Huỳnh Trung Hải, Phó Viện tr-ởng viện Khoa học và Công nghệ môi tr-ờng - Đại học Bách khoa Hà Nội trong thời gian nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn; Cho phép tôi đ-ợc cảm ơn Lãnh đạo Vi
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Tr-ờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
Luận văn thạc sĩ khoa học
Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn thiết lập hệ thống mạng trạm quan trắc môi tr-ờng vùng nuôi hải sản biển tập trung
ven bờ Hải Phòng - Quảng Ninh
TRẦN LƯU KHANH
Hà Nội 2005
Trang 2
Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng Đại học Bách Khoa Hà Nội
_
Luận văn thạc sĩ khoa học
Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn thiết lập hệ thống mạng trạm quan trắc
môi tr-ờng vùng nuôi hải sản biển tập trung
ven bờ Hải Phòng – Quảng Ninh
NGÀNH: CễNG NGHỆ MễI TRƯỜNG Mã số :
TRẦN LƯU KHANH
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
TS Huỳnh Trung Hải
Hà Nội 2005
Trang 3
Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận đ-ợc rất nhiều sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo, các cơ quan, cán bộ –công nhân viên và đồng nghiệp Nhân dịp này,
Cho phép tôi đ-ợc cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh
đạo, các thầy cố giáo và cán bộ công nhân viên Viện Khoa học và Công nghệ môi tr-ờng, Trung tâm đào tạo sau đại học – tr-ờng
Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Hàng Hải Việt Nam
Cho phép tôi đ-ợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành tr-ớc sự quan tâm, chỉ bảo tận tình và những ý kiến đóng góp quý báu của
TS Huỳnh Trung Hải, Phó Viện tr-ởng viện Khoa học và Công nghệ môi tr-ờng - Đại học Bách khoa Hà Nội trong thời gian nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn;
Cho phép tôi đ-ợc cảm ơn Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, cán bộ công nhân viên Trung tâm Quốc gia quan trắc cảnh báo môi tr-ờng biển – Bộ Thuỷ sản; các nhà khoa học cùng đồng nghiệp trong và ngoài ngành Thuỷ sản;
Cho phép tôi đ-ợc cảm ơn sự hỗ trợ về thông tin, số liệu của các Sở Thuỷ sản, Sở Tài nguyên & Môi tr-ờng Thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, các trung tâm dự báo khí t-ợng – thuỷ văn, Đài Khí t-ợng Thuỷ văn khu vực Đông Bắc
Trần L-u Khanh
Trang 4Ch-ơng 1 Tổng quan về nuôi trồng thuỷ sản và vấn đề quan trắc cảnh báo môi
tr-ờng vùng biển ven bờ
1.1 Nuôi trồng thuỷ sản biển và ven bờ
1.2 Tác động qua lại giữa chất l-ợng môi tr-ờng biển và nuôi trồng thuỷ sản
1.3 Quan trắc cảnh báo môi tr-ờng biển phục vụ nuôi thuỷ sản bền vững
Ch-ơng 2 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế – xã hội và hoạt động sản xuất
thuỷ sản ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh
2 1 Điều kiện tự nhiên, khí t-ợng - thuỷ văn ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh
2 2 Tình hình kinh tế - xã hội và nuôi trồng thuỷ sản Hải Phòng – Quảng Ninh
Ch-ơng 3 Một số vấn đề về môi tr-ờng vùng ven biển Hải Phòng – Quảng
Ninh
3 1 Hiện trạng môi tr-ờng khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh
3 2 Hệ thống quan trắc môi tr-ờng ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh
3 3 Những áp lực môi tr-ờng vùng ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh
3 4 Chất l-ợng môi tr-ờng và hệ sinh thái vùng nuôi hải sản biển
Ch-ơng 4 Đề xuất hệ thống quan trắc - cảnh báo môi tr-ờng phục vụ nuôi
trồng thuỷ sản bền vững vùng biển ven bờ Hải Phòng – Quảng Ninh
4 1 Mục tiêu, phạm vi và các loại điểm quan trắc
4 2 Hệ thống mạng trạm quan trắc môi tr-ờng vùng nuôi hải sản biển
4 3 Bộ thông số, tần suất quan trắc môi tr-ờng vùng nuôi hải sản
4 4 Ph-ơng pháp quan trắc, phân tích mẫu và xử lý số liệu
4 5 Tổ chức hệ thống và quản lý, sử dụng số liệu quan trắc
Trang 5Hệ thống giám sát môi tr-ờng toàn cầu Hoá chất bảo vệ thực vật
Uỷ ban liên chính phủ về đại d-ơng Khí t-ợng thuỷ văn
Khu vực Quốc doanh/khu vực quốc doanh địa ph-ơng Khu công nghiệp
Kế hoạch Quốc gia về môi tr-ờng và phát triển bền vững Nuôi trồng thuỷ sản
Nhuyễn thể hai mảnh vỏ Quan trắc và phân tích môi tr-ờng Tiêu chuẩn Việt Nam/ Tiêu chuẩn cho phép Tổng chất rắn lơ lửng
Ch-ơng trình môi tr-ờng của Liên hợp quốc
Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà n-ớc Ch-ơng trình bảo vệ môi tr-ờng Việt Nam – Canada
Tổ chức y tế Thế giới
Tổ chức khí t-ợng Thế giới
Trang 6
Mở đầu
Việt Nam, với hơn 3200 km chiều dài bờ biển và vùng đặc quyền kinh tế gần 1.000.000km2, là một n-ớc ven biển lớn ở Đông Nam á Cũng nh- nhiều Quốc gia khác, biển Việt Nam (đặc bịêt là vùng ven bờ) đang phải đối mặt với những nguy cơ ô nhiễm và suy thoái môi tr-ờng Sức ép về môi tr-ờng và các hệ sinh thái lớn nhất ở dải ven bờ biển là do tình trạng khai thác tài nguyên quá mức phục vụ các hoạt động kinh
tế và sự gia tăng dân số Là ngành kinh tế có liên quan mật thiết với tài nguyên và môi tr-ờng biển, Thuỷ sản Việt Nam trong thời gian qua, đã có những b-ớc phát triển quan trọng dựa trên cơ sở khai thác tiềm năng, nguồn lợi biển Tuy nhiên, cùng với những thành tựu đạt đ-ợc, ngành Thuỷ sản đang phải chịu những tác động đa chiều với vấn đề
ô nhiễm, suy thoái môi tr-ờng, tính bền vững của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đang bị chi phối bởi chất l-ợng môi tr-ờng biển và ven bờ
Hải Phòng và Quảng Ninh là hai địa ph-ơng có nền kinh tế biển mạnh nhất khu vực phía Bắc và cả n-ớc Với gần 400km chiều dài đ-ờng bờ biển, hơn 2000 hòn đảo lớn nhỏ và các hệ sinh thái đặc tr-ng, nh- : hệ sinh thái san hô, cỏ biển; hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều, cửa sông châu thổ, hệ sinh thái vũng vịnh… , nơi đây có những lợi thế và tiềm năng to lớn để phát triển thuỷ sản Đồng thời, Hải Phòng – Quảng Ninh là hai trong ba cực phát triển kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), chất l-ợng môi tr-ờng và tài nguyên vùng ven biển đã và đang chịu những áp lực của sự tăng tr-ởng kinh tế và phát triển xã hội Vùng biển ven bờ Hải Phòng – Quảng Ninh đ-ợc coi là nơi có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển nghề nuôi trồng hải sản (với mọi đối t-ợng), tuy nhiên, đới ven bờ Hải Phòng – Quảng Ninh cũng là nơi hội tụ nhiều khu vực nhạy cảm nhất, những di sản thiên nhiên, giá trị văn hoá - khoa học cần đ-ợc bảo tồn (nh-: Vịnh Hạ Long, Cát Bà) Trong bối cảnh đó, hoạt
động nuôi thuỷ sản trên biển cần phải đ-ợc quan tâm đặc biệt tới các khía cạnh bảo vệ
môi tr-ờng, duy trì nguồn lợi và các hệ sinh thái
Trong Ch-ơng trình hành động Quốc gia về bảo vệ tài nguyên và môi tr-ờng, từ năm 1995 vấn đề kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi tr-ờng biển và ven bờ đã đ-ợc quan tâm bằng việc thiết lập hệ thống quan trắc phân tích môi tr-ờng biển thuộc mạng l-ới quan trắc môi tr-ờng Quốc gia (do Bộ Tài nguyên & Môi tr-ờng quản lý) Nhiều Bộ ngành và địa ph-ơng, tuỳ theo mục đích và năng lực, đã b-ớc đầu thực hiện nhiệm vụ quan trắc môi tr-ờng các vùng cửa sông, ven biển Tr-ớc thực trạng phát triển của nghề nuôi trồng Thuỷ sản, từ năm 2001, hệ thống mạng trạm quan trắc môi tr-ờng – dịch bệnh thuỷ sản đ-ợc triển khai để hỗ trợ kiểm soát, phòng ngừa và cảnh báo môi tr-ờng, dịch bệnh cho nghề nuôi hải sản biển và ven bờ
Trang 7Tuy nhiên, nghề nuôi hải sản ở Việt Nam nói chung và Hải Phòng – Quảng Ninh có đặc điểm cơ bản là quy mô nhỏ, phần lớn mang tính tự phát, thiếu hoặc không theo quy hoạch, cho nên với năng lực hiện có, hệ thống quan trắc môi tr-ờng của ngành Thuỷ sản chỉ có thể đánh giá và cảnh báo chất l-ợng môi tr-ờng ven biển ở quy mô vùng, miền, không thể triển khai tới tất cả các địa điểm nuôi Tr-ớc đòi hỏi cấp bách của nhu cầu thông tin phục vụ kiểm soát môi tr-ờng, phát triển nuôi hải sản bền vững,
hệ thống quan trắc môi tr-ờng biển Quốc gia và ngành Thuỷ sản còn nhiều bất cập Tại
mỗi vùng và địa ph-ơng cần có hệ thống quan trắc môi tr-ờng riêng cho các vùng nuôi hải sản ven biển, hệ thống này có sự tham gia, phối hợp chia sẻ trách nhiệm giữa ngành Thuỷ sản – các địa ph-ơng và cộng đồng ng- dân
Hệ thống mạng trạm quan trắc đ-ợc nghiên cứu, đề xuất trong luận văn sẽ là cơ
sở khoa học và thực tiễn để các bên liên quan chủ động, phối hợp triển khai nhiệm vụ quan trắc, cảnh báo và kiểm soát chất l-ợng môi tr-ờng vì mục tiêu phát triển nuôi hải sản vùng ven biển bền vững Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của luận văn còn có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác bảo vệ môi tr-ờng ở Hải Phòng – Quảng Ninh
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo có giá trị để áp dụng, thiết kế mạng trạm, triển khai hoạt động quan trắc cảnh báo môi tr-ờng - dịch bệnh
thuỷ sản và bảo vệ môi tr-ờng các vùng ven biển trong phạm vi cả n-ớc
Mục tiêu của luận văn: Căn cứ những tiêu chí bảo vệ môi tr-ờng, tài nguyên
biển; dựa trên những phân tích, đánh giá áp lực môi tr-ờng, hiện trạng và quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững vùng biển ven bờ; mục tiêu của luận văn là:
Đề xuất mạng trạm quan trắc chất l-ợng môi tr-ờng vùng nuôi hải sản tập trung ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh
Nội dung của luận văn bao gồm:
1 Tổng quan về ô nhiễm môi tr-ờng trong nuôi trồng thuỷ sản, hoạt động quan
trắc cảnh báo môi tr-ờng ven biển trên thế giới và trong n-ớc
2 Tổng hợp các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tiềm năng tài
nguyên và những áp lực gây ô nhiễm, suy thoái môi tr-ờng vùng biển ven bờ Hải Phòng – Quảng Ninh
3 Phân tích diễn biến chất l-ợng môi tr-ờng, hiện trạng và quy hoạch nuôi hải
sản biển Hải Phòng – Quảng Ninh làm cơ sở thiết kế mạng trạm quan trắc
4 Đánh giá nguyên nhân, nguồn gây ô nhiễm và tác động của nhóm các thông số
môi tr-ờng khu vực đối với động vật thuỷ sản, lựa chọn, đề xuất bộ thông số và tần suất quan trắc chất l-ợng môi tr-ờng vùng nuôi hải sản ven biển
5 Nghiên cứu đề xuất mạng trạm và ph-ơng pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ
quan trắc cảnh báo môi tr-ờng đối với hoạt động nuôi hải sản vùng ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh
Trang 8
Ch-ơng 1 Tổng quan
Về nuôi trồng thuỷ sản và vấn đề quan trắc cảnh báo môi tr-ờng vùng biển ven bờ
1 1 Nuôi trồng thuỷ sản biển và ven bờ
1 1 1 Tình hình nuôi thuỷ sản biển trên thế giới và khu vực
Theo định nghĩa của FAO (1990) [43], đối t-ợng của nuôi trồng thuỷ sản ven bờ gồm: các loài cá (Fish), các loài nhuyễn thể (trai, ngao, hàu… - Mollucs), các loài giáp xác (tôm, cua…- Crustaceans) và các loài thực vật thuỷ sinh (rong, tảo… Aquatic plants) Phạm vi địa lý: vùng ven bờ (Coastal) là dải đất, vùng n-ớc biển, toàn bộ cột n-ớc và đáy biển từ bờ ra tới hết phạm vi thềm lục địa… Do vậy, nghề nuôi hải sản trên thế giới có tiềm năng rất to lớn để phát triển Mặt khác, những sản phẩm thuỷ sản vừa là nguồn thực phẩm giàu đạm, vừa là nguồn nguyên liệu tạo ra các sản phẩm sử dụng trong y học, công nghiệp, nông nghiệp cho nên nhu cầu tiêu thụ thuỷ sản trên thế giới ngày càng tăng nhanh Theo thống kê, năm 2001 mức tiêu thụ thuỷ sản của các n-ớc đang phát triển đạt 14kg/ng-ời/năm, cao hơn hai lần so với thập kỷ 70 (thế kỷ XX) Tr-ớc sự gia tăng dân số toàn cầu, (khoảng 6 tỷ ng-ời năm 2000, dân số trên hành tinh đ-ợc dự báo sẽ có 9 – 10 tỷ ng-ời vào năm 2050) [43], các sản phẩm thuỷ sản là một trong những nhóm chịu sức ép phát triển để thoả mãn nhu cầu thực phẩm của nhân loại Trong khi sản l-ợng khai thác hải sản từ tự nhiên ở nhiều vùng đã đạt hoặc v-ợt quá khả năng nguồn lợi, thì lối thoát duy nhất để giải quyết vấn đề thực phẩm là tăng c-ờng phát triển nuôi thuỷ sản khu vực ven bờ Đồng thời, giá trị hàng hoá thuỷ sản th-ờng là rất cao so với các loại thực phẩm thông th-ờng, tạo thành yếu tố kinh tế thu hút đầu t- nên đã tác động tích cực đến phát triển nuôi trồng thuỷ sản
Nghề nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) trên thế giới phát triển rất nhanh, những năm cuối thập kỷ 80 (thế kỷ XX), diện tích nuôi thuỷ sản thế giới tăng hàng năm khoảng 10%; t-ơng đ-ơng với tốc độ tăng sản l-ợng 3%/năm Theo tính toán của FAO (2000), trong khi tỷ lệ phần trăm của sản phẩm do nuôi trồng trong tổng sản phẩm thuỷ sản đã tăng từ 15% (năm 1989) đến 31% (năm 1998), thì sản l-ợng khai thác chung (trong giai
đoạn 10 năm) đã giảm 3,4% Sản phẩm hải sản nuôi ven biển chiếm tỷ trọng lớn trong nuôi trồng thuỷ sản, có tới 56% trong số 14,47 triệu tấn thuỷ sản nuôi năm 1988, hơn
Trang 990% sản phẩm nhuyễn thể, giáp xác và cỏ biển thu đ-ợc từ nuôi ven biển và tới 95% số này tập trung ở 20 quốc gia Nghề nuôi biển đ-ợc ghi nhận là có mức tăng tr-ởng nhanh, từ 4,41 triệu tấn năm 1991 tới 12,86 triệu tấn năm 2000 [13]
Nuôi trồng thuỷ sản diễn ra mạnh mẽ ở các n-ớc đang phát triển, các n-ớc có thu nhập thấp và đặc biệt có truyền thống lịch sử lâu đời nh- châu á Có tới 90% sản phẩm thuỷ sản nuôi trên thế giới có nguồn gốc từ châu á, với sản l-ợng tăng từ 14,3 triệu tấn/năm 1984 tới 35,8 triệu tấn (năm 1998), t-ơng đ-ơng với mức tăng tr-ởng hàng năm là 11% Tốc độ tăng tr-ởng của nghề nuôi thuỷ sản ở các n-ớc đang phát triển cao gấp năm lần các n-ớc phát triển (13,7% so với 2,7% vào năm 1984), và trong khoảng thời gian từ 1984 – 1998, tốc độ tăng tr-ởng bình quân hàng năm đạt 12,8% Tốc độ mở rộng diện tích nuôi thuỷ sản đứng đầu là Trung Quốc (khoảng 15%/năm), các n-ớc châu Âu và Bắc Mỹ khoảng 3 – 4%/năm Châu Phi và Châu Mỹ Latinh có diện tích nuôi thuỷ sản đ-ợc xem là rất nhỏ vào những thập kỷ tr-ớc, nay đã đạt mức tăng tr-ởng 18% (năm 1990) [43,47]
Trong số các đối t-ợng thuỷ sản nuôi: nhuyễn thể, cá và tôm biển là những đối t-ợng nuôi ven biển có mức tăng tr-ởng mạnh nhất về cơ cấu sản l-ợng (Bảng 1.1) Năm 2002, Trung Quốc là n-ớc sản xuất nhuyễn thể hai mảnh vỏ (NTHMV) dẫn đầu thế giới với 8,4 triệu tấn, chiếm 68,5% tổng sản l-ợng NTHMV và hơn 80% sản l-ợng NTHMV nuôi trên thế giới Sản l-ợng NTHMV của Trung Quốc chủ yếu là nuôi (trên 46% trong số đó là hàu) Các n-ớc sản xuất chính khác là Nhật Bản (7,1%), Mỹ (6,3%), Hàn Quốc (2,1%), Thái Lan (1,8%)…, các n-ớc sản xuât chính khác là Tây Ban Nha, Pháp, Đan Mach, Italia, Canada … [34]
Bảng 1.1 Dự báo sản l-ợng NTTS trên thế giới vào năm 2010 [42]
Các loài
Sản l-ợng (tr tấn)
Cơ cấu (%)
Sản l-ợng (tr tấn)
Cơ cấu (%)
Trang 10
Nh- vậy, nghề nuôi hải sản ven biển trên thế giới đã có tốc độ tăng tr-ởng nhanh trong thời gian qua và trong t-ơng lai đ-ợc dự báo là có mức tăng tr-ởng mạnh, sẽ tiếp tục là ngành kinh tế quan trọng đối với những quốc gia có biển (đặc biệt ở những n-ớc
đang phát triển) Công nghệ nuôi phát triển do: có nhiều loài mới đ-ợc đ-a vào nuôi với hứa hẹn về hiệu quả kinh tế cao; chất l-ợng sản phẩm không ngừng đ-ợc cải thiện nhờ
áp dụng những công nghệ mới trong lĩnh vực sản xuất giống, thức ăn, nuôi th-ơng phẩm, công nghệ cho đẻ, lai tạo, chữa bệnh và vận chuyển sản phẩm… Tr-ớc xu thế
đó, mối quan hệ giữa môi tr-ờng, các hệ sinh thái với phát triển nuôi hải sản ven biển
đang là vấn đề đ-ợc quan tâm ở quy mô toàn cầu Đồng thời, hoạt động quan trắc, kiểm soát môi tr-ờng biển và ven bờ đang trở thành nhiệm vụ -u tiên trong chiến l-ợc bảo vệ môi tr-ờng của nhiều Quốc gia
1 1 2 Tình hình nuôi thuỷ sản trong n-ớc
Ch-ơng trình phát triển nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999 – 2010 đ-ợc Thủ t-ớng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 224/1999/QĐ-TTg, ngày 08/21/1999), mục tiêu chính là [19]: “Phát triển nuôi trồng thuỷ sản nhằm đảm bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu” Quan điểm chỉ đạo: “Phát triển NTTS theo hướng bền vững, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái” Với phương châm đó, ngành Thuỷ sản và chính quyền các địa ph-ơng đã và đang tập trung đẩy mạnh nghề nuôi hải sản n-ớc lợ và nuôi biển, nhằm giảm áp lực đối với nghề khai thác vùng gần
bờ (có nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi), góp phần tích cực phát triển kinh tế đất n-ớc và an ninh ven biển… Tổng sản l-ợng thuỷ sản năm 2004 là 2,19 triệu tấn, đạt mức tăng tr-ởng 7,7%; kim ngạch xuất khẩu đạt 2,397 tỷ USD, tăng 8,99% (so với năm 2003) Trong đó sản l-ợng thuỷ sản từ nuôi trồng đạt 1,150 triệu tấn…Riêng lĩnh vực nuôi ven biển, nuôi tôm sú đạt sản l-ợng 360.000 tấn, nuôi cá biển đạt 200.000 tấn, động vật thân mềm đạt sản l-ợng 380.000 tấn… [16] Liên tục trong những năm gần đây, tốc độ tăng tr-ởng của NTTS luôn đạt trên 10% Phấn đấu đến năm 2010 (Bảng 1 2), tổng sản l-ợng NTTS đạt trên 2.000.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu trên 2.500.000.000 USD, đóng góp 57% tổng sản l-ợng thuỷ sản và tạo ra việc làm và thu nhập cho khoảng
2 triệu ng-ời [13] Với xu thế đó, NTTS từ một nền sản xuất thủ công, nhỏ lẻ chủ yếu
đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp đang chuyển dần thành ngành sản xuất hàng hoá, tạo nên nguồn sản phẩm tập trung, tăng tr-ởng không ngừng
Trang 113.400
1.400 2.000
Nguồn: Bộ Thuỷ sản, 2004
Thời gian qua, nền kinh tế ở n-ớc ta có sự tăng tr-ởng mạnh, thu nhập bình quân
đầu ng-ời tăng từ 635,5 nghìn đồng/năm (1990) đến 6724,1 nghìn đồng/năm (2002), trong khi dân số từ 66 triệu ng-ời tăng lên xấp xỉ 80 triệu ng-ời (Bảng 1 3) Do đó, nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản trong thị tr-ờng nội địa cũng ngày một tăng Đồng thời, Nhà n-ớc đang áp dụng nhiều chính sách -u đãi, hỗ trợ đầu t- để giúp đỡ ng- dân
và nghề nuôi trồng thuỷ sản phát triển… Tuy nhiên, khi tỷ trọng sản phẩm thuỷ sản từ nuôi trồng tăng lên trong cơ cấu nghề cá, thì những áp lực môi tr-ờng do chính hoạt
động nuôi thuỷ sản ngày càng nặng nề Mặt khác, nuôi trồng thuỷ sản vùng ven biển sẽ phải chịu nhiều áp lực về môi tr-ờng sinh thái do mật độ dân c- ở khu vực này cao hơn 1,3 lần so với toàn quốc và việc đổ thải các loại chất thải ch-a xử lý (do phát triển kinh
tế – xã hội) ra vùng ven biển ngày một nhiều hơn
Đến nay, hầu hết 28 tỉnh, thành phố ven biển của Việt Nam đều phát triển nuôi thuỷ sản n-ớc lợ và nuôi biển Quy mô và đối t-ợng nuôi ngày càng đa dạng đáp ứng nhu cầu của thị tr-ờng trong n-ớc và một phần xuất khẩu Trong năm 2003, diện tích nuôi lợ – mặn đạt 575.137ha, bằng 63,7% tổng diện tích NTTS [16] Những đối t-ợng nuôi chủ lực là: tôm biển, động vật thân mềm, cá biển và rong biển…
Với tiềm năng diện tích đầm phá, eo vịnh ven biển trong cả n-ớc khoảng 300.000 – 400.000ha, nhiều địa ph-ơng ven biển đã phát triển nuôi hải sản trên biển theo những quy mô và ph-ơng thức khác nhau; các đối t-ợng nuôi biển ngày càng đa dạng, phong phú Nhóm đối t-ợng nuôi chính là:
- Nhóm cá biển, gồm : cá Song, cá Giò, cá Cam, cá V-ợc, cá hồng Mỹ
- Nhóm nhuyễn thể, gồm: sò huyết, ngao, nghêu, trai cấy ngọc, hầu…
- Nhóm giáp xác: Cua xanh, ghẹ, tôm hùm
- Nhóm rong: rong câu, rong sụn…
Trang 12Theo thống kê của Bộ Thuỷ sản, năm 2002 [20] diện tích và sản l-ợng một số loài nuôi biển trong cả n-ớc là:
- Nuôi cá biển: tổng số ô lồng (diện tích trung bình khoảng 10m2/ô lồng) năm
2000 là 18.745 lồng, sản l-ợng 1.704tấn; năm 2001 là 23.900 ô lồng, sản l-ợng 2.150tấn và đến năm 2002 có 28.700 ô lồng, đạt sản l-ợng 2362 tấn
- Nuôi tôm Hùm: số lồng nuôi tôm hùm năm 2002 là 6211 chiếc, tổng sản l-ợng
là 1090 tấn, tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà
- Nuôi nhuyễn thể vùng triều: chủ yếu là sò huyết và ngao, ngoài ra còn có ốc h-ơng, ốc đĩa, bào ng-… Năm 2002, tổng diện tích nuôi đạt 22.330ha và sản l-ợng đạt 115.800tấn
Tình trạng chung ở các địa ph-ơng là trong khoảng thời gian ngắn, việc phát triển nuôi hải sản không theo quy hoạch, thiếu sự quản lý, giám sát cần thiết, đã dẫn
đến những tác động tiêu cực đối với môi tr-ờng sinh thái khu vực và gây tổn thất không nhỏ cho chính hoạt động nuôi hải sản vùng ven biển
Bảng 1 3 Tổng sản phẩm trong n-ớc, dân số và thu nhập bình quân đầu ng-ời
đầu ng-ời (USD)
Tổng dân số (nghìn ng-ời)
Tổng sản phẩm trong n-ớc (tỷ
đồng)
Chia theo các ngành (tỷ đồng) Nông
lâm thuỷ sản
Công nghiệp và Xây dựng
Trang 13
1 2 Tác động qua lại giữa chất l-ợng môi tr-ờng biển và nuôi thuỷ sản
