Carriage of Candida in Oral Cancer Patients of
Indian Origin Undergoing Radiotherapy and/or Chemotherapy", J Clin Diagn Res.
10(2), tr Zc17-20
8 Lalla R V et al (2010), "A systematic review of oral fungal infections in patients
receiving cancer therapy", Support Care Cancer 18(8), tr 985-992.
9 Minhas S et al (2015), Oral Candidiasis: Complication of Concomitant Chemo-radiotherapy in Patients with Oral Squamous Cell Carcinoma, Tập 11.
10 Mohammadi F et al (2016), "Identification of Candida species in the oral cavity of
diabetic patients", Curr Med Mycol 2(2), tr 1-7.
11 Mushi M F et al (2016), "High Oral Carriage of Non-albicans Candida spp
among HIV-infected individuals", Int J Infect Dis 49, tr 185-8.
12 Mustafa A Aldossary et al (2016), "Isolation and Identification of Candida Species from the Oral Cavity of Cancer Patients Undergoing Chemotherapy in
Basrah, Iraq", Journal of Biology, Agriculture and Healthcare 6(18), tr 22-30.
13 Ramla S et al (2016), "Influence of cancer treatment on the Candida albicans
isolated from the oral cavities of cancer patients", Support Care Cancer 24(6), tr.
2429-36
14 Sun H et al (2016), "Occurrence of oral Candida colonization and its risk factors
among patients with malignancies in China", Clin Oral Investig 20(3), tr 459-67.
PREVALENCE OF YEASTS COLLECTED FROM ORAL COLONIZATION AND RICK FACTORS IN CANCER PATIENTS AT 103 HOSPITAL AND
THONGNHAT HOSPITAL, 2015-2017
Mai Anh Loi1, Le Thanh Dong1, Nguyen Khac Luc2, Nguyen Duc Cong3, Do Ngoc Anh2
1 Institude of Malariology – Parasitology – Entomology Ho Chi Minh,
2 Vietnam Military Medical University,
3 Thongnhat hospital, Ho Chi Minh city
ABSTRACT
The aim of this investigation were to determine the prevalence and rick factors
of yeast infections isolates from oral cavity of cancer patients A cross-sectional case-control study was conducted at the 103 hospital and Thongnhat hospital (from January
2015 to October 2017) and Institute of Malariology - Parasitology - Entomology Ho Chi Minh City (from October 2017 to February 2018) A total of 332 cancer patients and 107 healthy people were collected information and oral fluid specimens for fungal detection for analysis and comparison Oral fluid specimens were cultured on Sabouraud agar with antibiotics and results based on micoscopy The results show that, the prevalent of oral yeasts in cancer patients (43,07%) was significant higher than that
in healthy controls (4,67%) There are correration between radiotherapy, chemotherapy (treated 3 times or more), hypoalbuminemia and oral yeast infections Keyword: Prevalence, correlation, yeasts, oral cavity, cancer patients