1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU TÂM LÝ HỌC

17 1,5K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 47,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1: Phương pháp luận nghiên cứu Tâm lý học là gì?Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về các quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.Phương pháp luận là học thuyết hay lý luận về phương pháp. Đó là hệ thống những quan điểm (nguyên lý) chỉ đạo, xây dựng các nguyên tắc hợp thành phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng có hiệu quả. Trong đó quan trọng nhất là các nguyên lý có quan hệ trực tiếp với thế giới quan, có tác dụng định hướng việc xác định phương hướng nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp. Phương pháp và phương pháp luận là khác nhau.Phương pháp luận nghiên cứu Tâm lý học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức Tâm lý học bao gồm hệ thống các lý luận, những quan điểm tiếp cận đối tượng, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiến hành nghiên cứu Tâm lý học.Câu 2: Môn Phương pháp luận nghiên cứu Tâm lý học (PPL NC TLH) là gì? Trong sự phát triển và phân hóa chuyên biệt của các phân ngành nghiên cứu tâm lý học đang diễn ra ngày một nhanh, mạnh. Ngay bây giờ có thể tính được hàng chục chuyên ngành, các khuynh hướng tâm lý (theo các sách tra cứu của Hội tâm lý học Mỹ người ta tính được gần 100 chuyên ngành). Đơn cử trong số đó là tâm lý học đại cương (tâm lý học lý thuyết và tâm lý học thực nghiệm), tâm lý học sai biệt, lịch sử tâm lý học, tâm lý học xã hội, tâm lý học lứa tuổi (trong đó tâm lý học trẻ em là chuyên ngành đặc biệt), tâm lý học sư phạm, tâm lý học y học, tâm lý học pháp lý, tâm lý học kỹ thuật, tâm lý học hàng không, tâm lý học vũ trụ, tâm lý học toán học, tâm lý học dân tộc, tâm lý học lao động, tâm lý học quản lý, tâm lý học nghệ thuật, tâm lý học thể thao, tâm vật lý, tâm sinh lý học (đại cương và chuyên ngành), tâm lý dược học, tâm lý học ngôn ngữ… Có lẽ xu hướng phân hóa sẽ còn tiếp diễn.Nhờ phân hóa mà có sự phân tách các khía cạnh mới của tâm lý phát hiện ra tính đa dạng, đa chất lượng của các biểu hiện của nó. Trong từng lĩnh vực của khoa học tâm lý đã tích luỹ được các tư liệu chuyên ngành mà trong các lĩnh vực khác của nó không thể thu thập được. Tuy nhiên, sự phân hóa trên cũng đặt ra một vấn đề lớn về sự thống nhất tri thức, thông tin khoa học Tâm lý học. Mỗi chuyên ngành chỉ bao quát một phần hay một khía cạnh nào đó qua hệ thống các hiện tượng được nghiên cứu, từ đó nảy sinh nguy cơ đánh mất cái trọn vẹn của khoa học Tâm lý. Đòi hỏi có một sự nhất quán về những lý luận chung của Tâm lý học....

Trang 1

TÀI LIỆU THI HỌC KỲ MÔN PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU TÂM LÝ HỌC



Câu 1: Phương pháp luận nghiên cứu Tâm lý học là gì?

Phương pháp là một hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ những tri thức về các

quy luật khách quan dùng để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu đã xác định.

Phương pháp luận là học thuyết hay lý luận về phương pháp Đó là hệ thống những

quan điểm (nguyên lý) chỉ đạo, xây dựng các nguyên tắc hợp thành phương pháp, xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng có hiệu quả Trong đó quan trọng nhất là các

nguyên lý có quan hệ trực tiếp với thế giới quan, có tác dụng định hướng việc xác định phương hướng nghiên cứu, tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp Phương pháp và phương pháp luận là khác nhau

Phương pháp luận nghiên cứu Tâm lý học là hệ thống lý thuyết về phương pháp nhận thức Tâm lý học bao gồm hệ thống các lý luận, những quan điểm tiếp cận đối tượng, cùng với hệ thống lý thuyết về phương pháp kỹ thuật và lôgíc tiến hành nghiên cứu Tâm lý học

Câu 2: Môn Phương pháp luận nghiên cứu Tâm lý học (PPL NC TLH) là gì?

Trong sự phát triển và phân hóa chuyên biệt của các phân ngành nghiên cứu tâm

lý học đang diễn ra ngày một nhanh, mạnh Ngay bây giờ có thể tính được hàng chục

chuyên ngành, các khuynh hướng tâm lý (theo các sách tra cứu của Hội tâm lý học Mỹ người ta tính được gần 100 chuyên ngành) Đơn cử trong số đó là tâm lý học đại cương (tâm lý học lý thuyết và tâm lý học thực nghiệm), tâm lý học sai biệt, lịch sử tâm lý học, tâm lý học xã hội, tâm lý học lứa tuổi (trong đó tâm lý học trẻ em là chuyên ngành đặc biệt), tâm lý học sư phạm, tâm lý học y học, tâm lý học pháp lý, tâm lý học kỹ thuật, tâm

lý học hàng không, tâm lý học vũ trụ, tâm lý học toán học, tâm lý học dân tộc, tâm lý học lao động, tâm lý học quản lý, tâm lý học nghệ thuật, tâm lý học thể thao, tâm vật lý, tâm

Trang 2

sinh lý học (đại cương và chuyên ngành), tâm lý dược học, tâm lý học ngôn ngữ… Có lẽ

xu hướng phân hóa sẽ còn tiếp diễn

Nhờ phân hóa mà có sự phân tách các khía cạnh mới của tâm lý phát hiện ra tính

đa dạng, đa chất lượng của các biểu hiện của nó Trong từng lĩnh vực của khoa học tâm

lý đã tích luỹ được các tư liệu chuyên ngành mà trong các lĩnh vực khác của nó không thể

thu thập được Tuy nhiên, sự phân hóa trên cũng đặt ra một vấn đề lớn về sự thống nhất tri thức, thông tin khoa học Tâm lý học Mỗi chuyên ngành chỉ bao quát một phần hay

một khía cạnh nào đó qua hệ thống các hiện tượng được nghiên cứu, từ đó nảy sinh nguy

cơ đánh mất cái trọn vẹn của khoa học Tâm lý Đòi hỏi có một sự nhất quán về những lý luận chung của Tâm lý học.

Trong mỗi chuyên ngành tâm lý học, tuỳ theo mức độ nghiên cứu, đối tượng đặc trưng sẽ xuất hiện những vấn đề mà việc giải quyết chúng đòi hỏi vượt ra ngoài phạm vi của lĩnh vực đó và hướng vào các số liệu được tích luỹ trong các chuyên ngành khác Khi một chuyên ngành càng đi sâu vào nghiên cứu một đối tượng, thì càng phát hiện, làm rõ

nó một cách đầy đủ hơn và sự tiếp xúc của nó với các chuyên ngành khác Điều này lại

làm rõ hơn về yêu cầu nối ghép cũng như tạo các mắc xích liên kết giữa các chuyên ngành tâm lý học về bản chất về cội nguồn của Tâm lý học.

Chưa dừng lại ở đó, mỗi một chuyên ngành nghiên cứu Tâm lý học ở mức độ chuyên biệt khác nhau, góc nhìn khác nhau trên những đối tượng nghiên cứu khác nhau Điều này dẫn đến những quan điểm lý luận khác nhau, nghiên cứu khác nhau và sự ra đời của những khái niệm tâm lý khác nhau Dẫn đến những “cuộc tranh luận” khi các chuyên ngành tâm lý học đề cập đến một vấn đề chung Do vậy, việc sắp xếp, thống nhất trật tự các quan điểm lý luận và xâu chuỗi lại các vấn đề lý luận cơ bản trở nên quan trọng hơn hết.

Trước các yêu cầu đó, môn PPL NC TLH được giảng dạy trong trường đại học giúp cho sinh viên khi nghiên cứu các đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học có những tri thức cơ bản về nguyên tắc phương pháp luận của việc nghiên cứu tâm lý học, cách tiếp cận để có cái nhìn khách quan, chính xác và thực hiện nghiên cứu có khoa học trên nền tảng Tâm lý học Marxist.

Trang 3

Câu 3: Phương pháp luận có vai trò, ý nghĩa gì trong việc nghiên cứu Tâm lý học?

Kiến thức về phương pháp có thể đưa tích luỹ từ trong kinh nghiệm lao động hoặc được tích luỹ từ quá trình nghiên cứu các khoa học cụ thể, song bản thân phương pháp cũng có một hệ thống lý thuyết của riêng mình PPL NC TLH cũng như vậy, nó giữ một vai trò quan trọng và có ý nghĩa lớn trong việc nghiên cứu Tâm lý học

Một là, PPL NC TLH là linh hồn, là kim chỉ nam của quá trình nghiên cứu Tâm lý học Tri thức Tâm lý học vốn đa dạng và nhiều màu sắc, nhiều hướng tiếp cận Do đó khi

tiến hành nghiên cứu người nghiên cứu cần xác định rõ hướng đi, hướng tiếp cận và quan điểm nghiên cứu để đảm bảo sự nhất quán trong suốt quá trình nghiên cứu Điều này phải dựa trên phương pháp luận

VD: Với đề tài là nghiên cứu “Những ám ảnh trong tâm lý của trẻ bị xâm hại tình

dục”, bằng cách dùng những cơ sở của lý thuyết theo quan điểm phân tâm học để giải thích Dùng những cơ chế như dồn nén, xung năng để giải thích sẽ đảm bảo tính hệ thống

và thuyết phục hơn

Hai là, PPL NC TLH là nền tảng, là cơ sở của những đánh giá, bình luận các số liệu mang màu sắc của Tâm lý học Kĩ thuật nghiên cứu điều tra định lượng chỉ cho ra kết quả điều tra bằng những con số, số liệu Còn việc bình luận, dẫn giải, bố trí các nội dung

và số liệu như thế nào là do phương pháp luận sắp xếp Điều quan trọng là làm thế nào để các số liệu ấy phục vụ tối đa cho nghiên cứu Tâm lý học và mang lại hiệu quả tối ưu nhất

Đó là vai trò của PPL NC TLH

VD: Với số liệu thu thập được trong xã N có 125 thanh thiếu niên từ 13 – 18 tuổi,

và 48 thanh thiếu niên có tiền án tiền sự,…Dựa vào đặc điểm Tâm lý học lứa tuổi, Tâm lý học hành vi để giải thích một số luận điểm trong đề tài nghiên cứu “Thực trạng nhận thức

về quy phạm pháp luận của thanh thiếu niên xã N”

Ba là, PPL là nền tảng, căn cứ cơ sở để lý giải nguyên nhân và giải quyết các vấn

đề trong đời sống xã hội PPL NC TLH cung cấp những lý luận chung nhất, hệ thống

những quan điểm căn bản nhất để giải quyết các vấn đề trong thực tế đời sống tâm lý con người

Trang 4

VD: Khi nghiên cứu về chứng “sợ không gian hẹp” Sử dụng quan điểm phân tâm

học để giải thích theo cơ chế dồn nén, phóng chiếu, trốn tránh, chuyển di sẽ đảm bảo được logic và tính khoa học của nghiên cứu

Bốn là, PPL NC TLH là cơ sở cho việc hình thành và đề xuất các ý tưởng nghiên cứu Xuất phát từ những tiền đề căn bản, những hệ thống lý luận chung nhất về nghiên

cứu Tâm lý học mà người nghiên cứu có điều kiện để hình thành, phát kiến và đề xuất những ý tưởng, cách thức nghiên cứu Tâm lý học mới, có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn

VD: Khi nghiên cứu về phạm trù giao tiếp, chúng ta có thể nảy sinh ra ý tưởng

nghiên cứu mới như: Những hạn chế trong kĩ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng của sinh viên một số trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh, Trở ngại giao tiếp của sinh viên Lào học tại Thành phố Hồ Chí Minh,

Năm là, PPL giúp người nghiên cứu phân tích, đánh giá, bàn luận kết quả nghiên cứu để đảm bảo tính khoa học về cả lý thuyết lẫn thực tế.

VD: Xây dựng thang đo 71 tiêu chí để đánh giá kỹ năng hoạt động nhóm của sinh

viên đại học X, cần dựa vào các đặc điểm của kỹ năng Số liệu thu về, cần được phân tích, đánh giá, bàn luận và kết luận kỹ năng hoạt động nhóm của sinh viên đại học X ở mức nào

Như vậy, có thể thấy rằng PPL NC TLH không những giúp người nghiên cứu có những nền tảng lý luận quan trọng mà còn giúp cho người nghiên cứu đi đúng hướng, hiệu quả và nhất quán trong suốt quá trình nghiên cứu

CÁCH DIỄN ĐẠT NGẮN: Vì sao việc nghiên cứu phương pháp luận tâm lý học quan

trọng đối với hành trình chuẩn bị nghề nghiệp?

Khi nghiên cứu phương pháp luận tâm lý học sẽ giúp chúng ta nắm được những yêu cầu cơ bản của khái niệm, định nghĩa giúp người nghiên cứu không lạc đường

Ví dụ: Khi nghiên cứu đề tài: “hành vi nghiện game online trong giới trẻ” Việc nắm vững phương pháp luận sẽ giúp ta có cơ sở vững chắc để đưa ra các định nghĩa, khái niệm liên quan đến đề tài: khái niệm hành vi, khái niệm nghiện, khái niệm game online…

Thấy được các giá trị đặc biệt của các cách tiếp cận Mỗi trường phái tâm lý sẽ có một cách tiếp cận và giải thích vấn đề khác nhau, việc nghiên cứu nhiều hướng tiếp cận sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn đa chiều về một vấn đề để nghiên cứu có hiệu quả

Trang 5

Ví dụ: Chẳng hạn với đề tài nghiên cứu: “Những ám ảnh trong tâm lý của trẻ em bị xâm hại tình dục” thì nếu giải thích theo cơ sở lý thuyết của trường phái phân tâm là do

cơ chế dồn nén và xung năng Còn nếu giải thích theo cách tiếp cận nhận thức hành vi là

do trẻ có những nhận thức sai lệch về vấn đề dẫn đến hành vi bất thường

Khi nghiên cứu phương pháp luận tâm lý học sẽ đảm bảo cho việc nghiên cứu của mình có cơ sở khoa học và quan điểm khoa học Từ đó giúp cho đề tài nghiên cứu mang tính thuyết phục hơn

Định hướng ứng dụng tâm lý học

Ví dụ: Việc nắm vững phương pháp luận sẽ giúp cho sinh viên định hướng đúng nghề nghiệp mà mình sẽ theo đuổi trong tương lai Chẳng hạn như với sinh viên ngành tâm lý học nếu nắm vững được cơ sở phương pháp luận sẽ giúp cho sinh viên xác định được trong tương lai mình sẽ đi theo hướng tham vấn trị liệu hay truyền thông hoặc giảng dạy

Câu 4: Quan điểm hệ thống cấu trúc là gì?

Con người là một chỉnh thể, quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh rất đa dạng và phức tạp, con người là một hệ thống tương đối hoàn chỉnh có khả năng tự điều chỉnh và điều khiển chính mình Nghiên cứu các hiện tượng tâm lí của con người sẽ phải được tiến hành trong quan hệ đa chiều với những hệ thống phức tạp tạo ra thế giới của con người, thế giới loài người… Quan điểm hệ thống - cấc trúc là quan điểm yêu cầu khi

nghiên cứu phải xem xét các đối tượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vận động và phát triển, trong những hoàn cảnh điều kiện cụ thể để tìm ra bản chất và các quy luật vận động của đối tượng.

Hệ thống là một tập hợp các yếu tố nhất định có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn, ổn định và có quy luật vận động tổng hợp Trong thực tế

một sự vật hiện tượng đều là một chỉnh thể toàn vẹn thì nó cũng đồng thời là một hệ thống với nhiều bộ phận, nhiều thành tố Các bộ phận và thành tố này cũng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và hoạt động theo quy luật của toàn bộ hệ thống Giữa các hệ thống cũng có mối liên hệ lẫn nhau vì cùng nằm trong một môi trường nhất định Môi trường đó là một hệ thống lớn hơn bao gồm các thành tố bên trong là các hệ thống nhỏ hơn hoạt động theo quy luật chung của hệ thống lớn.Giữa môi trường và hệ thống có mối liên hệ chiều: môi trường tác động và quy định hệ thống, hệ thống cải tạo môi trường

Trang 6

Câu 5: Quan điểm hệ thống cấu trúc tiếp cận các hiện tượng Tâm lý học trên những bình

diện nào? Cho ví dụ

Trong nghiên cứu khi thực hiện quan điểm hệ thống này cần tiếp cận các hiện tượng Tâm lý học trên những bình diện sau:

+ Xét các đối tượng nghiên cứu trên chính bản thân của nó, trả lời cho câu hỏi các thành tố bên trong nó gồm những gì? Tức là phải xem xét chúng một cách toàn diện, nhiều mặt, phải phân tích chúng ra thành các bộ phận để nghiên cứu chúng một cách sâu sắc, phải tìm ra được tính hệ thống của đối tượng

VD: Khi nghiên về kỹ năng hoạt động nhóm của sinh viên cần xem xét đến các

thành tố bên trong của kỹ năng hoạt động nhóm, tức là các kỹ năng thành phần của nó:

Kỹ năng lắng nghe, kỹ năng truyền thông, kỹ năng thảo luận, kỹ năng giải quyết vấn đề,

kỹ năng quản lí cảm xúc và kỹ năng giải quyết xung đột Các kỹ năng thành phần này có

sự tác động lẫn nhau và kết hợp để hình thành kỹ năng hoạt động nhóm (giả thiết nghiên cứu)

+ Xem xét mối quan hệ của các hiện tượng tâm lý khác nhau trên đối tượng nghiên cứu Phải nghiên cứu đầy đủ các mối quan hệ hữu cơ của các thành tố trong của đối tượng nghiên cứu để tìm ra quy luật phát triển nội tại từng bộ phận và của toàn bộ hệ thống

VD: Nghiên cứu về hành vi nghiện Game Online của học sinh THPT thì cần xem

xét đến các thành tố bên trong của hành vi, phân loại hành vi, biểu hiện, nguyên nhân và hậu quả của hành vi nghiện, đồng thời rút ra được mối liên hệ giữa chúng Biểu hiện bên ngoài của hành vi nghiện là những biểu hiện của một đời sống tâm lý bên trong và được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của nhân cách Hậu quả của hành vi nghiện Game Online có thể bắt nguồn từ những nguyên nhân bản thân, gia đình và mối quan hệ của trẻ Giữa nguyên nhân và hậu quả có một mối liên hệ cần làm rõ trong nghiên cứu

+ Xem xét các hiện tượng tâm lý trong quá trình vận động và phát triển Nghiên cứu đối tượng trong mối quan hệ với môi trường, thấy được mối quan hệ chi phối giữa đối tượng và môi trường, thấy được tính quy định của môi trường và phát triển những điều kiện cần thiết cho sự phát triển thuận lợi của đối tượng

Trang 7

VD: Khi nghiên cứu về hứng thú học tập của học sinh THCS thì ngoài việc xem

xét các thành tố bên trong của hứng thú học tập và mối liên hệ của chúng thì rất cần xem xét đến khách thể mang đối tượng nghiên cứu Tức là xem xét quá trình phát triển về tư duy, tưởng tượng, tình cảm,… của học sinh THCS cũng như các mối quan hệ với cộng đồng, xã hội và môi trường xung quanh Có thể đặt ra giả thiết nghiên cứu, học sinh THCS có những thay đổi quan trọng về đặc điểm tâm lý nhân cách và các mối quan hệ, sự thay đổi này có ảnh hưởng đến hứng thú học tập

+ Kết quả nghiên cứu phải được trình bày rõ ràng, khúc chiết, tạo thành một hệ thống chặt chẽ, có tính logic cao

VD: Nghiên cứu về nhận thức của sinh viên về sống thử, cần sắp xếp theo thứ tự

trình bày của các khái niệm sống thử, hành vi sống thử, biểu hiện của hành vi,… một cách logic, chặt chẽ để minh họa được bức tranh toàn vẹn về nhận thức của sinh viên

Như vậy, nghiên cứu theo quan điểm hệ thống - cấu trúc cho ta tri thức đầy đủ toàn diện, khách quan về đối tượng, thấy được mối quan hệ của hệ thống với các sự vật hiện tượng khác, từ đó thấy được cái triệt để khách quan của các tri thức khoa học

VÍ DỤ CHUNG: Nghiên cứu về kỹ năng hợp tác học tập của sinh viên trường

Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh theo quan điểm hệ thống cấu trúc:

+ Xét đến các thành tố bên trong của kỹ năng hợp tác học tập tức là xét đến các

kỹ năng thành phần của nó: Kỹ năng lắng nghe, kỹ năng truyền thông, kỹ năng thảo luận,

kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lí cảm xúc và kỹ năng giải quyết xung đột Các

kỹ năng thành phần này có sự tác động lẫn nhau và kết hợp để hình thành một hệ thống được gọi là kỹ năng hợp tác học tập

+ Những thành tố của kỹ năng hợp tác có những đặc điểm riêng Tuy nhiên giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ, cùng vận động trong hệ thống kỹ năng hợp tác học tập Kỹ năng lắng nghe được sử dụng xuyên suốt và hỗ trợ các kỹ năng khác, kỹ năng truyền thông làm tăng tính hiệu quả và biểu hiện của kỹ năng thảo luận, lắng nghe và quản lý cảm xúc lại giúp rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề và giải quyết xung đột,…

+ Kỹ năng hợp tác của sinh viên còn có những mối liên hệ với các yếu tố khác Hợp tác giữa sinh viên với sinh viên và giữa sinh viên với giáo viên sẽ có mức độ khác

Trang 8

nhau Môi trường hợp tác khác nhau, đối tượng giao tiếp khác nhau sẽ ảnh hưởng đến những biểu hiện của kỹ năng hợp tác Thí dụ, như thời gian gấp rút đòi hỏi sự hợp tác phải đạt được sự tối ưu, kỹ năng quản lý thời gian tác động mạnh đến kỹ năng hợp tác học tập

Câu 6: Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan khi nghiên cứu Tâm lý học là gì?

Nguyên tắc đảm bảo tính khách quan là nguyên tắc khẳng định tâm lý có nguồn gốc là thế

giới khách quan tác động vào bộ não của mỗi người, thông qua lăng kính chủ quan của con người Tâm lý định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động, hành vi của con người tác động trở lại thế giới, trong đó cái quyết định xã hội là quan trọng nhất.

- Các hiện tượng tâm lý là đối tượng nghiên cứu của Tâm lý học nên bản thân nó mang tính khách quan;

- Các hiện tượng này được nghiên cứu phải đảm bảo tính khách quan có ý nghĩa là nghiên cứu trong trạng thái tự nhiên nhất, thật nhất và tiêu chí trung thực, chính xác phải luôn luôn được đảm bảo từ khi bắt đầu nghiên cứu cũng như trong suốt tiến trình nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu

Ứng dụng từ nguyên tắc:

- Nghiên cứu cần dựa trên các số liệu khách quan;

- Việc nghiên cứu bao giờ cũng phải đảm bảo có những chứng cứ;

- Cần chú ý đến điều kiện nghiên cứu sao cho thật khách quan;

- Triển khai các phương pháp nghiên cứu phải khách quan

Câu 7: Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng khi nghiên cứu Tâm lý học là gì?

Nguyên tắc này khẳng định tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào bộ não của mỗi người, thông qua lăng kính chủ quan của con người Tâm lý định hướng, điều khiển, điều chỉnh hoạt động, hành vi của con người tác động trở lại thế giới, trong đó cái quyết định xã hội là quan trọng nhất.

- Việc nghiên cứu tâm lý học phải nhìn nhận những biểu hiện tâm lý trong hoạt động luôn chịu ảnh hưởng một cách đồng bộ bởi những yếu tố khác tác động đến trong đời sống của từng con người cũng như xã hội loài người;

Trang 9

- Từ những điều kiện sinh học đến những điều kiện xã hội hay vai trò đặc biệt quan trọng của chủ thể cùng với hoạt động của chủ thể đều được xem xét trong nghiên cứu Tâm lý học

Ứng dụng:

- Cần đặt con người trong hoạt động mà họ đang “sống” đặc biệt là hoạt động chủ đạo;

- Các biểu hiện tâm lý cần được xem xét trong nhiều mối quan hệ với các khách thể khác, các hoàn cảnh cụ thể

Câu 8: Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức với hoạt động khi nghiên cứu Tâm lý học là gì?

Hoạt động là phương thức hình thành phát triển và thể hiện tâm lý, ý thức, nhân cách Đồng thời tâm lý, ý thức, nhân cách là cái điều hành hoạt động thống nhất với nhau Nguyên tắc này cũng khẳng định tâm lý luôn luôn vận động và phát triển Cần phải nghiên cứu tâm lý trong sự vận động của nó.

- Nguyên tắc này khẳng định tâm lý, ý thức không tách rời khỏi hoạt động con người;

- Tâm lý, ý thức được hình thành, bộc lộ và phát triển trong hoạt động đồng thời định hướng điều khiển điều chỉnh hoạt động;

- Các hiện tượng tâm lý đều được nghiên cứu thông qua hoạt động, diễn biến của ý thức và các sản phẩm của hoạt động ở con người

Ứng dụng:

- Cần kết hợp giữa cứ liệu cụ thể để đưa ra những nhận định khái quát;

- Cần chú ý đến sự thể hiện của con người trong sản phẩm đạt được ở phương diện kết quả và cả quá trình tạo ra

Câu 9: Nguyên tắc nghiên cứu Tâm lý học trong cái nhìn vận động và phát triển là gì?

Nguyên tắc này đòi hỏi phải xem xét nhìn nhận các hiện tượng tâm lý trong sự vận động và phát triển không ngừng Không nên coi hiện tượng tâm lý là nhất thành bất biến.

- Tâm lý người có sự nảy sinh, vận động và phát triển chứ không tĩnh tại, đứng yên;

- Sự phát triển tâm lý người nói chung là không ngừng nên khi nghiên cứu Tâm lý học phải đảm bảo một cách nghiêm túc, tính thực tế nhưng có đảm bảo tính dự kiến, dự phòng Điều này làm cho việc nghiên cứu Tâm lý học sẽ mang tính thực tiễn và ứng dụng cao

Trang 10

Ứng dụng:

- Không được “ám thị” cá nhân trong nghiên cứu;

- Cần cẩn trọng trong việc xác lập thời gian nghiên cứu và độ dài của cuộc nghiên cứu sao cho khoa học;

- Cần luôn chú ý dự báo trong nghiên cứu

A Phạm trù phản ánh – Phản ánh tâm lý

Câu 10: Phạm trù phản ảnh trong Tâm lý học là gì? Đặc điểm của phản ánh trong Tâm lý

học?

Theo chủ nghĩa duy vật, đó là đặc tính chung của vật chất thể hiện khả năng tái tạo lại những dấu hiệu, đặc điểm, cấu trúc và quan hệ của các khách thể khác với mức độ tương ứng khác nhau Phản ánh theo mức độ cao ở con người nhờ vào tính tích cực và hoạt động xã hội, phản ánh không chỉ tăng lên mà còn có sự thay đổi về chất

Theo quan điểm Tâm lý học, thì phản ánh tâm lý là những dấu vết còn sót lại, để lại sau khi có sự tác động qua lại giữa hệ thống vật chất này với hệ thống vật chất khác

Ví dụ: Hình ảnh bức tranh được hiện lên trong não được gọi là phản ánh tâm lý.

Phản ánh tâm lý là cái không nhìn thấy được, chỉ có thể tiếp cận nghiên cứu phản ánh tâm

lý thông qua các biểu hiện, hành động của chủ thể trước tác động của thực tế khách quan

Ví dụ: Chúng ta không thể nhìn thấy trực tiếp hình ảnh tâm lý trong não người khác khi

họ nhìn bức tranh như thế nào Ta chỉ có thể nghiên cứu gián tiếp nó thông qua biểu hiện, hành động của họ:

+ Châu mày, trễ môi,… cho thấy sự nhận định không tốt về bức tranh;

+ Ánh mắt lấp lánh, há mồm,… cho thấy sự nhận định tốt về bức tranh;

+ Các hành động: Sờ vào tranh, gỡ xuống xem, đập nát,…

Câu 11: Các mức độ phản ánh?

- Phản ánh sinh học: phản ánh này có ở thế giới sinh vật nói chung

Ví dụ: hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời mọc

- Phản ánh vật lý: mọi vật chất đều có hình thức phản ánh này

Ví dụ: khi mình đứng trước gương thì mình thấy hình ảnh của mình qua gương

- Phản ánh hoá học: là sự tác động của hai hợp chất tạo thành hợp chất mới

Ví dụ: Phương trình hóa học: 2H2 + O2  2H2O

- Phản ánh tâm lý: là hình thức phản ánh cao nhất và phức tạp nhất:

Ngày đăng: 20/11/2018, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w