1 2 1 Ô nhiễm biển và hoạt động nuôi hải sản gây ô nhiễm
Biển và đại d-ơng là nơi tiếp nhận phần lớn các chất thải từ lục địa Công -ớc Quốc tế về Luật biển năm 1982 đã chỉ ra 5 nguồn gây ô nhiễm biển chính là: Các hoạt
động trên đất liền, thăm dò và khai thác tài nguyên trên thềm lục địa và đáy đại d-ơng; thải các chất độc hại ra biển; vận chuyển hàng hoá trên biển và ô nhiễm biển từ không khí [15] Biểu hiện của ô nhiễm biển khá đa dạng, có thể chia nh- sau [6]:
- Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm trong n-ớc biển nh- dầu, kim loại nặng, các hoá chất độc hại
- Gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm tích tụ trong trầm tích ở vùng biển ven bờ
- Suy thoái các hệ sinh thái biển, nh- rạn san hô, rừng ngập mặn, cỏ biển.v.v
- Suy giảm trữ l-ợng các loài sinh vật biển và giảm tính đa dạng sinh học biển
- Xuất hiện các hiện t-ợng thuỷ triều đỏ, gia tăng các loài vi sinh vật gây bệnh, tích tụ các chất ô nhiễm trong các loại thực phẩm từ biển
Hoạt động nuôi thuỷ sản là một trong những tác nhân gây ô nhiễm môi tr-ờng ven biển Biểu hiện rõ nhất về sự tác động đến môi tr-ờng từ hoạt động nuôi hải sản (tôm, cá lồng bè, nhuyễn thể) là gia tăng nồng độ các chất dinh d-ỡng trong n-ớc tự nhiên là nguyên nhân làm biến đổi quần xã sinh vật phù du (plankton) và vi khuẩn (microbial) dẫn đến hiện t-ợng phú d-ỡng (eutrophication) các thuỷ vực tự nhiên ven biển Nguồn thải dinh d-ỡng chính từ các loại thức ăn, từ các chất bài tiết của thuỷ sản nuôi Chất thải từ hệ thống ao nuôi tôm, lồng bè nuôi cá, nhuyễn thể còn có nhiều loại hoá chất, thuốc kháng sinh… tồn d- trong quá trình nuôi N-ớc thải từ hệ thống nuôi thâm canh th-ờng có các thành phần chính [38], gồm: Các hạt rắn (thức ăn thừa và chất bài tiết); Các chất thải hoà tan do quá trình trao đổi chất; Các chất dinh d-ỡng hoà tan; D- l-ợng chế phẩm sinh học và thuốc chữa bệnh, xử lý môi tr-ờng
Các chất thải từ hoạt động nuôi thuỷ sản ven bờ đã góp phần gây nên hiện t-ợng thuỷ triều đỏ (do phì dinh d-ỡng), làm suy giảm đa dạng sinh học, gia tăng các loài vi sinh vật gây bệnh… Ng-ợc lại, nuôi hải sản ven bờ là nạn nhân của các tác động ô nhiễm môi tr-ờng Do vậy, đối với nuôi trồng hải sản, tác động của môi tr-ờng tới tính bền vững và hiệu quả của các loại hình nuôi đ-ợc xem xét một cách tổng hợp; từ những xung đột về sử dụng mặt n-ớc đến chế độ thuỷ văn; từ biểu hiện suy giảm tính đa dạng
loài của quần xã sinh vật tới suy thoái, ô nhiễm nguồn n-ớc…
Trang 14
1 2 2 Tác động của ô nhiễm môi tr-ờng tới chất l-ợng hải sản
1 2 2 1 Trên thế giới và khu vực: Từ lâu, những tác động của ô nhiễm môi tr-ờng
biển đối với các sản phẩm thuỷ sản nói chung và qua đó ảnh h-ởng đến sức khoẻ con ng-ời đã đ-ợc ghi nhận Những năm 1950, thế giới đã biết đến tai hoạ vịnh Minamata (Nhật Bản) với chứng bệnh “Minamata” làm hàng trăm người bị di chứng tâm thần do
ăn hải sản, đ-ợc xác định là nhiễm thuỷ ngân Phải đến những năm 1970 trách nhiệm
đổ thải các chất có chứa thuỷ ngân gây ô nhiễm môi tr-ờng biển mới đ-ợc các ngành công nghiệp ven bờ vịnh thừa nhận… Nhiều tài liệu khoa học đã chứng minh tác động tích lũy các chất ô nhiễm trong các loài hải sản là nguyên nhân gây nên những căn bệnh hiểm nghèo [1,3,41], đe doạ sức khoẻ và tính mạng của hàng triệu ng-ời dân
Tác động ô nhiễm nguồn n-ớc ven bờ biển đến các loài thuỷ sản nuôi là cơ chế tích tụ các chất nhiễm bẩn trong nhuyễn thể dẫn đến những rủi ro trầm trọng đối với sức khoẻ con ng-ời Điển hình về ô nhiễm vi khuẩn của nhuyễn thể xảy ra tại tỉnh Jiangsu (Trung Quốc) năm 1988; có tới 370.000 ng-ời đã bị nhiễm trùng siêu vi khuẩn gan A sau khi ăn một loài ngao đã bị ô nhiễm (Anadara subcretena), thiệt hại về kinh tế hàng năm tới hơn 10 triệu nhân dân tệ (1,7 triệu USD)…Ngoài ra, sự tích tụ các chất
độc hại khác trong nhuyễn thể, nh-: các kim loại nặng, các hoá chất bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh tr-ởng, thuốc trừ sâu, kháng sinh và cả chất phóng xạ đang là mối nguy đối với các sản phẩm nhuyễn thể…[39,40]
Nuôi cá lồng bè biển không thể tách rời khỏi môi tr-ờng xung quanh, do nó rất nhạy cảm với bất kỳ sự đổi thay nào của môi tr-ờng Nuôi cá biển bằng lồng bè th-ờng tập trung ở vùng gần bờ nên dễ dàng bị ô nhiễm, mức độ giàu dinh d-ỡng và hữu cơ do mật độ nuôi quá dày, các chất thải từ sinh hoạt của con ng-ời trên bờ, từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp… Nghiên cứu của nhiều tác giả [39] tại khu vực bè nuôi cá hồi, phía Tây đảo Mull (thuộc bờ biển Xcotlen) từ năm 1985 đã chỉ ra: 60% l-ợng C, 10% l-ợng P và 65% l-ợng N có trong thức ăn của cá chuyển thành dạng các chất dinh d-ỡng hoà tan… Sự tăng độ đục và các hạt rắn lơ lửng trong n-ớc có thể ảnh h-ởng trực tiếp hoặc gây độc cho cá nuôi
Sự lắng đọng trầm tích gia tăng gây ảnh h-ởng tới dòng chảy và chất l-ợng n-ớc, quá trình tích tụ chất thải dẫn đến tình trạng yếm khí trong trầm tích, giải phóng nhiều dạng chất độc (nh- H2S, CH4…) vào môi tr-ờng n-ớc, tác động trực tiếp tới các loài thuỷ sản Đây là vấn đề lớn mà các khu vực nuôi nhuyễn thể tập trung ở châu Âu
đang phải đối mặt, ở Pháp khoảng 30% diện tích nuôi trai, sò đang gặp phải những vấn
đề về trầm tích dẫn tới việc phải di chuyển hoặc bỏ hoang nhiều khu vực [40]
Trang 15Vấn đề môi tr-ờng nghiêm trọng đối với nghề nuôi biển (nhuyễn thể, cá) ở nhiều nước trên thế giới là hiện tượng “thuỷ triều đỏ” thường xuyên xảy ra, do một số loài tảo biển phát triển quá mức (nở hoa) khi gặp điều kiện môi tr-ờng thuận lợi (chất dinh d-ỡng quá nhiều, nhiệt độ, ánh sáng thích hợp…) Khi các loài tảo phát triển với mật
độ cao, chúng gây cạn kiệt Oxy trong n-ớc, nhiều loài gây tắc nghẽn hệ hô hấp của
động vật thuỷ sinh và khi suy tàn, sản phẩm phân huỷ của chúng sinh ra nhiều chất độc (nh- H2S, CH4, CO2….) Thêm vào đó, một số loài tảo gây hại (harmful algae) khi bùng phát th-ờng sinh ra nhiều dạng độc tố có thể ảnh h-ởng trực tiếp cho động vật thuỷ sinh, hoặc tích luỹ trong các loài nhuyễn thể nuôi tác động đến sức khoẻ ng-ời tiêu dùng Các dạng độc tố do tảo sinh ra là: dạng ASP (Amnesic shellfish poisoning) ngộ
độc gây mất trí nhớ, DSP (Diarrhetic shellfish poisoning) ngộ độc gây tiêu chảy, PSP (Paralytic shellfish poisoning) ngộ độc gây liệt cơ… Năm 1987 ở phía Đông Canada
đã xảy ra một sự kiện, 30 ng-ời bị ngộ độc và 3 ng-ời đã bị chết do ăn nhuyễn thể hai mảnh vỏ Những loài nhuyễn thể này có tích tụ độc tố (domoic acid và neurotoxic
amino acid) do một loài tảo silic Nitzschia pungens sinh ra [47,49,50]
Khu vực Tolo Harbour (Hong Kong) nguyên là nơi tách biệt với các nguồn thải của con ng-ời và hoàn toàn không bị ô nhiễm cho đến đầu thập kỷ 70 (thế kỷ XX) Khi các hoạt động nuôi thuỷ sản bắt đầu diễn ra cùng với việc thiết lập một thị trấn và khu công nghiệp mới ở vùng phụ cận, nguồn thải công nghiệp và sinh hoạt đã làm môi tr-ờng ở đây bị ô nhiễm nặng nề Vào cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90, mức ô nhiễm môi tr-ờng trong vịnh Tolo Harbour đã lên tới đỉnh điểm Nguồn ô nhiễm chính do các chất dinh d-ỡng (nutrients), so với khu vực ven bờ khác, tổng nitơ và tổng photpho trong trầm tích bên d-ới khu vực nuôi cá cao gấp 2 lần (với ΣN) và 3 lần (với ΣP), nồng
độ trung bình của NO
-3-N và PO
3-4-P trong n-ớc lên tới 0,05mg/l và 0,03mg/l, riêng
NO3-N có lúc tới 0,09mg/l Nồng độ các chất dinh d-ỡng tăng cao là nguyên nhân gây
ra các đợt bùng phát của tảo (thuỷ triều đỏ – red tide), năm 1988 có tới 40 lần xảy ra hiện t-ợng thuỷ triều đỏ, riêng đợt thuỷ triều đỏ tháng Giêng năm 1988 đã làm 35 tấn cá chết do giảm l-ợng ô xy hoà tan, thiệt hại lên tới 7 triệu HKD Ngoài ra, nhiều tác nhân ô nhiễm khác ở khu vực cũng tác động trực tiếp đến chất l-ợng môi tr-ờng ở đây nh-: kim loại nặng (Cd, Cr, Cu, Ni, Pb và Zn); Tributyn (TBT), PCBs, PAHs, Hydrocarbons và nhiều loại hoá chất bảo vệ thực vật …[55]
Tại Cộng hoà Nam Phi, tháng 3 năm 1980 khoảng 5 triệu con Vẹm trắng (While Mussel - Donax serra) ven bờ vịnh Elands đã bị chết do hiện t-ợng nở hoa của một loài
tảo có tên là Alexandrium catenella Một đợt thuỷ triều đỏ khác xảy ra vào năm 1994,
khảng 60 tấn tôm hùm đá (Rock Loster) và 1500 tấn cá (gồm 50 loài) đã chết ở vịnh
Trang 16St.Helena (ven bờ phía Tây) Đợt thuỷ triều đỏ này đ-ợc xác định là do 2 loài tảo:
Ceratium furca và Prorocentrum micans gây ra Các loài sinh vật biển ở đây bị chết do
ngạt thở (nồng độ DO đo đ-ợc ở đáy chỉ đạt 0,5ml/l.) và nhiễm độc H2S; ảnh h-ởng của H2S làm n-ớc biển nhanh chóng chuyển thành màu đen (Black tide) [48]
Tại Hàn Quốc, giai đoạn từ mùa Xuân đến mùa Thu các năm từ 1981 – 1992, các đợt thuỷ triều đỏ đã liên tục xảy ra (tần suất năm sau cao hơn năm tr-ớc) làm thiệt hại nặng nề cho nghề nuôi biển Điển hình là: tháng 8/1981 loài tảo có tên là
Gymnodinium mikimotoi đã bùng phát ở vịnh Chinhae làm tổn thất cho nghề nuôi
nhuyễn thể ở đây khoảng 2,6 triệu USD [42]; tháng 8/1992, thuỷ triều đỏ làm thiệt hại
cho nghề nuôi cá lồng ở bờ biển Chungmu khoảng 8,6 triệu USD Số liệu quan trắc chất
l-ợng môi tr-ờng vùng ven bờ Chungmu – Hakrhim cho thấy: nồng độ COD, N, P hoà tan và H2S trong n-ớc và trầm tích liên tục tăng từ 1989 – 1992, cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 – 2 lần[55]
Ngoài ra, nuôi cá lồng bè và nhuyễn thể ven biển th-ờng bị tác động bởi những
sự cố tràn dầu, năm 1990 tai nạn tàu chở dầu đã gây thiệt hại cho 2000ha nuôi biển ở vịnh Youngil (Hàn Quốc) [55]
Nh- vậy, những sự cố về môi tr-ờng và rủi ro đối với nghề nuôi hải sản do chất l-ợng môi tr-ờng ngày càng suy giảm luôn tiềm ẩn ở hầu hết các khu vực trên Thế giới Những tổn thất đối với nghề nuôi hải sản và mối nguy đối với sức khoẻ, tính mạng ng-ời tiêu dùng, tuy không có số liệu thống kê đầy đủ nh-ng đã minh chứng cho tầm quan trọng của vấn đề: “Duy trì, kiểm soát chất lượng môi trường ven bờ là điều kiện tiên quyết để phát triển nuôi thuỷ sản bền vững“
1 2 2 2 Việt Nam: Thời gian qua, đồng hành với sự gia tăng diện tích và sản l-ợng
nuôi trồng thuỷ sản, những hoạt động kinh tế – xã hội trong cả n-ớc không ngừng tăng tr-ởng, kéo theo hàng loạt các vấn đề về môi tr-ờng tác động đến khu vực ven biển Một số nghiên cứu gần đây [2,10] ở các vùng nuôi tôm, nuôi cá lồng và nhuyễn thể ven biển cho thấy hàm l-ợng dinh d-ỡng hữu cơ tăng cao trong n-ớc và trầm tích tại khu vực nuôi và vùng lân cận Tác động tích tụ ô nhiễm làm suy giảm chất l-ợng môi tr-ờng, tính đa dạng của quần xã sinh vật ở chính những vùng nuôi tập trung và cả khu vực xung quanh Có hai nguồn ô nhiễm chính tác động đến vùng nuôi thuỷ sản là:
- Từ môi tr-ờng xung quanh: các hoạt động kinh tế trên đất liền và trên biển gây
ảnh h-ởng xấu đến chất l-ợng nguồn n-ớc cấp cho nuôi thuỷ sản,
- Do chính hoạt động nuôi thuỷ sản (tự ô nhiễm): gia tăng hàm l-ợng dinh d-ỡng làm suy giảm chất l-ợng n-ớc, trầm tích tại chỗ và xung quanh khu vực nuôi
Trang 17Một số thiệt hại do chất l-ợng môi tr-ờng đối với nghề nuôi biển (cá lồng và nhuyễn thể) các tỉnh ven biển trong những năm gần đây [11]:
Từ ngày 26 đến 29 tháng 6 năm 2002, một đợt thuỷ triều đỏ đã xảy ra trên diện rộng, từ vùng vịnh Lan Hạ đến vùng Bến Bèo (Cát Bà - Hải Phòng) Toàn bộ vực n-ớc chuyển sang màu vàng đến đỏ nghệ, phân bố trên bề mặt của tầng n-ớc (khoảng 20-50cm), hoàn toàn không xuất hiện ở tầng đáy Tác nhân gây ra đợt thuỷ triều đỏ trên là
loài tảo Ceratium furca Đây là một loài tảo giáp, không có khả năng sinh độc tố nh-ng
sự bùng phát của chúng gây hại cho nghề nuôi trồng thuỷ sản do cạn kiệt ôxy trong thuỷ vực hoặc gây tắc nghẽn mang cá Tỷ lệ cá chết tăng cao đột biến, không có thống
kê chi tiết nh-ng theo đánh giá của ng- dân: l-ợng cá chết ở mỗi bè khoảng từ vài chục
đến hàng trăm kg/bè (số l-ợng bè nuôi cá ở đây lúc ấy khoảng gần 300 bè); gây thiệt hại rất lớn cho các bè nuôi cá tại trong khu vực
Trong tháng 5 năm 2002, một đợt dịch bệnh xảy ra ở vùng Tiền Hải, Thái Bình, gây thiệt hại rất lớn cho nghề nuôi ngao ở đây Hàng trăm ha bị ảnh h-ởng, trong đó có khoảng 10 ha ngao chết hoàn toàn, gây thiệt hại hàng trăm tấn ngao Đặc biệt, trong khoảng thời gian từ 15 - 25 tháng 11 năm 2002, một đợt dịch bệnh xảy ra đối với các bãi nuôi ngao thuộc vùng Giao Thuỷ – Nam Định, gây chết hầu nh- toàn bộ sản l-ợng ngao dầu nuôi tại khu vực này Nếu lấy con số trung bình về thiệt hại khoảng 30-50 triệu đồng/ha (kết quả khảo sát sơ bộ một số hộ nuôi ngao trong khu vực) thì với tổng
diện tích nuôi là 400 ha, thiệt hại do đợt dịch này gây ra lên đến hàng chục tỷ đồng…
Từ khi mật độ nuôi gia tăng trong khu vực, hàng năm vào giai đoạn chuyển tiếp từ mùa Xuân sang mùa Hè, nhiều loài cá nuôi lồng bè ở Quảng Ninh – Hải Phòng th-ờng bị chết không rõ nguyên nhân, đồng thời hiện t-ợng ngọt hoá (độ muối giảm thấp) đột ngột vào giai đoạn đầu mùa cũng là nguyên nhân quan trọng gây “sốc” cho hải sản nuôi, tạo cơ hội cho các loài vi sinh vật và mầm bệnh phát triển …[11] Giai đoạn tháng
3 – 4/2005, do điều kiện thời tiết nắng nóng kéo dài, độ muối của n-ớc biển tăng cao (>35%o) và việc xả n-ớc của đập Ba Lai không th-ờng xuyên đã làm cho nhiều bãi nghêu nuôi ở Bến Tre thiệt hại nặng nề Theo số liệu của Sở Thuỷ sản Bến Tre: chỉ tính riêng hai huyện Bình Đại và Ba Tri, số nghêu chết trong giai đoạn này chiếm từ 50 – 70% tổng số nghêu nuôi trên diện tích 3600ha…
Liên tục trong các năm qua, do biến động về thời tiết, dịch bệnh thuỷ sản bùng phát ở hầu hết các vùng nuôi thuỷ sản tập trung (ven biển), làm cho nhiều khu vực nuôi tôm, nhuyễn thể phải bỏ hoang (Quảng Ninh, Hải Phòng, Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre, Kiên Giang…); chất l-ợng môi tr-ờng ven biển suy thoái nghiêm trọng đến mức phải
di dời hoặc đóng cửa hoàn toàn một số khu vực (vịnh Văn Phong - Khánh Hoà…)
Trang 18
1 3 Quan trắc cảnh báo môi tr-ờng biển phục vụ nuôi thuỷ sản bền vững
1 3 1 Tổng quan về hệ thống quan trắc môi tr-ờng biển Quốc tế và khu vực
Đối với vấn đề ô nhiễm biển, từ năm 1968 Liên hợp quốc đã thành lập nhóm chuyên gia về các lĩnh vực ô nhiễm biển (Joint Group of Experts on the Scientific Aspects of Marine Pollution - GESAMP), sau ch-ơng trình nghị sự 21 (Hội nghị Môi tr-ờng và phát triển của Liên Hiệp Quốc - LHQ), GESAMP có tên là "Group of Experts
on the Scientific Aspects of Marine Environmental Protection" [50] Nh- vậy, vấn đề ngăn ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi tr-ờng biển đã đ-ợc cộng đồng thế giới triển khai một cách đồng bộ có hệ thống trên các lĩnh vực: ô nhiễm do tàu biển, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sinh, nghiên cứu và triển khai thu thập số liệu về ô nhiễm biển; những vấn đề về sức khoẻ của ng-ời dân khu vực ven bờ; ô nhiễm biển từ khí quyển có liên quan tới vấn
đề thay đổi khí hậu và ô nhiễm biển do phóng xạ
Năm 1973, tổ chức y tế thế giới (WHO), tổ chức khí t-ợng thế giới (WMO) và ch-ơng trình môi tr-ờng của Liên Hiệp Quốc (UNEP) đã thiết lập hệ thống giám sát môi tr-ờng toàn cầu (GEMS – Global Environment) [9,46] Trong đó, môi tr-ờng biển
đã đ-ợc các uỷ ban của LHQ giám sát trên nhiều lĩnh vực Năm 1978, Ch-ơng trình giám sát và đánh giá chất l-ợng n-ớc toàn cầu của LHQ (GEMS/Water Programme)
đ-ợc triển khai với sự tham gia của 59 n-ớc thành viên Đến nay, mạng l-ới giám sát của ch-ơng trình đã phát triển ở 106 Quốc gia và vùng lãnh thổ, có tới 1544 trạm quan trắc và 2.296814 điểm thu số liệu với hơn 100 thông số (GEMS/Water Programme) Nhiệm vụ của ch-ơng trình là đánh giá và giám sát chất l-ợng các nguồn tài nguyên n-ớc (n-ớc mặt, n-ớc ngầm) trên toàn thế giới [46,48]
Từ đầu những năm 1980, một hệ thống giám sát chất l-ợng môi tr-ờng và sự nở hoa của tảo biển đã hình thành ở châu âu và Bắc Mỹ với hầu hết các n-ớc có nghề nuôi biển tham gia Đến nay, d-ới sự điều hành chung của IOC (Intergovernmental Oceanographic Commission) hệ thống thống này đã phát triển với quy mô toàn cầu Trong đó, những khu vực thuỷ sản nuôi biển tập trung ở châu á (nh- Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Philippine, Thái Lan…) và nhiều quốc gia Nam Mỹ đều có hệ thống giám sát chất l-ợng môi tr-ờng và độc tố trong vùng nuôi hải sản [43,47,50]
Khu vực Đông Nam á: Hệ thống quan trắc, giám sát chất l-ợng môi tr-ờng biển
và ven bờ ở các quốc gia có biển đã phát triển nhanh chóng, góp phần quan trọng ngăn ngừa, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm, suy thoái môi tr-ờng và các hệ sinh thái Trong đó, mục tiêu quan trắc – cảnh báo môi tr-ờng ven biển phục vụ phát triển sản xuất thuỷ sản đ-ợc quan tâm hàng đầu:
Trang 19Nhiệm vụ quan trắc chất l-ợng n-ớc biển tại bán đảo Malaixia, đ-ợc bắt đầu từ năm 1978, vùng Sabah và Sarawak từ 1985 và đến năm 1999 toàn bộ các đảo ven bờ đã
có hệ thống quan trắc Năm 2002, số điểm quan trắc chất l-ợng n-ớc ven biển của Malaixia là 219 điểm cố định với số l-ợng mẫu thu cả năm là 1063 mẫu Kết quả quan trắc cho thấy: 75,7% tổng số mẫu TSS, 50,5% số mẫu dầu mỡ và 42,6% số mẫu E.coli
có nồng độ v-ợt quá tiêu chuẩn cho phép Từ số liệu quan trắc có thể xác định các nguồn ô nhiễm chính là: chất thải công nghiệp, khai thác cát, khai thác gỗ bất hợp pháp, các chất thải từ tàu, thuyền máy, chất thải sinh hoạt không qua xử lý và các nguồn từ đất liền…[52]
Tại Thái Lan, “Phòng Quản lý chất lượng nước” thuộc “Cục kiểm soát ô nhiễm” – Bộ Khoa học, công nghệ và Môi tr-ờng; hàng năm tiếp nhận và phân tích mẫu chất l-ợng môi tr-ờng biển và chịu trách nhiệm xây dựng Tiêu chuẩn chất l-ợng n-ớc ven biển với các tiêu chí bảo vệ môi tr-ờng khác nhau Hệ thống mạng l-ới điểm quan trắc môi tr-ờng ven biển của Thái Lan gồm 218 điểm thu mẫu n-ớc, 110 điểm thu mẫu chất
đáy và 15 điểm thu mẫu sinh vật biển Tần suất quan trắc 2 lần/năm, riêng chất l-ợng n-ớc biển đã quan trắc tới 30 thông số… Bên cạnh đó, Cục nghề cá - Bộ Nông nghiệp
và Hợp tác Thái Lan đã xây dựng và điều hành quản lý hoạt động của hàng trăm trạm quan trắc, giám sát chất l-ợng môi tr-ờng ven biển, nguồn cấp n-ớc cho vùng nuôi thuỷ sản [8,42]
1 3 2 Hệ thống quan trắc môi tr-ờng biển ở Việt Nam
Luật bảo vệ môi tr-ờng đ-ợc Quốc hội n-ớc CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 và có hiệu lực từ tháng 1 năm 1994 Cùng với các Nghị định h-ớng dẫn thi hành luật Bảo vệ môi tr-ờng do Chính phủ đã ban hành là những căn cứ pháp lý
để các ngành và địa ph-ơng triển khai nhiệm vụ bảo vệ Môi tr-ờng thuộc lĩnh vực quản lý… Điều 37, 38 Luật Bảo vệ môi trường quy định [18] việc “Tổ chức, xây dựng, quản
lý hệ thống quan trắc, định kỳ đánh giá hiện trạng môi tr-ờng, dự báo diễn biến môi trường”, “Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ theo chức năng, nhiệm
vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi tr-ờng thực hiện việc bảo vệ môi trường trong ngành và các cơ sở quản lý trực tiếp”
Triển khai “Kế hoạch Quốc gia về Môi Trường và phát triển bền vững 1991 -
2000 (NPESD), Cục Môi Tr-ờng (Bộ Tài nguyên &MT) đã phối hợp với một số Bộ ngành, xây dựng và hoàn thiện một hệ thống trạm quan trắc và phân tích (Mornitoring) môi tr-ờng (QT & PT MT) từ năm 1995 Đến năm 2003, đã có 20 trạm quan trắc hiện trạng môi tr-ờng bao gồm: các trạm vùng đất liền (3 miền), các trạm quan trắc chuyên
Trang 20
đề (m-a axit, phóng xạ ), trạm QT vùng biển và phòng thí nghiệm phân tích môi tr-ờng Riêng vấn đề môi tr-ờng biển và ven bờ, đã có 5 trạm vùng thực hiện nhiệm vụ
QT & PT Môi tr-ờng vùng cửa sông, ven biển và biển khơi (Bảng 1 4)
Bảng 1 4 Khu vực hoạt động của 5 trạm vùng biển thuộc hệ thống trạm QT Quốc gia
Trạm vùng 2 TT khảo sát, nghiên cứu
Vùng biển ven bờ phía Nam,
từ Phú Yên đến Kiên Giang
Trạm
biển
khơi
Trạm vùng 4 TT QT& PTMT biển -
Trạm vùng 5 Viện Nghiên cứu Hải
Hệ thống QT & PT môi tr-ờng biển gồm các điểm quan trắc (QT) tác động (thực hiện ở khu vực nhạy cảm) và các điểm quan trắc nền (nh- : Bạch Long Vĩ, Cồn Cỏ, Phú Quý, Côn Sơn…) Khu vực ven bờ Hải Phòng – Quảng Ninh có các điểm QT tác
