1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường và ô nhiễm bụi trong hoạt động xây dựng tại một số dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại thành phố hải phòng

99 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ Ô NHIỄM BỤI TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH P

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ Ô NHIỄM BỤI TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

NGÔ MINH TUÂN

HÀ NỘI 2005

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VÀ Ô NHIỄM BỤI TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN ĐẦU TƯ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

NGÀNH: CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG

NGÔ MINH TUÂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS ĐẶNG KIM CHI

HÀ NỘI 2005

Trang 3

Chương I: Tổng quan 5 1.1 Tổng quan kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng 5 1.1.1 Đặc điểm tự nhiên và khí tượng thủy văn 5 1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội Hải Phòng 7 1.2 Quy hoạch và phát triển xây dựng thành phố Hải Phòng 12 1.2.1 Mục tiêu cơ bản phát triển Hải Phòng đến năm 2010 12

1.2.4 Các giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch phát triển 16

1.3 Tác động đến môi trường do hoạt động xây dựng ở Việt Nam 21

1.3.2 Hoạt động xây dựng tại các vùng nông thôn 23 1.4 Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sức khỏe cộng đồng 26

1.5.1 Hệ thống các văn bản có tính chất pháp lý về bảo vệ môi

trường trong hoạt động xây dựng cơ bản

Chương II: Thực trạng công tác bảo vệ môi trường tại một số dự án

đầu tư tại Hải Phòng

33

2.1 Một số văn bản pháp lý có liên quan đến công tác bảo vệ môi

trường trong hoạt động xây dựng cơ bản

33

2.2 Tình hình chung về thực hiện các dự án đầu tư và công tác bảo

vệ môi trường tại Hải Phòng

Trang 4

trong hoạt động xây dựng

trường và chấp hành luật pháp

86

3.4.1 Tăng cường giáo dục nâng cao kiến thức, ý thức bảo vệ

môi trường của cộng động

Trang 5

Bảng 1 1 Diễn biến dân số của Thành phố Hải Phòng

Bảng 1 2 Tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2003

Bảng 1.3 Số lượng khách do các loại hình du lịch phục vụ tại Hải Phòng Bảng 1.4 Một số chỉ tiêu chủ yếu của cảng Hải Phòng năm 2000 - 2003

Bảng 1.5 Dự báo tăng trưởng kinh tế theo GDP

Bảng 1.6 Dự báo chuyển dich cơ cấu kinh tế theo GDP

Bảng 1.7 Cân đối tổng thể vốn đầu tư

Bảng 1.8 Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng

Bảng 1.9 Cân đối tổng thể vốn đầu tư

Bảng 1.10 Ảnh hưởng của các chất độc hại trong hoạt động xây dựng đến sức

khỏe con người Bảng 2.1 Tình hình thực hiện vốn các dự án đầu tư thành phố Hải Phòng

Bảng 2.2 Tiến độ thực hiện các dự án đầu tư

Bảng 2.3 Mức độ ồn của một số nguồn thường gặp

Bảng 2.4 Tổng hợp các dự án theo nhóm ngành đầu tư được thu thập thông tin Bảng 2.5 Số lượng dự án được thu thập thông tin theo đơn vị quận, huyện, thị Bảng 2.6 Tình hình thực hiện các thủ tục hành chính về công tác bảo vệ môi

trường Bảng 2.7 Chi phí đầu tư bảo vệ môi trường của dự án nội và ngoại thành

Bảng 2.8 Tỷ lệ kinh phí đầu tư bảo vệ môi trường theo tổng mức đầu tư

Bảng 2.9 Biện pháp thực hiện và chi phí bảo vệ môi trường dự án nhóm B Bảng 2.10 Biện pháp thực hiện và chi phí bảo vệ môi trường dự án nhóm C

Trang 6

Bảng 2.14 Nồng độ bụi trung bình các dự án theo khoảng cách lẫy mẫu

Bảng 2.15 Nồng độ bụi trung bình của các dự án theo hướng gió

Bảng 2.16 Nồng độ bụi trung bình của các dự án theo khu vực nội và ngoại

thành

CÁC HÌNH TRONG LUẬN VĂN

Hình 1 Thành phần chí phí đầu tư bảo vệ môi trường dự án nhóm B

Hình 2 Thành phần chí phí đầu tư bảo vệ môi trường dự án nhóm C

Hình 3 Xu hướng thay đổi nồng độ bụi theo khoảng cách lấy mẫu

Hình 4 Xu hướng thay đổi nồng độ bụi theo khoảng cách lấy mẫu của dự án

xây dựng đường giao thông

Hình 5 Xu hướng thay đổi nồng độ bụi theo khoảng cách lấy mẫu của dự án

xây dựng nhà

Hình 6 Xu hướng thay đổi nồng độ bụi theo hướng gió

Hình 7 Xu hướng thay đổi nồng độ bụi theo hướng gió của dự án xây dựng

nhà và đường giao thông

Hình 8 Nồng độ bụi trung bình của các dự án theo khu vực nội và ngoại thành

Trang 7

PHỤ LỤC

Trang 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2010

2 Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng 2000 - 2003

3 Nghị quyết của Bộ Chính trị số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 về việc bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

4 Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 27/12/1993

5 Luật xây dựng được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 26/11/2003

6 Nghị định số 175-CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường

7 Nghị định số 143/2004/NĐ-CP ngày12/7/2004 về việc sửa đổi bổ sung điều

14 Nghị định số 157-CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ

8 Văn bản só 1485 MTg ngày 10/9/1993 của Bộ Khoa học công nghệ và môi trường hướng dẫn tạm thời về Đánh giá tác động của dự án kinh tế - kỹ thuật đôi với môi trường

Trang 9

10 Chỉ thị số 23/2005/CT-TTg ngày 21/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh công tác quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp

11 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 256/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020

12 Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 của Chính phủ quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

13 Tiêu chuẩn Nhà nước Việt Nam về môi trường, Tập II: chất lượng không khí, âm học, chất lượng đất, giấy loại

14 Tiêu chuẩn y tế về bảo vệ sức khỏe người lao động và cộng đồng ngày 10/10/2002 của Bộ Y tế

15 Lê Đăng Khoa (1995),” Môi trường và ô nhiễm”, Nhà xuất bản Giáo dục

16 Trần Thanh Lân (2004), “Quản lý môi trường địa phương”, Nhà xuất bản

xây dựng, Hà Nội

17 TS Lê Huy Bá - Nguyễn Đức An (1999), “Quản trị môi trường nông - lâm

- ngư nghiệp” Nhà xuất bản nông nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh

18 Sở Giao thông công chính thành phố Hải Phòng 1995 Quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật Thành phố Hải Phòng đến năm 2010

19 Hồ sơ dự án đầu tư, Báo cáo tổng rà soát vốn nợ đọng vốn ngân sách xây (Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng)

Trang 10

MỞ ĐẦU

Hiện nay bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp bách của thời đại, là thách thức gay gắt đối với tương lai phát triển của tất cả các quốc gia trên hành tinh, trong đó có Việt Nam Giải quyết vấn đề vô cùng rộng lớn và phức tạp này đòi hỏi sự cố gắng thường xuyên, của mọi cá nhân, mọi cộng đồng, mọi quốc gia và toàn thể nhân loại, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ nhiều ngành khoa khọc

Việt Nam đang đứng trước những thách thức về môi trường mà tính cấp bách không kém những thách thức về phát triển kinh tế Với chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế Việt Nam đang trải qua những bước chuyển đổi căn bản mạnh mẽ; tăng cường sự khai thác tài nguyên thiên nhiên, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, mở rộng hợp tác kinh tế, phát triển xây dựng cơ sở hạ tầng một cách mạnh mẽ Từ năm 1993, sản lượng công nghiệp đã tăng trung bình 13%/năm Theo dự kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư đến năm 2010 tỷ trọng công nghiệp sẽ chiếm 35% GDP, so với con số 22% của năm 1993 Cùng với công nghiệp hoá là quá trình đô thị hoá nhanh và mạnh mẽ Các quá trình trên rõ ràng là cần thiết, đáp ứng nhu cầu cấp bách về phát triển kinh tế - xã hội, nhưng nó cũng không thể tránh khỏi kéo theo các vấn đề môi trường Tại một số các thành phố lớn như: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng mức độ ô nhiễm môi trường đã gia tăng mạnh ảnh hưởng xấu trực tiếp tới cuộc sống nhân dân cư cả về trước mắt cũng như lâu dài Xu hướng này có nguy cơ mở rộng tới nhiều vùng khác nhau Ô nhiễm môi trường trở thành nguy cơ đe dọa trước mắt và lâu dài đối với môi trường Việt Nam; có thể gây nên những tồn tại to lớn cho sức khỏe cộng đồng Mặt khác, phát triển kinh tế - xã nói chung bao giờ liên quan, gắn bó mật thiết với cơ sở hạ tầng nền kinh tế, liên quan đến công tác xây dựng hạ tầng, phát triển cơ sở hạ tầng tổng thể và phát triển từng khu vực và từng đơn vị Hải Phòng là đô thị loại I cấp quốc gia, là trọng điểm kinh tế của đất nước nói chung và miền Bắc nói riêng, là cửa ngõ ra biển của các tỉnh miền Bắc

