1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội

70 303 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

21 Hình 2.3 .Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên địa bàn huyện Đông Anh .... Chính vì vậy, đề tài“Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải r

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Hà Nội - 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS ĐỖ TRỌNG MÙI

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết Nội dung trong luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu theo danh mục tài liệu tham khảo Các số liệu có nguồn trích dẫn, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2017

HỌC VIÊN

Nguyễn Văn Cường

Trang 4

Học viên: Nguyễn Văn Cường ii Trường đại học BKHN

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể thầy cô giáo trong trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong Viện Khoa học và công nghệ môi trường, những thầy cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho em kiến thức quý báu về chuyên môn và đạo đức trong suốt thời gian học cao học tại trường

Bên cạnh đó, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến thầy TS.Đỗ Trọng Mùi,

thầy đã luôn tận tình chỉ bảo, định hướng và hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn Thầy đã cho em những lời khuyên ý nghĩa và quan trọng trong việc nghiên cứu Trong quá trình hoàn thành luận văn dưới sự hướng dẫn của thầy, em đã học được tinh thần làm việc nghiêm túc, cách nghiên cứu khoa học hiệu quả, và đó là hành trang, là định hướng giúp em trong quá trình làm việc sau này

Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình và bạn bè

đã luôn có những lời động viên, khuyến khích em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Trong thời gian thực hiện luận văn, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng luận văn không khỏi tránh những thiếu sót Kính mong các thầy cô giáo trong Viện cùng các bạn tận tình chỉ bảo và góp ý kiến để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2017

HỌC VIÊN

Nguyễn Văn Cường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 2

1.1 Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 2

1.1.1 Hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 2

1.1.2 Bài học kinh nghiệm 7

1.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam 8

1.2.1 Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 8

1.2.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt 8

1.2.3 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 10

1.2.4 Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 11

1.3 Phương pháp nghiên cứu 13

1.3.1.Phươngphápthuthậpvàphântích tài liệu thứ cấp 13

1.3.2.Phương pháp điều tra khảosát 13

1.3.3.Phương pháp chuyên gia 13

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH 14

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Đông Anh 14

2.2 Kết quả điều tra, khảo sát tình hình phát sinh CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh 18

2.2.1 Lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Đông Anh 18

2.2.2 Thành phần CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện Đông Anh 22

2.3 Hiện trạng quản lý CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội. 25

2.3.1 Quy trình thu gom, vận chuyển 25

2.3.2 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt 25

Trang 6

Học viên: Nguyễn Văn Cường iv Trường đại học BKHN

2.3.3 Ý kiến của người dân về quản lý CTR sinh hoạt 26

2.3.4 Tần suất và thời gian thu gom CTRSH 29

2.3.5 Hiện trạng xử lý CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh 31

2.4 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh 32

2.4.1 Đánh giá hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường liên quan đến chất thải rắn 32

2.4.2 Đánh giá hiện trạng quản lý CTRSH tại huyện Đông Anh 35

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40

3.1 Giải pháp mang tính pháp lý 40

3.2 Giải pháp công nghệ 41

3.2.1 Nguyên tắc lựa chọn công nghệ xử lý CTRSH 41

3.2.2 Đề xuất giải pháp chung cho toàn huyện 41

3.2.3 Giải pháp kỹ thuật cho khu vực thị trấn 45

3.2.4 Giải pháp kỹ thuật cho khu vực nông thôn 51

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

Học viên: Nguyễn Văn Cường vi Trường đại học BKHN

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.5 Các biện pháp xử lý CTRSH cấp xã, thị trấn 13

Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế huyện Đông Anh qua các năm 2013– 2015 17

Bảng 2.2 Khối lượng CTRSH phát sinh bình quân/người/ngày 18

Bảng 2.3 Lượng phát sinh CTRSH tại khu vực đô thị và nông thôn 19

huyện Đông Anh 19

Bảng 2.4 Lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân của cả nước 20

Bảng 2.5 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn nghiên cứu 21

Bảng 2.6 Khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện 22

Bảng 2.7 Thành phần CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Đông Anh 23

Bảng 2.8 Lượng CTRSH được thu gom trên địa bàn huyện Đông Anh 26

Bảng 2.9 Mức phí đối với CTR công nghiệp thông thường trên địa bàn thành phố Hà Nội 27

Bảng 2.10 Nhận xét của người dân về mức phí vệ sinh môi trường 28

Bảng 2.11 Ý kiến của người dân về chất lượng môi trường 29

Bảng 2.12 Tần suất thu gom CTRSH của các tổ vệ sinh môi trường trên địa bàn huyện Đông Anh 30

Bảng 2.13 Thời gian thu gom CTRSH của các tổ vệ sinh trên địa bàn 30

huyện Đông Anh 30

Bảng 2.14 Dự báo dân số huyện Đông Anh đến năm 2020 38

Bảng 2.15 Dự báo khối lượng CTRSH phát sinh của huyện Đông Anh trong giai đoạn 2017 – 2030 39

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Lượng phát sinh CTRSH theo khu vực nghiên cứu 19

Hình 2.2 So sánh khối lượng phát sinh CTRSH ở huyện Đông Anh với bình quân toàn quốc 21

Hình 2.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên địa bàn huyện Đông Anh 24

Hình 2.4 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh trên địa bàn huyện Đông Anh 24

Hình 2.5 Quy trình thu gom CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh 25

Hình 3.1 Một số trang thiết bị thu gom, vận chuyển CTRSH 42

Hình 3.2 Sơ đồ công nghệ sản xuất phân hữu cơ pH 44

Hình 3.3 Mô hình phân loại CTR sinh hoạt tại khu vực đô thị trên địa bàn huyện Đông Anh 47

Hình 3.4 Mô hình hệ thống thu gom, vận chuyển CTRSH cho huyện Đông Anh 49

Hình 3.5 Mô hình thu gom, vận chuyển CTR cho các điểm dân cư nông thôn 52

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt nói chung cũng nhưchất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) nói riêng Chất thải rắn sinh hoạt thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm

Huyện Đông Anh có tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu về vật chất và sử dụng tài nguyên ngày càng lớn kéo theo sự gia tăng lượng chất thải rắn sinh hoạt ngày càng nhiều Công tác quản lý CTR sinh hoạt đang trở thành vấn đề môi trường cấp bách của huyện

Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đồng bộ để đánh giá thực trạng quản lý, đề xuất hướng tái chế, tái sử dụng nguồn chất thải rắn sinh hoạtđô thị, nông

thônở huyện Đông Anh Chính vì vậy, đề tài“Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các

giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố

Hà Nội” nhằm tìm ra biện pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt một cách hiệu quả,

giảm thiểu ô nhiễm môi trường cho khu vực huyện Đông Anh

Luận văn đƣợc thực hiện với mục tiêu: Điều tra đánh giá hiện trạng quản lý

CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; Đề xuất những giải pháp quản lý, xử lý CTR sinh hoạt tạihuyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Luận văn có các nội dung chính:

- Tổng quan quản lý chất thải rắn sinh hoạt

- Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Đông Anh

- Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đông Anh

- Đề xuất một số giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện Đông Anh

Kết quả nghiên cứu hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội có ý nghĩa khoa học, mang tính thực tế cao, có thể triển khai nhân rộng cho việc xây dựng mô hình quản lý CTR sinh hoạt đô thị và nông thôn Việt Nam

Trang 11

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới

1.1.1 Hiện trạng phát sinh và quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới

Nhìn chung, khối lượng CTR phát sinh trên thế giới rất lớn và có xu hướng gia tăng theo thời gian Các yếu tố như số lượng dân số, thu nhập, trình độ phát triển… là những yếu

tố tác động mạnh đến tình hình phát sinh chất thải rắn của các nước trên thế giới

Hằng năm, lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom trên thế giới ước tính dao động từ 2,5 đến 4,0 tỷ tấn tuy nhiên con số này thực tế chỉ gồm các nước thuộc OECD

và các nước đang phát triển (Bảng 1.1)

Bảng 1.1 Lượng chất thải rắn đô thị thu gom trên toàn thế giới [10]

Đơn vị: Triệu tấn

Các nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD 620

Cộng đồng các quốc gia độc lập (trừ các nước ở biển Ban tích) 65

Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị cao nhất là Hoa Kỳ (700 kg/người/năm), tiếp sau là Tây Âu và Ôxtrâylia (600-700 kg/người), sau đó đến Nhật Bản, Hàn Quốc

và các nước Đông Âu (300-400kg/người) [10]

Tháng 12/2003, Chính phủ Thụy Điển đã chỉ đạo Cơ quan Bảo vệ môi trường (EPA) lập kế hoạch quản lý chất thải quốc gia So với 10 năm trước đây, công tác quản

lý chất thải ở Thụy Điển đã làm cho việc sử dụng hiệu quả tài nguyên tăng lên nhiều

và ít gây tác động đến môi trường hơn Cũng theo báo cáo của Hiệp hội quản lý chất thải Thụy Điển, trong năm 2004, tổng khối lượng chất thải sinh hoạt lên tới 4,17 triệu tấn Việc tái chế vật liệu chiếm 33,2% chất thải sinh hoạt được xử lý Việc tách chất thải nguy hại khỏi chất thải sinh hoạt giảm xuống với khối lượng 25.700 tấn tương đương với 3,6% [6]

Trang 12

Còn tại Cộng hòa liên bang Đức đã ban hành nhiều đạo luật về quản lý chất thải Có khoảng 2000 điều luật, quyết định, quy định về hành chính với nội dung thu thập, phân loại, vận chuyển, xác định biện pháp giải quyết chất thải Mỗi lần thay đổi luật, quy định mới lại khắt khe và chặt chẽ hơn Bên cạnh đó, pháp luật của Cộng hòa liên bang Đức khuyến khích việc đổi mới công nghệ và thiết bị nhằm hướng tới một công nghệ giảm thiểu chất thải sinh ra [6]

Thêm vào đó, nhà nước còn tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân nhận thức được tác hại nguy hiểm của các loại chất thải Sự phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước, các kỹ thuật gia, các nhà sinh học, hóa học trong lĩnh vực chất thải đã đưa Cộng hòa liên bang Đức trở thành một trong những quốc gia đứng hàng đầu về công nghệ bảo vệ môi trường nói chung và lĩnh vực quản lý chất thải nói riêng [6]

Châu Á có mức tăng trưởng kinh tế và đô thị hoá nhanh trong vài thập kỷ qua Vấn đề chất thải rắn là một trong những thách thức môi trường mà các nước trong khu vực phải đối mặt Tỷ lệ phát sinh chất thải đô thị của các nước vào khoảng từ 0,2 đến 1,7 kg/người/ngày [5]

Tại một số thành phố lớn của Trung Quốc, lượng CTRSH phát sinh vào khoảng 1,12 đến 1,2 kg/người/ngày, nguyên nhân là do mức sống tăng dẫn tới sự gia tăng lượng phát sinh chất thải rắn, lượng chất thải rắn phát sinh trung bình của Trung Quốc vào năm 2030 được dự đoán sẽ vượt ngưỡng 1 kg/người/ngày Sự tăng tỷ lệ này chủ yếu là do dân số đô thị tăng nhanh từ 456 triệu người năm 2000 lên 883 triệu người vào năm 2030 Điều này làm cho tốc độ phát sinh chất thải rắn Trung Quốc sẽ tăng lên nhanh chóng [5]

Hiện nay, trong lĩnh vực quản lý CTRSH đã có nhiều cải tiến đáng kể Chẳng hạn, hầu hết các thành phố đang chuyển dần sang áp dụng biện pháp chôn lấp hợp vệ sinh Các biện pháp chôn lấp cải tiến và lợi ích ngày càng tăng phù hợp với nhu cầu quản lý chất thải cực kỳ cấp thiết của Trung Quốc Theo tính toán trong vòng 25 năm tới, các thành phố của Trung Quốc có thể sẽ cần thêm khoảng 1400 bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh mới có thể đáp ứng được nhu cầu xử lý lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh [5]

Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị tăng theo tỷ lệ thuận với mức tăng GDP tính theo đầu người Chất hữu cơ là thành phần chính trong chất thải rắn đô thị trong khu

Trang 13

vực và chủ yếu được chôn lấp do chi phí rẻ Các thành phần khác như giấy, thuỷ tinh, nhựa tổng hợp và kim loại hầu hết không được thu gom và tái chế

Theo Ngân hàng Thế giới, các khu vực đô thị của châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm 2025, con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày Tỷ lệ chất thải gia đình trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nước Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc, 78% ở Hồng Kông (kể cả chất thải thương mại), 48% ở Philipin và 37% ở Nhật Bản Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (1999), các nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải gia đình trong toàn bộ dòng chất thải rắn đô thị [5]

Theo nguyên tắc thì các nước có thu nhập cao có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị cao Tuy nhiên, các nghiên cứu gần đây ở các nước đang phát triển cho thấy, tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo các mức thu nhập khác nhau lại không theo nguyên tắc này Theo kết quả nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philipin theo các nhóm người có thu nhập khác nhau là: thu nhập cao 0,37- 0,55, thu nhập trung bình 0,37- 0,60 và thu nhập thấp 0,62- 0,90 kg/người/ngày Tương tự, các kết quả phân tích tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị theo GDP tính trên đầu người của các nước thuộc OECD, Hoa Kỳ và Ôxtrâylia được xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ phát sinh cao, nhiều nước thuộc Liên minh châu Âu được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát sinh trung bình và Thụy Điển, Nhật Bản được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát sinh thấp [10]

Có nhiều nguyên nhân để giải thích các trường hợp này: Thứ nhất là không thống kê được đầy đủ tổng lượng thải phát sinh do các hoạt động của khu vực tái chế không chính thức và do phương thức tự tiêu huỷ chất thải ở các nước đang phát triển, khu vực tái chế không chính thức ở các nước đang phát triển đã góp phần đáng kể giảm thiểu tổng lượng chất thải phát sinh và thu hồi tài nguyên thông qua các hoạt động tái chế Thứ hai là năng lực thu gom của các nước đang phát triển còn thấp Ví

dụ, năng lực thu gom chất thải rắn đô thị của Ấn Độ là 72,5%, Malaixia là 70%, Thái Lan là 70-80% và Philipin là 70% ở đô thị và 40% ở nông thôn [9]

Trường hợp của Nhật Bản là một ví dụ thành công về tăng trưởng kinh tế và duy trì tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị thấp so với nhiều nước có GDP cao Năm

2000, Nhật Bản bắt đầu áp dụng khái niệm mới về xây dựng một “Xã hội tuần hoàn

Trang 14

vật chất hợp lý” Từ những năm 1980, tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị của Nhật Bản

đã ổn định ở mức khoảng 1,1 kg/người/ngày [7]