động: Trà Cổ, Cửa Lục, Đồ Sơn và điểm QT nền Bạch Long Vĩ do trạm vùng biển 1 (phân viện Hải d-ơng học tại Hải Phòng, nay là Viện Tài nguyên và môi tr-ờng biển) thực hiện Ch-ơng trình QT & PT môi tr-ờng ven biển hàng năm đ-ợc thực hiện với tần suất 04 lần; bộ thông số quan trắc gồm các hợp phần MT n-ớc (21 nhóm yếu tố), MT trầm tích (11 nhóm yếu tố) và thuỷ sinh vật (04 nhóm) Số liệu QT & PT MT hàng năm
đ-ợc tập hợp để xây dựng báo cáo hiện trạng và diễn biến MT Quốc gia
Bên cạnh đó, nhiều ngành và địa ph-ơng trong cả n-ớc, với sự hỗ trợ của Bộ Tài nguyên & Môi tr-ờng và những dự án quốc tế đã xây dựng, đ-a vào hoạt động hệ thống quan trắc môi tr-ờng phục vụ yêu cầu giám sát, bảo vệ môi tr-ờng theo vùng và lĩnh
vực quản lý Những hệ thống quan trắc liên quan tới môi tr-ờng n-ớc điển hình là: hệ
thống kiểm soát môi tr-ờng không khí và n-ớc do Tổng cục Khí t-ợng – thuỷ văn quản
lý, từ năm 1992, trong số các trạm quan trắc có 6 điểm kiểm soát môi tr-ờng biển, 57
điểm đo mặn và các phòng thí nghiệm đặt tại Hà Nội – TP Hồ Chí Minh - Đà Nẵng
Năm 1985, Uỷ Ban Sông Mê Công đã thành lập mạng l-ới giám sát chất l-ợng n-ớc tại
Phân viện Quy hoạch Thuỷ lợi Nam bộ với 53 điểm đo phân bố trên các sông Tiền,
Trang 21sông Hậu, bán đảo Cà Mau, Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp M-ời và th-ợng l-u sông
Mê Công… Liên đoàn địa chất thuỷ văn - địa chất công trình miền Bắc đã xây dựng
đ-ợc Mạng l-ới quan trắc Quốc gia về động thái n-ớc d-ới đất cho 3 vùng kinh tế :
Đồng bằng Bắc bộ, Đồng bằng Nam bộ và Tây Nguyên [9]… Tuy nhiên, những quan trắc này còn hạn chế về ph-ơng pháp, thiết bị và số l-ợng các thông số
Song song với việc hình thành hệ thống mạng l-ới trạm quan trắc, Bộ KHCN và Môi tr-ờng (nay là Bộ Tài nguyên & Môi tr-ờng) đã tập trung chỉ đạo xây dựng và ban hành các tiêu chí, các bộ tiêu chuẩn, các quy trình, quy phạm… theo những lĩnh vực,
đối t-ợng và thành phần môi tr-ờng cần quan trắc, kiểm soát [21,22,23,24] Trong đó, liên quan tới môi tr-ờng n-ớc và bảo vệ môi tr-ờng biển ven bờ có các tiêu chuẩn nh-: TCVN 5942-1995 TCVN 5943 – 1995, TCVN 5944 – 1995, TCVN 5945 – 1995, TCVN 6772 – 2000, TCVN 6986 – 2001, TCVN 6987 – 2001… Ngoài ra, theo những đề án nghiên cứu riêng lẻ, nhiều đợt quan trắc môi tr-ờng (và môi tr-ờng biển)
đã đ-ợc tiến hành nh-ng không mang tính chất định kỳ Đồng thời, nhiều ch-ơng trình hợp tác quốc tế (song ph-ơng, đa ph-ơng) đã triển khai để xây dựng, hoàn thiện và thử nghiệm áp dụng các tiêu chuẩn…, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quan trắc, kiểm soát chất l-ợng môi tr-ờng ven biển
Từ thập niên 90 (TK XX), để đáp ứng những đòi hỏi của thị tr-ờng thế giới, một
số dự án về quản lý, bảo đảm chất l-ợng và vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu đã đ-ợc triển khai, nh-: Ch-ơng trình giám sát chất l-ợng môi tr-ờng các vùng nuôi nhuyễn thể 2 mảnh vỏ, truy xuất nguồn gốc; giám sát d- l-ợng kháng sinh, độc tố… trong sản phẩm thuỷ sản… Năm 2001, Bộ Thuỷ sản triển khai ch-ơng trình Quản lý nhà n-ớc về bảo vệ môi tr-ờng trong ngành Thuỷ sản, một trong những nhiệm vụ -u tiên của ch-ơng trình là xây dựng hệ thống mạng trạm quan trắc – cảnh báo môi tr-ờng, dịch bệnh các vùng nuôi thuỷ sản tập trung
Cho đến nay, hệ thống quan trắc – cảnh báo môi tr-ờng, dịch bệnh thuỷ sản đã thực hiện trong cả n-ớc, với 03 trung tâm vùng nội địa (miền Bắc, miền Trung và miền Nam) và 01 trung tâm vùng biển Do những hạn chế về các nguồn lực cần thiết, đồng thời, nghề NTTS của Việt Nam rất manh mún, nhỏ lẻ nên hoạt động quan trắc hiện nay mới chỉ diễn ra ở một số vùng nuôi thuỷ sản tập trung, những “điểm nóng” về môi tr-ờng và dịch bệnh thuỷ sản Tr-ớc những bức xúc của thực tế sản xuất, nhiều vấn đề
đặt ra đối với hoạt động quan trắc – cảnh báo môi tr-ờng, dịch bệnh thuỷ sản cần phải tiếp tục hoàn thiện Trung tâm Quốc gia quan trắc cảnh báo môi tr-ờng biển (Viện nghiên cứu Hải sản – Bộ Thuỷ sản) là cơ quan chủ trì, tổ chức hoạt động quan trắc môi tr-ờng các vùng nuôi hải sản biển trên phạm vi cả n-ớc
Trang 22
Hệ thống mạng trạm quan trắc cảnh báo môi tr-ờng vùng nuôi hải sản biển, (những vùng nuôi hải sản tập trung và các khu bảo tồn biển) đến năm 2005 có tổng số
28 điểm quan trắc, thuộc các tỉnh: Quảng Ninh – Hải Phòng – Thái Bình – Nam
Định, Nghệ An, Đà Nẵng, Bà Rỵa - Vũng Tàu và Bến Tre Bộ thông số quan trắc, gồm:
- Các thông số khí t-ợng thuỷ văn: nhiệt độ không khí, áp suất khí quyển,
- Các thông số nhóm kim loại: Fe, Cu, Zn, Pb, As, Cd và Hg
- Các thông số ô nhiễm MT khác: CN-, dầu mỡ, HC BVTV, trừ sâu, cỏ
- Các chỉ tiêu sinh vật: sinh vật phù du, tảo độc hại, Coliform, Vibrio… Tần suất quan trắc hiện tại: 2lần/năm (vào hai mùa: tháng 4 – 5 và 9 – 10) Những kết quả quan trắc b-ớc đầu đã góp phần quan trọng đề đánh giá hiện trạng, diễn biến chất l-ợng môi tr-ờng một số vùng nuôi hải sản biển Trong chiến l-ợc bảo vệ môi tr-ờng của ngành thuỷ sản, cùng với hệ thống quan trắc môi tr-ờng các địa ph-ơng và lĩnh vực kinh tế khác, hệ thống quan trắc – cảnh báo môi tr-ờng, dịch bệnh thuỷ sản đang tiếp tục đ-ợc quy hoạch, nâng cấp và hoàn thiện
Nh- vậy, mạng l-ới quan trắc môi tr-ờng ven biển ở Việt Nam đã đ-ợc hình thành và đi vào hoạt động từ năm 1995 Năm 2001, một hệ thống quan trắc cảnh báo chất l-ợng môi tr-ờng và dịch bệnh thuỷ sản đã đ-ợc triển khai với quy mô toàn quốc, trong đó có một số vùng nuôi biển Đồng thời, tuỳ theo điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế xã hội, một số địa ph-ơng đã thiết lập những mạng l-ới điểm quan trắc chất l-ợng môi tr-ờng và môi tr-ờng ven biển Tuy nhiên, do những khó khăn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng nh- hệ thống tổ chức, quản lý…, cho đến nay hầu hết các
địa ph-ơng ven biển Việt Nam, ch-a có một hệ thống trạm quan trắc môi tr-ờng biển hoàn chỉnh, phục vụ phát triển kinh tế xã hội và nuôi trồng thuỷ sản bền vững
Trang 23
Ch-ơng 2
Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế – xã hội
và nuôi trồng thuỷ sản ven biển
Hải Phòng – Quảng Ninh
2 1 Điều kiện tự nhiên, khí t-ợng - thuỷ văn ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh
Những đặc tr-ng cơ bản về điều kiện tự nhiên, chế độ khí t-ợng – thuỷ văn khu vực đóng vai trò là các thông số nền; đồng thời là động lực chính đối với nghiên cứu biển nói chung và đánh giá ô nhiễm vùng biển ven bờ Do vây, khi nghiên cứu cơ sở khoa học để thiết kế ch-ơng trình quan trắc cảnh báo môi tr-ờng ven biển, ngoài việc tìm hiểu, đánh giá các nguồn thải, cơ chế tác động đến đối t-ợng; cần phải dựa trên những đặc điểm và quy luật chung nhất của các điều kiện tự nhiên
Hải Phòng – Quảng Ninh là hai địa ph-ơng ven biển vùng Đông Bắc của Việt Nam, với chiều dài bờ biển gần 400km, và hơn hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ, đã tạo cho vùng ven biển này những cảnh quan và hệ sinh thái tự nhiên đặc thù Điều kiện tự nhiên Hải Phòng - Quảng Ninh đã tạo ra những tiềm năng to lớn để phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là các ngành kinh tế biển
2 1 1 Điều kiện tự nhiên của Hải Phòng – Quảng Ninh
2 1 1 1 Thành phố Hải Phòng [28]
Thành phố Hải Phòng đ-ợc thành lập từ năm 1888, có toạ độ địa lý : 20030’39” – 21001’15” vĩ độ Bắc và 106023’39” – 107008’39” kinh độ Đông Là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam,Hải Phòng đ-ợc Trung -ơng công nhận là: thành phố cấp I, trung tâm kinh tế, công nghiệp, th-ơng mại, du lịch của vùng Duyên Hải Bắc bộ, là cửa chính
ra biển của các tỉnh phía Bắc, là đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc và cả n-ớc, đồng thời là một đô thị có vị trí quốc phòng trọng yếu, là một trong các cực tăng tr-ởng của vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh
Hải Phòng có chung ranh giới hành chính với 3 tỉnh Quảng Ninh ở phía Bắc, tỉnh Hải D-ơng ở phía Tây và tỉnh Thái Bình ở phía Nam-Tây nam Ngoài khơi Hải Phòng có nhiều đảo lớn nhỏ rải rác trên một vùng biển nối liền với vịnh Hạ Long, Quảng Ninh, trong đó có hai đảo lớn là Cát Bà và Bạch Long Vĩ
Với chiều dài 128 km, bờ biển Hải phòng có ba loại hình cơ bản: dạng đ-ờng bờ cửa sông châu thổ (từ cửa Thái Bình đến Đồ Sơn), dạng đ-ờng bờ cửa sông hình phễu (từ Đồ Sơn đến Cát Bà) và dạng bờ vũng vịnh (từ Cát Bà đến Hạ Long) Trong hơn
Trang 245000km2 tổng diện tích chỉ có 1507km2 đất nổi, hải đảo chiếm trên 300km2 Vùng n-ớc bên ngoài đ-ờng bờ biển Hải Phòng là một dải hẹp, rộng chừng 31km Diện tích toàn vùng trên 4000km2, phần lớn không sâu quá 20m, bao quanh hệ quần đảo ven bờ Cát
Bà, Th-ợng Mai, Hạ Mai, Long Châu, Hòn Dấu, nơi sâu nhất không quá 40m Đảo Bạch Long Vĩ có diện tích 2,5km2 [28,35]
2 1 1 2 Tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh là một tỉnh biên giới phía Đông Bắc Việt Nam, nằm ở ven bờ Tây Bắc vịnh Bắc Bộ, có đất đai rộng lớn, phong phú và các cửa khẩu Quốc tế thuỷ bộ… là những động lực chính để phát triển kinh tế xã hội
Diện tích đất tự nhiên khoảng 6.000km2, bằng 1,8% so với cả n-ớc, trong đó diện tích đất có rừng là 1530km2 và diện tích rừng tự nhiên là 1260km2, độ che phủ t-ơng ứng là 26% Diện tích vùng biển khoảng 10.000km2 với hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ tạo cho địa hình cảnh quan của Quảng Ninh có những nét riêng, độc đáo Địa hình tỉnh Quảng Ninh gồm: miền núi, đồng bằng hẹp, biển và hải đảo; trong đó: vùng núi có diện tích gần 3000km2, chiếm khoảng 48,5%, vùng trung du đồng bằng ven biển khoảng 2500km2 (41%) và diện tích các đảo là 619km2, t-ơng ứng 10,5% tổng diện tích [9].Quảng Ninh rất giàu tiềm năng phát triển kinh tế; nhiều tài nguyên khoáng sản, cảnh quan và các điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều cảng biển n-ớc sâu… Vùng biển là nơi sinh sống của nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao nh- tôm hùm, cá song, ngọc trai Trên chiều dài bờ biển khoảng 250km, có nhiều hệ sinh thái cửa sông, ven biển quan trọng nh- những cánh rừng ngập mặn rộng lớn, rạn san hô, vũng vịnh… Đặc biệt, trên một số đảo còn tồn tại hệ sinh thái rừng nhiệt đới nguyên sinh, có tính đa dạng sinh học rất cao nh- đảo Ba Mùn, Trà Bản
2 1 2 Đặc điểm khí t-ợng – thuỷ văn vùng biển ven bờ Hải Phòng – Quảng Ninh
2 1 2.1 Hoàn l-u khí quyển và chế độ gió
Khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh nằm trong phạm vi ảnh h-ởng của chế độ nhiệt đới gió mùa có qui mô ảnh h-ởng trên toàn vùng Đông Nam á Mùa gió Đông Bắc từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau với các h-ớng thịnh hành là Bắc, Đông Bắc Hàng tháng, trung bình có 3 - 4 đợt, mỗi đợt kéo dài 3 - 5 ngày Sức gió trung bình cấp 5 - 6, mạnh nhất cấp 7 - 8 Gió Đông Bắc thổi song song với bờ nên rất mạnh nh-ng không có khả năng tạo sóng lớn Mùa hè gió mùa Tây Nam với các h-ớng thịnh hành là Đông và
Đông Nam Tốc độ gió trung bình 2,5 - 3m/s Bão và áp thấp nhiệt đới xuất hiện vào
Trang 25mùa hè, tốc độ gió bão đạt 35 - 50m/s Gió Đông Nam thổi gần vuông góc với bờ, có đà rộng và khả năng tạo sóng lớn [5,19]
2 1 2 2 Bức xạ và nhiệt độ không khí
Hàng năm, khu vực có 1.600 - 1.900 giờ nắng Số giờ nắng trung bình tháng 160
- 180 giờ vào tháng 5 - 9 Tổng l-ợng bức xạ cả năm 105 - 115 Kcal/cm2, cao nhất vào các tháng 5 - 8, thấp nhất vào tháng 2 Nhiệt độ không khí trung bình năm 23 - 240C, có
sự khác biệt nhất định giữa Hải Phòng và Quảng Ninh
Nhiệt độ trung bình năm ở Hải Phòng là 23,80C, cực đại 37,80C, cực tiểu 6,90C
Về mùa đông, nhiệt độ trung bình d-ới 200C kéo dài từ tháng 12 - 3, thấp nhất tháng 1, trung bình 15 - 170C, thậm chí 4 - 70C Về mùa hè, nhiệt độ trung bình trên 250C kéo dài từ tháng 5 - 9, cao nhất tháng 7 (28,50C), có khi 33,0 – 37,00C Quảng Ninh có nhiệt độ trung bình năm 22,90C, cực đại 37,90C, cực tiểu 50C, thấp nhất vào tháng 1 (16
- 170C), cao nhất vào tháng 8 (28 - 290C) [19,28,29]
2 1 2 3 M-a, ẩm và bốc hơi
L-ợng m-a khu vực khoảng 1.500 - 2.000 mm/năm, thấp ở Hải Phòng (1.500 - 1.800 mm/năm), cao ở Quảng Ninh (1.900 - 2.000 mm/năm) Số ngày m-a trong năm khoảng 120 ngày Mùa m-a trùng mùa hè nóng, kéo dài trong tháng 5 - 10, chiếm 80 - 90% l-ợng m-a cả năm M-a nhiều vào các tháng 7, 8, 9, cao nhất vào tháng 8 Mùa khô từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, cơ bản trùng với mùa lạnh M-a ít nhất vào tháng
12 và tháng 1, chủ yếu là m-a phùn Độ ẩm trung bình năm từ 82 - 84%, có xu h-ớng tăng dần từ bắc xuống nam, từ ngoài khơi vào đất liền Độ ẩm nhỏ (73 - 77%) vào tháng 10 -1 Tháng 3 và tháng 4 có độ ẩm cao nhất (90 - 91%) L-ợng bốc hơi khu vực Quảng Ninh cao hơn, 850 - 1.000 mm/năm, khu vực Hải Phòng thấp hơn, trung bình
700 - 750mm/năm [5,28,29]
2 1 2 4 Các hiện t-ợng thời tiết đặc biệt
M-a phùn và s-ơng mù: Hàng năm có tới 32 ngày m-a phùn ở Hạ Long, 24 ngày ở
Hải Phòng Có năm m-a phùn kéo dài 70 - 80 ngày M-a phùn xuất hiện vào tháng 12 -
4, nhiều nhất vào các tháng 2- 3 Hàng năm ở khu vực có khoảng 15 - 20 ngày s-ơng
mù, xuất hiện chủ yếu vào mùa đông, tháng 11 - 4 Càng ra ngoài khơi, số ngày s-ơng
mù càng nhiều so với đất liền
Dông, lốc: Dông khá phổ biến ở vùng ven bờ, với số l-ợng mỗi năm 78 ngày ở Quảng
Ninh, 100 - 120 ngày ở Hải Phòng Dông th-ờng tập trung vào mùa hè với số l-ợng 11
- 15 ngày ở Hạ Long; 15 - 20 ngày/tháng ở Hải Phòng [5]
Trang 26
Bão và áp thấp nhiệt đới: Số liệu thống kê cho thấy, bão đổ bộ vào vùng Quảng Ninh -
Hải Phòng có tần xuất 28% so với toàn quốc Trung bình mỗi năm có 1,5 cơn bão đổ bộ trực tiếp và 3 - 4 cơn bão ảnh h-ởng, có năm 9 - 10 cơn bão (1964) Bão xuất hiện trong các tháng 6 - 10, tập trung vào tháng 7 - 8 Bão th-ờng kèm theo m-a lớn, gió mạnh và cả n-ớc dâng trong bão Gió trong bão th-ờng đạt 20m/s, cực đại 45 - 50m/s Bão th-ờng kèm theo m-a lớn kéo dài vài ba ngày, với l-ợng m-a th-ờng trên 200mm
2 1 2 5 Đặc điểm thuỷ văn
Thuỷ triều [5,19,29]: Thuỷ triều trong vùng thuộc kiểu nhật triều điển hình với hầu hết
số ngày trong tháng, pha triều là 25 giờ Trong một pha triều có một lần n-ớc lớn và một lần n-ớc ròng Độ lớn thủy triều thuộc loại lớn nhất n-ớc ta, có xu thế tăng dần từ Nam lên Bắc và từ bờ ra khơi Độ lớn thuỷ triều cực đại 4,18m ở Hòn Dáu, 4,38m ở Hòn Gai; 4,80m ở Cửa Ông Độ lớn thuỷ triều cực tiểu lần l-ợt là 1,75m; 1,80m; 1,95m Độ lớn thủy triều trung bình lần l-ợt là: 3,0m; 3,15m; 3,40m
Về mùa hè, triều mạnh vào các tháng 5, 6 và 7, yếu vào các tháng 8 và 9 và th-ờng lên vào buổi chiều Về mùa đông, triều mạnh vào các tháng 10, 11 và 12, yếu vào các tháng 3 và 4 và th-ờng lên vào buổi sáng
Dòng chảy: Dòng chảy ven bờ Hải Phòng – Quảng Ninh là dòng tổng hợp, có các
thành phần dòng chảy triều, gió và sóng Trong đó, dòng chảy triều và thành phần nhật triều có vai trò quyết định Vì vậy, dòng chảy có tính thuận nghịch và phụ thuộc nhiều vào địa hình bờ, định h-ớng theo luồng lạch, cửa sông hoặc song song với đ-ờng bờ
Khu vực ven bờ Đồ Sơn - Lạch Tray, dòng chảy định h-ớng theo đ-ờng bờ vào cửa sông Dòng chảy xuống h-ớng đông, đông nam kéo dài 12 - 14 giờ, tốc độ cực đại 35cm/s, dòng chảy lên h-ớng bắc, tây bắc, kéo dài 10 - 12 giờ, tốc độ cực đại 42 cm/s
ở khu vực cửa Nam Triệu, do ảnh h-ởng của sóng, tốc độ dòng chảy xuống cực đại 90 cm/s và lên cực đại 60 cm/s Tại khu vực đông nam Cát Bà, dòng chảy cũng do dòng triều quyết định, h-ớng chảy phức tạp, tốc độ chỉ 8 - 12cm/s, nơi mạnh 20 - 30cm/s và
có thể đạt đến trên 50 cm/s ở các lạch hẹp Khu vực này chịu ảnh h-ởng của dòng chảy mùa, nên có n-ớc đục vào mùa hè do dòng đục h-ớng tây nam từ Đồ Sơn lên [28]
Khu vực vịnh Hạ Long, tốc độ dòng chảy hiếm khi v-ợt quá 60cm/s, th-ờng giá trị cực đại tại các điểm chỉ 25 - 40cm/s Trong kỳ triều c-ờng, vận tốc dòng chảy lớn gấp 2,5 - 3 lần kỳ triều kém Tốc độ dòng chảy khi triều rút có thể lớn gấp 1,5 - 2 lần khi triều dâng Tốc độ trung bình trên vịnh nhỏ, chỉ trên d-ới 10cm/s [5,11]
Càng xa bờ, ra phía bên ngoài của vùng nghiên cứu, dòng chảy triều yếu đi và vai trò dòng chảy mùa thể hiện rõ ràng Về mùa hè, dòng chảy h-ớng đông bắc, tốc độ
Trang 27trung bình 10 - 15cm/s, và về mùa đông, dòng chảy h-ớng tây nam, tốc độ trung bình
20 - 30cm/s (phụ lục 3)
Sóng biển [28,29]: Do ảnh h-ởng của địa hình và h-ớng bờ, sóng biển vùng Hải Phòng
– Quảng Ninh nói chung không lớn, trừ những dịp đặc biệt có sóng bão Trên toàn vùng, các sóng h-ớng bắc, đông bắc thống trị vào mùa đông, các sóng h-ớng đông,
đông nam và nam thống trị vào mùa hè
Khu vực Hạ Long (trạm Hòn Gai), tần suất lặng sóng chiếm -u thế tuyệt đối (83
- 85%) Về mùa hè (tháng 5- 10), sóng chủ đạo h-ớng nam và đông nam với tổng tần suất 6 - 13% và độ cao sóng trung bình 0,4m, cực đại 2,5m trong bão Vào mùa đông (tháng 11 đến tháng 4) h-ớng sóng chủ đạo là bắc và đông bắc với tần suất tổng cộng 8
- 9%, độ cao sóng trung bình 0,3m, cực đại 1,5m
Khu vực đông nam Cát Bà thịnh hành các h-ớng sóng đông bắc, đông và nam Sóng h-ớng đông bắc th-ờng xuất hiện vào tháng 10 đến tháng 2 với tần suất 30%, độ cao lớn nhất 1,5m Sóng h-ớng nam th-ờng xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 8 với tần suất 43% vào tháng 6; 34% vào tháng 7 và 24% vào tháng 8
Thuỷ văn sông: Các sông thuộc hệ thống sông Cửa Lục và Yên Lập có diện tích l-u
vực nhỏ, ngắn, dốc và l-u l-ợng rất nhỏ Sông Diễn Vọng có tổng l-u l-ợng n-ớc 0.087x109m3/năm, hàm l-ợng bùn cát trung bình 47,6g/m3, cực đại 966g/m3, cực tiểu 0,4g/m3, tổng l-u l-ợng bùn cát 0,0125x106tấn/năm Sông Yên Lập có tổng l-u l-ợng n-ớc 0,088x109m3/năm, tổng l-ợng bùn cát 0,00803x106tấn/năm [7,29]
Sông Cấm có l-u l-ợng lớn nhất trong vùng, mỗi năm đổ ra biển 10 - 11x109m3/năm và gần 4 triệu tấn bùn cát, sông Lạch Tray 1,5x109m3/năm n-ớc và khoảng 1 triệu tấn bùn cát, sông Đá Bạch khoảng 1 tỷ m3 n-ớc/năm Với các sông này, l-ợng n-ớc chảy mùa m-a lũ (tháng 6 - 10) chiếm 75 - 85% l-u l-ợng n-ớc, 90 - 95% l-u l-ợng bùn cát cả năm Ước tính cho cả vùng nghiên cứu, hàng năm các sông đổ ra khoảng 14 - 15km3 n-ớc và 5 triệu tấn bùn cát [7,28]
ảnh h-ởng của thuỷ triều trên sông: Đối với các sông ngắn, dốc nh- Yên Lập, Diễn
Vọng, ảnh h-ởng của thuỷ triều trên sông không quan trọng Với các sông của hệ thống sông Bạch Đằng, ảnh h-ởng của thuỷ triều trên sông rất lớn, chi phối mực n-ớc - dòng chảy và truyền mặn sâu vào lục địa Tuy nhiên, giới hạn truyền mặn 1%o theo thuỷ triều chỉ đến Bến Triều, cách biển 48km Tốc độ dòng chảy sông ở cửa sông mùa khô trung bình chỉ 10 - 15cm/s, hiếm khi v-ợt 50cm/s và bị dòng triều lấn át Về mùa m-a
lũ, dòng chảy sông lớn, lấn át dòng triều, th-ờng trên 100cm/s và chiếm hầu hết thời gian chảy trong ngày [11,29]
Trang 28
Đặc tr-ng các khối n-ớc biển [2, 4, 11]: ở vùng biển Hải Phòng – Quảng Ninh tồn
tại ba khối n-ớc: khối n-ớc cửa sông, từ bờ ra có ranh giới độ mặn d-ới 10%o, khối n-ớc nhạt ven bờ có độ mặn 10 - 25%o và cuối cùng là khối n-ớc mặn vịnh Bắc Bộ có
độ mặn trên 25%o
Khối n-ớc sông phủ lên vùng cửa sông Bạch Đằng, kể từ bán đảo Đồ Sơn, tây nam Cát Bà và Bãi Cháy Trong những ngày m-a lũ, độ mặn khối n-ớc có thể xuống 1- 5%o nh-ng chỉ 1 - 3 ngày sau lũ, ranh giới độ mặn 10%o lại sát vào vùng cửa sông Khối n-ớc này chỉ hình thành vào mùa hè, rõ nhất vào các tháng 5 - 8 Về mùa khô, khối n-ớc bị xoá nhoà do xáo trộn khối n-ớc vịnh Bắc Bộ và khối n-ớc nhạt ven bờ Độ
đục của khối n-ớc dao động 20 - 100g/m3
Khối n-ớc nhạt ven bờ có độ mặn 10 - 25%o đ-ợc tạo ra nhờ tác động giữa khối n-ớc vịnh Bắc Bộ và khối n-ớc cửa sông Vào mùa m-a, ranh giới của khối nằm ngoài bán đảo Đồ Sơn và Cát Bà 1,5 - 5km và chạy đến đảo Trà Bản Về mùa khô, giới hạn 25%o áp sát vào cửa sông ven bờ, ven đảo, vào sâu đến vịnh Cửa Lục và ở vùng cửa Bạch Đằng, ăn sâu vào tận phà Rừng Khối n-ớc nhạt ven bờ có độ đục 5 - 20g/m3
Khối n-ớc mặn vịnh Bắc Bộ, th-ờng có độ mặn 25 - 32%o Về mùa m-a, khối n-ớc này bị đẩy xa bờ, ra tận Long Châu - Trà Bản - Cô Tô Vào mùa khô, khối n-ớc đi vào sát bờ Đồ Sơn, Cát Bà, Bãi Cháy Độ đục của khối n-ớc th-ờng chỉ d-ới 5g/m3 Tuy nhiên, do ảnh h-ởng của sóng khuấy đục, độ đục có thể tăng cao hơn
2 2 Tình hình kinh tế - xã hội và nuôi trồng thuỷ sản Hải Phòng – Quảng Ninh
2 2 1 Tình hình kinh tế – xã hội vùng ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh
2 2 1 1 Thành phố Hải Phòng
1) Đơn vị hành chính và dân số: Đô thị Hải Phòng là đô thị loại 1 cấp quốc gia với 5
quận: Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Kiến An, Hải An, thị xã Đồ Sơn và 8 huyện ngoại thành: An D-ơng, An Lão, Kiến Thuỵ, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Cát Hải và Bạch Long Vỹ
Dân số Hải Phòng có khoảng 1754,2 nghìn ng-ời (vào năm 2003) trong đó số dân thành thị chiếm 40,0% (gần 600 nghìn ng-ời), bao gồm 5 quận nội thành: Hồng Bàng (108.900 ng-ời), Lê Chân (148.400), Ngô Quyền (172.900), Kiến An (70.700) và Hải An (42.370); thị xã Đồ Sơn (29.900) và 9 thị trấn Tỷ lệ tăng dân số trung bình khu vực đô thị qua các năm từ năm 1995 đến 2002 là 0,79% - 3,7% (Bảng 2.1) Số dân còn lại ở nông thôn chiếm 60,0% - số lao động thuộc nhóm nông nghiệp là 51,0%, số lao
động thuộc nhóm phi nông nghiệp là 49,0% Số dân có việc làm phân theo loại hình và ngành kinh tế năm 2003 là 911.860 ng-ời, trong đó số lao động trong ngành thuỷ sản
Trang 2926.181 ng-ời Dân số Hải Phòng dự báo sẽ tăng lên 2,142 triệu ng-ời vào năm 2020 và dân số các khu đô thị khi đó khoảng 63,0% [28,35,36]
Bảng 2 1 Diễn biến dân số của Thành phố Hải Phòng
Tổng số dân (1000 ng-ời) 1.607,3 1.659,6 1.677,5 1.701,2 1.723,5 1.744,9 Dân số đô thị (1000 ng-ời) 530,0 560,3 570,9 579,9 584,5 591,7
Tỷ lệ tăng TB dân ĐT/năm 3,7% 1,9% 1,89% 1,58% 0,79% 1,01% Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi tr-ờng thành phố Hải Phòng, năm 2003
2) Tăng tr-ởng kinh tế xã hội
Tổng sản phẩm quốc nội của thành phố (tính theo GDP) trong các năm liên tục tăng từ 10198,3 tỷ đồng năm 2000 đến 14583 tỷ đồng năm 2003 (theo giá 1994) Tốc
độ tăng GDP của thành phố tăng, năm 2000 là 9,13%, năm 2001: 10,38% và năm 2002
là 10,64% Trong đó, nhóm công nghiệp - xây dựng có sự tăng tr-ởng liên tục (năm
2000 là 34,6% đến năm 2003 là 39,2%), giá trị GDP của nhóm ngành công nghiệp – xây dựng năm 2002 là 16,56% Nhóm dịch vụ giảm từ 47,1% năm 2000 xuống 45,3% năm 2003, do các lĩnh vực gắn với yếu tố lợi thế (nh- hải cảng, hàng hải, th-ơng mại,
du lịch tài chính ) thiếu các điều kiện để phát triển Nhóm nông – lâm - ng- nghiệp cũng có xu h-ớng giảm (Bảng 2.2) [25]
3) Cơ cấu kinh tế
Công nghiệp : Hiện tại trên địa bàn Hải Phòng có các khu công nghiệp đang hoạt động
và ngày càng phát triển nh- khu công nghiệp Nomura – An D-ơng, khu công nghiệp
Đình Vũ, khu công nghiệp Minh Đức – Thuỷ Nguyên, khu chế xuất Hải Phòng 96, và các cụm công nghiệp Vĩnh Niệm, An Tràng – An Lão, khu chế xuất đ-ờng 14 và Hải Thành – Kiến Thuỵ, Tiên Hội – Quán Trữ (Kiến An)… Số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố tăng nhanh: tổng số cơ sở sản xuất chia theo thành phần (kinh tế nhà n-ớc, kinh tế ngoài nhà n-ớc, khu vực có vốn đầu t- n-ớc ngoài) năm
Trang 30
Nông - lâm - ng- nghiệp
- Diện tích đất nông nghiệp toàn thành phố ngày càng bị thu hẹp lại do chuyển
đất sang để phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy, xí nghiệp, công trình giao thông, khu đô thị mới Năm 2000 diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp là 62.127 ha, đến năm 2003 giảm xuống còn 59.437 ha Tổng giá trị trong sản xuất nông nghiệp với các nhóm trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động dịch vụ nông nghiệp tăng từ 1.867,0 tỷ đồng (năm 2000) đến 2.112,4 tỷ đồng (năm 2003)
Tổng giá trị sản xuất ngành thủy sản liên tục năm sau cao hơn năm tr-ớc Đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản có sự gia tăng rất lớn, cụ thể năm 2000 đạt 155,5 tỷ đồng và đến năm 2003 giá trị này tăng lên gấp đôi và đạt 316,5 tỷ đồng Diện tích nuôi trồng thuỷ sản liên tục mở rộng (đến năm 2003 có khoảng 14.623,9 ha bao gồm cả diện tích nuôi n-ớc ngọt và nuôi mặn - lợ) cùng với việc lựa chọn đối t-ợng nuôi phù hợp và áp dụng các kỹ thuật nuôi mới nên sản l-ợng nuôi trồng thuỷ sản trong toàn thành phố các năm tăng từ 19.425,0 tấn (năm 2000) đến 33.437,9 tấn năm 2003 Ngoài ra sản l-ợng khai thác thuỷ sản trên toàn thành phố cũng tăng (năm 2000: 23.163
Nguồn: Niên giám thống kê TP Hải Phòng 2000 - 2003
Du lịch và khách sạn: Tổng số doanh thu trong lĩnh vực du lịch và khách sạn tăng
mạnh trong năm 2000 - 2003 từ 319,180 tỷ đồng đến 457,304 tỷ đồng Doanh thu chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh từ khách sạn, nhà hàng, du lịch lữ hành, doanh thu bán hàng hoá và dịch vụ du lịch khác L-ợng khách du lịch đến Hải Phòng ngày một đông, năm 2003 chỉ tính riêng tổng số l-ợt khách du lịch l-u trú ở Hải Phòng là 1.815.334 l-ợt Trong đó, l-ợng khách quốc tế là 552.997 l-ợt (bảng 2.3) [25]
Trang 31Nguồn: Niên giám thống kê TP Hải Phòng 2000 – 2003
Cảng Hải Phòng : Hải Phòng là một thành phố cảng lớn thứ hai ở Việt Nam và đóng
vị trí quan trọng trong hoạt động phát triển kinh tế ở miền Bắc bao gồm cả Hà Nội Trong khu vực cảng có 14 cảng lớn nhỏ Cảng Hải Phòng bao gồm: Cảng Hoàng Diệu, cảng Chùa Vẽ, cảng Vật Cách, và những cảng phụ trợ khác nh-: cảng Cửa Cấm, cảng cá Hạ Long, cảng Th-ợng Lý, cảng dịch vụ thuỷ sản, cảng Quân đội… Cảng chính hầu hết thuộc khu vực nội thành Tổng số l-ợt tàu (trong và ngoài n-ớc) vào cảng Hải Phòng năm 2003 có 1817 l-ợt, khối l-ợng hàng hoá thông qua cảng từ 7,645 triệu tấn năm 2000 tăng lên đến 10,518 triệu tấn năm 2003 (Bảng 2.4) Kế hoạch phát triển cảng
đến năm 2010 và 2020, Hải Phòng sẽ có thêm nhiều cảng n-ớc sâu thuộc khu vực Đình
Vũ, Lạch Huyện…[14,25,35]
Ngoài những hoạt động chính là vận tải, xếp dỡ hàng hoá, khu vực cảng còn có các cơ sở sửa chữa, đóng mới tàu, hoạt động phá dỡ tàu cũ… Những cơ sở công nghiệp tàu thuỷ lớn của Hải Phòng nh- : nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Sông Cấm, Tam Bạc… tập trung gần khu vực cảng Hải Phòng và nhiều cơ sở khác nh- nhà máy đóng tàu Nam Triệu, nhà máy sửa chữa tàu biển Phà Rừng…
Bảng 2.4 Một số chỉ tiêu chủ yếu của cảng Hải Phòng năm 2000 – 2003
Diện tích bãi chứa hàng 1000m 2 330,4 330,4 330,4 330,4
Khối l-ợng hàng hoá thông qua cảng 1000tấn 7645 8575 10321 10518
Trang 32Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, 2000 - 2003
2 2 1 2 Tỉnh Quảng Ninh
1) Đơn vị hành chính và dân số: Tỉnh Quảng Ninh có diện tích 5900,0 km2 với dân số toàn tỉnh khoảng 1.058.752 ng-ời, mật độ dân số trung bình 179ng-ời/km2 Trong số các thành phố, thị xã, huyện thì thành phố Hạ Long là nơi có dân số 189356 ng-ời và mật độ dân số trung bình 908 ng-ời/km2, lớn nhất của tỉnh (tính đến 31/12/2003) Tỷ lệ dân số tăng tự nhiên trên toàn tỉnh giảm từ 13,6% (năm 2000) xuống còn 11,3% vào năm 2003 Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế thuộc khu vực nhà n-ớc đến năm 2003 là 139203 ng-ời, số lao động đang làm việc trong khu vực nhà n-ớc do địa ph-ơng quản lý 41217 ng-ời trong năm 2003 (Bảng 2.5) [26,29,37]
Bảng 2 5 Biến động dân số - lao động trong tỉnh từ năm 2000 đến 2003
Trang 33
3) Cơ cấu kinh tế
Công nghiệp: Năm 2004, Quảng Ninh đã có 2 khu công nghiệp mới đ-ợc phê duyệt
(KCN Đông Mai – Yên H-ng, Hải Yến – Móng Cái), nâng tổng số KCN tại Quảng Ninh là 4 KCN Sản xuất công nghiệp năm 2004 -ớc đạt 11.221 tỷ đồng Trong đó, những ngành sản xuất có mức tăng tr-ởng cao là: sản xuất than, điện, xi măng, sứ dân
dụng… Riêng sản l-ợng than năm 2004 đạt 23 triệu tấn, tăng 33,8% so với năm 2003; t-ơng ứng tổng khối l-ợng đất đá thải khoảng 115 triệu tấn (tăng 41,5%)
Hoạt động của cảng biển có ảnh h-ởng trực tiếp đến chất l-ợng môi tr-ờng khu vực ven bờ Năm 2004, tổng l-ợng hàng hoá thông qua cảng đạt 17,6 triệu tấn, số l-ợng tàu ra vào cảng đạt 30.000 l-ợt Từ tháng 4/2004, cảng Cái Lân đã đ-a các cầu tàu số 5,
6, 7 vào hoạt động, tiếp nhận hơn 100 l-ợt tàu container; đồng thời cảng dầu B12, cảng than Cẩm Phả, cảng tàu khách Hòn Gai cũng đ-ợc khai thác mở rộng [29]
bè, ngao, sò huyết, trai cấy ngọc, Năm 2004, toàn tỉnh có 20 dự án nuôi tôm công nghiệp với tổng vốn đầu t- 1.500 tỷ đồng, đã thực hiện trên 400 tỷ đồng, đã chuyển đổi
đ-ợc 500 ha đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi thuỷ sản…[26,33]
Du lịch – dịch vụ: Từ năm 2000 đến 2003 số l-ợt khách du lịch đến Quảng Ninh tăng
lên nhanh chóng, từ 1.499.904 l-ợt khách đến 2.590.064 l-ợt khách bao gồm có khách quốc tế (1.107.813 l-ợt) và khách trong n-ớc (1.482.251 l-ợt) Ngoài hình thức du lịch tham quan vịnh, tắm biển Hạ Long đến nay đã có nhiều loại hình du lịch mới xuất hiện nh- du lịch sinh thái, du lịch văn hoá nên đã thu hút đ-ợc nhiều l-ợt khách du lịch đến với Quảng Ninh đặc biệt là l-ợng khách quốc tế Theo dự báo đến năm 2010, sẽ có 5 -
6 triệu l-ợt khách du lịch đến thăm Quảng Ninh, số l-ợng tăng gấp đôi so với hiện nay trong đó đại đa số khách đến thăm quan vịnh Hạ Long (Bảng 2.7) [26,29]
Trang 34Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2003
2 2 Hiện trạng và định h-ớng phát triển nuôi thuỷ sản n-ớc mặn (nuôi biển)
2 2 1 Hiện trạng sản xuất thuỷ sản và nuôi biển của thành phố Hải Phòng
Tổng giá trị sản xuất ngành thủy sản của Thành phố Hải Phòng từ năm 2000 đến
2003 liên tục gia tăng, đặc biệt là giá trị kinh tế trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản (năm
2000 đạt 155,5 tỷ đồng và đến năm 2003 đạt 316,5 tỷ đồng) Diện tích nuôi trồng thuỷ sản đ-ợc mở rộng (đến năm 2003 có khoảng 14.623,9 ha bao gồm cả diện tích nuôi n-ớc ngọt và nuôi mặn - lợ) cùng với việc lựa chọn đối t-ợng nuôi phù hợp và áp dụng các kỹ thuật nuôi mới nên sản l-ợng nuôi trồng thuỷ sản toàn thành phố các năm tăng
từ 19.425,0 tấn (năm 2000) đến 33.437,9 tấn năm 2003 Ngoài ra, sản l-ợng khai thác thuỷ sản trên toàn thành phố cũng tăng (năm 2000: 23.163 tấn - năm 2003: 28.953 tấn) (Bảng 2.8) [25,31]
Bảng 2 8 Hoạt động sản xuất thuỷ sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Năm
Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha)
Sản l-ợng nuôi trồng thủy sản (tấn)
Sản l-ợng thủy sản khai thác (tấn)
Giá trị sản xuất (tỷ đồng)
Nuôi trồng
Khai thác
Trang 35Tổng diện tích các tr-ơng, bãi, cồn, rạn eo, vịnh áng của Hải phòng có khả năng nuôi biển, -ớc tính 26.000 - 27.000 ha, gồm:
- Diện tích các eo vùng vịnh Cát Bà: 17.000 ha
- Diện tích các tr-ơng bãi có thể nuôi ngao sò: 9.000 - 10.000 ha
Năm 2004 diện tích mặt n-ớc nuôi thuỷ sản của Hải phòng là 9.617ha, trong đó:
- Diện tích nuôi nhuyễn thể ven biển: 620 ha, sản l-ợng 1.070 tấn
- Số ô lồng nuôi cá biển: 4.237 ô lồng, tổng sản l-ợng 700 tấn, năng suất bình quân tăng 2,2 lần; từ năm 2001 (145kg/ô lồng) đến 320kg/ô lồng (2004) Sáu tháng đầu năm 2005, số bè nuôi cá biển quanh khu vực Cát Bà đã tăng đến 411 bè với hơn 6.000 ô lồng (khoảng 10m2 diện tích mặt n-ớc/1 ô lồng) (báo cáo của phòng NN& PTNT huyện Cát Hải) Diện tích nuôi nhuyễn thể trên bãi triều của Hải Phòng tập trung chủ yếu vùng ven biển thuộc các vùng Đồ Sơn, Kiến Thuỵ, Hải An, Tiên Lãng, Cát Hải và ven
đ-ờng 14 Ngoài ngao sò là đối t-ợng nuôi chính, còn thử nghiệm nuôi thêm một số loài nh- tu hài, phi phi… với hình thức quây bãi, năng suất thấp (Số liệu do sở thuỷ sản Hải phòng cung cấp 7/2005 – hình 2.1, 2.3) [31]
2 2 2 Hiện trạng sản xuất thuỷ sản và nuôi biển của tỉnh Quảng Ninh
Giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh Quảng Ninh (theo giá cố định 1994) liên tục tăng trong các năm 2000 đến năm 2003 trên các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác và dịch
vụ, đặc biệt giá trị sản xuất trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản có b-ớc tăng khá mạnh
do Quảng Ninh có các điều kiện tự nhiên, thiên nhiên -u đãi Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản trên các huyện, thị, thành phố trong tỉnh năm 2003 là 16.700 ha trong đó diện tích nuôi n-ớc ngọt khoảng 1.880ha, diện tích nuôi mặn, lợ khoảng 14.820ha Diện tích nuôi thuỷ sản tập trung ở các huyện có tiềm năng nh- Yên H-ng 7.200 ha, thị xã Móng Cái 1.502 ha, huyện Tiên Yên 1.319 ha, thành phố Hạ Long 1.218 ha, huyện Hoành Bồ 968 ha, các huyện, thị xã còn lại có diện tích nuôi trồng thuỷ sản nhỏ hơn [32,33] Tổng sản l-ợng thuỷ hải sản (cả khai thác và nuôi trồng) tăng mạnh từ 29.750 tấn (năm 2001) đến 48.500 tấn (năm 2003) (Bảng 2.9) và 55.000 tấn (năm 2004), với sản l-ợng khai thác khoảng 32.000 tấn, sản l-ợng nuôi trồng 23.000 tấn
Tổng diện tích tr-ơng bãi, cồn rạn có khả năng đ-a vào nuôi biển ở Quảng Ninh
là 19.417ha (ch-a thống kê đây đủ diện tích vũng vịnh có khả năng nuôi cá biển), năm
2000, riêng diện tích sử dụng nuôi cá biển khoảng 800ha (Bảng 2.10) Năm 2003, tổng diện tích nuôi n-ớc mặn lợ khoảng 15.000ha, trong đó; nuôi tôm ven biển là 10.440ha, nuôi nhuyễn thể là 1.250ha; nuôi các loại khác khoảng 3.130ha, riêng số lồng bè nuôi cá biển khoảng trên 5.000 ô lồng (chủ yếu là loại 3m x3m) (Bảng 2.11, hình 2.2, 2.3)
Trang 36Tổng sản l-ợng nuôi thuỷ sản n-ớc mặn - lợ đạt khoảng 17.260 tấn chủ yếu là các đối t-ợng nuôi chính nh- nuôi cá lồng bè, ngao, sò huyết, trai cấy ngọc, tu hài, tôm
Bảng 2.9 Hoạt động sản xuất thuỷ sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Năm
Diện tích nuôi trồng thủy sản (ha)
Sản l-ợng nuôi trồng thủy sản (tấn)
Sản l-ợng thủy sản khai thác (tấn)
Giá trị sản xuất (tỷ đồng)
Nuôi trồng
Khai thác
Nguồn: - Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2003
- Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2003 – Sở Thuỷ sản Quảng Ninh
Bảng 2.10 Tổng diện tích mặt n-ớc biển đ-a vào nuôi thuỷ sản năm 2000 [33]
1 Diện tích có khả năng nuôi biển (tr-ơng, bãi, cồn, rạn, …) 19.417
2 Diện tích đang sử dụng nuôi cá lồng bè trên biển 800
3 Diện tích nuôi ngao, sò trên bãi triều (tập trung chủ yếu vùng ven
biển huyện Quảng Hà, huyện Yên H-ng và thành phố Hạ Long) 725
4 Diện tích nuôi cá biển trong ao n-ớc mặn và Tùng áng (thuộc
Bảng 2.11 Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ tỉnh Quảng Ninh năm 2003
Địa điểm nuôi
Nuôi tôm (ha)
Trang 37
2 2 3 Định h-ớng quy hoạch nuôi hải sản biển ở Hải Phòng – Quảng Ninh
Ch-ơng trình phát triển nuôi trồng Thuỷ sản giai đoạn 2000 – 2010 đ-ợc chính phủ phê duyệt ngày 8/12/1999, đã xác định rõ: “Nuôi trồng thuỷ sản phải được ưu tiên phát triển theo h-ớng công nghiệp hoá nh-ng phải đảm bảo bền vững của môi tr-ờng sinh thái và sự phát triển hài hoà của các ngành khác Nuôi biển, du lịch, giao thông, an ninh quốc phòng và bảo vệ bền vững môi tr-ờng sinh thái phải hỗ trợ nhau cùng phát triển cả tr-ớc mắt và lâu dài Trong giai đoạn 2000 – 2010 sẽ -u tiên phát triển nuôi trồng thuỷ sản n-ớc mặn, n-ớc lợ nhằm tăng nhanh sản phẩm xuất khẩu…”
Triển khai ch-ơng trình nuôi thuỷ sản, năm 2000 Bộ thuỷ sản đã tiến hành điều tra, xây dựng quy hoạch tổng thể nuôi biển chủ yếu là cá lồng bè, nhuyễn thể khu vực Hải Phòng – Quảng Ninh nh- sau [19]:
Thành phố Hải Phòng sẽ phát triển nuôi cá lồng bè trên 7 khu vực chính thuộc quần đảo Cát Bà, tỉnh Quảng Ninh sẽ nuôi chủ yếu trên 4 khu vực, vùng vịnh Hạ Long chỉ nuôi nhằm mục đích phục vụ du lịch Trong từng khu vực, diện tích đặt lồng nuôi chỉ chiếm từ 1,0 – 5,0% tổng diện tích thuỷ vực, 95 – 99% diện tích còn lại giành cho giao thông, du lịch và để duy trì ổn định môi tr-ờng
Chính quyền các địa ph-ơng đã tiến hành điều tra, quy hoạch khu vực bãi bồi cửa sông, khu vực cồn rạn - tr-ơng bãi để phát triển nghề nuôi nhuyễn thể Trong đó, thành phố Hải Phòng có 7 khu vực và tỉnh Quảng Ninh có tới 13 khu vực đ-ợc quy hoạch để nuôi nhuyễn thể (ngao, trai cấy ngọc ) [30,32]
Thành phố Hải Phòng : Vùng biển ven bờ Hải Phòng chạy dài từ 20,4 -20,55, vĩ bắc;
106,4 - 107,1 kinh đông, chia làm 2 vùng sinh thái rõ rệt đó là:
- Sinh thái vùng triều cửa sông bao gồm bãi triều lớn thuộc các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Kiến Thuỵ, Thuỷ Nguyên, thị xã Đồ sơn, quận Hải An, và đảo Cát Hải với tổng diện tích khoảng 9.000 – 10.000 ha
- Sinh thái đảo đá san hô bao gồm vùng biển thuộc quần đảo Cát Bà - Long Châu
có trên 360 hòn đảo lớn nhỏ nằm trong hệ thống quần đảo vịnh Hạ Long Trong đó chỉ
có đảo Cát Bà và gần đây thêm đảo Bạch Long Vĩ là có dân c- sinh sống
Từ số liệu điều tra, nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên – môi tr-ờng nhiều năm, dựa trên chiến l-ợc phát triển kinh tế xã hội của Thành phố; quy hoạch tổng thể phát triển nuôi hải sản trên vùng biển đ-ợc xác định nh- trong bảng 2.12, 2.13 Theo
đó, các vùng nuôi cá lồng bè, nhuyễn thể biển hầu hết tập trung ở khu vực Đông Bắc
Trang 38Cát Bà, với tổng diện tích gần 1.000ha Nuôi nhuyễn thể trên ch-ơng bãi, tập trung ở khu bãi bồi, các cửa sông: Bạch Đằng, Lạch Tray, Văn úc…, thuộc các huyện Kiến Thuỵ, Đồ Sơn, Tiên Lãng…, tổng diện tích đ-ợc quy hoạch khoảng 1.200ha [19,30,36]
Bảng 2.12 Quy hoạch các vùng nuôi cá biển ở Hải Phòng
(Theo số liệu quy hoạch tổng thể và dự án phát triển nuôi hải sản trên vùng biển
Quảng Ninh, Hải Phòng giai đoạn 2002 – 2010)
T
Diện tích (ha)
T
Diện tích (ha)
1 Khu đông bắc Bến bèo 50 5 Khu Tùng gấu – Việt
Bảng 2.13 Quy hoạch các vùng nuôi nhuyễn thể [30]
Tỉnh Quảng Ninh: Chiều dài bờ biển (phần đất liền) của Quảng Ninh là 250km gồ
ghề khúc khuỷu, với 2070 hòn đảo lớn nhỏ Dọc bờ biển có 22 sông lớn nhỏ đổ ra
Trang 39
- Các vụng, vịnh, eo biển (thích hợp cho việc phát triển nuôi cá lồng bè và trai ngọc): Loại hình diện tích này, tuy tỉnh ch-a có số liệu thống kê chính xác, nh-ng theo quy hoạch -ớc tính khoảng 12.000ha, trừ 2 vịnh lớn là Hạ Long và Bái Tử Long
Riêng khu vực quy hoạch nuôi cá lồng bè khoảng 7.200ha (Bảng 2.14, 2.15)
- Khu Cống Đông, Cống Tây, Vạn Cảnh, Thẻ Vàng tổng diện tích khoảng 1500 ha, diện tích có thể đặt lồng khoảng 100 ha
- Khu Trà Bản, Đồng Chén, Bản Sen khoảng 1.000 ha, có thể đặt lồng khoảng 100 ha
- Khu đông Cái Bầu tổng diện tích khoảng 4000 ha, có thể nuôi lồng khoảng 80 ha
- Khu bắc đảo Cái Bầu gồm Vạn V-ợc, Vạn N-ớc, Hòn Đoan tổng diện tích khoảng
500 ha, diện tích có thể đặt lồng 20-25 ha
- Vùng vịnh Hạ Long bao gồm 1 số vùng đệm và các eo kín sóng gió có thể đặt lồng nuôi kết hợp du lịch Tổng diện tích có thể đặt lồng nuôi cá biển ở đây khoảng 10 ha
Bảng 2.14 Khu vực quy hoạch nuôi trai ngọc ở Quảng Ninh [32]
Diện tích (ha)
T T
T
Tên khu vực
Diện tích (ha)
2 Khu hòn Vọng đức 344 9 Từ h Cõng bà đến Đầu trâu 220
3 Khu hòn Nhiêu tân 92 10 Vùng biển nam Vạn cảnh 292
4 Khu tây bắc Cống nứa 233 11 Từ Cống đông đến Vạn duội 496
5 Khu đảo Cây mây - Cát
guôn
738 12 Giữa Vạn duội, Cống đông,
Soi trâu, Lỗ Gon
500
6 Vùng biển hòn Bùa 277 13 Khu vực Cái lim, Trà ngọ 350
Bảng 2.15 Khu vực quy hoạch nuôi cá lồng bè và nhuyễn thể
(Theo số liệu quy hoạch tổng thể và dự án phát triển nuôi hải sản trên vùng biển
Quảng Ninh, Hải Phòng giai đoạn 2002 – 2010)
Diện tích (ha)
1 Cống Đông – Cống
Tây
1500 4 Hòn Đoan – Bắc Cái Bầu 500
2 Trà Bản - Đống Chén 1000 5 V.Hạ Long và các KV khác 200
Trang 40
Nh- vậy, tiềm năng diện tích nuôi hải sản trên biển ở khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng lớn nhất cả n-ớc, chỉ tính riêng quy hoạch nuôi hai đối t-ợng (cá lồng bè và nhuyễn thể) tổng diện tích đã lên tới khoảng 15.000ha Thời gian qua, các loại hình nuôi biển đã có b-ớc phát triển mạnh nh-ng ch-a t-ơng xứng với tiềm năng và chủ yếu
là do tự phát, thiếu sự quản lý thống nhất Đến năm 2010 [19], khu vực ven bờ Quảng Ninh – Hải Phòng đ-ợc quy hoạch có thể phát triển nuôi cá biển tới 300.000 ô lồng (3 x3m) t-ơng đ-ơng với 335ha diện tích mặt n-ớc trên tổng số hơn 8.000ha diện tích các vũng vịnh đ-ợc quy hoạch nuôi biển Đồng thời, để phát triển ch-ơng trình nuôi biển, Nhà n-ớc đang triển khai nhiều dự án xây dựng những trung tâm sản xuất con giống, thức ăn, cung cấp các dịch vụ kỹ thuật nuôi thuỷ sản Mục tiêu của quy hoạch phấn đấu
đến năm 2010, sản l-ợng nuôi biển của Hải Phòng – Quảng Ninh phải chiếm 50 – 60% sản l-ợng cá biển nuôi trong toàn quốc Do vậy, trong kế hoạch phát triển nuôi hải sản biển những năm tới, vấn đề quản lý, kiểm soát chất l-ợng môi tr-ờng và phòng ngừa dịch bệnh là yếu tố quyết định đến tính bền vững đối với nghề nuôi hải sản biển ở Hải Phòng – Quảng Ninh