Trang 11

Từ 15 năm trở lại đây thực hiện công cuộc mở cửa phát triển của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Kinh tế Hải Phòng đã phát triển mạnh mẽ, hàng năm đều thu được những kết quả to lớn về những thế mạnh vốn có của Thành phố, trong đó đã xây dựng được nhiều hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế tập trung; khu dân dư; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội các lĩnh vực: giáo dục, y tế, thể thao, nông nghiệp, thủy sản, thương mại, dịch vụ, giao thông từ quốc lộ đến tỉnh lộ và đến từng thôn xã; cơ sở hạ tầng các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, cơ quan quản lý nhà nước các cấp; thu thút đầu tư của các tổ chức nước ngoài ngày càng tăng Ngoài ra trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống nhân dân ngày càng nâng cao và nhu cầu xây dựng của nhân dân là một khối lượng công việc khổng lồ Phần lớn cơ sở hạ tầng được xây dựng trước đây không còn phù hợp với nhu cầu, thực tế của nền kinh tế và dân số Hải Phòng

Một trong những vấn đề hết sức quan trọng là quy hoạch phát triển xây dựng được dựa trên quy hoạch kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển đô thị

và nông thôn, quy hoạch các ngành Từ nhiều bài học thực tế cho thấy quy hoạch xây dựng của Việt Nam Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng sớm bị lạc hậu, nhiều công trình phải phá bỏ để xây dựng mới do không đáp ứng được nhu cầu sử dụng, sự gia tăng của dân số, sự xuống cấp do công trình xây dựng kém chất lượng

Việc xem xét, đánh giá hiện trạng, việc tuân thủ các quy định của pháp luật

về bảo vệ môi trường đối với công tác xây dựng cơ bản cần được quan tâm một cách thường xuyên và chặt chẽ hơn góp phần làm thay đổi hành vi đối với môi trường của các đối tượng gây ô nhiễm, cũng như của người được quyền hưởng thụ môi trường trong sạch, góp phần tăng cường công tác quản lý là một trong những biện pháp quan trọng ngăn ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường của nhiều nước trên thế giới

ở Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng ô nhiễm môi trường là không thể tránh khỏi trong quá trình phát triển Nhưng vấn đề là phải xác

Trang 12

định được mức độ ô nhiễm có thể chấp nhận được, tìm được biện pháp giảm thiệt hại do ô nhiễm môi trường do hoạt động xây dựng gây nên và tìm kiếm ra các dạng vật liệu mới, các biện pháp thi công hạn chế tối đa tác động đến môi trường trong tương lai Kinh nghiệm trên thê giới cho thấy không thể dùng một biện pháp chính sách đơn giảm, hoặc một biện pháp đơn lẻ nào đó là có thể bảo vệ môi trường Từ những kinh nghiệm các nước và thực tế của Việt Nam trong mấy năm qua cho thấy rằng muốn bảo

vệ môi trường một cách hiệu quả cần phải có một sự tiếp cận chính sách đồng bộ: Luật pháp, Hành chính, Thể chế, Khoa học - kỹ thuật, Giáo dục, tuyên truyền và kinh tế

Tại Hải Phòng việc nghiên cứu, đánh giá ô nhiễm môi trường trong xây dựng cơ bản, đặc biệt là ô nhiễm không khí chưa được quan tâm thoả đáng, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập, quan tâm đến; vì vậy việc tiến hành nghiên cứu thực trạng ô nhiễm môi trường và các giải pháp bảo vệ môi trường không khí trong xây dựng cơ bản gây nên tại thành phố Hải Phòng là cần thiết Được sự quan tâm, giúp đỡ của các giáo sư, giảng viên Viện Khoa học và Công nghệ môi trường - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội; các cấp lãnh đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng, Sở Xây dựng Hải Phòng; một số chủ đầu tư dựng nhà thầu xây dựng; đó chính là lý do thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài:

"Đánh giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường và ô nhiễm bụi trong hoạt động xây dựng tại một số dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại thành phố Hải Phòng" với các nội dung chủ yếu sau:

1 Nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường có liên quan đến hoạt động xây dựng cơ bản

2 Đánh giá tình hình thực hiện các thủ tục pháp lý; giải pháp và chi phí đầu tư bảo vệ môi môi trường của các dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng nguồn vốn ngân sách tại Hải Phòng

Trang 13

3 Quan trắc bụi tại một số công trình xây dựng của Hải Phòng

4 Đánh giá, Đề xuất một số giải pháp hạn chế tác động đến môi trường trong hoạt động xây dựng

MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

Phát triển bền vững là mục tiêu đầu tiến của chiến lược phát triển của Chính phủ Việt Nam Tất cả mọi lĩnh vực phát triển đều liên quan mật thiết đến xây dựng cơ sở hạ tầng Đó là vấn đề bức bách cần được giải quyết là bảo đảm mối quan hệ tối ưu giữa phát triển xây dựng và bảo vệ môi trường Bảo vệ môi trường là vấn đề quan trọng góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của Hải Phòng và Quốc gia Do đó đề tài luận án được đặt

ra nhằm mục đích: xem xét, đánh giá tình hình thực hiện bảo vệ môi trường tại một số công trình xây dựng tại Hải Phòng nhằm đề xuất các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực tới môi trường, góp phần phát triển bền vững thành phố Hải Phòng trên con đường Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài tập trung nghiên cứu:

+ Các văn bản pháp lý về bảo vệ môi trường, đặc biệt trong công tác xây dựng cơ bản

+ Các đối tượng được nghiên cứu là dự án xây dựng đường giao thông, cơ

sở hạ tầng các công trình công cộng đang triển khai thực hiện của Thành phố sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước (trừ các dự án được triển khai tại huyện đảo Bạch Long Vỹ) gây nên ô nhiễm môi trường,

trong đó chủ yếu là môi trường không khí

Trang 14

CHƯƠNG I TỔNG QUAN

1.1 TỔNG QUAN KINH TẾ - XÃ HỘI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

1.1.1 Đặc điểm tự nhiện và điều kiện khí tượng thủy văn

a Đặc điểm tự nhiên

Thành phố Hải Phòng được thành lập từ năm 1888, có toạ độ địa lý:

20030’39” – 21001’15” vĩ độ Bắc và 106023’39” – 107008’39” kinh độ Đông Là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam sau thành phố Hồ Chí Minh

và Hà Nội, Hải Phòng được Trung ương công nhận là: Thành phố cấp I,

trung tâm kinh tế, công nghiệp, thương mại, du lịch của vùng Duyên hải Bắc bộ, là cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc, là đầu mối giao thông quan trọng của miền Bắc và cả nước, đồng thời là một đô thị có vị trí quốc phòng trọng yếu, là một trong các cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh

Hải Phòng có chung ranh giới hành chính với 3 tỉnh Quảng Ninh ở phía Bắc, tỉnh Hải Dương ở phía Tây và tỉnh Thái Bình ở phía Nam - Tây nam Ngoài khơi Hải Phòng có nhiều đảo lớn nhỏ rải rác trên một vùng biển nối liền với vịnh Hạ Long, Quảng Ninh, trong đó có hai đảo lớn là Cát Bà và Bạch Long Vĩ

Diện tích toàn Thành phố là 1.507,6 km2 Hải Phòng có 5 quận nội thành là: Hồng Bàng, Lê Chân, Ngô Quyền, Hải An và Kiến An; 6 huyện ngoại thành: An Dương, An Lão, Kiến Thụy, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Vĩnh Bảo; 2 huyện đảo là Bạch Long Vĩ và Cát Hải; Hải Phòng có thị xã Đồ Sơn, là khu trung tâm du lịch nổi tiếng trong và ngoài nước Đến năm

2005, quy mô dân số khu vực đô thị ước chừng 700.000 dân trên tổng diện tích xây dựng đô thị là 7.359 ha, bình quân là 103,6 m2/người, trong đó đất dân dụng là 3.202 ha, bình quân 70 m2/người Với chiều dài 128 km, bờ