Nhật Bản là quốc gia có diện tích nhỏ, do đó giải pháp xử lý CTR ở Nhật Bản không phải ở vấn đề kỹ thuật mà ở vấn đề quy đất, vì vậy phương pháp xử lý nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng qũy đất cho quá trình xử lý Hiện nay giải pháp thu hồi và

sử dụng phương pháp đốt là giải pháp được áp dụng ở Nhật Bản là cao nhất Mỗi năm Nhật Bản thải ra khoảng 55-60 triệu tấn CTRSH nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa tới bãi chôn lấp (khoảng 2,25 triệu tấn), còn phần lớn CTRSH được đưa đến các nhà máy để tái chế Nhật Bản áp dụng phương pháp thu hồi CTRSH cao nhất (38%), trong khi các nước khác chỉ sử dụng phương pháp đốt và xử lý vi sinh vật là chủ yếu [7] Tại Nhật Bản, khung pháp lý quốc gia hướng tới giảm thiểu chất thải nhằm xây dựng một xã hội tái chế Theo đó, Nhật Bản đã chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng nguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu theo mô hình 3R (giảm thiếu, tái sử dụng và tái chế) Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt, các hộ gia đình được yêu cầu phân chia chất thải rắn sinh hoạt thành 3 loại: CTR hữu cơ được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost CTRSH khó tái chế hoặc hiệu quả tái chế không cao nhưng cháy được

sẽ đưa đến nhà máy đốt CTRSH thu hồi năng lượng; CTRSH có thể tái chế thì được đưa vào các nhà máy tái chế

Các loại CTRSH này được yêu cầu đựng riêng trong những túi có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết CTRSH của cụm dân cư vào giờ quy định dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư Công ty vệ sinh thành phố sẽ thu gom, vận chuyển và xử lý Nếu gia đình nào không phân loại CTRSH, để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo lại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ bị công

ty vệ sinh gửi giấy báo đến các hộ gia đình vi phạm, yêu cầu nộp phạt vì thực hiện sai quy định về phân loại, lưu giữ CTRSH tại nguồn Với các loại CTR cồng kềnh như ti

vi, tủ lạnh, máy giặt thì quy định vào ngày 15 hàng tháng đem đặt trước cổng đợi công

ty vệ sinh tới vận chuyển đi xử lý, không được tùy tiện bỏ những loại chất thải ở hè phố Sau khi thu gom CTRSH vào nơi quy định, công ty vệ sinh đưa loại CTR cháy được vào lò đốt để tận dụng nguồn năng lượng để phát điện CTR không cháy được cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn lấp hợp vệ sinh Cách xử lý CTRSH như vậy vừa

Trang 15

tận dụng được CTR vừa chống được ô nhiễm môi trường Các loại túi đựng CTR là do các gia đình tự trang bị [7]

Là đất nước có diện tích chỉ khoảng hơn 500 km2 nhưng có nền kinh tế rất phát triển Lượng CTR phát sinh hàng năm rất lớn nhưng lại không đủ diện tích đất để chôn lấp như các quốc gia khác nên Singapore rất quan tâm đến các biện pháp quản lý nhằm giảm thiểu lượng phát thải, kết hợp xử lý CTR bằng phương pháp đốt và chôn lấp hợp

vệ sinh Bộ phận quản lý chất thải có chức năng lập kế hoạch, phát triển và quản lý chất thải phát sinh Cấp giấy phép cho lực lượng thu gom chất thải, ban hành những quy định trong việc thu gom chất thải hộ gia đình và chất thải thương mại trong 9 khu

và xử lý những hành vi vứt rác không đúng quy định Xúc tiến thực hiện 3R (tái chế, tái sử dụng và làm giảm sự phát sinh chất thải) để bảo tồn tài nguyên [9] Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom CTRSH rất hiệu quả, việc thu gom CTRSH được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà thầu Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công việc thu gom CTRSH trên một địa bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm, Singapore có 9 khu vực thu gom CTRSH, CTR sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn CTRSH tái chế được thu gom và xử lý theo chương trình tái chế Quốc gia Trong số các nhà thầu thu gom CTRSH hiện nay tại Singapore có bốn nhà thầu thuộc khu vực công cộng, còn lại thuộc khu vực tư nhân Các nhà thầu tư nhân đã

có những đóng góp quan trọng trong việc thu gom chất thải, khoảng 50% lượng CTRSH phát sinh được các đơn vị tư nhân thu gom, chủ yếu là CTR của các cơ sở thương mại, công nghiệp và xây dựng Chất thải của khu vực này đều thuộc loại vô cơ nên không cần thu gom hàng ngày [9] Cả nước Singapore có 3 nhà máy đốt CTR Những thành phần CTR không cháy và không tái chế được sẽ được đưa đi chôn lấp hợp vệ sinh tại bãi chôn lấp Semakau, bãi chôn lấp này được Chính phủ Singapore đầu

tư xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 1999 với tổng diện tích 350 ha, sức chứa 63 triệu m3 CTR, kinh phí đầu tư xây dựng lên đến 370 triệu USD, mỗi ngày nơi đây tiếp nhận hơn 2000 tấn CTR, dự kiến đủ để xử lý CTR cho Singapore đến năm 2040 Bãi chôn lấp này được bao quanh bởi con đập xây bằng đá dài 7 km, nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm ra xung quanh, là bãi chôn lấp nhân tạo đầu tiên trên thế giới được xây dựng ở ngoài khơi và cũng đồng thời là khu du lịch sinh thái rất hấp dẫn của Singapore [4]

Trang 16

1.1.2 Bài học kinh nghiệm

Từ việc nghiên cứu tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt các nước trên thế giới ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Công tác quản lý CTR sinh hoạt đô thị ở các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực có tính xã hội hóa rất cao Công tác này thường được thực hiện bởi các tập đoàn, doanh nghiệp tư nhân Mặc dù vậy, hoạt động này có tính xã hội, công ích cao nên phần lớn ở các nước vẫn có sự quan tâm đầu tư của Nhà nước từ khâu quy định các chính sách vĩ mô đến các vấn đề quy hoạch tổng thể hoặc lộ trình phát triển các mô hình quản lý CTR sinh hoạt cho các đô thị

Muốn quản lý tốt chất thải rắn cần phân loại, thu gom, vận chuyển đến nơi xử

lý Xu thế chung công tác quản lý CTR sinh hoạt của các nước là: giảm dần tỷ lệ chôn lấp, từng bước đi đến việc cấm chôn lấp chất thải; tăng cường việc giảm thiểu chất thải tại nguồn, phát triển công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải hoặc kết hợp việc thiêu đốt chất thải khai thác năng lượng Xu thế này đã và đang trở thành mục tiêu phấn đấu của các quốc gia trên thế giới

Việc phân loại chất thải tại nguồn có ý nghĩa quyết định và góp phần to lớn trong việc phát triển công nghệ tái chế, tái sử dụng chất thải, hạn chế chôn lấp, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm tài nguyên Vấn đề tái chế, tái sử dụng CTR sinh hoạt phải được nhận thức sâu rộng từ các cấp lãnh đạo tới từng người dân Ý thức cộng động có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý CTR sinh hoạt nói chung và trong công tác phân loại chất thải tại nguồn nói riêng

Việc thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng CTR sinh hoạt ở mỗi một đô thị không phải chỉ do một Công ty nào đó phụ trách hoặc chịu trách nhiệm mà có thể do nhiều công ty khác nhau thực hiện Có như vậy mới tạo sức cạnh tranh và tìm ra được những công ty hợp lý nhất, tốt nhất

Đối với bất cứ một quốc gia nào, việc lựa chọn vị trí cho khu xử lý chất thải cũng gặp nhiều khó khăn, rào cản từ cộng đồng dân cư Song, các dự án xử lý chất thải vẫn thành công, thậm chí nằm ngay trung tâm các đô thị là nhờ một phần không nhỏ trong khâu đảm bảo không ô nhiễm môi trường xung quanh

Một mô hình ở các nước phát triển này áp dụng là các nhà máy sản xuất phân vi sinh được đầu tư hỗ trợ của Nhà nước, các loại phân sản xuất ra ngoài mục đích sử

Trang 17

dụng cho nông nghiệp, lâm nghiệp còn hỗ trợ cho các địa phương phục vụ mục đích cải tạo đất, những nơi đất khô cằn, bạc màu

Để có được công tác quản lý chất thải một cách hiệu quả, từng bước ở các nước

đã ban hành các luật và cơ chế chính sách đi kèm, như luật cấm chôn lấp chất thải, hoặc đốt chất thải… Đây chính là những bài học quý giá có thể áp dụng phù hợp trong điều kiện nước ta hiện nay

1.2 Hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam

1.2.1 Lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh

Theo các số liệu thống kê thì tổng lượng CTRSH tại các đô thị ở nước ta năm 2011

là 32.000 tấn/ngày và tại các khu vực nông thôn là 31.000 tấn/ngày, lần lượt chiếm 37,45%

và 36,28% tổng lượng CTR của cả nước Như vậy có thể thấy CTRSH chiếm tỷ lệ chủ yếu trong tổng lượng CTR phát sinh hàng năm của cả nước với một khối lượng rất lớn Theo dự báo của các chuyên gia thì lượng CTRSH của nước ta trong những năm tới sẽ tiếp tục tăng nên do sự gia tăng dân số, do đời sống người dân được nâng cao và do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ Tuy nhiên, tỷ lệ CTRSH sẽ có xu hướng giảm do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội ở nước ta diễn ra nhanh Điều này khiến cho các loại CTR ở các khu vực khác như: khu công nghiệp, làng nghề tăng lên đáng kể [1]

Về tốc độ phát sinh CTRSH bình quân trên người/ngày ở nước ta cũng có xu hướng tăng nên trong những năm qua Năm 2011, tốc độ phát sinh CTRSH ở khu vực

đô thị là 1,45kg/người/ngày và 0,4 kg/người/ngày ở khu vực nông thôn Xu hướng này được dự đoán sẽ tiếp tục kéo dài trong những năm tới Theo các kết quả nghiên cứu về CTR ở các đô thị cho thấy tỷ lệ CTRSH đô thị có xu hướng tăng đều khoảng 10 – 16% mỗi năm [1]

1.2.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt

Thành phần CTR sinh hoạt rất đa dạng đặc trưng cho từng đô thị, mức độ văn minh, tốc độ phát triển của xã hội Việc phân tích thành phần CTR sinh hoạt có vai trò quan trọng

trong việc quản lý, phân loại, thu gom và lựa chọn công nghệ xử lý

Thành phần cơ học của CTRSH bao gồm hai bộ phận chính: chất hữu cơ và chất vô

cơ Thông thường thành phần chất hữu cơ khá cao dao động từ 55 - 65% Các thành phần vô cơ chỉ chiếm khoảng 12 - 15%, phần còn lại là các cấu tử khác Tỷ lệ vô cơ và hữu cơ của CTR sinh hoạt ở Việt Nam không phải là tỷ lệ bất biến mà nó phụ thuộc

Trang 18

vào nhiều yếu tố như: thời gian trong năm, mức sống của người dân, phong tục tập quán và văn hóa của địa phương Bảng 1.3 chỉ ra thành phần cơ bản của CTRSH tại một số thành phố lớn ở nước ta

Các thành phần hữu cơ như: lá cây, vỏ hoa quả, xác động vật trong CTRSH của Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ lớn khoảng 50 – 65%, tỷ lệ cao nhất là Đà Nẵng và Huế lần lượt là 68,47 và 77,1 %, trong khi đó các thành phần vô cơ như: thủy tinh, kim loại, giẻ rách, nhựa, túi nilon chỉ chiếm một tỷ

Trang 19

Bảng 1.4 Thành phần của CTR sinh hoạt ở Hà Nội [2]

1.2.3 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

Hiện nay công tác thu gom và vận chuyển CTRSH ở nước ta còn nhiều bất cập

và chưa đáp ứng được yêu cầu Trong khi tốc độ phát sinh CTRSH liên tục tăng lên thì

tỷ lệ thu gom trung bình lại không được tăng lên tương ứng khiến cho lượng CTRSH không được thu gom, xử lý ngày càng nhiều

Trong những năm qua, mặc dù công tác thu gom, vận chuyển CTRSH đã được các cấp chính quyền địa phương quan tâm nhưng vẫn còn rất nhiều hạn chế Công tác thu gom và vận chuyển còn chưa đáp ứng được cả về nhân lực lẫn trang thiết bị, mạng lưới thu gom chất thải còn mỏng và yếu không đáp ứng được các nhu cầu thực tiễn Bên cạnh đó, ý thức của người dân trong giữ gìn vệ sinh môi trường chưa cao dẫn đến tình trạng đổ chất thải bừa bãi diễn ra phổ biến ở cả khu vực nông thôn lẫn thành thị

Trang 20

Công tác phân loại chất thải hầu như chưa được tiến hành Chỉ có một số các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng các mô hình phân loại chất thải tại nguồn nhưng nhìn chung kết quả còn hạn chế và không hiệu quả; tại các đô thị nhỏ và khu vực nông thôn hầu hết không được tiến hành một cách đồng bộ, khoa học

mà chủ yếu là tự phát trong các hộ gia đình; các loại chất thải rắn sinh hoạt được phân loại là giấy, bìa caton, nhựa, kim loại (các vỏ lon bia, nước ngọt, hộp đựng thực phẩm)… tích lại sau đó bán cho những cho những người đi thu mua

Về tỉ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt, tỷ lệ này mặc dù có xu hướng tăng lên nhưng vẫn còn ở mức thấp Theo số liệu thống kê, tỷ lệ thu gom CTRSH bình quân ở các

đô thị nước ta khá cao đạt khoảng từ 84-85% năm 2011 Như vậy, còn khoảng 15-16% CTR sinh hoạt đô thị chưa được thu gom, vứt bừa bãi hoặc đốt lộ thiên gây ô nhiễm môi trường, tỷ lệ thu gom này không đồng nhất giữa các đô thị Các đô thị loại đặc biệt, đô thị loại 1, tỷ lệ thu gom đạt mức cao hơn, như Hà Nội đạt khoảng 98% ở 11 quận nội thành; TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng đạt 100%; Huế đạt 95% Đa

số các đô thị loại 2 và 3 đều đạt tỷ lệ thu gom ở khu vực nội thành đạt trên 80% Ở các

đô thị loại 4 và 5, do nguồn lực hạn chế, phần lớn do các hợp tác xã hoặc tư nhân thực hiện, thiếu vốn đầu tư trang thiết bị, nên tỷ lệ thu gom không cao [1]

Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở khu vực nông thôn lại thấp hơn thành thị khá nhiều Cũng theo các số liệu thống kê, thì hiện nay có khoảng 60% số thôn, xã tổ chức dọn vệ sinh định kỳ, trên 40% thôn, xóm có thành lập các tổ thu gom chất thải Tuy nhiên, con số này vẫn còn rất hạn chế và chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tế [1]

Đã có 85,7% số thị trấn và 28,5% số xã đã có tổ thu gom chất thải, tuy nhiên hoạt động của các tổ thu gom này không thường xuyên Số lần thu gom ở cấp xã chỉ là 0,5 – 2 lần/tuần, ở thị trấn là từ 2 – 6 lần/tuần do đó lượng chất thải thu gom được còn thấp, tình trạng ứ đọng CTRSH trong các khu dân cư vẫn còn phổ biến [1]

1.2.4 Hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam

Hiện nay có nhiều biện pháp và công nghệ xử lý CTR khác nhau có thể áp dụng

để tiến hành xử lý CTRSH Để định hướng và khuyến khích các hình thức xử lý CTR nói chung và CTRSH nói riêng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP

về quản lý chất thải và phế liệu

Công tác xử lý CTRSH ở nước ta hiện nay còn gặp nhiều vấn đề bức xúc Việc lựa chọn công nghệ xử lý, quy hoạch các bãi chôn lấp, khu trung chuyển, thu gom còn

Trang 21

thiếu cơ sở khoa học và thực tế, do đó hiệu quả xử lý thấp, không nhận được sự chấp thuận cao của người dân địa phương Mặt khác, các bãi chôn lấp CTRSH ở nước ta còn manh mún, nhỏ lẻ phân tán theo các đơn vị hành chính nên công tác quản lý chưa hiệu quả, chi phí đầu tư cao, hiệu quả sử dụng các bãi chôn lấp thấp, gây lãng phí đất

và ảnh hưởng nhiều tới môi trường xung quanh Theo số liệu thống kê thì CTRSH được chôn lấp hiện nay chiếm khoảng 76 - 82% lượng CTRSH thu gom được Trong

đó, ước tính khoảng trên 50% lượng chất thải rắn sinh hoạt được chôn lấp không hợp

vệ sinh

Ở nước ta, công tác xử lý CTRSH mới chỉ được quan tâm nhiều tại các khu đô thị lớn, ở các vùng nông thôn vấn đề này vẫn chưa được quan tâm đúng mức Công nghệ xử lý CTRSH phổ biến nhất ở nước ta là chôn lấp Hiện trung bình mỗi một đô thị ở nước ta có 1 bãi chôn lấp CTRSH, chỉ riêng Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh

có từ 4 – 5 bãi chôn lấp Tuy nhiên, tỷ lệ các bãi chôn lấp đúng kỹ thuật và hợp vệ sinh còn rất thấp Theo Tổng cục Môi trường, hiện cả nước ta có khoảng 98 bãi chôn lấp chất thải tập trung đang vận hành nhưng chỉ có 16 bãi chôn lấp chất thải được coi là chôn lấp hợp vệ sinh (tập trung tại các thành phố lớn) số còn lại phần lớn được chôn lấp rất sơ sài [8]

Việc xử lý CTRSH tại các khu vực nông thôn, tuy lượng CTRSH phát sinh không nhiều nhưng do chưa có quy hoạch các bãi chôn lấp tập trung nên hiện tượng đổ CTRSH bừa bãi ra ngoài môi trường khá phổ biến gây ô nhiễm cục bộ tại nhiều khu vực Tại nhiều thôn, xã tuy đã có nơi xử lý nhưng thực chất đó vẫn chỉ là khu tập kết CTRSH, chưa có biện pháp xử lý, lại thiếu các kiến thức khoa học nên vị trí tập kết CTRSH không hợp lý, tác động xấu đến môi trường và gặp phải phản đối của người dân Bên cạnh đó, ý thức vệ sinh môi trường thấp, vốn đầu tư thiếu thốn, cơ sở hạ tầng yếu kém là những yếu tố gây khó khăn lớn cho công tác xử lý CTRSH tại các khu vực dân cư nông thôn Biện pháp xử lý CTRSH phổ biến nhất ở các khu dân cư nông thôn

là sử dụng bãi rác tạm lộ thiên với 42,86% ở các thị trấn và 30,43% ở các xã, tiếp đó là biện pháp đổ bừa bãi ven đường với tỷ lệ tương ứng là 36,43% ở các thị trấn và 32,86 đối với các xã, hình thức xử lý CTRSH trong gia đình chiếm 23,33% (tại các trị trấn)

và 30,43% ở các xã, các hình thức chôn lấp hợp vệ sinh, ủ phân compost và tái chế CTR hữu cơ hoàn toàn không được áp dụng (Bảng 1.5) [3]

Trang 22

Hình thức xử lý CTRSH nói riêng và CTR nói chung ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập Mặc dù đã có nhiều nỗ lực song vấn đề quản lý CTRSH mới chỉ được chú ý nhiều tại khu vực đô thị, tại các khu vực nông thôn mức độ quan tâm chưa thỏa đáng Biện pháp xử lý CTRSH chủ yếu là chôn lấp tuy nhiên số lượng bãi chôn lấp hợp vệ sinh là rất ít và tập trung chủ yếu tại các khu đô thị lớn Việc thiếu kinh phí, kỹ thuật,

cở sở hạ tầng yếu kém, ý thức vệ sinh môi trường của người dân chưa cao, khiến cho việc quản lý và xử lý CTRSH ở nước ta thiếu hiệu quả

1.3 Phương pháp nghiên cứu

1.3.1.Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp

Thu thập, phân tích và xử lý thông tin, số liệu về hiện trạng phát sinh thu gom CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh Thu thập các tài liệu như Báo cáo của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đông Anh, UBND huyện và các số liệu về kinh tế

xã hội của huyện như: dân số, số hộ dân, lượng chất thải phát sinh Ngoài ra còn thu thập các tài liệu, báo cáo từ các sở, ban, ngành: Sở Tài nguyên và Môi trường, sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội

1.3.2 Phương pháp điều tra khảo sát

Là phương pháp thực địa tại khu vực nghiên cứu: lấy thông tin trực tiếp từ người dân, cán bộ phụ trách tại địa phương về hiện trạng công tác vệ sinh môi trường, công tác quản lý môi trường địa phương

1.3.3 Phương pháp chuyên gia

Tham khảo ý kiến chuyên gia trong các lĩnh vực Tài nguyên môi trường, các cán bộ quản lý nhà nước về môi trường để đánh giá các tác động cũng như đưa ra những biện pháp giảm thiêu, phòng ngừa và những giải pháp về quản lý thích hợp với điều kiện đian phương

Trang 23

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐÔNG ANH

2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Đông Anh

Huyện Đông Anh là một huyện ngoại thành phía Bắc cách trung tâm thành phố

Hà Nội 15km về phía Bắc có tổng diện tích tự nhiên là 182,3 km² (18230 ha), bao gồm

1 thị trấn và 23 xã, phía Đông giáp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, phía Đông Bắc giáp thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh Phía Nam giáp sông Hồng, quận Tây Hồ và quận Bắc Từ Liêm Phía Đông Nam giáp Sông Đuống, quận Long Biên và huyện Gia Lâm Phía Tây giáp huyện Mê Linh, Phía Bắc giáp huyện Sóc Sơn Sông Hồng làm ranh giới tự nhiên giữa huyện Đông Anh với các huyện Lý Nhân và Duy Tiên của tỉnh Hà

Nam bởi bờ Nam sông Hồng, huyện Đông Anh cách trung tâm Hà Nội khoảng 10 km

Đất đai của huyện Đông Anh chia làm hai phần chính: vùng đất trong đê và vùng đất ngoài đê Vùng ngoài đê có diện tích là 1063ha chiếm 5,8% diện tích tự nhiên, đặc điểm chung của loại đất này là có tầng đất dày, thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng mùn và chất dinh dưỡng tương đối cao, kết cấu tơi, xốp, giữ nước Vùng đất trong đê

có sự ổn định việc sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, có diện tích 10866 ha chiếm 84,98% diện tích tự nhiên Huyện Đông Anh có nhiều lợi thế trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội do có thể dễ dàng giao lưu văn hóa và trao đổi hàng hóa với các vùng huyện quận khác trong toàn thành phố và với các tỉnh phía Bắc [11]

Địa hình của huyện Đông Anh nghiêng dần theo hướng Tây Bắc – Đông Nam Phía Tây Bắc thường có địa hình vàn và vàn cao, phía Đông Nam lại chủ yếu

có địa hình vàn và vàn thấp Địa hình huyện Đông Anh không tiếp giáp Biển thuận lợi cho việc phát triển đô thị, nông, công nghiệp Do đặc điểm địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam nên tất cả các sông chảy qua, tiếp giáp huyện cũng chảy theo hướng này Đất đai của huyện chủ yếu được bồi đắp bởi sông Hồng, sông Đuống

và sông Cà Lồ Sông Hồng tiếp giáp với huyện Đông Anh ở phía Nam và tạo cho huyện Đông Anh một hệ thống dày đặc các ao, hồ, sông ngòi nhỏ như: sông Đuống, sông Thiếp, Đầm Vân Trì…Với một hệ thống sông, hồ, kênh mương tương đối dày đặc giúp cho huyện Đông Anh có khả năng bảo đảm tốt cho nhu cầu nước sinh hoạt

Trang 24

cũng như nước tưới tiêu cho nông nghiệp và nhu cầu nước của các ngành kinh tế khác [11]

Nằm trong vùng trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng nên khí hậu của huyện Đông Anh mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu trong năm được chia làm hai mùa rõ rệt Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều (mùa mưa) kéo dài từ tháng 3 đến tháng 10 Mùa đông lạnh, hanh, khô và ít mưa (mùa khô) kéo dài từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện Đông Anh là 23,2oC Vào mùa hè nhiệt độ dao động từ 30oC – 32oC, tháng nóng nhất là vào tháng 6

và tháng 7 (36oC – 38oC) Vào mùa đông thì nhiệt độ lại giảm đi đáng kể, dao động từ

17oC – 20oC, tháng có nhiệt độ thấp nhất là vào tháng 1 và tháng 2 (8oC – 10oC) Tổng lượng mưa trung bình của huyện Đông Anh là từ 1.500 – 1.600 mm/năm Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm, vào mùa mưa lượng mưa thường rất lớn và mưa tập trung vào các tháng 7, 8 và 9 (chiếm 60% tổng lượng mưa cả năm) Vào mùa khô lượng mưa giảm đi nhiều thậm chí có tháng hầu như không có mưa Hướng gió chính là gió Đông Bắc thổi vào mùa đông và gió Đông Nam thổi vào mùa

hè Ngoài ra vào các tháng 5, 6 và 7 trong năm còn xuất hiện các cơn gió khô và nóng

Độ ẩm không khí của huyện Đông Anh là tương đối cao dao động từ 79% (tháng 3) đến 92% Độ ẩm trung bình năm là khoảng 85% [12]

Nhìn chung, huyện Đông Anh có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp Thời tiết mưa nắng thuận hóa, ít biến động và ít thiên tai là những thuận lợi lớn để huyện Đông Anh phát triển kinh tế, xã hội một cách ổn định, bền vững

Tài nguyên nước của huyện Đông Anh bao gồm nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm với trữ lượng khá dồi dào và phân bố đều trên địa bàn huyện Đông Anh Sông lớn nhất trên địa bàn thành phố là sông Hồng, nguồn cung cấp nước cho nhà máy nước sạch huyện Đông Anh, ngoài ra huyện còn có một hệ thống dày đặc các ao, hồ, sông ngòi nhỏ như: sông Đuống, sông Thiếp, sông Cà Lồ, Đầm Vân Trì… phân bố khá đồng đều trên địa bàn huyện Nguồn nước ngầm của huyện tương đối dồi dào phân

bố ở cả tầng nước nông và tầng nước sâu Chất lượng nước tương đối tốt, bảo đảm cung cấp nguồn nước sinh hoạt cho người dân các xã chưa có mạng lưới cung cấp nước sạch từ nhà máy nước huyện Đông Anh [11]

Trang 25

Trước đây hầu hết người dân huyện Đông Anh tham gia trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp Tuy nhiên, trong những năm gần đây dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa của đất nước cơ cấu kinh tế của huyện Đông Anh

đã có sự chuyển dịch rõ rệt Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng ngành Nông nghiệp và tăng tỷ trọng của các lĩnh vực Công nghiệp – Xây dựng, Thương mại – Dịch vụ (Bảng 2.1)

Theo quy hoạch chung và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, thời gian tới Đông Anh sẽ là phần đô thị trung tâm của Thủ đô Hà Nội, với các trục đường lớn, quan trọng đi qua huyện như đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, cầu Đông Trù và đường Võ Văn Kiệt, cầu Nhật Tân - đường Võ Nguyên Giáp… Các quy hoạch phân khu đô thị, quy hoạch kinh tế - xã hội huyện đến năm 2020 định hướng 2030, quy hoạch chi tiết dọc hai bên đường Võ Nguyên Giáp sẽ tạo lợi thế cho Đông Anh thu hút đầu tư Sự ổn định về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội cộng với đội ngũ cán bộ được đào tạo bài bản là tiền đề quan trọng để Huyện ủy Đông Anh tiếp tục thực hiện những mục tiêu trong nhiệm kỳ mới

Trong giai đoạn 2010 – 2015 giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện tăng 1,34 lần so với năm 2010 Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm đạt 8,3% Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trung bình hàng năm đạt 1.482 tỷ đồng Đông Anh là huyện hoàn thành sớm nhất quy hoạch phân khu đô thị; đã hoàn thành giải phóng mặt bằng 400 ha, đáp ứng đúng tiến độ của các dự án Tổng giá trị sản xuất của huyện Đông Anh tăng từ 6.938,6 tỷ đồng lên 8.252 (tăng 1.313,4 tỷ đồng trong vòng 3 năm) Giá trị sản xuất của tất cả các lĩnh vực đều liên tục tăng nhanh Điều này cho thấy nền kinh tế của huyện Đông Anh trong những năm qua phát triển khá nhanh và tương đối ổn định [11]

Trang 26

Bảng 2.1 Cơ cấu kinh tế huyện Đông Anh qua các năm 2013– 2015 [11]

Nông nghiệp

Thủy sản

Giá trị (tỷ đồng) - 608,32 586,2 -22,12 -7,37

Tỷ lệ (%) 22,66 8,77 7,10 -1,663 -0,55

Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2015 dân số toàn huyện có 375.000 người, trong đó phần đông sống tại khu vực nông thôn (91,2%) tỷ lệ dân cư sống ở khu vực thị trấn (8,8%)

Giá trị sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2016 (giá so sánh năm 2015) đạt

477 tỷ đồng Trong đó: Giá trị trồng trọt đạt 255,5 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 225,17 tỷ đồng, dịch vụ nông nghiệp và các hoạt động khác đạt 79,6 tỷ đồng, thủy sản đạt 26 tỷ đồng [13]

Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng 11 tháng đạt 3.396,45 tỷ đồng; ước cả năm

đạt 4.077,8 tỷ đồng, tăng 6,9 % so với năm 2012 và đạt 93,7% kế hoạch (trong đó giá trị sản xuất công nghiệp đạt 2.307 tỷ đồng, tăng 8,1% so với năm 2012; giá trị sản xuất ngành xây dựng đạt 1.507,8 tỷ đồng, tăng 5 % so với năm 2012) [12]

Kinh doanh thương mại - dịch vụ tiếp tục phát triển và dần đi vào ổn định.Năm

2013, thu hút 05 dự án thuộc lĩnh vực thương mại - du lịch, dịch vụ đầu tư vào địa bàn

thành phố, trị giá trên 150 tỷ đồng, cấp 425 Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (trong đó: 375 cấp mới , cấp đổi 50 giấy phép) [12]

Trang 27

2.2 Kết quả điều tra, khảo sát tình hình phát sinh CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh

2.2.1 Lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Đông Anh

Để xác định khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Đông Anh, đã tiến hành điều tra tại 1 thị trấn và 6 xã với tổng số hộ điều tra là 70 hộ Lượng CTRSH phát sinh bình quân trên đầu người của khu vực nghiên cứu dao động từ 0,55 – 0,76 kg/người/ngày Theo đó khối lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt thấp nhất là tại xã Nguyên Khê với 0,55 kg/người/ngày, cao nhất là thị trấn Đông Anh với 0,76 kg/người/ngày (Bảng 2.2)

Bảng 2.2 Khối lượng CTRSH phát sinh bình quân/người/ngày

Chỉ tiêu

TT Đông Anh

Kim Chung

Nam Hồng

Nguyên Khê

Lớn Nhất

Nhỏ Nhất TB

TTổng lượng

Trang 28

cho thấy, tiểu vùng 3 có khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh cao nhất là 0,76 kg/người/ngày; tiếp theo là tiểu vùng 2 với khối lượng 0,58 kg/người/ngày và thấp nhất là tại tiểu vùng 1 với 0,55 kg/người/ngày Sự chênh lệch về kinh tế và mức sống của người dân của các khu vực là nguyên nhân chính dẫn đến sự khác biệt về khối lượng CTRSH phát sinh (Hình 2.1)

Hình 2.1 Lƣợng phát sinh CTR sinh hoạt theo khu vực nghiên cứu

Trong số 7 khu vực nghiên cứu chỉ có thị trấn Đông Anh là khu vực đô thị, còn lại 6 khu vực đều thuộc khu dân cư nông thôn Theo tính toán từ các kết quả điều tra khối lượng phát sinh CTRSH tại Thị trấn Đông Anh là 0,76 kg/người/ngày cao hơn hẳn so với giá trị trung bình của khu vực nông thôn (các xã còn lại) 0,57 kg/người/ngày Kết quả điều tra tương đối phù hợp với báo cáo của Công ty TNHH MTV Môi trường và CTĐT Đông Anh (Bảng 2.3) [4]

Bảng 2.3 Lƣợng phát sinh CTRSH tại khu vực đô thị và nông thôn

huyện Đông Anh [4]

1 Phát sinh CTRSH trung bình tại khu vực

2 Phát sinh CTRSH trung bình tại khu vực

Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, lượng phát sinh CTRSH tại khu vực đô thị là 0,76 kg/người/ngày, khu vực nông thôn là 0,57 kg/người/ngày, so với giá trị ước tính của

Trang 29

Công ty TNHH một thành viên Môi trường và công trình đô thị Đông Anh vào thời điểm 12/2015 là 0,76kg/người/ngày đối với khu vực đô thị và 0,55kg/người/ngày đối với khu vực nông thôn thì kết quả nghiên cứu cho giá trị cao hơn ở cả 2 khu vực, tuy nhiên sự chênh lệch này là khá nhỏ, cụ thể là 0,06 kg/người/ngày đối với khu vực đô thị và 0,02 kg/người/ngày đối với khu vực nông thôn Từ đó cho thấy kết quả nghiên cứu của đề tài

có thể tin tưởng được

Bảng 2.4 Lượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân của cả nước [2]

Điều này cũng tương đối dễ hiểu khi thị trấn Đông Anh chỉ được xếp vào đô thị loại III, người dân chủ yếu là cán bộ công chức, viên chức và tiểu thương, nên khối lượng phát sinh CTRSH chắc chắn thấp hơn so với các đô thị lớn trong cả nước Ngược lại với khu vực đô thị, khối lượng phát sinh CTRSH tại khu vực nông thôn thuộc thành phố (0,57 kg/người/ngày) lại cao hơn so với khối lượng bình quân của cả nước (0,4kg/người/ngày) là 1,42 lần Điều này có thể giải thích bởi khu vực nông thôn của huyện Đông Anh bao gồm toàn bộ là các xã đồng bằng có điều kiện kinh tế phát triển khá cao hơn hẳn so với các khu dân cư nông thôn nghèo ở các vùng sâu, vùng xa trên cả nước (Hình 2.2)

Trang 30

Hình 2.2 So sánh khối lƣợng phát sinh CTR sinh hoạt ở huyện Đông Anh với

bình quân toàn quốc

Dựa vào tổng lượng phát sinh CTRSH và dân số của từng địa phương, tiến hành xác định khối lượng CTRSH phát sinh trên địa bàn nghiên cứu (Bảng 2.5)

Bảng 2.5 Khối lƣợng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn nghiên cứu

0.66

0.57 0.6

0.53 1.45

Kết quả của đề tài

Số liệu của Công ty TNHH MTV MT&CTĐT Giá trị trung bình toàn quốc

Trang 31

Để xác định khối lượng CTRSH phát sinh cho toàn huyện Đông Anh, luận văn

sử dụng khối lượng CTRSH phát sinh trên đầu người ở khu vực đô thị và khu vực nông thôn trong nghiên cứu kết hợp với tổng dân số đô thị và nông thôn của huyện ở thời điểm hiện tại (Bảng 2.6)

Bảng 2.6 Khối lƣợng CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện

Khu vực Khối lƣợngphát sinh

(kg/người/ngày)

Dân số

(người)

Tổng lƣợng CTRSH

2.2.2 Thành phần CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện Đông Anh

Song song với việc xác định lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh của 70 hộ dân trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phần CTRSH cũng được tiến hành xác định với cách thức: Mỗi hộ gia đình khi đến gửi phiếu điều tra đều phát 10 túi nilon loại đựng 5kg và 2kg, trên mỗi túi đều có ghi nhãn mác: chất hữu cơ (rau, củ, quả, thực phẩm, đồ ăn… thải bỏ), giấy, bìa catton, nilon-nhựa, kim loại-vỏ đồ hộp, cao su-da, giẻ-sợi-gỗ, thủy tinh chai lọ, đá-sỏi-sành sứ-gạch, pin-acquy-thuốc BVTV, CTR khác Hướng dẫn các hộ gia đình tự phân loại CTRSH tại nguồn Ngày hôm sau tới nhận lại phiếu điều tra đồng thời tiến hành cân các loại CTR đã được các hộ gia đình phân loại (Bảng 2.7)

Trang 32

Bảng 2.7 Thành phần CTRSH phát sinh trên địa bàn huyện Đông Anh

Số hộ Max Min TB Số hộ Max Min TB

Chất hữu cơ 30 78,5 52,5 70,12 40 80,3 48,6 75,24 Giấy, bìa catton 30 1,4 0,5 1,05 40 1,6 0,4 1,07 Nilon, nhựa 30 8,6 5,0 7,20 40 6,5 1,3 3,86 Kim loại, vỏ đồ hộp 30 4,6 1,2 3,11 40 2,8 0,4 2,03

Giẻ, sợi, gỗ 30 2,0 0,5 1,10 40 1,7 0,4 0,98 Thủy tinh, chai lọ 30 7,8 2,2 4,82 40 8,5 3,2 5,21

Đá, sỏi, sành sứ, gạch 30 12,8 3,4 7,95 40 9,8 4,4 6,97 Pin, acquy, thuốc BVTV 30 1,2 0,3 1,02 40 1,6 0,3 1,13

Căn cứ vào số liệu điều tra có thể thấy thành phần CTRSH của huyện Đông Anh chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy với tỷ lệ là 70,12% ở đô thị và 75,24% ở nông thôn Tỷ lệ CTR vô cơ nhỏ khoảng 29% ở khu đô thị và 24% ở khu vực nông thôn Tỷ lệ chất thải nguy hại rất thấp chỉ khoảng 1% bao gồm chủ yếu là: pin, vỏ acquy các loại vỏ thuốc y tế, thuốc chăm sóc và bảo vệ thực vật (Bao gồm cả vỏ chai, bao bì và thuốc hỏng)

70.12 1.05

Giẻ, sợi, gỗ (%) Thủy tinh, chai lọ (%)

Đá, sỏi sành sứ, gạch (%) Pin, acquy, thuốc BVTV (%) Khác (%)

Trang 33

Hình 2.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh trên địa bàn huyện

Đông Anh

Hình 2.4 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh trên địa bàn

huyện Đông Anh

Nhìn chung, tỷ lệ CTR vô cơ ở khu vực đô thị cao hơn so với khu vực nông thôn Ngược lại, thành phần hữu cơ ở khu vực nông thôn lại cao hơn so với khu vực

đô thị Tuy nhiên, sự chênh lệch này là không nhiều do sự chênh lệch mức sống và điều kiện kinh tế của các phường với các xã khác trong thành phố cũng không quá lớn

Qua nghiên cứu về tình hình phát sinh CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh có thể rút ra một số nhận xét như sau:

i/ Khối lượng phát sinh CTRSH của huyện dao động từ 0,57 – 0,76 kg/người/ngày Khối lượng này ở khu vực đô thị là 0,76 kg/người/ngày và ở khu vực nông thôn là 0,57 kg/người/ngày So với khối lượng phát sinh CTRSH bình quân của

cả nước thì huyện Đông Anh thấp hơn ở khu vực đô thị nhưng lại cao hơn ở khu vực nông thôn

ii/ Khối lượng CTRSH phát sinh trong một ngày tại 7 địa phương nghiên cứu là khoảng 66,76 tấn/ngày Khối lượng CTRSH ước tính cho toàn thành phố là 217,9 tấn/ngày

iii/ CTRSH trên địa bàn huyện có thành phần chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy dao động từ 70 – 75%, tỷ lệ chất vô cơ là từ 24 – 29 %, tỷ lệ chất thải nguy hại thấp chỉ khoảng 1%

1.13 1.3

Chất hữu cơ (%) Giấy, bìa catton (%) Nilon, nhựa (%) Kim loại, vỏ đồ hộp (%) Cao su, da (%)

Giẻ, sợi, gỗ (%) Thủy tinh, chai lọ (%)

Đá, sỏi sành sứ, gạch (%) Pin, acquy, thuốc BVTV (%) Khác (%)

Trang 34

2.3 Hiện trạng quản lý CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

2.3.1 Quy trình thu gom, vận chuyển

Hiện nay, quy trình thu gom chất thải rắn sinh hoạt của thành phố được tiến hành bằng hai hình thức (Hình 2.2)

Hình thức thứ nhất: Tổ thu gom CTR sinh hoạt sẽ tiến hành thu gom CTR

sinh hoạt tại các hộ gia đình, sau đó vận chuyển thẳng tới bãi rác tập trung của địa phương để đổ và xử lý chôn lấp Hình thức này được áp dụng tại các xã chưa có sự tham gia của Công ty TNHH MTV môi trường và công trình đô thị Đông Anh thu gom chất thải rắn sinh hoạt hoạt động

Hình thức thứ hai: CTRSH từ các hộ gia đình được các tổ thu gom rác thu

gom và tập hợp tại các điểm tập kết rác trước khi được các xe chuyên dụng vận chuyển tới Khu xử lý rác của thành phố để xử lý Hình thức này áp dụng đối với các địa phương có sự tham gia của Công ty TNHH MTV môi trường và CTĐT Đông Anh

Công nhân Thu gom

Tổ thu gom

Hình 2.5 Quy trình thu gom CTRSH trên địa bàn huyện Đông Anh

2.3.2 Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt

Theo kết quả điều tra kết hợp với báo cáo về hiện trạng và quản lý chất thải rắn trên địa bàn huyện Đông Anh năm 2015 của Công ty TNHH một thành viên môi trường và công trình đô thị Đông Anh, tại 7 xã/thị trấn tiến hành nghiên cứu cho thấy công tác thu gom CTRSH tại huyện Đông Anh đang được tiến hành thường xuyên Tỷ

lệ thu gom CTRSH của các địa phương (Bảng 2.8)

Về điểm tập kết quyđịnh

Xe ô tô ép rác

Xe hooklip Thùng Container

chứa rác

Về điểm tập kết quy định

Xe ô tô ép rác

Đưa về khu

xử lý CTR huyện

Trang 35

Bảng 2.8 Lƣợng CTRSH đƣợc thu gom trên địa bàn huyện Đông Anh

thu gom (%)

Khối lƣợng CTRSH phát sinh (tấn/ngày)

Khối lƣợng CTRSH thu gom (tấn/ngày)

Dựa vào số liệu được cung cấp bởi Công ty TNHH một thành viên môi trường

và công trình đô thị Đông Anh và số liệu điều tra, khảo sát có thể nhận định, tỉ lệ thu gom CTR sinh hoạt tại thị trấn cao dao động trong khoảng 90-95%, các xã vùng ngoại thành tỉ lệ thu gom thấp hơn dao động trong khoảng 60-90% Tổng lượng CTR sinh hoạt thu gom tại 7 xã/thị trấn nghiên cứu là 69,05tấn/ngày và lượng chất thải rắn sinh hoạt không thu gom được là 11,24 tấn/ngày Lượng không thu gom được này thải tự

do vào môi trường [12]

2.3.3 Ý kiến của người dân về quản lý CTR sinh hoạt

Bắt đầu từ năm 2014 Thành phố ban hành Quyết định số 44/2014 - QĐ-UBND ngày 20/08/2014 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc thu phí vệ sinh đối với chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội với mức thu như sau:

Cá nhân cư trú tại thị trấn: 6.000 đồng/người/tháng

Cá nhân cư trú tại xã: 3.000 đồng/người/tháng

Ngoài ra Thành phố ban hành Quyết định số 7936/QĐ/UBND ngày 27/12/2013 của

Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc quy định mức thu dịch vụ vệ sinh đối với chất thải rắn công nghiệp thông thường trên địa bàn thành phố Hà Nội với mức thu như sau:

Ngày đăng: 20/11/2018, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015), Báo cáo môi trường qu c gi gi i đoạn 2011- 2015 - Chất thải r n Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2015
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2015
8. Hồ Thị Lam Trà, Lương Đức Anh, Cao Trường Sơn (2012), Quản lý môi trường: Chương 6 – Quản lý môi trường nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường
Tác giả: Hồ Thị Lam Trà, Lương Đức Anh, Cao Trường Sơn
Năm: 2012
10. United Nation Environment Programme,(2005), Solid Waste management Sách, tạp chí
Tiêu đề: Environment Programme,(2005)
Tác giả: United Nation Environment Programme
Năm: 2005
11. Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh (2013), Báo cáo tình hình thực hiện k hoạch phát tri n kinh t , xã hội năm 2015 và mục tiêu, nhiệm vụ năm 2016, huyện Đông Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện k hoạch phát tri n kinh t , xã hội năm 2015 và mục tiêu, nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh
Năm: 2013
13. Võ Đình Long và Nguyễn Văn Sơn (2009), Quản lý chất thải r n và Chất thải nguy hại, Đại học Công nghiệp Thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất thải r n và Chất thải nguy hại
Tác giả: Võ Đình Long và Nguyễn Văn Sơn
Năm: 2009
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Báo cáo môi trường qu c gia 2011- Chất thải r n Khác
3. Cục Bảo vệ môi trường (2006), Dự án tổng h p xây dựng các mô hình thu gom, xử lý rác thải cho các thị trấn, thị tứ, cấp huyện, cấp xã Khác
4. Công ty TNHH MTV Môi trường và CTĐT Đông Anh (2015), Báo cáo hiện trạng và định hướng công tác quản lý chất thải tại huyện Đông Anh Khác
9. IGES, (2005), Waste Management and Recycling in Asia Khác
12. Ủy ban nhân dân huyện Đông Anh, Niên giám th ng kê huyện Đông Anh các năm 2013, 2014, 2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm