Việc nghiên cứu các quy luật vật lý của các hệ truyền động điện trong các hệ thống nhiều động cơ từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng không tốt do các liên hệ ràng buộc gây ra
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
HÀ NỘI - 2018
HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
Trang 2
NGHIÊN CỨU HỆ ĐIỀU KHIỂN TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN PHI TUYẾN CHỨA NHIỀU ĐỘNG CƠ CÓ LIÊN HỆ RÀNG BUỘC
ỨNG DỤNG TRONG ĐIỀU KHIỂN QUADROR
Chuyên ngành: Kỹ thuật điều khiển và tự động hóa
Mã số: 9.52.02.16
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS.TS ĐÀO HOA VIỆT
2 TS HOÀNG QUANG CHÍNH
HÀ NỘI - 2018
HỌC VIỆN KỸ THUẬT QUÂN SỰ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi Hoàng Văn Huy cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Đào Hoa Việt và TS Hoàng Quang Chính. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Hoàng Văn Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN Trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất tới: PGS. TS Đào Hoa Việt và TS Hoàng Quang Chính là hai người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án.
Tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo của Bộ môn
Cơ điện tử và Robot đặc biệt, Khoa Hàng không Vũ trụ, Học viện Kỹ thuật Quân sự đã chia sẻ, giúp đỡ, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận án này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các anh chị em đồng nghiệp của phòng Đào tạo Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm đã cử tôi đi học và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án.
Cuối cùng, tôi vô cùng cảm ơn bố mẹ, vợ con, người thân và bạn bè, những người đã luôn bên tôi chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong cuộc sống
và học tập để hoàn thành luận án này.
Nghiên cứu sinh
Hoàng Văn Huy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN QUADROTOR VÀ HỆ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN CHỨA NHIỀU ĐỘNG CƠ CÓ LIÊN HỆ RÀNG BUỘC VỚI NHAU 8
1.1. Tổng quan về hệ truyền động điện chứa nhiều động cơ có liên hệ ràng buộc với nhau 8
1.1.1. Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc song song theo tác động nhiễu 10
1.1.2. Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc theo nhiễu cơ bản 11
1.1.3. Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc với nhau theo vị trí của đối tượng điều khiển 11
1.2. Sơ đồ khối chức năng hệ thống điều khiển quadrotor 12
1.2.1. Một vài vấn đề về đặc điểm điều khiển chuyển động quadrotor 12
1.2.2. Sơ đồ khối hệ thống điều khiển quadrotor 15
1.2.3. Sơ đồ khối mô tả đối tượng điều khiển quadrotor 17
1.3. Đánh giá chung về các phương pháp điều khiển quadrotor 19
1.3.1. Phương pháp điều khiển PID 20
1.3.2. Điều khiển tối ưu toàn phương/Gausian - LQR/G 21
1.3.3. Điều khiển chế độ trượt (SMC) 22
1.3.4. Điều khiển Backstepping 22
1.3.5. Thuật toán điều khiển thích nghi 23
1.3.6. Thuật toán điều khiển bền vững 24
1.3.7. Thuật toán điều khiển tối ưu 24
1.3.8. Tuyến tính hóa phản hồi 25
1.3.9. Điều khiển thông minh (logic mờ và mạng nơron nhân tạo) 26
1.4. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 27
Trang 61.4.2. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài 28
1.5. Đặt bài toán nghiên cứu 34
1.6. Kết luận chương 1 35
Chương 2. XÂY DỰNG MÔ HÌNH ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU KHIỂN VÀ CẤU TRÚC TỔNG QUÁT CỦA HỆ ĐIỀU KHIỂN QUADROTOR KHI KỂ ĐẾN ĐỘNG LỰC HỌC ĐỘNG CƠ CHẤP HÀNH 37
2.1. Mô hình động lực học quadrotor 37
2.1.1. Các giả thiết khi xây dựng mô hình động lực học quadrotor 37
2.1.2. Xây dựng mô hình động lực học quadrotor 38
2.2. Mô hình hệ truyền động chấp hành quay cánh quạt 44
2.2.1. Mô hình phần cơ 44
2.2.2. Mô hình toán hệ truyền động điện động cơ đồng bộ nam châm vĩnh cửu (PMSM) 47
2.3. Mô hình đối tượng điều khiển của hệ điều khiển quadrotor 49