Trang 15

biển Hải phòng có ba loại hình cơ bản: dạng đường bờ cửa sông châu thổ (từ cửa Thái Bình đến Đồ Sơn), dạng đường bờ cửa sông hình phễu (từ Đồ Sơn đến Cát Bà) và dạng bờ vũng vịnh (từ Cát Bà đến Hạ Long) Trong hơn 5.000 km2 tổng diện tích chỉ có 1.507 km2 đất nổi, hải đảo chiếm trên

300 km2 Vùng nước bên ngoài đường bờ biển Hải Phòng là một dải hẹp, rộng chừng 31 km Diện tích toàn vùng trên 4.000 km2, phần lớn không sâu quá 20 m, bao quanh hệ quần đảo ven bờ Cát Bà, Thượng Mai, Hạ Mai, Long Châu, Hòn Dấu, nơi sâu nhất không quá 40 m Đảo Bạch Long

Vĩ có diện tích 2,5 km2 [1]

b Điều kiện khí tượng thủy văn

Đặc điểm khí tượng thủy văn Hải Phòng tương đối giống các tỉnh duyên hải miền Bắc, trong năm có 4 mùa rõ rệt

- Gió: có 2 mùa chính: gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam Gió mùa Đông bắc thịnh hành từ từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, gió mùa Tây Nam thịnh hành từ tháng 5 đến tháng 9, tốc độ gió trung bình cả hai mùa trong khoảng 2,3 đến 6,5 m/s

- Mưa: lượng mưa trung bình cả năm khoảng 1.992 mm; mùa mưa tập trung chủ yếu vào tháng 5 đến tháng 10 với tổng lượng mưa trung bình là 1.772 mm, chiếm 88% tổng lượng mưa trung bình cả năm Lượng mưa thấp nhất vào mùa đông từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, lượng mưa trung bình đạt 110 mm

- Độ ẩm tương đối: trung bình năm đạt 82%; độ ẩm trung bình cao nhất vào tháng 3 là 88% Độ ẩm cao vào các tháng mùa Xuân có mưa phùn (tháng 2, 3, 4), đạt 86% Độ ẩm thấp nhất vào các mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau là 73% Bốc hơi nước cao nhất vào các tháng mùa Đông và thấp nhất vào các tháng mùa Xuân Sương mù tập trung mạnh nhất vào tháng 2 đến tháng 3 Số giờ nằng trung bình cả năm khoảng 1.600 giờ, tháng 10 có số giờ năng nhiều nhất, tháng 5 và tháng 6 có số giờ nắng

Trang 16

từ 160 - 180 giờ Tháng 2 và tháng 3 có số giờ nắng thấp nhất (42 - 47 giờ)

- Nhiệt độ: nhiệt độ không khí thay đổi theo hai mùa gió, nhiệt độ cao nhất vào tháng 6 đến tháng 7 (38 - 400C), nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối là 5OC và tháng 12 và tháng 1 Nhiệt độ trung bình cả năm là 220C Lượng bức xạ tổng cộng cả năm 105 - 115 Kcal/cm2, cao nhất vào tháng 5 (12,3 Kcal/cm2) và thấp nhất vào tháng 2 (5,8 Kcal/cm2) Dông trong khu vực xuất hiện từ tháng 5 - tháng 9, trung bình có 87 ngày dông/năm Bão tập trung vào các tháng 7, 8, 9 Khu vực Hải Phòng hàng năm thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của 1 - 2 cơn bão và chịu ảnh hưởng gián tiếp 3 - 4 cơn bão khác đổ bộ vào các vùng lân cận

Thủy triều: khu vực Hải Phòng có chế độ nhật chiều, biên độ cực đại 4 m Mỗi tháng có 2 kỳ triều cường, mỗi kỳ 11 - 13 ngày, xen kẽ 2 kỳ chiều cường là triều kém, mỗi kỳ triều kém 3 - 4 ngày Trong một chu kỳ ngày đêm thời gian triều dâng là 12 giờ và triều rút 12 giờ Về mùa hè, triều cao vào các tháng 5, 6, 7 và thấp vào các tháng 8, 9 Về mùa đông, triều cao

vào các tháng 10, 11, 12 và thấp vào các tháng 3, 4

1.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội Hải Phòng

a Dân số

Dân số Hải Phòng có khoảng 1754,2 nghìn người (vào năm 2003) trong đó

số dân thành thị chiếm 40,0% (gần 600 nghìn người), bao gồm 5 quận nội thành: Hồng Bàng (108.900 người), Lê Chân (148.400), Ngô Quyền (172.900), Kiến An (70.700) và Hải An (42.370); thị xã Đồ Sơn (29.900)

và 9 thị trấn Tỷ lệ tăng dân số trung bình khu vực đô thị qua các năm từ năm 1995 đến 2002 là 0,79% - 3,7% (Bảng 1.1) Số dân còn lại ở nông thôn chiếm 60,0% - số lao động thuộc nhóm nông nghiệp là 51,0%, số lao động thuộc nhóm phi nông nghiệp là 49,0% Số dân có việc làm phân theo loại hình và ngành kinh tế năm 2003 là 911.860 người, trong đó số lao

Trang 17

động trong ngành thuỷ sản 26.181 người Dân số Hải Phòng dự báo sẽ tăng lên 2,142 triệu người vào năm 2020 và dân số sống trong các khu đô thị khi đó khoảng 63,0% [1]

Bảng 1 1 Diễn biến dân số của Thành phố Hải Phòng

Tổng số dân (1.000 người) 1.607,3 1.659,6 1.677,5 1.701,2 1.723,5 1.744,9 Dân số đô thị (1.000 người) 530,0 560,3 570,9 579,9 584,5 591,7

Tỷ lệ tăng TB dân ĐT/năm 3,7% 1,9% 1,89% 1,58% 0,79% 1,01%

Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường thành phố Hải Phòng, năm 2003

b Tăng trưởng kinh tế xã hội

Tổng sản phẩm quốc nội của Thành phố (tính theo GDP) trong các năm liên tục tăng từ 10198,3 tỷ đồng năm 2000 đến 14.583 tỷ đồng năm 2003 (theo giá 1994) Tốc độ tăng GDP của thành phố tăng, năm 2000 là 9,13%, năm 2001: 10,38% và năm 2002 là 10,64% Trong đó, nhóm công nghiệp - xây dựng có sự tăng trưởng liên tục (năm 2000 là 34,6% đến năm 2003 là 39,2%), giá trị GDP của nhóm ngành công nghiệp - xây dựng năm 2002 là 16,56% Nhóm dịch vụ giảm từ 47,1% năm 2000 xuống 45,3% năm 2003,

do các lĩnh vực gắn với yếu tố lợi thế (như hải cảng, hàng hải, thương mại,

du lịch tài chính ) thiếu các điều kiện để phát triển Nhóm nông - lâm - ngư nghiệp cũng có xu hướng giảm (Bảng 1.2)

c Cơ cấu kinh tế

Công nghiệp: Hiện tại trên địa bàn Hải Phòng có các khu công nghiệp

đang hoạt động và ngày càng phát triển như khu công nghiệp Nomura -An Dương, khu công nghiệp Đình Vũ, khu công nghiệp Minh Đức - Thuỷ Nguyên, khu chế xuất Hải Phòng 96, và các cụm công nghiệp Vĩnh Niệm,

An Tràng - An Lão, khu chế xuất đường 14 và Hải Thành - Kiến Thụy, Tiên Hội - Quán Trữ (Kiến An)… Số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa

Trang 18

bàn thành phố tăng nhanh: tổng số cơ sở sản xuất chia theo thành phần (kinh tế nhà nước, kinh tế ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) năm 2000 là 10.094 cơ sở đến năm 2003 có 13.448 cơ sở

Kinh tế đối ngoại: số dự án có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào

Hải Phòng năm 2003 tăng lên đến 42 dự án với tổng số vốn đăng ký là 1.511.604 nghìn USD (tính từ 1991 đến 2003) với các đối tác nước ngoài chính như Nhật Bản, Hồng Kông, Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Mỹ Đã thu hút và giải quyết việc làm cho 24.373 lao động có việc làm và thu nhập ổn định

Nông - lâm - ngư nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp toàn Thành phố ngày càng bị thu hẹp lại do chuyển đất sang để phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy, xí nghiệp, công trình giao thông, khu đô thị mới Năm 2000 diện tích đất dành cho sản xuất nông nghiệp là 62.127

ha, đến năm 2003 giảm xuống còn 59.437 ha Tổng giá trị trong sản xuất nông nghiệp với các nhóm trồng trọt, chăn nuôi và các hoạt động dịch vụ nông nghiệp tăng từ 1.867,0 tỷ đồng (năm 2000) đến 2.112,4 tỷ đồng (năm 2003)

Trong đó, tổng giá trị sản xuất ngành thủy sản liên tục năm sau cao hơn năm trước Đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi trồng thuỷ sản có sự gia tăng rất lớn cụ thể năm 2000 đạt 155,5 tỷ đồng và đến năm 2003 giá trị này tăng lên gấp đôi và đạt 316,5 tỷ đồng Diện tích nuôi trồng thuỷ sản liên tục mở rộng (đến năm 2003 có khoảng 14.623,9 ha bao gồm cả diện tích nuôi nước ngọt và nuôi mặn - lợ) cùng với việc lựa chọn đối tượng nuôi phù hợp và áp dụng các kỹ thuật nuôi mới nên sản lượng nuôi trồng thuỷ sản trong toàn thành phố các năm tăng từ 19.425,0 tấn (năm 2000) đến 33.437,9 tấn năm 2003 Ngoài ra sản lượng khai thác thuỷ sản trên toàn

thành phố cũng tăng (năm 2000: 23.163 tấn - năm 2003: 28.953 tấn) [1]

Trang 19

Bảng 1 2 Tăng trưởng kinh tế của Hải Phòng giai đoạn 2000 - 2003

- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 1.865,1 18,3 1.974,5 17,2 2.164,8 16,7 2.267,5 15,5

- Công nghiệp, xây dựng 3526,4 34,6 4.170,2 36,2 4.951,8 38,1 5.710,7 39,2

- Dịch vụ 4.806,8 47,1 5.361,5 46,6 5.867,2 45,2 6.605,7 45,3

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng 2000 - 2003

Du lịch và khách sạn: Tổng số doanh thu trong lĩnh vực du lịch và khách

sạn tăng mạnh trong năm 2000 - 2003 từ 319,180 tỷ đồng đến 457,304 tỷ đồng Doanh thu chủ yếu trong lĩnh vực kinh doanh từ khách sạn, nhà hàng, du lịch lữ hành, doanh thu bán hàng hoá và dịch vụ du lịch khác Lượng khách du lịch đến Hải Phòng ngày một đông, năm 2003 chỉ tính riêng tổng số lượt khách du lịch lưu trú ở Hải Phòng là 1.815.334 lượt Trong đó, lượng khách quốc tế là 552.997 lượt (Bảng 1.3)

Bảng 1.3 Số lượng khách do các loại hình du lịch phục vụ tại Hải Phòng

Số khách du lịch do các

đơn vị lưu trú phục vụ

Lượt khách 714.495 1.160.418 1.647.591 1.815.334

khách 198.409 308.891 498.606 552.997 Khách trong nước Lượt

khách 516.086 851.527 1.148.985 1.262.337

Trang 20

Số khách du lịch do các

đơn vị lữ hành phục vụ

Lượt khách 71.432 73.641 73.898 67.737

khách 57.968 64.677 60.310 48.984 Khách trong nước Lượt

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng 2000 - 2003

Cảng Hải Phòng: Hải Phòng là một thành phố cảng lớn thứ hai ở Việt Nam

và đóng vị trí quan trọng trong hoạt động phát triển kinh tế ở miền Bắc bao gồm cả Hà Nội Trong khu vực cảng có 14 cảng lớn nhỏ Cảng Hải Phòng bao gồm: Cảng Hoàng Diệu, cảng Chùa Vẽ, cảng Vật Cách và những cảng phụ trợ khác như: cảng Cửa Cấm, cảng cá Hạ Long, cảng Thượng Lý, cảng dịch vụ thuỷ sản, cảng Quân đội… Cảng chính hầu hét thuộc khu vực nội thành Tổng số lượt tàu (trong và ngoài nước) vào cảng Hải Phòng năm

2003 có 1.817 lượt, khối lượng hàng hoá thông qua cảng từ 7,645 triệu tấn năm 2000 tăng lên đến 10,518 triệu tấn năm 2003 (Bảng 1.4) Kế hoạch phát triển cảng đến năm 2010 và 2020, Hải Phòng sẽ có thêm một số cảng nước sâu thuộc khu vực Đình Vũ, Lạch Huyện…[1]

Ngoài hoạt động chính là vận tải, xếp dỡ hàng hoá, khu vực cảng còn có các cơ sở sửa chữa, đóng mới tàu, phá dỡ tàu cũ… Những cơ sở công nghiệp tàu thuỷ lớn của Hải Phòng như: nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, Sông Cấm, Tam Bạc… tập trung gần khu vực cảng Hải Phòng và nhiều cơ

sở khác như nhà máy đóng tàu Nam Triệu, nhà máy sửa chữa tàu biển Phà Rừng…

Bảng 1.4 Một số chỉ tiêu chủ yếu của cảng Hải Phòng năm 2000 – 2003

Trang 21

Diện tích bãi chứa hàng 1.000m2 330,4 330,4 330,4 330,4

Khối lượng hàng hoá thông qua

Nguồn: Niên giám thống kê thành phố Hải Phòng, 2000 - 2003

1.2 QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN XÂY DỰNG VÀ ĐẦU TƯ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

1.2.1 Mục tiêu cơ bản phát triển Hải Phòng đến năm 2010

- Xây dựng "Hải Phòng trở thành thành phố cảng văn minh, hiện đại, của chính ra biển của các tỉnh phía Bắc, trung tâm công nghiệp, du lịch - dịch

vụ, thủy sản ở miền Bắc, có kinh tế, văn hoá, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, sơ sở hạ tầng phát triển, quốc phòng - an ninh được giữ vững, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân

- Tốc độ phát triển của thành phố bằng khoảng 1,5 lần so với tốc độ phát triển chung của cả nước, Đưa tỷ trọng GDP của Hải Phòng đạt 3,3 - 3,5% năm 2005 và 4% năm 2010 so với tổng GDP của cả nước Nền kinh tế tăng trưởng hàng năm 10 - 11% đến năm 2005 và 11 - 12,5% thời kỳ 2006 -

2010

- Cơ cấu kinh tế thành phố: có sự chuyển dịch cơ bản: Sản xuất nông nghiệp theo hướng đầu tư chiều sâu tạo nhiều sản phẩm hàng hoá, Tăng nhanh công nghiệp và các ngành dịch vụ Đến năm 2010 tỷ trọng GDP nông lâm nghiệp giảm từ 17,8% xuống 10%, công nghiệp tăng từ 33,6%

Trang 22

lên 40%, dịch vụ tăng từ 48,6% lên 52%, dân số đô thị tăng từ 34,4% lên 50,8%, do Hải Phòng có vị trí địa lý, giao thông thuận lợi nên có điều kiện hoà nhập thị trường trong nước và hội nhập quốc tế để phát triển nhanh hơn mức trung bình của cả nước

- Cơ cấu ngành: Khai thác triệt để, có hiệu quả lợi thế về địa lý, tài nguyên biển và đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng nhanh tốc độ phát triển ngành công nghiệp có ưu thế tạo hàng hoá xuất khẩu, phát triển mạnh du lịch, thương mại, dịch vụ hàng hải quốc tế, tài chính, ngân hàng, dịch vụ nghề cá

Bảng 1.5 Dự báo tăng trưởng kinh tế theo GDP

- Công nghiệp - xây dựng 5.454 13,2 10.458 13,9

Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Hải Phòng đến năm 2010

Bảng 1.6 Dự báo chuyển dich cơ cấu kinh tế theo GDP

Trang 23

Phi nông nghiệp 52 60

Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Hải Phòng đến năm 2010

1.2.2 Phương án phát triển (Chủ động phát huy nội lực để phát triển)

Chủ động nguồn vốn trong nước ở mức độ cao để phát triển công nghiệp hiện có và liên hệ chặt chẽ với các ngành dịch vụ hiện có của Thành phố

- Đầu tư xây dựng đồng bộ cảng tổng hợp Hải Phòng và xây dựng cảng chuyên dụng container

- Ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế như: đóng tàu, luyện kim, xi măng, hoá chất dân dụng và sản xuất hàng tiêu dùng, chế biến nông lâm thủy sản

- Chuyển mạnh sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, tạo nguyên liệu cho chế biến phục vụ du lịch và xuất khẩu trên cơ sở ứng dụng công nghệ sinh học

Để thực hiện các mục tiêu trên, nhu cầu đầu tư của nền kinh tế cho giai đoạn 2006 - 2010 khoảng 70.400 đến 80.000 tỷ đồng Phấn đấu tỷ lệ tích lũy nội bộ nền kinh tế từ 17,5% lên 32% năm 2010 thì phần vốn trong nước phải đảm bảo 70 - 75%, phần vốn nước ngoài (chủ yếu là ODA và FDI) khoảng 25 - 30%

Bảng 1.7 Cân đối tổng thể vốn đầu tư

Trang 24

2 Thu hút đầu tư từ bên ngoài 8.000 21.000 29.000

Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Hải Phòng đến năm 2010

- Đầu tư xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng ở khu vực nông thôn và hải đảo tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút đầu tư từ bên ngoài nhanh chóng đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng tăng nhanh công nghiệp, dịch vụ

Ngoài ra, phát triển kinh tế đối ngoại thu hút nguồn lực bên ngoài đầu tư trọng điểm tạo sản phẩm mũi nhọn phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu; phát triển đánh bắt và nuôi trồng thủy sản

Trang 25

Bảng 1.8 Một số chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội Hải Phòng

5 Kim ngạch xuất khẩu Triệu USD 279,8 670 1.300-1.600

Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Hải Phòng đến năm 2010

Nhiệm vụ cụ thể là Hải Phòng đang cần nhiều vốn đầu tư, đề nghị Nhà nước cho thực hiện thí điểm việc đổi mới phát triển đối ngoại, thu hút vốn đầu tư nước ngoài; cần công nghệ hiện đại và kinh nghiệm quản lý tiên tiến

để phục vụ đầu tư xây dựng trong các lĩnh vực: Hoàn thiện và hiện đại hoá kết cấu hạ tầng (đặc biệt là cảng biển, mạng lưới giao thông, cung cấp điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc, sân bay ); phát triển các khu, cụm công nghiệp; phát triển các trung tâm thương mại, du lịch tầm cỡ quốc gia, quốc tế; xây dựng phương án tổ chức không gian tổng thể cho toàn thành phố, nhất là phương án phát triển không gian đô thị, công nghiệp, du lịch; xây dựng các định chế thực hiện quy hoạch; trển khai dự

án đào tạo, nâng cao nguồn nhân lực

1.2.4 Các giải pháp chủ yếu thực hiện quy hoạch phát triển

Trang 26

- Động viên cao nhất mọi nguồn lực trong và ngoài nước để đầu tư cho phát triển kinh tế xã hội

- Phát huy sáng tạo, năng động và tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở Tăng cường quản lý Nhà nước trung ương và địa phương trong việc phối hợp thống nhất quản lý, điều hành của các ngành các cấp đối với phát triển kinh tế xã hội

- Tăng cường công tác quản lý: kết hợp cải cách hành chính với thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Thực hiện triệt để chương trình cả cách thủ tục hành chính, tiêu chuẩn hoá cán bộ, hình thành đội ngũ cán bộ chuyên sâu theo kíp yêu cầu đổi mới kinh tế Tạo môi trường thuận lợi cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội trên cơ sở pháp luật; điều hành các hoạt động sản xuất - kinh doanh thông qua công cụ kế hoạch hoá, tài chính, tiền

tệ, thuế… thống nhất các hoạt động kinh tế trên địa bàn lãnh thổ Trên cơ

sở các chính sách của Nhà nước, địa phương cần được Nhà nước tăng cường phân cấp hơn nữa để chủ động có những quy định cụ thể, linh hoạt phù hợp với thực tế địa phương Đổi mới công tác kế hoạch theo hướng dẫn gắn với các nhiệm vụ quy hoạch trên sở tăng cường nghiên cứu dài hạn, tạo căn cứ đầy đủ cho các quyết định của Thành phố, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin cho xây dựng dự án, các chương trình kinh tế - xã hội trên cơ sở một quy hoạch tổng thể phát triển

- Về vốn đầu tư: đến năm 2010 vào khoảng 70.040 - 80.000 tỷ đồng, khả năng vốn trong nước chỉ đảm bảo khoảng 70% nhu cầu vốn đầu tư, còn lại phải vay và gọi vốn đầu tư nước ngoài

Bảng 1.9 Cân đối tổng thể vốn đầu tư

Đơn vị: tỷ đồng

2001 - 2005 2006 - 2010 2001 - 2010

Trang 27

B Thu hút đầu tư từ bên ngoài 8.000 21.000 29.000

Nguồn: Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội Hải Phòng đến năm 2010

+ Vốn ngân sách, vốn ODA chủ yếu tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ

sản xuất và đời sống Dành một phần nhất định để cấp vốn lưu động cho những doanh nghiệp Nhà nước mới thành lập hoặc kinh doanh có hiệu quả nhưng thiếu vốn, một phầm cấp cho vay trong Chương trình giải quyết việc làm Nguồn vốn này ưu tiên cho các công trình thủy lợi, giao thông nhất là giao thông nông thôn, nước sạch, đầu tư trồng và chăm sóc rừng, các công trình xã hội quan trọng khác…

+ Vốn trong dân, vốn từ các doanh nghiệp (kể cả vốn vay ưu đãi) chủ yếu

để đầu tư tăng cường năng lực sản xuất

+ Vốn FDI hướng phát triển các cơ sở sản xuất hàng công nghệ cao, tạo

nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu từ nguyên liệu sẵn có ở trong nước Khuyến khích đầu vào những khu vực du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí

+ Phát triển các hình thức BOT, BT, BTO với các nhà đầu tư trong nước

và nước ngoài để phát triển cơ sở hạ tầng Hình thành thị trường bất động sản, trong đó có thị trường quyền sử dụng đất Xây dựng thị trường vốn, phát hành trái phiếu công trình, trái phiếu địa phương, cổ phiếu doanh nghiệp; đề nghị Trung ương cho vây ngân sách trả chậm để đầu tư các

Trang 28

khâu đột phá, các khu vực tăng trưởng, các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả; đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp… nhanh chóng hoà nhập có hiệu quả thị trường chứng khoán; khuyến khích các ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh ở Hải Phòng, kinh doanh bằng đồng Việt Nam

- Cải thiện môi trường thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành công nghiệp và dịch vụ, đặc biệt quan tâm đầu tư xây dựng cải tạo cơ sở hạ tầng (là khâu yếu nhất của Hải Phòng hiện nay) Nhà nước cần hoàn thiện cơ sở luật pháp, chính sách nhằm nâng cao tính cạnh tranh, tiến tới có bộ luật chung áp dụng thống nhất cho đầu tư trong nước và nước ngoài Hải Phòng

đề nghị trung ương cho chủ động thực hiện một số ưu đãi đối với doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên

- Khuyến khích đầu tư trong nước trên cơ sở xây dựng các cụm công nghiệp và cho doanh nghiệp thuê đất dài hạn, giảm tiền thuê đất, khuyến khích di chuyển cơ sở sản xuất ra khỏi nội thành, được hưởng kinh phí công trợ từ quỹ bảo vệ môi trường, hỗ trợ đền bù giải phóng mặt bằng…

- Kiến nghị Nhà nước tăng ngân sách để đầu tư kết cấu hạ tầng, thúc đẩy phát triển dự án Đây là những khoản chi phí không bao giờ mất vốn và nó

sẽ mở ra triển vọng lớn, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo ra nguồn thu lâu dài, ổn định ngân sách Đề nghị Nhà nước tăng cường các khoản cho vay của ngân hàng đối với nông dân để tăng sức mua ở nông thôn Thông qua tín dụng Nhà nước để đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông nông thôn, thủy lợi Mở rộng dịch vụ cung ứng vật tư, hàng hoá theo phương thức trả chậm, tạo điều kiện cho nhân dân nâng cấp và cải tạo nhà ở…

1.2.5.Vấn đề bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường tiếp tục được duy trì và cùng cố triển khai chủ động, toàn diện Thành phố Hải Phòng phối hợp với các cơ quan nghiên cứu khoa học trên địa bàn và Trung ương tổ chức điều tra cơ bản để xác định

Trang 29

hiện trạng môi trường địa chất ven biển, tình trạng ô nhiễm vùng ven biển,

đô thị, các hệ sinh thái, đánh giá tác động môi trường của các tổ chức kinh

tế, xã hội đang hoạt động và các công trình dự án sẽ triển khai trên địa bàn

Nhìn chung trong thập kỷ qua việc triển khai sau điều tra khảo sát để bảo

vệ nguồn tài nguyên sinh thái, môi trường sống còn đang bị hạn chế Từ nay đến năm 2010 với mục tiêu phấn đấu để Hải Phòng trở thành thành phố xanh, sạch, đẹp các nội dung được thực hiện chủ yếu như sau:

+ ở khu vực đô thị: nhanh chóng di chuyển những xí nghiệp gây ô nhiễm

ra khỏi nội thành Bằng nguồn kinh phí chuyển quyền sử dụng đất của thành phố và vốn tự có của các doanh nhân sẽ xây dựng các công trình xử

lý chất thải Việc xây dựng mới các công trình nhà ở phải có công trình xử

lý chất thải

+ Khu vực ven biển: sự phát triển đô thị và sản xuất dẫn đến lượng chất thải đổ ra vùng cửa sông ngày càng lớn (thời kỳ 1996 - 2000 hàng ngày có khoảng 100.000 m3 nước thải đổ ra biển, thời kỳ 2001 - 2010 lên đến 185.000 m3) Do đó vấn đề phòng chống ô nhiễm môi trường vùng ven biển phải được thường xuyên kiểm soát và đầu tư thích đáng vào Chương trình phục hồi môi trường địa chất vốn có của khu vực các cửa sông ven biển

- Trước hết cần phải được tu bổ để làm ngay các công trình xử lý nước thải công nghiệp, đô thị tại các khu vực dân cư và các xí nghiệp đã được xây dựng trên tuyến ven biển

- Đối với các khu công nghiệp tập trung, khu du lịch, khu vui chơi giải trí, các khu nhà nghỉ, bãi tắm khi xây dựng phải được đánh giá tác động môi trường và phải có công trình xử lý chất thải, nước thải để chống ô nhiễm

- Tại các khu vực cảng biển cần có biện pháp chủ động phòng chống sự cố tràn dầu, các tác nhân gây ô nhiễm khác

Trang 30

- Phát triển dải rừng sinh thái ven biển ngập mặn để làm đẹp cảnh quan, cải tạo môi trường sống, bảo vệ nguồn lợi biển ven bờ và phòng hộ đối với sản xuất nông nghiệp

- Đối với khu vực nông thôn và hải đảo: Đầu tư xây dựng hệ thống các công trình cấp nước sinh hoạt, vệ sinh, có hướng dẫn sử dụng hợp lý thuốc trừ sâu, phân hoá học để ngăn chặn tình trạng ô nhiễm môi trường nhất là môi trường nước và đất theo Chương trình IPM Phát triển các dải cây xanh gắn với các điểm dân cư vừa để lấy gỗ, củi vừa có tác dụng cải thiện môi trường sống Để thực hiện chủ trương như đã trình bày ở trên, trên cơ

sở Luật bảo vệ môi trường Nhà nước có quy chế về tổ chức và cụ thể hoá chương trình bảo vệ môi trường Nhà nước có quy chế về tổ chức và cụ thể hoá chương trình bảo vệ môi trường đối với từng địa phương Chính quyền các cấp chủ động và có hướng dẫn cụ thể cho các cơ quan, xí nghiệp và toàn thể nhân dân tham gia bảo vệ môi trường Đồng thời phát triển ngành kinh doanh nước ngọt, thu thuế sử dụng các nguồn nước tự nhiên đối với tất cả các doanh nghiệp

Trong công nghệ xử lý môi trường: chú trọng các công nghệ xử lý chất thải công nghiệp và chất thải đô thị trong việc bảo vệ môi trường, phòng chống

ô nhiễm các vùng cửa sông, bảo vệ tài nguyên sinh học, phi sinh học để phát triển bền vững Trong lĩnh vực này, việc liên kết để kế thừa các kinh nghiệm của các nước ASEAN với Hải Phòng là điều kiện thiết thực Đầu

tư thích đáng vào việc nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu của khoa học

xã hội đặc biệt các khoa học về tổ chức, quản lý cả về kinh tế, hành chính,

… theo các phương thức mời các chuyên gia nước ngoài làm cố vấn thường trực, tạo điều cho cán bộ thuộc các lĩnh vực trên tham gia học tập ở nước ngoài

1.3 TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG DO HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG

CƠ BẢN Ở VIỆT NAM

Trang 31

Các hoạt động xây dựng tại Việt Nam có thể chia thành các khối chính như sau: xây dựng công nghiệp, xây dựng dân dụng và xây dựng công trình giao thông Chia theo loại hình quản lý vốn đầu tư gồm có: các tổ chức, đơn vị sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, nguồn vốn trong nhân dân

và nguồn vốn các tổ chức, doanh nghiệp (trong đó có cả vốn nước ngoài) Ngân sách Nhà nước đóng vai trò lòng cốt, chủ yếu đầu tư các công trình quan trọng, các ngành nghề, lĩnh vực trọng điểm của từng địa phương, hệ thống giao thông và công trình công cộng quy mô từ nhỏ đến lớn phục vụ hoạt động bộ máy Nhà nước và đời sống nhân dân; phục vụ phát triển của các thành phần kinh tế Các tổ chức, doanh nghiệp chủ yếu đầu tư xây dựng dân dụng, cơ sở sản xuất - kinh doanh của mình và tham gia cùng hoạt động xây dựng của Nhà nước Nhân dân tự đầu tư xây dựng các công trình phục vụ đời sống sinh hoạt, sản xuất - kinh doanh của bản thân mình Thực hiện cơ chế mở cửa phát triển kinh tế, cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; phát triển sản xuất hàng hoá phục vụ tiêu thụ nội địa và xuất khẩu; tăng cường phát triển thương mại, Trung ương đã, đang và sẽ tiếp tục đầu tư hạ tầng cơ bản phát triển nền kinh tế cả nước như: xây dựng các nhà máy thủy điện, nhiệt điện, hệ thống chuyền tải điện năng xuyên Việt; xây dựng hệ thống giao đường bộ, phát triển hệ thống cảng biển, xây dựng khu công nghiệp chế biến dầu mỏ, than Tại các tỉnh, thành phố trên toàn quốc hạ tầng phục vụ sản xuất - dịch vụ phát triển mạnh, các tỉnh đều đã xây dựng các khu thương mại, khu công nghiệp tập trung có quy mô nhỏ đến lớn, khu chế xuất tạo điều kiện thu hút đầu tư trong nước và đặc biệt kêu gọi đầu tư nước ngoài Vì vậy, trong những năm qua đã có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế rõ rệt từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ

Hoạt động xây dựng cơ bản trên toàn quốc có quy mô tương đối lớn và không ngừng gia tăng theo sự phát triển chung của nền kinh tế Chính sự gia tăng này đã làm tăng nhu cầu về sử dụng đất, vật liệu xây dựng mà cơ bản là vật liệu được sản xuất trong nước, gia tăng sự khai thác tài nguyên

Trang 32

thiên nhiên để sử dụng làm vật liệu xây dựng, các tài nguyên này được sử dụng trực tiếp hoặc trải qua các quy trình sản xuất tạo ra vật liệu xây dựng gây nên các tình trạng ô nhiễm đáng kể trong các hoạt động như: khai thác

đá từ các núi đá; cát sỏi lòng sông suối; sản xuất xi măng, thép xây dựng, gạch ngói, gốm, sứ

1.3.1 Hoạt động xây dựng tại các đô thị

Những năm gần đây công tác quy hoạch xây dựng tổng thể tại các khu dân

cư, khu đô thị mới được được quản lý và thực hiện khá hiệu quả Tại các

đô thị các hoạt động xây dựng chủ yếu là: đầu tư mở rộng đô thị ra các vùng ven, xây dựng hạ tầng kỹ thuật giao thông, xây dựng nhà ở tại các khu dân cư tập trung để bán hoặc cho thuê, cấp đất xây dựng nhà cửa, khu dịch vụ thương mại, vui chơi giải trí, trường học, bệnh viện, hạ tầng kỹ thuật cấp điện, nước, thông tin liên lạc, truyền hình xây dựng các khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp vừa và nhỏ để thực hiện di chuyển các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường trong nội thành ra vùng ven đô Trong nội thành cải tạo hệ thống giao thông và các hạ tầng kỹ thuật như điện, cấp thoát nước, thông tin liên lạc, vệ sinh môi trường là khối lượng công việc rất lớn Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển thương mại, dịch vụ diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi mục đích sử dụng nhà ở trên các tuyến đường giao thông làm cơ sở kinh doanh và dịch vụ Hoạt động cải tạo, xây dựng mới nhà ở trong các ngõ ngẽn ngày càng mạnh mẽ theo sự phát triển kinh

tế và thu nhập của nhân dân Sự phát triển nhà ở cùng với sự gia tăng về dân số đô thị, dân cư từ các vùng đến thành phố làm việc và học tập Số m2

diện tích nhà ở/người cũng được tăng lên theo nhu cầu và mục đích sử dụng Tại đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng thực hiện các chính sách chuyển quyền sở hữu nhà ở cho nhân dân trước đây thuộc sở hữu Nhà nước tạo nên các hoạt động cải tạo, xây dựng manh mún, không hài hoà về kiến trúc và đặc biệt công tác bảo vệ môi trường rất

ít được quan tâm (ô nhiễm bụi do hoạt động vận chuyển, xây dựng, đổ chất thải bừa bãi )

Trang 33

Hầu hết các hoạt động xây dựng, cải tạo của khối ngành Giao thông công chính, Điện lực, Bưu chính viễn thông diễn trên các tuyến đường phố, vỉa

hè, ngõ ngẽn Nhiều năm nay vấn đề quy hoạch cải tạo, sửa chửa các công trình, hệ thống trên chưa được khoa học và chặt chẽ; chưa tạo nên được sự phối hợp tốt giữa các ngành; ngành nào thi công công trình của mình thường tiến hành một cách độc lập Tuy nhiên, do sự phát triển kinh tế khá nhanh, cơ sở hạ tầng cũ, lâu đời, trải qua nhiều biến động suốt chiều dài lịch sử cho nên thực trạng hạ tầng các công trình công cộng khá đa dạng Trong nội các đô thị có cả khu phố cổ, phố cũ với những đường phố nhỏ, ngắn, chia ô kiểu bàn cờ song lại là nơi tập trung dân cư sinh sống, buôn bán với mật độ khá cao; dẫn đến trên những tuyến đường, vỉa hè thường được đào lên, lấp xuống nhiều lần; các tuyến dây dẫn trên cột chưa tạo nên

sự an toàn và tính thẩm mỹ đô thị Do đó đã tạo nên sự lãng phí lớn ngân sách Nhà nước trong xây dựng, gây ảnh hưởng đến giao thông, sinh hoạt của nhân dân trong đó tất yếu tạo nên tác động xấu đến môi trường trong hoạt động xây dựng

Tốc độ đô thị hoá cao đã làm một lượng bụi lớn phát sinh (chủ yếu từ các công trình xây dựng) Lượng bụi này tập trung trên bề mặt đường và hai bên đường và sẽ bị khuếch tán lên bởi gió hoặc các phương tiện giao thông gây nên ô nhiễm về bụi Mặt khác, do trình độ và sự quan tâm đầu tư xử lý rác thải và các chất thải khác của chúng ta còn bị hạn chế nên những ảnh hưởng xấu tới môi trường sống của các loại chất thải trên sẽ ngày càng trầm trọng

1.3.2 Hoạt động xây dựng tại các vùng nông thôn

Hoạt động xây dựng tại nông thôn là hoạt động đầu tư tổng hợp giữa Nhà nước, các doanh nghiệp và nhân dân Nhà nước chủ yếu đầu tư quy hoạch

sử dụng đất, hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp như hệ thống thủy lợi, mương máng; phát triển hệ thống lưới điện nông thôn; hệ thống cung cấp nước sạch tại chỗ; hạ tầng giao thông nông thôn; hạ tầng phục vụ chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá, đối tượng sản

Trang 34

xuất có giá trị kinh tế cao; hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản tại các vùng ven sông, biển; hạ tầng phát triển các vùng kinh tế mới; hạ tầng phục vụ y

tế, giáo dục, văn hoá, thể dục - thể thao; hỗ trợ xoá nhà tranh vách đất; hỗ trợ phát triển kinh tế làng nghề; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học theo hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm Ngoài ra Nhà nước trực tiếp thực hiện hoặc kêu gọi đầu tư xây dựng hạ tầng khu dân cư tập trung, khu sản xuất công nghiệp, khu thương mại - dịch vụ theo hình thức đổi đất lấy công trình Đối với các vùng miền núi, hải đảo điều kiện kinh tế và

tư nhiên đặc biệt khó khăn Nhà nước đầu tư 100% vốn phục vụ xây dựng

Hàng năm các cấp quản lý hành chính địa phương (tỉnh, huyện, xã) có kế hoạch cấp đất xây dựng nhà ở cho nhân dân dựa trên quy mô tăng dân số

và tốc độ phát triển của từng vùng Nguồn kinh phí thu được từ các khoản thuế và chuyển quyền sử dụng đất làm nhà ở cho nhân dân được các các cấp chính quyền giữ lại một phần để tiếp tục đầu tư phát triển hạ tầng công cộng nông thôn Công việc xây dựng nhà cửa, cơ sở sản xuất - kinh doanh trong nhân dân diễn ra mạnh mẽ tạo nên bộ mặt mới cho nông thôn hiện nay Tuy nhiên, nhiều địa phương nhân dân sử dụng đất nông nghiệp làm nhà ở và các cơ sở sản xuất - kinh doanh khác là không đúng với quy định

sử dụng đất Một số nơi nhân dân tự ý khai thác tài nguyên thiên nhiên trực tiếp làm vật liệu xây dựng hoặc sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ cho công việc của mình và bán ra thị trường như các hoạt động: khai thác cát, sỏi lòng sông, suối; khai thác đá, đất ở đồi núi, quặng sắt; khai thác tre, gỗ rừng tự nhiên; nung vôi, gạch, gói, làm đất đèn; san lấp mặt bằng; xây dựng cơ sở sản xuất thép xây dựng thủ công Các hoạt động trên đã tạo nên tác động xấu đến môi trường nông thôn hiện nay

Cùng với việc phát triển các thành phần kinh tế trong nông thôn, việc tăng dân số và nhu cầu về nhà ở đã thu hẹp dần diện tích sản xuất nông nghiệp, tạo nên sức ép môi trường ngày càng tăng đối với nông thôn

Cùng với việc phát triển giao thông nông thôn, việc quy hoạch và sử dụng diện tích hai bên đường làm các khu công nghiệp tập trung, khu công

Trang 35

nghiệp vừa và nhỏ; khu dân cư tập trung, cấp đất cho nhân dân xây dựng

cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nhà ở diễn ra mạnh mẽ Nhiều tỉnh, thành phố đã thu hồi đất nông nghiệp của nhân dân cấp cho các đơn vị sản xuất công nghiệp và kinh doanh; san lấp mặt bằng, xây dựng khu dân cư tập trung nhưng chưa được doanh nghiệp hoặc cá nhân sử dụng ngay, bỏ hoang trong nhiều năm, hoặc san lấp mặt bằng rồi bỏ hoang gây lãng phí từ sản xuất nông nghiệp, mất cân bằng sinh thái môi trường tư nhiên và ô nhiễm do gió cuốn bụi vào không khí; Nhiều nơi nhân dân tự ý sử dụng lòng đường, làm nơi tập kết vật liệu xây dựng, thực hiện các hoạt động phục vụ thi công (làm sắt, làm đồ gỗ, rửa cát đá, trộn vữa, bê tông ), tất cả các hoạt động trên đều gây nên mất an toàn cho người lao động trong xây dựng và người tham gia giao thông; gây nên tác động xấu đối với môi trường đặc biệt là môi trường không khí (do bụi)

Đối với một số vùng nông thông nơi dân cư tự tập trung sinh sống phát triển các hoạt động sản xuất tại chỗ, trong đó có cả hoạt động xây dựng diễn ra một cách tự do hoặc ít được các cấp chính quyền quan tâm; khi thấy có dấu hiệu không đảm bảo về chất lượng cuộc sống, thiếu thốn các điều kiện sinh hoạt như: nước sạch, điện, hệ thống công trình công cộng , điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo gây nên tác động sấu đến sức khỏe cộng đồng và môi trường tự nhiên thì khi đó mới được các cấp chính quyền quan tâm khắc phục Như vậy, các công việc xây dựng của Nhà nước khó quy hoạch, diễn ra một cách bị động và tính hiệu quả chưa cao

Trong quá trình xây dựng, cải tạo đường giao thông các vùng ven đô thị, vùng nông thôn các chủ xây dựng vẫn sử dụng các thùng nấu nhựa đường thu công để nấu chảy nhựa đường trước khi trải nhựa, nhiên liệu nấu nhựa đường là cao su phế liệu, nhựa, gỗ củi hơi nhựa đường và khói, muội vật

từ liệu đốt thải vào môi trường lượng đáng kể khí gây ô nhiễm

Trên thực tế công tác giao dục bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong công tác xây dựng cơ bản nói riêng đã có hiệu quả một đáng kể; ý thức, kiến thức bảo vệ môi trường nhân nhân và các đơn vị tổ chức

Trang 36

xây dựng được nâng cao Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận nhân dân và một

số tổ chức chưa chấp hành tự giác các quy định, đây là nguyên nhân cơ bản gây ảnh hưởng đến môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng trong hoạt động xây dựng Mặc dù hiện tượng ô nhiễm môi trường do hoạt động xây dựng gây nên chưa đến mức báo động khẩn cấp song với đà phát triển xây dựng ngày một tăng nhanh như hiện nay nếu không có những giải pháp trước mắt cũng như lâu dài thì các vùng nông thôn và đặc biệt là đô thị ở Việt Nam vẫn có nguy cơ phải đối mặt với mọi vấn đề môi trường như một số nước trên thế giới

1.4 ẢNH HƯỞNG CỦA Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG

Bụi lơ lửng có thể di chuyển qua hàng ngàn km, xuyên qua biển và lục địa Bụi lơ lửng gây tác hại cho công nghiệp thực phẩm, dược phẩm Đối với người, chúng gây nên bệnh hen suyễn, viêm cuống phổi, bệnh khí thũng và viêm cơ phổi

Bụi xây dựng phát tán vào không khí do gió, do quá trình vận chuyển, xếp

dỡ nguyên vật xây dựng, do phá dỡ công trình cũ, quá trình mài, đánh bóng vật liệu xây dựng là nguyên nhân gây ô nhiễm chính trong môi trường không khí Tình trạng ô nhiễm môi trường do các các hoạt động xây dựng gây ra, đặc biệt là ô nhiễm môi trường không khí không dễ mà khắc phục ngay được Bụi xây dựng chủ yếu từ các nguồn: xi măng, bột đá, cát, gạch, ngói, gỗ, kim loại (sắt, nhôm); chủ yếu là bụi xi măng, đá, cát, gạch ngói Ngoài ra còn có các khí, muội do quá trình đốt cao su, gỗ, nhựa để nấu chảy nhựa đường như: Cacbonnic (CO2), Oxitcacbon (CO), ôxit lưu huỳnh (SOx), ôxit nitơ (NOx), các hạt cácbon (C) và bụi Chất độc hữu cơ: cacbuahydrô (CnHm), andehit (R-CHO) và hydrocacbua thơm

Trong số bụi trong hoạt động xây dựng thì bụi xi măng là tương đối phổ biến, bụi xi măng là hỗn hợp các oxit silic 20 - 25%, canxi 55 - 60%, sắt,

Trang 37

mangan, nhôm Khi gặp hơi nước nó trở nên rắn chắc tạo thành canxialuminat và canxi xilicat Một phần của canxi và nhôm hiđroxit được tạo thành làm cho pH dịch chuyển theo hướng kiềm hoá Phần lớn bụi xi măng gồm những hạt nặng, không thể di chuyển xa và lắng đọng trên mặt đất tác động xấu đến các tính chất lí hoá của đất, bám trên mọi vật trên mặt đất, làm giảm tốc độ sinh trưởng của thực vật Đối với người bụi xi măng

xâm nhập vào phổi cùng với không khí gây nên các bệnh về đường hô hấp

Các chất độc hại kể trên có thể có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào cơ thể con người thông qua không khí, lương thực, thực phẩm Mức độ độc hại của từng chất tới con người và môi trường phụ thuộc vào nồng độ và thời gian tác dụng của chúng Các chất độc hại trong bụi, khí thải từ hoạt động xây dựng ảnh hưởng đến sức khỏe con người được tóm tắt như sau

15

Bảng 1.10 Ảnh hưởng của các chất độc hại trong hoạt động xây dựng đến sức khỏe con người

thức Tóm tắt tính độc hại Tác hại, triệu chứng nhiễm độc

1 Khí

Cacbonic CO2

Là chất gây ngạt

Là loại khí nhà kính quan trọng

Nồng độ 10%: Đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, ù tai, run rẩy, buồn ngủ rồi bất tỉnh ở nồng độ cao hơn sẽ bị ngất nhanh, da tím tái, hơi thở chậm, chân tay lạnh

2 Oxit

cacbon CO

Là chất có hại với các bệnh tim mạch và phụ

nữ có thai

Khi trong không khí có nồng độ

CO khoảng 250 ppm người sẽ bị ngộ độc dẫn đến tử vong

Khi nồng độ CO từ 100 đến

1000 ppm làm lá cây bị rụng, bị xoắn quăn, cây non bị chết

3 Hydro

Cacbon CnHm

Các hyđrôcacbon thoát ra từ khí thải có

Các chất oxi hoá tổng hợp và zôn tầng thấp là một trong những

Trang 38

thể làm hình thành các chất ôxy hoá tổng hợp

Tác dụng trực tiếp lên thần kinh trung ương

Là loại khí nhà kính

Khi bị nhiễm độc nhẹ: đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi và các triệu chứng này sẽ mất khi ra khỏi khu vực nhiễm độc

Khi bị nhiễm độc nặng: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi toàn thân, da và môi có màu xanh tím, mạch yếu, huyết áp hạ, chân tay khó cử động, viêm phế quản và phù phổi cấp

Gây tức ngực, đau đầu, nôn và ảnh hưởng đến hô hấp

Gây nên bệnh khí thùng, viêm cuống phổi, hen xuyễn, SO 2 tạo

ra mưa axit

7 Andehit R-CHO

Gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ: buồn phiền, cáu gắt, ảnh hưởng tới bộ máy hô hấp

Gây nên các phản ứng hoá tổng hợp

8 Muội C Gây bệnh bụi phổi,

khí thũng, đau mắt

Gây hiện tượng hấp thụ ánh sáng trắng và giảm tầm nhìn

Trang 39

9 Bụi,

PM10

Gây bệnh viêm đường hô hấp

1.5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1.5.1 Hệ thống các văn bản có tính chất pháp lý về bảo vệ môi trường trong hoạt động xây dựng cơ bản

Thu thập các văn bản có tính chất pháp lý đang có giá trị thực hiện về bảo

vệ môi trường có liên quan hoạt động xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách Nhà nước của Nhà nước Việt Nam, bao gồm các văn bản của Bộ chính trị, Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành Trung ương

Hệ thống nội dung các chủ trương, quy định, hướng dẫn thực hiện bảo vệ môi trường trong hoạt động xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách Nhà nước của hệ thống văn bản pháp quy

Trình bày, phân tích và đánh giá tình hình thực hiện bảo vệ môi trường của một số dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn Hải Phòng, do Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng quyết định đầu tư sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước; từ đó đưa nhận xét, đánh giá về quá trình thực hiện và vận dụng các văn bản pháp quy tại Hải Phòng

1.5.2 Tìm hiểu chi phí bảo vệ môi trường của các dự án xây dựng cơ bản

Dự án được lựa chọn để thu thập thông tin về bảo vệ môi trường là dự án đang thực hiện xây dựng; địa bàn thực hiện dự án tại 13/14 đơn vị quận, huyện, thị của Thành phố (trừ huyện đảo Bạch Long Vỹ) Các dự án được

Trang 40

chọn dựa trên các chỉ tiêu: cơ bản đại diện các lĩnh vực đầu tư, hạn chế sự trùng lặp chủ đầu tư và nhà thầu thi công để gửi phiếu phỏng vấn Hình thức thu thập thông tin là gửi phiếu phỏng vấn; trực tiếp trao đổi, phỏng vấn các chủ đầu tư (các ban quản lý dự án), nhà thầu thi công

Nội dung phỏng vấn về thực hiện các thủ tục pháp lý, chuẩn bị kế hoạch triển khai các biện pháp bảo vệ môi trường, thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường trong quá trình thi công xây dựng gồm có: phun nước, che đậy phương tiện vận chuyển trong quá trình vận chuyển, che bụi xung quanh công trình, bảo hộ lao động công nhân và các biện pháp khác; chi phí đầu

tư bảo vệ môi trường trong quá trình thi công đối với từng biện pháp nêu trên Từ kết quả thu được tiến hành phân tích, nhận xét và đánh giá về biện pháp và chi phí bảo vệ môi trường

Thu thập các thông tin bảo vệ môi trường tại hồ sơ dự án của các dự án được lựa chọn phỏng vấn và nghiên cứu Các tài liệu dự án được thu thập thông tin là: Báo cáo kinh tế - kỹ thuật, thiết kế - dự toán được duyệt, hồ sơ mời thầu xây lắp, hồ sơ dự thầu xây lắp và quyết toán công trình Ngoài ra còn tham khảo hồ sơ dự án sử dụng vốn ODA, dự án đầu tư bằng vốn tự có của một số loại hình doanh nghiệp (nguồn tài liệu Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng)

Xem xét trực tiếp hiện trường một số dự án; phỏng vấn, trao đổi với một số lao động trực tiếp tại hiện trường để có thông tin kiểm chứng do chủ đầu tư hoặc nhà thầu cung cấp và thông tin trong hồ sơ của dự án

1.5.3 Quan trắc bụi một số dự án

Xác định nồng độ bụi dựa theo Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN-5067-1995),

đó là “Phương pháp khối lượng xác định hàm lượng bụi” Phương pháp này xác định hàm lượng từng lần (30 phút) và trung bình ngày đêm (24 giờ) của bụi trong không khí bên ngoài phạm vi các xí nghiệp, công nghiệp

Ngày đăng: 20/11/2018, 23:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w