2.4. Xây dựng sơ đồ khối hệ điều khiển quadrotor khi kể đến động học động cơ chấp hành 53
2.5. Đánh giá và nhận xét: 56
2.6. Kết luận chương 2 57
Chương 3:TỔNG HỢP BỘ ĐIỀU KHIỂN ĐỘNG CƠ ĐIỆN ĐỒNG BỘNAM CHÂM VĨNH CỬU QUAY CÁNH QUẠT BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRƯỢT THÍCH NGHI ỨNG DỤNG TRONG HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN QUADROTOR 59
3.1. Xây dựng thuật toán tổng hợp điều khiển backstepping trượt thích nghi cho vòng điều chỉnh tốc độ động cơ PMSM. 59
3.2. Mô phỏng hệ điều khiển tốc độ động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu theo phương pháp trượt thích nghi 70
3.3. Kết luận chương 3 76 Chương 4: TỔNG HỢP CÁC BỘ ĐIỀU KHIỂN GÓC, ĐIỀU KHIỂN TỐC
Trang 7ĐỘNG CƠ CHẤP HÀNH 77
4.1. Tổng hợp bộ điều khiển và ổn định trạng thái các góc Euler bằng phương pháp tuyến tính hóa phản hồi 77
4.2. Tổng hợp bộ điều khiển tốc độ dài C2 của quadrotor 90
4.3. Tổng hợp bộ điều khiển vị trí C3 94
4.4. Tính toán tham số các bộ điều khiển khiển quadrotor khi kể đến động lực học động cơ chấp hành Error! Bookmark not defined 4.4.1. Bảng thông số của quadrotor sử dụng trong tính toán các tham số bộ điều khiển và nghiên cứu mô phỏng Error! Bookmark not defined 4.4.2. Tính toán các thông số bộ điều khiển ổn định các góc Euler C1Error! Bookmark not defined 4.4.3. Tính toán các thông số bộ điều khiển tốc độ dài C2 99
4.4.4. Tính toán các thông số bộ điều khiển vị trí 99
4.5. Mô phỏng hệ thống điều khiển quadrotor khi sử dụng động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu 104
4.6. Khảo sát đánh giá trên mô hình thực nghiệm với động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu 131
4.6.1. Xây dựng mô hình thực nghiệm 131
4.6.2. Các kết quả thực nghiệm 144
4.7. Kết luận chương 4 147
KẾT LUẬN CHUNG 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
Phụ lục 1: Các sơ đồ chức năng và mô phỏng hệ điều khiển quadrotor 163
Phụ lục 2: Tham số của động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu 168
Phụ lục 3: Chương trình lập trình code trên S_funtion 170
Phụ lục 4: Chương trình lập trình 3D S_funtion 172
Trang 8
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC KÝ HIỆU
Trang 9SDRE State – Dependent Riccati Equation: Phương trình trạng thái phụ
thuộc Riccati
VSC Variable Structure Control: Bộ điều khiển có cấu trúc biến đổi HTTĐĐ Hệ thống truyền động điện
Trang 11Z Gia tốc chuyển động của khối tâm quadrotor dọc theo trục z E
Tốc độ góc (yaw) của quadrotor quanh trục z B của hệ tọa B gắn
Trang 22MỞ ĐẦU
Trong công nghiệp và quân sự thường gặp rất nhiều các hệ thống, thiết
bị mà trong đó phần chấp hành của nó chứa nhiều động cơ làm việc có sự liên
hệ ràng buộc với nhau ví dụ như các hệ thống robot công nghiệp (cánh tay robot, robot song song,…), robot lặn, robot bay. Các thiết bị này là những đối tượng thường gồm nhiều các hệ truyền động chứa nhiều động cơ, làm việc có
sự liên hệ ràng buộc với nhau. Việc điều khiển những động cơ trong các hệ thống như vậy thường phải thỏa mãn các quy luật nhất định có liên quan đến nhau. Do đó, trong quá trình thiết kế, xây dựng thuật toán điều khiển, người thiết kế thường tính đến sự liên hệ ràng buộc giữa các hệ truyền động. Trong các loại robot, lớp robot bay lên thẳng như tri-rotor, quadrotor và six-rotor là lớp robot tác động nhanh có mô hình động lực học phi tuyến cũng như chịu sự ảnh hưởng của liên hệ ràng buộc mạnh giữa các hệ truyền động cánh quạt. Sự liên hệ ràng buộc giữa các quy luật điều khiển tốc độ của các hệ truyền động điện quay cánh quạt chính là yếu tố tạo lên các chương trình chuyển động của quadrotor trong không gian. Ngược lại chương trình chuyển động của robot bay trong không gian sẽ quyết định quy luật thay đổi tốc độ của các hệ truyền động điện. Đây là yếu tố mà những người làm thiết kế các hệ truyền động điện cho robot bay phải quan tâm giải quyết.
Việc nghiên cứu các quy luật vật lý của các hệ truyền động điện trong các hệ thống nhiều động cơ từ đó đưa ra các giải pháp hạn chế sự ảnh hưởng không tốt do các liên hệ ràng buộc gây ra để nâng cao chất lượng điều khiển
là một bài toán còn nhiều thách thức, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn. Trong luận án này lựa chọn đối tượng nghiên cứu là robot bay không người lái (UAV) quadrotor, vì quadrotor với bốn hệ truyền động cánh quạt cũng như
mô hình động lực học đủ sự phức tạp và có sự phi tuyến mạnh, các hệ truyền động cánh quạt có sự liên hệ ràng buộc với nhau đóng vai trò quan trọng
Trang 23Những năm gần đây, các trường đại học, các viện, các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ trên thế giới đã đi sâu vào nghiên cứu và phát triển ứng dụng của quadrotor, do chúng có khả năng đáp ứng một cách linh hoạt các yêu cầu của con người trong thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến các thiết bị bay quân sự và dân sự. Nhiều quốc gia như: Mỹ, Nga, Trung quốc, Úc, Tây âu đã và đang đầu tư nhiều triệu USD cho các công trình nghiên cứu và phát triển robot bay nói chung và quadrotor nói riêng phục vụ cho các nhiệm vụ quân sự khác nhau trong thực tế. Ngoài các thiết kế dành cho quân sự, các ứng dụng cho các lĩnh vực dân sự cũng được quan tâm như giám sát núi lửa, rừng, chụp ảnh trên không, kiểm tra đường dây điện, phân tích khí quyển phục vụ cho dự báo thời tiết, giám sát giao thông trong các khu
đô thị, hoạt động tìm kiếm người thất lạc và cứu hộ thiên tai, gieo trồng, phun thuốc trừ sâu trong nông nghiệp,
Với số lượng lớn quadrotor đang được sử dụng cho thấy không thể phủ nhận khả năng của quadrtor bởi tính tiện dụng và linh hoạt trong phạm vi hoạt động hẹp, chúng có thể bay trong các khu vực thấp so với mặt nước biển, có thể bay lượn và cung cấp chi tiết các thông tin về khu vực đó thông qua các trạm điều khiển.
Đã có rất nhiều các công trình khác nhau nghiên cứu về điều khiển Quadrotor trên thế giới bằng cách sử dụng các bộ điều khiển như PID (Proportional Integral Derivative), LQR/G (Linear Quadratic Regulator/Gausian, điều khiển mô hình trượt (SMC), điều khiển Backstepping, thuật toán điều khiển thích nghi, thuật toán điều khiển tối ưu, thuật toán điều khiển bền vững, điều khiển thông minh để điều khiển vị trí, độ cao và các góc Euler [15], [16], [19], [22], [50], [61].
Ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu hoàn chỉnh về quadrotor. Các công trình nghiên cứu vẫn chỉ ở mức thực nghiệm
Trang 24Hệ truyền động điện của cơ cấu chấp hành điều khiển 4 cánh quạt của quadrotor là hệ thống truyền động nhiều động cơ làm việc có sự liên hệ ràng buộc với nhau, trong quá trình điều khiển quadrotor, việc nghiên cứu đưa ra các thuật toán điều khiển khi có những liên hệ ràng buộc của các hệ truyền động cánh quạt của quadrotor nhằm nâng cao chất lượng điều khiển là một vấn đề khoa học và tính thực tiễn cao. Từ những vấn đề nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài:
"Nghiên cứu hệ điều khiển truyền động điện phi tuyến chứa nhiều động cơ có liên hệ ràng buộc ứng dụng trong điều khiển quadrotor"
* Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu chung: Bằng lý thuyết, mô phỏng và thực nghiệm, nghiên
cứu, phân tích các hệ truyền động cánh quạt quadorotor, từ đó xây dựng thuật toán điều khiển các hệ truyền động điện cánh quạt nhằm nâng cao chất lượng điều khiển quadrotor.
- Yêu cầu đạt được
* Tổng hợp bộ điều khiển với cách tiếp cận phương pháp tuyến tính hóa phản hồi và tối ưu đối xứng cho mô hình động lực học của quadrotor.
- Về mô phỏng và thực nghiệm: Sử dụng phương pháp mô phỏng để
Trang 25đánh giá khả năng hoạt động của hệ truyền động điện động cơ cánh quạt quadrotor khi có sự thay đổi của các thông số điều khiển, nhiễu loạn, … và xây dựng mô hình thực nghiệm với bộ điều khiển tốc độ được tổng hợp trên
cơ sở thuật toán trượt, thích nghi để điều khiển động cơ chấp hành là động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu (PMSM).
- Về thực tiễn: Nội dung và các kết quả nghiên cứu bảo đảm tính thực
tiễn nhờ việc tiếp cận đến các mô hình bán tự nhiên và mô hình với các thông
số vật lý cụ thể
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu là robot bay quadrotor với các hệ truyền động cánh quạt sử dụng động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu.
* Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết: Vận dụng các định luật cơ bản, xây dựng mô
hình động lực học đầy đủ của quadrotor có tính đến hệ truyền động điện động
cơ cánh quạt khi sử dụng động cơ có mô hình phi tuyến tính là động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu.
Sử dụng nhóm phương pháp điều khiển trượt, thích nghi để tổng hợp thuật toán điều khiển động cơ chấp hành; Sử dụng thuật toán điều khiển tuyến tính hóa phản hồi và tối ưu đối xứng để tổng hợp hệ điều khiển quadrotor. Nghiên cứu lý thuyết kết hợp với nghiên cứu mô phỏng nhằm đánh giá, chứng minh tính đúng đắn, xác thực của nghiên cứu lý thuyết. Trong luận án tác giả sử dụng phần mềm Matlab-Simulink làm công cụ cho nghiên cứu mô phỏng.
Nghiên cứu thực nghiệm: Nhằm chứng minh tính khả thi của nhóm
phương pháp trượt, thích nghi điều khiển động cơ đồng bộ nam châm vĩnh cửu, trong luận án xây dựng mô hình thực nghiệm điều khiển động cơ chấp
hành là động cơ đồng bộ nam châm vĩnh cửu.
* Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về quadrotor là một lĩnh vực khó đòi hỏi cần có kiến thức
Trang 26và cũng chưa có nhiều kết quả về lý thuyết và thực nghiệm thành công. Dó
đó, luận án chỉ giới hạn trong các nội dung nghiên cứu sau:
- Vận dụng lý thuyết, định luật xây dựng mô hình động lực học quadrotor có tính đến hệ truyền động điện động cơ cánh quạt. Từ đó phân tích đánh giá những yếu tố có liên hệ ràng buộc giữa các tác động đầu vào/ra của
hệ thống.
- Nghiên cứu tổng hợp bộ điều khiển cho hệ truyền động cánh quạt quadrotor trong trường hợp sử dụng động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu.
- Nghiên cứu, ứng dụng phương pháp tuyến tính hóa phản hồi và phương pháp tối ưu đối xứng trong việc tổng hợp các vòng điều khiển quadrotor.
- Tiến hành mô phỏng hệ điều khiển quadrotor với mô hình khi tính đến động cơ chấp hành là động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu.
Bố cục của luận án: Ngoài phần mở đầu, kết luận chung và phụ lục, nội dung chính của luận án được trình bày trong bốn chương gồm:
Chương 1: Tổng quan các hệ thống điều khiển quadrotor và hệ truyền động điện chứa nhiều động cơ có liên hệ ràng buộc với nhau
Chương này trình bày tổng quan về các hệ truyền động điện có liên hệ ràng buộc, các sơ đồ chức năng và cách phân loại các hệ truyền động điện có liên hệ ràng buộc; Nghiên cứu các đặc điểm điều khiển chuyển động của quadrotor, trên cơ sở đó đưa ra được sơ đồ khối hệ thống điều khiển, sơ đồ khối mô tả đối tượng điều khiển và sơ đồ khối mô tả mối liên hệ ràng buộc trong hệ truyền động điện điều khiển cánh quạt quadrotor; Tiến hành nghiên
Trang 27cứu, phân tích và đưa ra các đánh giá, nhận xét về các phương pháp điều khiển, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến việc tổng hợp các thuật toán điều khiển quadrotor. Từ đó đưa ra các nhận xét, đánh giá chung và đặt bài toán nghiên cứu.
Chương 2: Xây dựng mô hình đối tượng điều khiển và cấu trúc tổng quát của hệ điều khiển quadrotor khi kể đến động lực học động cơ chấp hành Trong chương này trình bày việc xây dựng mô hình toán học của quadrotor có tính đến động lực học của hệ truyền động điện động cơ cánh quạt sử dụng động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu. Phân tích và đưa ra các đại lượng đặc trưng cho mối liên hệ ràng buộc trong phương trình trạng thái mô tả đầy đủ động lực học của quadrotor khi kể đến hệ truyền động điện động cơ cánh quạt. Xây dựng cấu trúc hệ điều khiển quadrotor thành hệ điều khiển nhiều vòng lệ thuộc.
Chương 3: Tổng hợp bộ điều khiển động cơ đồng bộ nam châm vĩnh cửu quay cánh quạt bằng phương pháp trượt thích nghi ứng dụng trong hệ thống điều khiển quadrotor
Trong chương này tập trung nghiên cứu cơ sở lý thuyết về hệ điều khiển thích nghi với cấu trúc biến đổi trong điều khiển các hệ truyền động phi tuyến với các tham số bất định của mô hình, từ đó vận dụng vào việc tổng hợp
bộ điều khiển trượt thích nghi cho vòng điều chỉnh tốc độ động cơ điện đồng
bộ nam châm vĩnh cửu quay cánh quạt quadrotor. Tiến hành nghiên cứu mô phỏng hệ điều khiển trượt, thích nghi bằng công cụ Matlab/Simulink khi sử dụng động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu.
Chương 4: Tổng hợp hệ điều khiển góc và điều khiển vị trí của quadrotor khi kể đến động học của động cơ chấp hành
Trong chương này trình bày việc tổng hợp hệ điều khiển quadrotor với nhiều vòng lệ thuộc. Vòng điều khiển và ổn định trạng thái các góc Euler được tổng hợp bằng phương pháp tuyến tính hóa phản hồi; vòng điều khiển
Trang 28Để chứng minh tính đúng đắn của cách tiếp cận cũng như phương pháp tổng hợp các bộ điều khiển, tiến hành mô phỏng hệ điều khiển quadrotor khi
kể đến động cơ chấp hành có mô hình phi tuyến (động cơ điện đồng bộ nam châm vĩnh cửu) bằng công cụ Matlab/Simulink.
Trang 29Chương 1 TỔNG QUAN CÁC HỆ THỐNG ĐIỀU KHIỂN QUADROTOR
VÀ HỆ TRUYỀN ĐỘNG ĐIỆN CHỨA NHIỀU ĐỘNG CƠ
CÓ LIÊN HỆ RÀNG BUỘC VỚI NHAU
1.1 Tổng quan về hệ truyền động điện chứa nhiều động cơ có liên hệ ràng buộc với nhau
Để nâng cao chất lượng điều chỉnh, độ chính xác tĩnh và động cũng như tính tác động nhanh của hệ thống truyền động điện (HTTĐĐ), thì cần thiết phải tính toán đầy đủ các tính chất đặc thù và các điều kiện làm việc của
hệ thống truyền động điện. Những điều kiện làm việc bên ngoài tác động lên
hệ thống truyền động điện gồm các đặc tính mô men tải của cơ cấu công tác, các biến đổi của các tác động điều khiển, quy luật biến đổi các tham số của chính hệ thống truyền động hoặc cơ cấu công tác.
Khi tính toán đầy đủ những tính chất đặc thù của các hệ truyền động điện phức tạp và các tính chất của tải, cũng như những điều kiện làm việc khác phải kể đến tính liên hệ ràng buộc tồn tại giữa các HTTĐĐ riêng lẻ.
Có thể nêu ra các hệ thống truyền động có liên hệ ràng buộc như: các
hệ thống truyền động bám nhiều kênh (hệ thống điều khiển vũ khí, robot, …), việc nghiên cứu các liên hệ ràng buộc được thể hiện trong [85], [86], [87]. Trong các hệ thống truyền động điện này, sự chuyển động của khâu công tác theo các tọa độ riêng rẽ liên kết với nhau theo sai số bám hoặc đôi khi theo các tính chất của đối tượng điều khiển. Các hệ thống bám này sẽ thực hiện bám quỹ đạo chuyển động cho trước trong không gian hai chiều hay không gian ba chiều. Tín hiệu điều khiển được tạo ra từ sai lệch giữa quỹ đạo thực
và quỹ đạo mong muốn để điều khiển các khớp (khâu) sao cho sai số này tiến
về không. Những ví dụ điển hình về kiểu hệ thống này như máy phay, máy hàn và cắt kim loại CNC nhiều trục, các loại robot nối tiếp, song song
Dạng liên kết thứ nhất là các hệ thống truyền động điện được liên kết
Trang 30với nhau qua các tín hiệu điều khiển, nghĩa là tín hiệu điều khiển bao gồm biên độ và hướng dịch chuyển của cơ cấu công tác đưa vào các hệ truyền động. Cụ thể các tín hiệu điều khiển tạo ra quỹ đạo chuyển động của các khớp, khâu. Những hệ thống điều khiển liên kết theo tín hiệu điều khiển thường được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực robot, các máy CNC
Có một lượng lớn nhóm các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc với nhau, mà nhiệm vụ của chúng là duy trì tốc độ cho trước không đổi, hay bám theo tốc độ mong muốn của khâu công tác. Để đạt được độ chính xác cần thiết so với hệ thống không có sự liên hệ ràng buộc, khi xây dựng các bộ điều khiển hệ thống này thường phải tính đến các liên hệ ràng buộc, với mục đích nhằm khử các liên hệ ràng buộc để quá trình làm việc của những hệ thống truyền động điện như là những hệ độc lập, và duy trì thông số điều khiển đầu ra mong muốn.
Trong các hệ thống chứa nhiều hệ truyền động điện, mômen cản của khâu công tác không những phụ thuộc vào sự thay đổi sự chuyển động của khâu công tác mà còn phụ thuộc vào tốc độ trên trục của các động cơ điện. Trong tất cả các trường hợp này, xuất hiện sự liên hệ ràng buộc giữa các hệ truyền động điện thông qua mô men tải, điều này ảnh hưởng tới chất lượng làm việc của hệ thống truyền động điện.
Mô men cản của cơ cấu công tác hoặc hệ thống có thể là hàm của sự sai lệch tốc độ hoặc sai lệch góc quay của các động cơ điện. Ví dụ cho trường hợp này là các robot bay dạng tri-rotor, quadrotor, hay hexacopter. Với các robot bay này, tải tác động lên các hệ truyền động cánh quạt sẽ làm thay đổi tốc độ của một hệ truyền động cánh quạt và làm ảnh hưởng đến các hệ truyền động cánh quạt khác.
Các hệ truyền động điện có mối liên hệ ràng buộc là hệ thống phức tạp
mà nó được đặc trưng bởi mối liên hệ giữa các tác động điều khiển, các tác động nhiễu và các biến đầu ra như: tốc độ trên trục động cơ hoặc vị trí của
Trang 31Hệ truyền động điện có liên hệ ràng buộc cơ bản được chia thành hai nhóm lớn sau: Các hệ truyền động điện liên hệ ràng buộc với nhau thông qua các tác động điều khiển và tác động nhiễu; Các hệ truyền động điện liên hệ ràng buộc với nhau thông qua sự thay đổi thông số của các hệ truyền động điện.
Theo đặc trưng sự liên hệ ràng buộc của tác động điều khiển và nhiễu với các biến đầu ra có thể chia thành các hệ vòng hở hoặc các hệ có liên ràng buộc song song, các hệ thống với liên hệ ràng buộc một chiều.
Khi xét tới những tính chất đặc thù của hệ thống truyền động điện, có thể chia tác động nhiễu thành: nhiễu cơ bản như mô men cản của phụ tải và nhiễu không biết trước như nhiễu trong tín hiệu điều khiển, sự thay đổi của điện áp nguồn, sự thay đổi nhiệt độ của môi xunh quanh và sự thay đổi các giá trị thông số của bản thân hệ truyền động điện, …
1.1.1 Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc song song theo tác động nhiễu
Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc song song theo các tác động nhiễu [90] được biểu diễn trên hình 1.1.
1
D E
2
D E
3
D E
1 t u
) (
2 t u
) (
3 t u
) (
1 t f
) (
2 t f
) (
3 t f
) (
2 t v
) (
3 t v
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc
song song theo tác động nhiễu
Các tác động nhiễu chung được đặt tới các hệ thống truyền động điện. Đa
Trang 32Trong đó: ED1,ED2,ED3 là các hệ truyền động điện riêng lẻ; P1,P2,P3
là các khâu biến đổi; v1(t),v2(t),v3(t) là tốc độ đầu ra; u1(t),u2(t),u3(t) là các tác động điều khiển; f1(t), f2(t), f3(t) là các tác động nhiễu.
1.1.2 Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc theo nhiễu cơ bản
Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc theo nhiễu cơ bản [90] được biểu diễn trên hình 1.2.
1 ED
2 ED
1 P
2 P
) (
1 t v
) (
2 t v
M1 t
) (
a)
1 ED
2 ED
1 P
2 P
) (
1 t s
) (
2 t s
) (
1 t u
) (
2 t u
)
M(t
) (
M1 t
) (
M2 t
b)
Hình 1.2 Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện
có liên hệ ràng buộc thông qua phụ tải a) Quan hệ theo tốc độ; b) Quan hệ theo vị trí của cơ cấu chấp hành
Trong đó: ED1,ED2là các hệ thống truyền động điện riêng lẻ; P1,P2 các khâu biến đổi; v1(t),v2(t) tốc độ đầu ra; s1(t),s2(t) vị trí của đối tượng điều khiển; u1(t),u2(t) các tác động điều khiển; M1(t),M2(t) các mô men cản. 1.1.3 Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc với nhau theo vị trí của đối tượng điều khiển
Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện có liên hệ ràng buộc với nhau theo vị trí của đối tượng điều khiển [90] được biểu diễn trên hình 1.3.
Trang 331 ED
2 ED
1 P
2 P
) (
1 t s
) (
2 t s
)
(t
) (
1 t
) (
2 t
Hình 1.3 Sơ đồ chức năng của các hệ thống truyền động điện điện có liên hệ
ràng buộc với nhau theo vị trí của đối tượng điều khiển
Các ràng buộc được xác định bởi đối tượng điều khiển (cơ cấu chấp hành). Trong đó: ED1,ED2là các hệ thống truyền động điện riêng lẻ; P1,P2 các khâu biến đổi; s1(t),s2(t) là độ dịch chuyển theo các trục; 1(t ), 2(t) là độ sai lệch các thành phần theo các trục dịch chuyển.
1.2 Sơ đồ khối chức năng hệ thống điều khiển quadrotor
1.2.1 Một vài vấn đề về đặc điểm điều khiển chuyển động quadrotor Quadrotor là mô hình với bốn động cơ gắn trong một cấu trúc hình chữ thập, mỗi cánh quạt được nối với động cơ thông qua hộp số. Tất cả các trục quay của cánh quạt là cố định và song song với nhau, các cánh được cố định
và hướng luồng gió xuống dưới để tạo lực nâng. Những lý do này chỉ ra rằng cấu trúc quadrotor đòi hỏi phải chắc chắn và điều duy nhất có thể thay đổi là tốc độ của các cánh quạt.
Cánh quạt “trước” và cánh quạt “sau” quay ngược chiều kim đồng hồ, trong khi đó cánh quạt bên “phải” và bên “trái” quay cùng chiều kim đồng
hồ. Điều này là cần thiết để tạo sự làm việc ổn định cho quadrotor.
* Thay đổi độ cao (U1[N])
Hình 1.4 biểu diễn sự thay đổi độ cao của quadrotor [24]. Để điều khiển thay đổi độ cao của quadrotor được thực hiện bằng cách thay đổi tốc độ của
Trang 34tất cả các cánh quạt cùng một lượng. Sự thay đổi này tạo ra lực thẳng đứng tác động lên khung cố định của quadrotor để thực hiện nâng hoặc hạ quadrotor. Quá trình thực hiện này được đặc trưng bởi đại lượng U1.
Hình 1.4 Thay đổi độ cao của quadrotor
Chiều của mũi tên chỉ chiều tốc độ quay của các cánh quạt mà trong trường hợp này tương ứng với H A cho mỗi cánh. [ 1]
A rad s là số gia của H, A không thể quá lớn bởi vì mô hình sẽ bị ảnh hưởng bởi sự phi tuyến mạnh và bão hòa.
* Thay đổi góc roll (U 2 [N m])
Trên hình 1.5 biểu diễn sự thay đổi của góc roll [24]. Điều khiển thay đổi góc roll của quadrotor được thực hiện bằng cách tăng (hoặc giảm) tốc độ cánh quạt “trái” đồng thời giảm (hoặc tăng) tốc độ cánh quạt “phải”.
Sự thay đổi này tạo ra một mô men quay quanh trục x B và làm cho quadrotor đổi hướng. Quá trình thực hiện này được đặc trưng bởi đại lượng U2.
Các biến và [ 1]
rad s được lựa chọn để duy trì lực đẩy thẳng
Trang 35đứng là không đổi, giá trị của A phải thay đổi nhỏ và có thể được chọn sao cho A B, vì nếu thay đổi quá lớn thì mô hình sẽ bị ảnh hưởng bởi sự phi tuyến mạnh và bão hòa.
* Thay đổi góc pitch (U 3 [N m])
Trên hình 1.6 biểu diễn sự thay đổi góc pitch [24]. Điều khiển thay đổi góc pitch của quadrotor được thực hiện bằng cách tăng (hoặc giảm) tốc độ cánh quạt “sau” đồng thời giảm (hoặc tăng) tốc độ cánh quạt “trước”.
Hình 1.6 Thay đổi góc pitch
Sự thay đổi này tạo ra một mô men quay quanh trục y B và làm cho quadrotor đổi hướng. Quá trình thực hiện này được đặc trưng bởi đại lượng
3
U Các biến A và [ 1]
B rad s được lựa chọn tương tự như khi điều khiển thay đổi góc roll.
* Thay đổi góc yaw (U 4 [N m])
Trên hình 1.7 biểu diễn sự thay đổi góc yaw [24]. Điều khiển thay đổi góc yaw của quadrotor được thực hiện bằng tăng (hoặc giảm) tốc độ của cặp cánh quạt “trái” và “phải” đồng thời giảm (hoặc tăng) tốc độ của cặp cánh quạt trước và sau. Sự thay đổi này tạo ra một mô men quay quanh trục z B. Chuyển động của góc yaw được tạo ra nhờ vào cặp cánh quạt “trái” và
“phải” quay cùng chiều với chiều kim đồng hồ trong khi cặp cánh quạt
“trước” và “sau” quay ngược chiều kim đồng hồ. Khi đó, tổng mô men là không cân bằng, quadrotor quay quanh bản thân trục z B. Quá trình thực hiện này được đặc trưng bởi đại lượng U
Trang 361.2.2 Sơ đồ khối hệ thống điều khiển quadrotor
Cấu trúc tổng quát hệ điều khiển quadrotor [24] được biểu diễn trong hình 1.8.
IMU
SONAR & IR
GPS
Bộ xác định quỹ đạo bay
Bộ điều khiển
và ổn định các góc Euler
và hiệu quả hơn. Giao diện giữa người sử dụng và quadrotor được thực hiện
Trang 37để gửi thông tin tới một máy thu RF gắn trên quadrotor.
Khối xác định quỹ đạo bay: Thực hiện thuật toán trong MCU để cung cấp bản đồ, quỹ đạo bay và tránh chướng ngại vật. Nhiệm vụ của nó không phải ổn định quadrotor, nhưng làm cho quadrotor bay an toàn. Trên hình 1.8 cho thấy các đầu vào của khối này không chỉ có từ khối nhiệm vụ, mà còn có tín hiệu từ các khối GPS và khối SONAR & IR. Với thông tin này các thuật toán có thể cung cấp một quỹ đạo, gửi tín hiệu điều khiển mong muốn tới bộ điều khiển mức thấp và giám sát quá trình bay thông qua thông tin phản hồi từ các cảm biến.
Khối điều khiển và ổn định các góc Euler: Thực hiện thuật toán trong MCU để ổn định quadrotor. Khối này sẽ đưa ra luật điều khiển để điều khiển các động cơ truyền động cho các cánh quạt của UAV. Động lực học của các động cơ được tính toán và một bộ điều khiển được sử dụng để điều khiển tốc độ của từng cánh quạt riêng biệt theo điện áp đầu vào. Đầu vào của khối này là tín hiệu mong muốn từ khối điều khiển mức cao, từ khối đo lường quán tính (IMU) và từ các khối SONAR & IR. Sử dụng các thông tin từ các cảm biến để biết về vị trí và để thực hiện nhiệm vụ ổn định quadrotor.
Khối động cơ: Bao gồm nguồn cung cấp và hệ thống truyền động động
cơ quạt cánh. Nguồn cung cấp điện áp và dòng điện cho động cơ. Trong quá trình làm việc của động cơ, dòng điện được phản hồi về MCU thông qua thiết
bị chuyển đổi ADC với mục đích để quan sát trạng thái làm việc của động cơ.
Khối động lực học: Biểu diễn quadrotor hoạt động như thế nào khi thay đổi tốc độ của các cánh quạt. Các tham số của nó không thay đổi bởi vì chúng có liên quan đến cấu trúc vật lý cụ thể. Nó được thể hiện bởi các phương trình mô tả động lực học quadrotor (2.16), (2.17) và mô tả động lực học động cơ chấp hành (2.33).
Khối IMU: Cung cấp các thông tin về trạng thái và hướng của
Trang 38quadrotor. IMU thực hiện tính toán các góc roll - pitch - yaw (góc , , ) và gửi chúng đến MCU. Hơn nữa nhờ con quay hồi chuyển 3 bậc tự do để cung cấp thông tin phản hồi về tốc độ góc của quadrotor trong hệ tọa độ gắn với vật.
Khối GPS: Cung cấp thông tin về vị trí của quadrotor. Tín hiệu GPS không thật chính xác, tuy nhiên nó có thể kết nối với bộ điều khiển mức độ cao như tín hiệu phản hồi qũy đạo mong muốn bên ngoài.
SONAR & IR: Thực hiện đo khoảng cách chính xác từ quadrotor đến chướng ngại vật theo một hướng nhất định, cụ thể là khoảng cách từ quadrotor đến mặt đất và những chướng ngại vật trong môi trường làm việc của quadrotor. Modul SONAR sẽ phát hiện khoảng cách của chướng ngại vật nhờ sóng siêu âm, còn modul IR sử dụng sóng hồng ngoại.
1.2.3 Sơ đồ khối mô tả đối tượng điều khiển quadrotor
Khi coi đại lượng điều khiển là tác động điều khiển động cơ và đầu ra
là các đại lượng (tọa độ của quadrotor) thì mô hình đối tượng điều khiển là sự kết hợp giữa mô hình động lực học của quadrotor và mô hình của động cơ chấp hành quay cánh quạt.
Ta có sơ đồ khối cấu trúc mô tả mối quan hệ giữa bộ điều khiển và đối tượng điều khiển như hình 1.9.
Bộ điều khiển
Động cơ PMSM
Trang 39ĐTĐK: Đối tượng điều khiển
Sơ đồ khối của đối tượng điều khiển là tổng hợp của ba khối gồm động
cơ, bộ truyền cơ khí và mô hình quadrotor được thể hiện như hình 1.10.
Bộ truyền
cơ khí
Khối liên kết chéo đầu ra
U1, U2, U3, U4 là các tín hiệu điều khiển quadrotor
Từ các nguyên lý điều khiển quadrotor và sơ đồ khối của đối tượng điều khiển cho thấy các hệ truyền động điện động cơ cánh quạt quadrotor có liên hệ ràng buộc với nhau theo các tín hiệu điều khiển được trình bày trên
Trang 40hình 1.11. Trong đó ( 2)
4 2 3 2 2 2 1
1 b
đổi độ cao của quadrotor; ( 2)
4 2 2
2 lb
U là tín hiệu điều khiển thay đổi
3 2 1
2 4
2 2
2 1
Hình 1.11 Sơ đồ mô tả mối liên hệ ràng buộc theo tín hiệu điều khiển
cho hệ truyền động cánh quạt
Khi tốc độ của một cánh quạt thay đổi, các tín hiệu đầu vào điều khiển
U1, U2, U3, U4 thay đổi, ảnh hưởng lớn đến quá trình điều khiển quadrotor. 1.3 Đánh giá chung về các phương pháp điều khiển quadrotor
Như chúng ta đã biết do tính chất phi tuyến mạnh của quadrotor, nhiều thuật toán điều khiển đã được áp dụng để đạt được điều khiển mong muốn. Mỗi phương pháp điều khiển đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó.
Ta đi sâu xem xét các phương pháp thường hay sử dụng để điều khiển quadrotor cụ thể như sau: