HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THƯỜNG TÍN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA THIÊN ƯU 8 VÀ Q5 TẠI GIA BÌNH, BẮC NINH Chuyên ngành: Kho
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THƯỜNG TÍN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA THIÊN ƯU 8 VÀ Q5 TẠI GIA BÌNH, BẮC NINH
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Tăng Thị Hạnh
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thường Tín
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới PGS TS Tăng Thị Hạnh, người đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, các thầy cô giáo khoa Nông học, Bộ môn Cây Lương Thực - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp và bạn đọc
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thường Tín
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới và Việt Nam 3
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam 4
2.1.3 Tình hình sản xuất lúa tại Bắc Ninh 6
2.1.4 Tình hình sản xuất và cơ cấu giống lúa tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh 8
2.2 Đặc điểm dinh dưỡng đạm của cây lúa 13
2.3 Những kết quả nghiên cứu về lượng phân đạm cho lúa 17
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 22
3.1 Địa điểm nghiên cứu 22
3.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.3 Vật liệu nghiên cứu 22
3.3.1 Phân bón 22
3.3.2 Giống 22
3.4 Nội dung nghiên cứu 23
3.5 Phương pháp nghiên cứu 23
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
Trang 53.5.2 Các biện pháp kỹ thuật 24
3.6 Các chỉ tiêu theo dõi 25
3.6.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển 25
3.6.2 Các chỉ tiêu năng suất 26
3.6.3 Theo dõi sâu bệnh 27
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 30
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 31
4.1 Điều kiện khí hậu huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tiến hành thí nghiệm 31
4.2 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa tha gia thí nghiệm 32
4.3 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chiều cao cây của các giống lúa thí nghiệm 34
4.4 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh của các giống lúa thí nghiệm 38
4.5 Ảnh hưởng của lượng đạm bón khác nhau đến chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy chất khô của các giống lúa thí nghiệm 41
4.5.1 Ảnh hưởng của lượng đạm bón khác nhau đến chỉ số diện tích lá của các giống lúa thí nghiệm 41
4.5.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khả năng tích lũy chất khô của các giống lúa thí nghiệm 44
4.6 Ảnh hưởng của lượng đạm và giống đến mức độ nhiễm một số loại sâu, bệnh chính 47
4.7 Năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 48
4.8 Năng suất sinh vật học, hệ số kinh tế 53
4.9 Hiệu quả kinh tế 55
Phần 5 Kết luận và đề nghị 57
5.1 Kết luận 57
5.2 Đề nghị 57
Tài liệu tham khảo 58
Phụ lục 63
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2008-2014 4
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam giai đoạn 2008-2014 5
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất lúa của Bắc Ninh giai đoạn 2008-2014 7
Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Gia Bình, 2010-2014 10
Bảng 2.5 Cơ cấu giống lúa của huyện Gia Bình, Bắc Ninh 11
Bảng 2.6 Hướng dẫn sử dụng phân bón cho lúa tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh 12
Bảng 4.1 Điều kiện khí hậu huyện Gia Bình, Bắc Ninh 31
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến sinh trưởng và phát triển của giống Q5 và Thiên Ưu 8 vụ mùa 2015 tại Gia Bình, Bắc Ninh 33
Bảng 4.3a Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chiều cao cây của giống lúa Q5 và Thiên Ưu 8 vụ mùa năm 2015 tại Gia Bình, Bắc Ninh 35
Bảng 4.3b Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến chiều cao cây của giống lúa Q5 và Thiên Ưu 8 vụ xuân năm 2016 tại Gia Bình, Bắc Ninh 37
Bảng 4.4a Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến số nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2015 tại Gia Bình, Bắc Ninh 39
Bảng 4.4b Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến số nhánh của các giống lúa thí nghiệm vụ xuân 2016 tại Gia Bình, Bắc Ninh 41
Bảng 4.5a Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá của giống lúa Q5 và Thiên ưu 8 tại một số giai đoạn sinh trưởng 43
Bảng 4.5b Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến khối lượng chất khô của các giống lúa thí nghiệm 45
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng đạm và giống đến mức độ nhiễm một số loại sâu, bệnh hại chính lên giống lúa Q5 và Thiên Ưu 8 tại Gia Bình, Bắc Ninh 47
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống lúa thí nghiệm vụ mùa 2015 50
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến năng suất sinh vật học và hệ số kinh tế của các giống lúa thí nghiệm 53
Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của các công thức thí nghiệm tại Gia Bình, Bắc Ninh 55
Trang 8DANH MỤC ẢNH, PHỤ LỤC
Phụ lục 1 Một số hình ảnh thí nghiệm 63 Phụ lục 2 Kết quả xử lý thống kê 65
Trang 9
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 6/2015-6/2016 tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm bón khác nhau đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Thiên Ưu 8 và Q5 Thí nghiệm được bố trí ngoài đồng ruộng với hai giống: Q5 (G1); Thiên Ưu 8 (G2) và bốn mức phân bón đạm gồm: 60 kgN/ha (N1); 80kgN/ha (N2); 100 kgN/ha (N3); 120kgN/ha (N4) Thí nghiệm hai nhân tố được thiết kế theo kiểu split-plot (ô lớn - ô nhỏ) nhắc lại 3 lần, diện tích ô nhỏ là 15m2 Kết quả cho thấy, tăng lượng đạm bón làm kéo dài thời gian sinh trưởng của các giống lúa từ 1-5 ngày, tăng mức độ nhiễm sâu bệnh hại Khi tăng lượng đạm bón từ 60-100 kgN/ha các chỉ tiêu chiều cao cây, số nhánh, chỉ số diện tích lá, chất khô tích lũy, số bông/m2, số hạt/bông, năng suất thực thu tăng lên ở mức ý nghĩa (p≤0,05) khi tăng mức đạm bón lên
120 kgN/ha thì các chỉ tiêu tiếp tục tăng lên nhưng không có ý nghĩa thống kê Lượng đạm bón thích hợp cho giống Thiên Ưu 8 và Q5 tại Gia Bình, Bắc Ninh là
100 kgN/ha
Trang 10THESIS ABSTRACT
A field experiment was conducted from 6/2015-6/2016 at Gia Binh district
in Bac Ninh province to evaluate effect of four nitrogen application (60 kgN/ha (N1); 80kgN/ha (N2); 100 kgN/ha (N3); 120kgN/ha (N4)) on growth and yield of two rice seeds Q5 (G1) and Thien Uu 8 (G2).Two-factor expeiment was designed
as split-plot repeated 3 times, the small cell area is 15m2 The obtained results showed that, increasing nitrogen fertilizer lengthen the growing period of rice varieties from 1-5 days, increasing the level of pest and disease infection Increase of nitrogen level from 60-100kg N/ha lead to increased height, tillering
of the rice, leaf area index, dry matter accumulation, the cotton/m2, number of grains/cotton, yield reality significant increase (p≤0,05) When increase of nitrogen level from 100-120kgN/ha, the indicators continue to rise but no statistical significance Nitrogen fertilizer level suitable for Thien Uu 8 and Q5 in Gia Binh, Bac Ninh are 100kgN/ha
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây lúa (Oryza sativa L.) là nguồn cung cấp lương thực thiết yếu đảm bảo
sự sống cho hơn một nửa dân số thế giới, đặc biệt là trên 90% dân số châu Á Ở Việt Nam, tập quán canh tác cây lúa đã đi vào truyền thống văn hóa, xã hội và hình thành nên nền văn hóa trồng lúa nước đặc sắc riêng biệt Là một nước nông nghiệp với trên 75% dân số sống phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp và 100% người Việt Nam sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Theo thống kê, xuất khẩu gạo năm 2014 đạt gần 6,38 triệu tấn, trị giá 2,96 tỷ USD, giảm 3,25% về lượng nhưng tăng nhẹ 1,03% về kim ngạch so với năm 2013 và đứng thứ 3 trên thế giới sau Ấn Độ, Thái Lan (Báo Người đồng hành, 2015) Góp phần vào thành tích to lớn trên trước hết phải kể đến sự đóng góp quan trọng của các giống lúa mới cùng với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và chủ trương chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp
Gia Bình là một huyện nhỏ được tách ra từ huyện Gia Lương trước đây của tỉnh Bắc Ninh Tổng diện tích đất tự nhiên năm 2015 là 107,8 km2, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 5.585,50 ha chiếm 58,43% Diện tích đất lúa là 4.453,15
ha Nông nghiệp vẫn chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của huyện Những năm gần đây, các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng cao và biện pháp kỹ thuật mới được đưa vào sản xuất đã nâng cao năng suất và sản lượng lúa gạo của vùng Hiện nay, trong cơ cấu giống lúa đang được sản xuất tại địa phương đa số
là những giống lúa có năng suất cao như giống lúa Q5 (trên 30% diện tích) thích hợp với điều kiện canh tác của địa phương và được người dân sản xuất trong thời gian dài Tuy nhiên chúng lại có một số hạn chế như thời gian sinh trưởng dài, phẩm chất gạo thấp, khả năng nhiễm chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận kém Vì thế, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật và tuyển chọn giống lúa có chất lượng cao, năng suất khá, thời gian sinh trưởng ngắn, ít nhiễm sâu bệnh hại bổ sung vào cơ cấu giống lúa của địa phương là thực sự cần thiết Điển hình như giống lúa Thiên ưu 8, mới được đưa vào sản xuất và cho hiệu quả khá tốt có triển vọng thay thế bộ giống cũ như Q5, Khang dân
Mỗi giống lúa lại thích ứng trên mỗi tiểu vùng sinh thái, yêu cầu từng loại phân bón khác nhau Trong thực tế sản xuất với quy mô sản xuất nhỏ, người dân
Trang 12ít quan tâm đến việc áp dụng khoa học để tăng năng suất, chất lượng gạo Họ thường áp dụng chung kỹ thuật bón phân cho các giống lúa khác nhau, thường lạm dụng việc bón đạm, thuốc bảo vệ thực vật Tuy nhiên hiệu quả của nó lại không cao, mặt khác còn làm tăng mức độ sâu bệnh, gây ô nhiễm môi trường…
Với mục đích đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Thiên Ưu 8
và Q5 tại Gia Bình, Bắc Ninh“
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những thông tin đáng tin cậy cho thực tiễn sản xuất của địa phương trong việc xây dựng lượng đạm bón, chỉ đạo thực hiện quy trình canh tác cho giống Q5 và Thiên Ưu 8
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Lúa là loài cây lương thực có sản lượng đứng hàng thứ ba trên thế giới sau ngô và lúa mì Tuy nhiên, gạo lại là lương thực chính cho khoảng một nửa dân số
thế giới trong tất cả các thời kỳ lịch sử
Có rất nhiều giống lúa đáp ứng những yêu cầu về khẩu vị ở mỗi vùng khác nhau trên thế giới Ngoài tầm quan trọng của gạo như một loại lương thực chủ yếu thì việc sản xuất lúa gạo còn gắn liền với những nền văn hóa trồng lúa lâu đời ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới, đứng đầu là các quốc gia châu Á như Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc Cùng với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sản xuất lúa gạo trên thế giới ngày càng được nâng cao Tuy nhiên sản lượng lúa gạo tạo ra vẫn chưa đủ cung cấp cho nhu cầu ngày càng tăng của con người, đặc biệt là sự gia tăng dân số và thương mại hóa toàn cầu Vì vậy việc sản xuất lúa gạo để đảm bảo an ninh lương thực là vấn đề cấp thiết đặt ra cho mọi quốc gia, tổ chức quan tâm giải quyết
Hiện nay trên thế giới có 114 nước trồng lúa và phân bố ở tất cả các châu lục trên thế giới Việc sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, nơi chiếm hơn 90% về diện tích gieo trồng cũng như về sản lượng
Bảng 2.1 dưới đây thể hiện tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới giai đoạn 2008-2014 Nhờ các tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, từ năm 2008 đến năm
2013 nhìn chung tình hình sản xuất lúa trên thế giới ngày càng phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng Tuy nhiên, năm 2014, diện tích và sản lượng lúa trên Thế Giới đều giảm so với năm 2013 khoảng 0,2 % Diện tích giảm 3,1 triệu ha từ 166,1 triệu ha xuống còn 163,0 triệu ha Năng suất đạt 44,7 tạ/ha giảm
so với năm 2013 là 0,1 tạ/ha Sản lượng đạt 744,7 triệu tấn giảm 0,5 triệu tấn so với năm 2013 Sản lượng lúa giảm chủ yếu do diễn biến bất thuận của thời tiết, rơi vào các nước sản xuất gạo chủ chốt như Hoa Kì, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc,…làm cho hoạt động sản xuất nông nghiệp của các nước này giảm
Trang 14Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới giai đoạn 2008-2014
(triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
giống lúa (Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang, 2014)
Chính vì vậy vấn đề đặt ra hiện nay đối với ngành sản xuất lúa gạo nói chung cũng như các nhà nghiên cứu nói riêng phải tiếp tục duy trì năng suất, lấy chất lượng bù số lượng, đặc biệt là cải tiến các giống lúa sẵn có, thêm các tính trạng chống chịu lại các điều kiện bất thuận của môi trường, rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây lúa để tránh hạn hán, lụt lội, sâu bệnh, tăng vụ, gối vụ, luân canh cây trồng để cải tạo đất, phát triển nông nghiệp bền vững
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam
Theo báo cáo của Ủy ban Nông nghiệp bền vững và Biến đổi khí hậu công
bố 3/2012, hiện nay có khoảng 900 triệu người (chiếm 1/7 dân số thế giới) đang sống trong tình trạng thiếu đói (dưới 1.800 calo/ngày) trong đó tập trung ở Châu Á- Thái Bình Dương: 642 triệu người và châu Phi: 265 triệu người Trong khi số người bị đói tại các nước phát triển ước tính chỉ 15 triệu người Thêm nữa, biến đổi khí hậu và sử dụng ngô, sắn làm nhiên liệu sinh học đang làm trầm trọng thêm thách thức cho an ninh lương thực toàn cầu Báo cáo về tình hình nông
Trang 15nghiệp và an ninh lương thực ở châu Á-Thái Bình Dương do Liên hợp quốc công
bố ngày 24/4/2009 cho biết, tám nước Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, nằm trong danh sách 26 nước là những điểm nóng về an ninh lương thực của khu vực Việt Nam hiện là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới song cũng mới chỉ đáp ứng an ninh lương thực cấp quốc gia mà chưa đáp ứng an ninh lương thực cấp hộ gia đình Nhiều người dân chưa tiếp cận được với lương thực Theo dự thảo đề án an ninh lương thực quốc gia thì hiện vẫn còn 6,7% dân số thiếu lương thực, trong đó địa bàn nông thôn là 8,7% Khoảng 1 triệu đồng bào niền núi quanh năm ăn ngô, sắn thay cơm; khả năng tiếp cận lúa gạo còn hạn chế do thu nhập thấp và cơ sở hạ tầng kém phát triển (Báo Nông Nghiệp Việt Nam, 2012) Do vậy trong chiến lược phát triển, cần dành ưu tiên cao cho đảm bảo an ninh lương thực, bởi vì giữ vững an ninh lương thực không chỉ đảm bảo cuộc sống người dân
mà còn góp phần rất quan trọng trong việc ổn định an ninh quốc gia và ổn định xã hội (Nguyễn Văn Bộ, 2012)
Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam giai đoạn 2008-2014 được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam giai đoạn 2008-2014
(nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Tổng sản lượng (nghìn tấn)
Hiện nay dân số Việt Nam tăng nhanh, tăng gần 12 triệu người từ năm 2000
đến năm 2014 và còn tiếp tục tăng (worldometers, 2015) Hơn nữa, mất đất cho
công nghiệp, đô thị, giao thông và các mục tiêu khác làm tổng diện tích trồng lúa giảm từ 7,9 triệu ha năm 2013 xuống còn 7,8 triệu ha năm 2014, tương lai sẽ tiếp tục giảm cùng ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đang đe dọa an ninh lương thực trong đó sản xuất lúa gạo chịu ảnh hưởng lớn nhất
Trang 16Bảng số liệu 2.2 đã cho thấy từ năm 2008 đến năm 2013, tình hình sản xuất lúa gạo Việt Nam ngày càng tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng Năm
2014, với khuynh hướng giảm bớt diện tích trồng lúa, Việt Nam năm vừa qua được mùa nhờ khí hậu điều hòa, sản lượng đạt gần 45 triệu tấn lúa tăng 2,3% so với 2013, năng suất bình quân 5,76 tấn/ha
2.1.3 Tình hình sản xuất lúa tại Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Ninh nằm ở phía Bắc của đồng bằng châu thổ Sông Hồng, địa hình tương đối bằng phẳng, được ngăn cách với vùng trung du và miền núi phía Bắc bởi hệ thống sông Cầu Theo số liệu kiểm kê đất năm 2010, là tỉnh có diện tích nhỏ nhất đất nước tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là 82.272 ha; Diện tích đất nông nghiệp đạt 47.475 ha, trong đó, đất sản xuất nông nghiệp 41.713 ha, chiếm hơn 50% diện tích đất đã góp phần không nhỏ trong việc đảm bảo an ninh lương thực, ổn định và nâng cao đời sống xã hội cho nhân dân (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2015)
Cây lúa là cây lương thực chính của Bắc Ninh, chiếm trên 80% tổng diện tích gieo trồng của tỉnh Tuy diện tích nhỏ nhưng nền sản xuất lúa gạo của Bắc Ninh cũng đóng góp không nhỏ vào sản lượng lúa gạo chung của đồng bằng sông Hồng và cả nước Tình hình sản xuất lúa của Bắc Ninh giai đoạn 2008-2014 được thể hiện rõ qua bảng 2.3
Từ bảng 1.3 cho thấy từ năm 2008 đến 2014 diện tích gieo trồng lúa ở cả
Vụ Đông Xuân và vụ Mùa giảm dần kéo theo sự suy giảm của tổng diện tích gieo trong lúa toàn tỉnh Năng suất và sản lượng tăng không ổn định qua các năm và còn chịu ảnh hưởng lớn của môi trường, khí hậu, thời tiết
Cụ thể, năng suất lúa tăng đều từ 2008 đến 2011, tăng 7 tạ/ha ở vụ Đông Xuân và 3,4 tạ/ha ở vụ Mùa làm tổng sản lượng tăng 18,3 nghìn tấn ở vụ Đông Xuân, và 9,4 nghìn tấn ở vụ Mùa Nhưng sang 2012, 2013 và 6 tháng đầu năm
2014, do gặp các điều kiện bất thuận của môi trường, sâu bệnh hại phát triển làm giảm năng suất từ 70,5 tạ/ha xuống còn 63,1 tạ/ha ở vụ Đông Xuân và 56,5 tạ/ha xuống 50 tạ/ha ở vụ Mùa kéo theo sự tụt giảm nhẹ của tổng sản lượng Sang vụ Mùa 2014, nhờ khí hậu ôn hòa, tưới tiêu hợp lý, năng suất tăng trở lại, tăng 7 tạ/ha và sản lượng tăng 29,7 ngìn tấn so với vụ Mùa năm 2013
Trang 17Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa của Bắc Ninh giai đoạn 2008-2014
Năm
Tổng diện tích (Nghìn ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (Nghìn tấn)
hỗ trợ sản xuất như: Hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng và sản xuất lúa hàng hóa, hỗ trợ 50% giá giống lúa năng suất chất lượng cao có quy mô 5ha, (UBND tỉnh Bắc Ninh, 2014, 2015) đưa tiến bộ về khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đồng thời khuyến khích các địa phương quy hoạch, mở rộng diện tích sản xuất lúa hàng hóa, lúa năng suất chất lượng cao
Trang 182.1.4 Tình hình sản xuất và cơ cấu giống lúa tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh
2.1.4.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý: Gia Bình là huyện nằm ở phía Đông Nam tỉnh Bắc Ninh
Tổng diện tích tự nhiên chiếm 10.779,81 ha
- Phía Đông: giáp huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương giới hạn bởi sông Thái Bình;
- Phía Tây: giáp huyện Thuận Thành;
- Phía Nam: giáp huyện Lương Tài;
- Phía Bắc: giáp huyện Quế Võ giới hạn bởi sông Đuống
* Khí hậu: Gia Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm,
mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa: Nóng từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa biến động thất thường qua các năm, lượng mưa trung bình từ 100 mm đến 312 mm và thường phân bố không đều trong năm, vào mùa mưa lượng mưa chiếm khoảng 80% tổng lượng mưa cả năm Nhiệt độ bình quân tháng 23,7- 29,1oC
Mùa khô: Lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ
16-21o C, lượng mưa/tháng biến động từ 20- 56 mm Bình quân một năm có hai đợt rét nhiệt độ dưới 13oC kéo dài từ 3- 5 ngày
Hàng năm có 2 mùa gió chính: Gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, gió mùa Đông Bắc từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau, gió mùa Đông Nam từ tháng 4 đến tháng 9 mang theo hơi ẩm mưa rào
Số giờ nắng trung bình các tháng/năm khoảng 139,32 giờ, số giờ nắng tháng thấp nhất khoảng 46,9 giờ (tháng 2), số giờ nắng cao nhất khoảng 202,8 giờ (tháng 7) Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1.671,9 giờ Nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 23,4oC - 29,9oC, nhiệt độ phân bố theo mùa, mùa nắng nhiệt độ trung bình >23,oC, mùa lạnh nhiệt độ trung bình <20oC
Độ ẩm không khí trung bình khoảng 83%, cao nhất là tháng 3 và tháng 4 (86%- 88%) thấp nhất là tháng 12 (77%)
* Đất đai: Theo kết quả khảo sát và lập bản đồ đất tỉnh Bắc Ninh năm 2000
(tỉ lệ 1/25.000), thì trên địa bàn huyện bao gồm 8 loại đất chính như sau:
Trang 19- Đất bãi cát ven sông (Cb) có khoảng 96,0 ha (0,89% diện tích tự nhiên )
- Đất phù sa được bồi của hệ thống sông Hồng (Phb): 665,0 ha (6,17% diện tích đất tự nhiên) được phân bố dọc theo sông Đuống ở địa hình vàn và vàn thấp Nhìn chung đất nghèo lân, các chất dinh dưõng khác từ trung bình đến khá
- Đất phù sa không được bồi của hệ thống sông Hồng (Ph): 1.5160,0 ha (14,1diện tích đất tự nhiên) phân bố ở các xã có địa hình vàn cao, vàn trung bình Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến thịt trung bình, ít chua, lân tổng số nghèo, lân
dễ tiêu, kali tổng số và kali dễ tiêu khá cao, các chất dinh dưỡng khác trung bình
- Đất phù sa của hệ thống sông Hồng (Phg): 2.184,0 ha (20,26% diện tích đất tự nhiên) phân bố hầu hết ở các xã trong huyện Đất nằm trên địa hình vàn, vàn thấp và vàn trũng Thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng
- Đất phù sa loang lổ của hệ thống sông Hồng (Phf) có 962,0 ha (8,92% diện tích đất tự nhiên), nằm ở địa hình vàn, vàn cao Thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình
- Đất phù sa úng nước mùa hè (Pj) khoảng 191,0 ha (1,77% diện tích đất tự nhiên) Đất có thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nặng
- Đất phù sa xám bạc trên phù sa cổ (B): 161,0 ha (1,49% diện tích tự nhiên) Đất được hình thành trên phù sa cổ, bạc mầu nghèo dinh dưỡng
- Đất xám vàng nhạt trên đá cát và dăm cuội kết (Fq): 19,0 ha (0,27% diện tích đất tự nhiên) Thành phần cơ giới nhẹ, đất chua PHKCL: 3,8- 4,0 hàm lượng Các bon 1-1,4%, Kali tổng số từ 0,01- 0,02%, lân dễ tiêu từ 1- 2mg/100g đất, các chất dinh dưỡng khác đều rất thấp
2.1.4.2 Tình hình sản xuất lúa của huyện Gia Bình, Bắc Ninh
Thực hiện chủ trương của tỉnh, huyện Gia Bình đã sớm có nghị quyết thực hiện chủ trương cải tạo cơ cấu giống lúa, thành lập Ban chỉ đạo từ huyện đến cơ
sở Ngoài chính sách hỗ trợ của tỉnh, huyện Gia Bình đều có chính sách hỗ trợ sản xuất lúa hàng hóa, lúa năng suất chất lượng cao như: hỗ trợ giá giống, nilon che phủ cho mạ, kinh phí tổ chức các lớp tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân Qua bảng 2.4 dưới đây thể hiện diện tích trồng lúa của huyện Gia Bình tương đối ổn định, năng suất và sản lượng là khá cao so với mặt bằng chung của tỉnh, năng suất sản lượng tăng không ổn định do ảnh hưởng của môi trường, thời tiết, khí hậu
Trang 20Bảng 2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa huyện Gia Bình, 2010-2014
Năm
Tổng diện tích
(ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Ghi chú:- VM: Vụ mùa; - VX: Vụ xuân; - DT: Diện tích; - SL: Sản lượng
Nguồn: Chi cục thống kê Huyện Gia Bình (2015)
2.1.4.3 Cơ cấu giống lúa của huyện Gia Bình
Căn cứ vào giống lúa hiện có của huyện Gia Bình, dựa trên đặc điểm của các giống lúa, nhu cầu sử dụng và phân loại nhóm giống theo thống kê trên địa bàn huyện, có thể phân loại giống lúa sản xuất ở huyện Gia Bình làm ba nhóm chính như sau: Nhóm thứ nhất bao gồm nhóm lúa thuần (Q5, Khang dân, ), nhóm thứ hai là nhóm lúa lai (Syn6, GS9, Q ưu số 1 ) nhóm thứ ba là nhóm lúa chất lượng cao (Nếp các loại, Tẻ thơm, Thiên Ưu 8 )
Cơ cấu giống lúa của huyện Gia Bình khá đa dạng, phong phú Nhìn chung
cơ cấu lúa vụ Xuân và vụ Mùa không chênh lệch nhau nhiều Trong cơ cấu giống lúa của huyện Gia Bình, diện tích gieo cấy chủ yếu là các giống lúa thuần năng suất cao (giống lúa Q5, Khang dân) chiếm 59,5-81,8% tỷ lệ diện tích, các giống lúa thuần chất lượng là 14,2-39,2% Thực hiện chủ trương của huyện, trong những năm gần đây cùng với sự thay đổi dịch chuyển theo hướng tăng diện tích trà xuân muộn, giảm diện tích trà xuân trung, tăng diện tích mùa sớm và trà mùa muộn, giảm diện tích trà mùa trung của huyện Gia Bình Cơ cấu giống cũng thay đổi theo hướng tăng mạnh tỷ lệ diện tích lúa năng suất, chất lượng cao ổn định diện tích lúa tẻ thơm, giảm mạnh diện tích lúa lai, lúa nếp, tẻ thường năng suất chất lượng thấp
Trang 21Bảng 2.5 Cơ cấu giống lúa của huyện Gia Bình, Bắc Ninh
Tỷ lệ (%)
Diện tích
Tỷ lệ (%)
Diện tích
Tỷ lệ (%)
Nguồn: Sở Nông Nghiệp và PTNT Bắc Ninh (2015)
Giống Thiên ưu 8 là giống lúa thuần chất lượng cao được đưa vào sản xuất tại huyện Gia Bình từ vụ mùa năm 2014, giống có chất lượng, giá trị kinh tế cao hơn so với giống lúa Q5, có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn hơn Q5, dễ thâm canh thích hợp cho việc bố trí cơ cấu xuân muộn, mùa sớm để mở rộng diện tích cây màu vụ đông và Thiên ưu 8 hoàn toàn có thể thay thế giống Q5 Vì vậy, để mở rộng diện tích gieo cấy thì việc nghiên cứu các kỹ thuật chăm sóc, bón phân phù hợp đối với giống Thiên ưu 8 là rất cần thiết
2.1.4.4 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
Trước mỗi vụ gieo cấy, các cơ quan quản lý về nông nghiệp như Trạm khuyến nông, Phòng nông nghiệp huyện đã hướng dẫn cách sử dụng phân bón và liều lượng cụ thể theo từng loại giống trong các giai đoạn bón lót, bón thúc lần 1, bón thúc lần 2 và bón nuôi hạt (bón khi lúa trỗ nhưng vẫn thiếu dinh dưỡng) với lượng khuyến cáo như trong bảng 2.6
Trang 22Bảng 2.6 Hướng dẫn sử dụng phân bón cho lúa tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh
Phân chuồng (tấn/ha)
Đạm (kg N/ha)
Lân (kg P2O5/ha)
Kali (kg K2O/ha)
đó 80-85% sử dụng phân đa lượng NPK để bón lót, phân đơn (đạm, lân, kali) dùng để bón thúc và bón đón đòng cho lúa Một số nơi sử dụng phân NPK cho bón thúc nhưng không nhiều và chưa theo hướng dẫn của nhà sản xuất, chưa sử dụng các loại chuyên cho từng giai đoạn sinh trưởng của lúa Mặt khác, lượng bón trung bình cũng thấp hơn nhiều so với quy trình Trong đó phân đạm cho lúa thường từ 72-75 kg N/ha, lúa lai từ 86-90 kg N/ha, chỉ đáp ứng được khoảng 70- 75% khuyến cáo Lượng phân lân các hộ bón từ 50-60 kg P2O5/ha với lúa thường
và lúa lai từ 60-65 kg P2O5/ha đáp ứng tương đương bằng 80% khuyến cáo Riêng lượng kali các hộ bón thấp hơn nhiều chỉ khoảng 20-40 kg K2O/ha chỉ đáp ứng được khoảng 25-30% Nguyên nhân do giá Kali tăng cao (giá 10.000đ/kg có thời điểm 13.000 đ/kg) khiến cho người dân e ngại đầu tư hoặc chuyển sang bón các loại phân NPK thay thế phân đơn nên hàm lượng kali không nhiều
Bên cạnh đó, vấn đề bón phân cân đối giữa đạm, lân, kali cũng chưa được quan tâm Mặt khác, nhiều năm gần đây nông dân quá lạm dụng phân vô cơ (đặc biệt là phân đạm) mà ít chú ý dùng phân bón hữu cơ cho cây lúa Hiện nay số hộ
sử dụng phân chuồng con rất ít chỉ khoảng 35-40% Lượng phân trung bình các
hộ sử dụng cũng chỉ đạt mức từ 4-6,5 tấn/ha, tương đương với 50% khuyến cáo (8-10 tấn/ha) Một số vùng sản xuất lúa kém hiệu quả nên việc tận dụng các nguồn phân khác (phân xanh, rác thải, rơm rạ, ) để làm phân chuồng cũng ít được nông dân quan tâm khiến nguồn dinh dưỡng trong đất ngày càng nghèo nàn, thậm chí nhiều vùng đất bi chai cứng vì không có mùn Những năm gần đây
Trang 23mặc dù được ngành nông nghiệp khuyến cáo nhưng chỉ có một số hộ ở một số địa phương sử dụng các loại phân hữu cơ vi sinh, hữu cơ khoáng nhưng số lượng không đáng kể
2.2 ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG ĐẠM CỦA CÂY LÚA
* Vai trò dinh dưỡng đạm:
Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của cây trồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trong thành phần chất khô của cây
có chứa từ 0,5 – 6,0% đạm tổng số Đạm tham gia cấu tạo nên các loại protein, axit nucleic, chlorophyll, các vitamin và hoocmon… Vì vậy đạm có ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến sinh trưởng của các cơ quan dinh dưỡng và sự hình thành cơ quan sinh sản, dự trữ Đạm có tác dụng mạnh trong thời gian đầu sinh trưởng, làm tăng nhanh số nhánh và diện tích lá Đạm còn là thành phần cơ bản của sự đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc hấp thu các chất dinh dưỡng khác (Vũ Hữu Yêm, 1995)
Tanaka (1965) và Takahashi (1969) cho rằng: Đối với lúa, đạm thúc đẩy sự tăng trưởng về chiều cao, tăng cường khả năng đẻ nhánh làm tăng số nhánh trên khóm Đồng thời làm tăng kích thước lá dẫn đến tăng chỉ số diện tích lá, chúng
có tác dụng tạo ra và duy trì màu xanh của bộ lá tăng khả năng quang hợp của cây Bên cạnh đó, Murata (1968) và Phạm Văn Cường (2004) cho thấy: ảnh hưởng của phân đạm đến quang hợp thông qua hàm lượng diệp lục có trong lá, nếu bón lượng đạm cao thì cường độ quang hợp ít bị ảnh hưởng mặc dù điều kiện ánh sáng yếu
Đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với lúa Khi được bón đạm đầy đủ thì năng suất lúa tăng lên nhờ tăng số dảnh hữu hiệu, tăng chiều dài bông, tăng số hạt/bông và tăng khối lượng nghìn hạt (Yoshida, 1975) Theo Achim và Thomas, (2001) ni tơ thúc đẩy sinh trưởng, phát triển nhanh (tăng chiều cao và số nhánh), tăng kích thước lá, số hạt/bông, tỷ lệ hạt chắc và hàm lượng protein trong hạt Vì vậy ảnh hưởng tới tất cả các đặc tính góp phần tạo năng suất Nitơ giúp phát triển thân, lá, cây to khỏe, đẻ nhánh đều, bông lớn (Dương Văn Chín, 2008) Theo Phạm Văn Cường và cộng sự (2006) nghiên cứu trên nền phân 90
P2O5, 60K2O, khi tăng liều lượng N từ 60 đến 180 đều làm tăng chỉ số diện tích
lá (LAI), tốc độ tích lũy chất khô (CNG) và tăng năng suất của các giống lúa thuộc cả nhóm lúa lai, lúa cải tiến và lúa địa phương, đặc biệt tăng mạnh ở các giống lúa lai do tăng chủ yếu số bông/khóm, số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc
Trang 24Bên cạnh vai trò làm tăng tích lũy chất khô, đạm có tác dụng làm tăng số hoa phân hoá, tăng số hạt trên bông, cùng với kali xúc tiến các sản phẩm tích luỹ trong cây về hạt làm tăng tỷ lệ hạt chắc và hàm lượng protein trong hạt (Yoshida, 1972)
Tuy nhiên theo quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan và cộng sự (2009) trên giống lúa N46, với các yếu tố cấu thành năng suất, khi tăng lượng đạm bón 0-120
kg N/ha thì số bông/m2 tăng nhưng tổng số hạt trên bông lại khác nhau không có
ý nghĩa ở các mức đạm, còn tỷ lệ hạt chắc trên bông có chiều hướng tăng khi tăng lượng đạm bón đến 90 kg N/ha, nhưng nếu bón 120 kg N/ha thì tỷ lệ hạt chắc bắt đầu giảm thấp
Theo Nguyễn Ngọc Nông và Nguyễn Thế Đặng, (1995) ở nhiều nơi do bón liên tục đã nảy sinh một mâu thuẫn là bộ lá phát triển rất mạnh dẫn tới tỷ lệ giữa năng suất kinh tế và năng suất rơm rạ rất thấp Ở nhiều nơi lượng phân bón tăng nhưng năng suất không tăng, thậm chí còn giảm Nếu bón thừa cây sẽ hút nhiều làm tăng hô hấp, tăng lượng gluxit tiêu hao Cây hút nhiều làm lá to, dài, phiến lá mỏng che khuất lẫn nhau, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao vống dẫn tới hiện tượng lốp đổ, khả năng chống chịu kém và năng suất bị giảm một cách rõ rệt Mặt khác, nếu thiếu cây sẽ thấp, hàm lượng diệp lục giảm, lá sớm tàn, giảm
số bông và số hạt do đó năng suất giảm
* Đặc điểm hút đạm của cây lúa:
Lúa được coi là cây ưa NH4+ điển hình Trong thời kỳ đầu sinh trưởng của cây lúa, có khuynh hướng hút NH4+ nhiều, ngoài ra còn hút cả NO3- Trong ruộng lúa nước, lúa chuyên hút NH4+
Theo Phạm Sỹ Tân, (2008) nhu cầu dinh dưỡng đạm của lúa phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng của nhóm giống lúa Có ba giai đoạn quan trọng đó là giai đoạn cây con, đẻ nhánh và làm đòng Nhưng đối với giống dài ngày, nhu cầu đạm cần được bổ sung thêm cho giai đoạn đẻ nhánh
Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cây lúa hút đạm nhiều nhất vào 2 thời kỳ: Thời kỳ đẻ nhánh và thời kỳ làm đòng Nhưng theo Tanaka và cộng sự, (1995) cho rằng cây lúa hút đạm nhiều nhất vào giai đoạn đẻ nhánh và trỗ Công trình nghiên cứu của Kimura và Chiba, (1973) đã xác định thời gian hữu hiệu nhất để cung cấp đạm cho sự tạo hạt thay đổi theo mức đạm cung cấp Nếu lượng đạm hạn chế nên cung cấp vào khoảng 20 ngày trước trỗ
Trang 25Tìm hiểu hiệu suất phân đạm đối với lúa Iruka (1963) cho thấy bón đạm với liều lượng cao thì hiệu suất cao nhất là bón vào lúc lúa đẻ nhánh, sau đó giảm dần, với liều lượng thấp thì bón vào lúc đẻ nhánh và trước trỗ 10 ngày thì có hiệu quả cao (Yoshida, 1985) Năm 1973, Xinixura và Chiba đã thí nghiệm khá công phu là bón đạm theo 9 cách tương ứng với các giai đoạn sinh trưởng, phát triển
và mỗi lần bón với 7 mức đạm khác nhau, hai tác giả đã có những kết luận:
- Hiệu suất của đạm (kể cả rơm, rạ và thóc) cao khi đạm bón cây lúa ít
- Có 2 đỉnh về hiệu suất, đỉnh thứ nhất xuất hiện ở giai đoạn lúa đẻ nhánh thì đỉnh thứ 2 xuất hiện ở 19 - 9 ngày trước trỗ, nếu lượng đạm nhiều thì không
có đỉnh thứ 2
Hai tác giả đã đề nghị: nếu hàm lượng ít sẽ bón vào 20 ngày trước trỗ, khi lượng đạm trung bình bón hai lần lúc lúa con gái và 20 ngày trước trỗ bông, khi lượng đạm nhiều bón vào lúc lúa con gái (Yoshida, 1985)
Ở thời kỳ đẻ nhánh (nhất là khi đẻ nhánh rộ), cây lúa hút nhiều đạm nhất Thông thường lúa hút 70% lượng đạm cần thiết trong thời gian đẻ nhánh, quyết định tới 74% năng suất (Bùi Huy Đáp, 1999; Đào Thế Tuấn, 1980; Yoshida, 1985) Phân tích các bộ phận non của cây trồng, người ta thấy trong các bộ phận non hàm lượng đạm nhiều hơn ở các bộ phận già Hàm lượng đạm trong các mô non có từ 5,5 - 6,5% Khi sử dụng đạm để nâng cao diện tích lá cần phải căn cứ vào đặc tính của từng giống, độ màu mỡ đất và mật độ gieo cấy Đối với mỗi giống lúa có một giá trị diện tích lá tốt nhất, đạt được hệ số đó sẽ đảm bảo sản lượng chất khô và sản lượng kinh tế cao
Lúa cũng cần nhiều đạm trong thời kỳ phân hóa đòng và phát triển đòng thành bông, tạo các bộ phận sinh sản Giai đoạn này lúa hút 10 - 15% lượng đạm,
là thời kỳ bón đạm có hiệu suất cao (Đào Thế Tuấn, 1980; S Yoshida,1985) Phần đạm còn lại được cây lúa hút tiếp tới lúc chín Việc cung cấp đạm lúc cây trưởng thành là điều kiện cần thiết để làm chậm quá trình già hóa của lá, duy trì cường độ quang hợp khi hình thành hạt chắc và tăng trưởng protein tích lũy vào hạt (Phạm Văn Cường, 2003)
Nghiên cứu của Norman và cs (1992) chứng minh rằng: Hiệu quả sử dụng đạm không chỉ phụ thuộc vào điều kiện đất đai, mùa vụ mà còn phụ thuộc vào giống Giống Indica sử dụng đạm có hiệu quả hơn giống Japonica Thí nghiệm nghiên cứu 5 giống lúa, trong đó 2 giống thuộc loài Indica, 3 giống thuộc loài
Trang 26Japonica cho kết quả: Sự tích lũy chất khô của các giống dao động từ 8,5-39,3%,
hệ số sử dụng đạm dao động từ 44,7%-66,7% Hệ số sử dụng đạm và chất khô của giống thấp cây, chín muộn cao hơn giống cao cây, chín sớm hoặc chín trung bình Thường thì giai đoạn hoa nở nếu giống nào tích lũy được nhiều đạm và chất khô thì chúng sẽ di chuyển vào hạt nhiều hơn vì vậy năng suất cũng cao hơn
(Ntanos et al., 2002)
Theo Surekha K and M.Narayana, Viện nghiên cứu lúa Ấn Độ (2003) thì sự hút đạm và sử dụng đạm trong sản xuất lúa phụ thuộc chặt chẽ vào quan hệ hút đạm/vận chuyển đạm/đồng hóa và phân phối đạm trong cây lúa Sự biểu hiện của quá trình này khác nhau ở các giống lúa khác nhau Thí nghiệm được tiến hành năm 2000 và 2001 ở 4 điểm với 4 mức phân đạm: không bón, bón 50%, 100%, 150% so với khuyến cáo của hai giống lúa lai (PHB71, KRH2) và giống lúa thuần Kết quả cho thấy: năng suất của các giống lúa theo mức tăng phân đạm là 5,3 - 6,7 tấn/ha vượt đối chứng 2,3 - 3,9 tấn/ha Nhưng ở một trong 4 điểm thí nghiệm năng suất chỉ đạt 4,2 tấn/ha khi mức bón trên 100% Ở hầu hết các điểm năng suất lúa lai cao hơn lúa thuần 9 - 18% chỉ có 1 điểm năng suất lúa thuần cao hơn Giống lúa lai PHB71 cho biểu hiện cao nhất về hiệu suất sử dụng đạm, hiệu quả sinh lý, chỉ số quy hoạch Các giống lúa lai có tỉ số diện tích lá, tổng số hạt/bông, số hạt chắc/bông cao hơn lúa thuần
Ef: Hiệu suất bón đạm
Kth: Tỷ lệ đạm thu hồi Nó được tính bằng tỷ số giữa lượng đạm cây hút
được và lượng đạm bón vào đất
Ku: Hiệu suất sử dụng đạm Được tính bằng số kg thóc được tạo ra do 1kg
đạm cây hút được
Hiệu suất bón đạm có xu hướng cao ở mức đạm thấp và khi bón sâu vào đất hoặc bón thúc vào thời kỳ sinh trưởng về sau (Prasat và DeDatta, 1979) Khi liều lượng đạm bón cho lúa từ 0-240 kgN/ha thì hiệu suất sử dụng phân bón biến thiên từ 47,4 – 17,1% trong vụ xuân và 38,6 – 24,3% trong vụ mùa Theo Trần
Trang 27Thúc Sơn, (1996) cũng trên đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất 1kg N là 10 – 15kg thóc ở vụ xuân và 6-9kg thóc vụ mùa Nếu bón trên 160 kg N/ha thì hiệu suất của phân đạm giảm rõ rệt (Trương Đích, 2002) Theo kết quả của Viện Nông hóa thổ nhưỡng cho thấy hiệu quả bón 1kg đạm làm tăng 9-18 kg thóc so với lúa lai còn lúa thường làm tăng từ 2 – 13kg thóc (Bùi Đình Dinh, 1995)
Ở vùng nhiệt đới hiệu suất sử dụng đạm đối với sản lượng hạt vào khoảng 50kg thóc khô/1kg đạm cây hút được Ở Nhật khoảng 62 kg, còn ở các nước ôn đới hiệu suất này cao hơn khoảng 20% (Yoshida, 1981)
2.3 NHỮNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ LƯỢNG PHÂN ĐẠM CHO LÚA
Đạm là một trong các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến sinh trưởng và năng suất cây trồng (Evans and Terashima, 1987).Ở cây lúa, lượng đạm bón có tương quan tuận chặt với năng suất hạt Nhưng bón nhiều đạm để tăng năng suất có thể lãng phí và gây ô nhiễm môi trường do lượng đạm
dư thừa mà cây không sử dụng hết Vì vậy, bón đạm cho lúa để vừa đạt được năng suất cao vừa giữ được cân bằng dinh dưỡng trong đất, tránh lãng phí và bảo
vệ môi trường là rất cần thiết (Bertrand, 2001)
Yoshida (1985) cho rằng: ở các nước nhiệt đới lượng các chất dinh dưỡng (N,P,K) cần để tạo ra một tấn thóc trung bình là: 20,55 kgN; 5,1 kgP2O5; 44 kgK2O Trên nền phân phối hợp 90 P2O5 - 60 K2O hiệu suất phân đạm và năng suất lúa tăng nhanh ở các mức phân bón từ 40 - 120 kg N/ha
Kết quả nghiên cứu sử dụng phân bón đạm trên đất phù sa sông Hồng của Viện Khoa học Nông Nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm 4 mức đạm từ năm 1992 đến 1994, kết quả cho thấy: phản ứng của phân đạm đối với lúa phụ thuộc vào thời vụ, loại đất và giống lúa và lượng đạm có hiệu quả cao là 90N, bón trên mức đó là gây lãng phí (Kết quả nghiên cứu về phân bón ở Miền Bắc, 1994-1995)
Theo Mai Văn Quyền tổng kết kinh nghiệm trên 60 thí nghiệm khác nhau thực tiễn ở 40 nước có khí hậu khác nhau đã cho thấy: Nếu đạt năng suất 3 tấn thóc/ha, lúa lấy đi hết 50 kg N, 26 kg K2O, 19 kg Ca, 12 kg Mg, 10 kg S (nguồn
do FIAC do FAO Rome dẫn trong Fertilizes and Theiruse lần thứ 5, lấy trung bình cứ tạo 1 tấn thóc lúa lấy đi hết 17 kg N, 8 kg P2O5, 27 kg K2O, 3 kg CaO, 2
kg Mg, 1,7 kg S (Mai Văn Quyền, 2002)
Ở Việt Nam, nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón trên lúa cũng có nhiều công bố được đưa ra Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Cự, tại xã Gia Xuyên - Tứ
Trang 28Lộc - Hải Dương cho thấy lượng đạm cần bón để đạt 1 tấn thóc phải từ 26 - 28 kg
N Kết quả này cao hơn nhiều so với dự tính của Đào Thế Tuấn năm 1969, muốn đạt được 1 tấn thóc cần 22,3 kg N trong vụ chiêm và 22,6 kg N trong vụ mùa Nghiên cứu của Nguyễn Như Hà và cộng sự, (2000) cho kết quả: Để năng suất lúa đạt 5,0 – 5,5 tấn/ha/vụ, đảm bảo phẩm chất tốt, hiệu suất phân bón cao
và ổn định độ phì đất cần bón 120 kg N/ha Muốn thu được 7 tấn/ha, các giống lúa lai cao sản cần bón 150 kg N/ha, lúa thuần bón từ 80-150 kg N/ha (Nguyễn Văn Hoan, 2006)
Thực tế, lượng đạm bón cho lúa khác nhau giữa các vùng Ở miền Bắc nông dân thường bón với lượng trung bình 103,2 kg N/ha (Nguyễn Văn Bộ và cs., 1996) Lượng phân khuyến cáo cho lúa cao sản ở vùng đất phù sa cặp giữa 2 sông Tiền và sông Hậu là 100-120 kg N/ha trong vụ Đông xuân và 80-100 kg N/ha trong vụ Hè thu hoặc vụ Xuân hè Trên đất phèn vùng Tứ giác Long Xuyên,
ở vụ Xuân bón 80-100kg N/ha, vụ Hè thu bón 60-80 kg N/ha, một phần diện tích nhỏ từ Long An đến Cà Mau bón 30-50 kg N/ha
Viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thí nghiệm về
"Ảnh hưởng của liều lượng đạm khác nhau đến năng suất lúa vụ Đông xuân và
Hè thu trên đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long" Kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ năm 1985 - 1994 của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long, đã chứng minh rằng: trên đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60 kg P2O5 và 30 kg
K2O làm nền thì khi bón đạm đã làm tăng năng suất lúa từ 15 - 48,5% trong vụ Đông Xuân và vụ hè thu tăng từ 8,5 - 35,6% Hướng chung của 2 vụ đều bón đến mức 90 kg N có hiệu quả cao hơn cả, bón trên mức 90 kg N này năng suất đều không tăng đáng kể (Nguyễn Thị Lẫm, 1999)
Theo kết quả nghiên cứu của Bali A.S (2006) trong 3 năm 2001, 2002,
2003 thì giống lúa lai KHR2 được bón 150 kg N + 80 kg P2O5 + 62 kg K2O cho năng suất cao nhất 6,26 tấn/ha trên loại đất pha cát ở Juma Còn theo kết quả nghiên cứu của Lal Meena Samth và cộng sự năm 2003 thì mức phân bón 200kg N/ha và 62,3 kg K2O làm tăng đáng kể số nhánh, tích lũy vật chất khô, năng suất sinh vật học và năng suất hạt của lúa lai Bón đạm làm cho năng suất lúa lai XI
723 cao hơn lúa thuần 17 - 20% (Walker Timothy et al., 2008)
Năng suất của bất kỳ giống cây trồng nào cũng là kết quả của hoạt động quang hợp và lượng dinh dưỡng hấp thu Kết quả nghiên cứu lúa lai của Ấn Độ năm 2000 trên nền phân bón 120kg N + 60kg P2O5 + 45kg K2O cho thấy: hạt đạt
Trang 296.470 kg/ha và ưu thế lai 28% thấp hơn là giống DRRH 1 tương ứng là 1.089g/m2, 5.750 kg/ha và 19,5% Lượng chất khô tích lũy ở các bộ phận trên lá
là khác nhau: 14,35%, ở rễ, 9,34% ở lá, 31,2% ở thân và 45% ở bông Giống TNRH 16 hấp thu lượng dinh dưỡng đạm, lân, kali cao nhất tương ứng là 144,
21, 126 kg/ha, còn giống DNRH1 hấp thu được ít hơn tương ứng là 134, 20, 97
Để tạo ra 100kh hạt cần 1,7 - 2,4 kgN; 0,27 - 0,34 kg P2O5 và 1,0 - 2,1 kg K2O (Ramarao G., 2004)
Suganthi M et al (2002), trường Đại học nông nghiệp Tamil Nadu, Ấn Độ
cho biết: đối với giống lúa lai ADTRH 1, năng suất tăng dần khi bón đạm với lượng từ 0 - 150 kg/ha và không có sự khác biệt về năng suất lúa ở mức 150 và
200kg N/ha (Suganthi M et al., 2002)
Viện Nông hoá - Thổ nhưỡng đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của đất, mùa vụ và liều lượng phân đạm bón đến tỷ lệ đạm cây hút (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) Không phải do bón nhiều đạm thì tỷ lệ đạm của cây lúa sử dụng nhiều Ở mức đạm 80 kg N/ha, tỷ lệ sử dụng đạm là 46,6%, so với mức đạm này có sử dụng phân chuồng tỷ lệ đạm hút được là 47,4% Nếu tiếp tục tăng liều lượng đạm đến 160N và 240N có phân chuồng thì tỷ lệ đạm mà cây lúa sử dụng cũng giảm xuống Trên đất bạc màu so với đất phù sa sông Hồng thì hiệu suất sử dụng đạm của cây lúa thấp hơn Khi bón liều lượng đạm từ 40N - 120N thì hiệu suất sử dụng phân giảm xuống, tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng vẫn tăng lên (Võ Minh Kha, 1998)
Các giống lúa yêu cầu lượng đạm bón khác nhau Thông thường giống có tiềm năng cho năng suất cao bao giờ cũng cần lượng đạm cao Nghiên cứu trên các giống Việt Lai 20, Bắc ưu và giống CR203, vụ mùa năm 2004 tại trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội cho thấy: Khi tăng lượng đạm bón tăng lên 120 kg N/ha thì hệ số diện tích lá (HSDTL) của cả 2 giống đều tăng, trong đó giống lai tăng mạnh hơn giống thuần, điều này chứng tỏ khả năng chịu phân của giống lai tốt hơn Sau trỗ 2 tuần HSDTL của giống lai giảm mạnh hơn giống lúa thuần chứng tỏ khả năng vận chuyển chất khô từ lá vào hạt của lúa lai tốt hơn Mức bón
từ 60-180 kg N/ha thì tốc độ tích lũy chất khô ở giai đoạn 2-4 tuần sau khi lúa làm đòng của giống lai cao hơn giống thuần (Phạm Văn Cường và cs., 2005) Giống lai yêu cầu lượng đạm cao hơn giống thuần Lượng đạm sử dụng cho giống lúa lai là 120-150 kg N/ha, giống lúa thuần là 80-100 kg N/ha (Nguyễn Văn Hoan, 2006) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bộ và cs (1995) cho
Trang 30thấy: Trên đất phù sa lúa lai chịu được mức bón đạm khá cao, khi bón 180 kg N/ha trong Xuân và 150 kg N/ha trong vụ Mùa mà vẫn giữ làm giảm năng suất Với giống lúa thuần Xi23 cấy trong vụ xuân 2008 đạm có tác dụng làm tăng
số bông/m2, tổng số hạt/bông, số hạt chắc/bông và năng suất thực thu khi lượng đạm bón tăng Nhưng mức bón 120N là hiệu quả nhất (Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Văn Duy, 2009)
Đối với giống lúa chịu hạn CH5 theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như
Hà (2006), tại Bắc Quang – Hà Giang lượng phân đạm thích hợp cho lúa CH5
sinh trưởng tốt và cho năng suất cao cũng từ 90-120 kg N/ha, tùy thuộc vào mật
2005, nhóm tác giả nhận thấy hiệu suất bón đạm đạt cao nhất là 9,2 kg thóc/1 kg
N khi bón 100 kg N/ha trên nền 5 tấn phân chuồng +90kg P2O5 + 95 kg K2O trên đất 2 vụ lúa Tuy nhiên khi bón đạm viên nén cho lúa tẻ thuần chất lượng cao N46, thì hiệu suất đạt cao nhất ở mức đạm bón 60 kg/ha Trong đó vụ xuân ở Thái Bình đạt 15,7 kg thóc/1kg N tại Tiên Lữ (Nguyễn Thị Lan và Đỗ Thị Hường, 2009) Như vậy hiệu suất bón đạm cũng phụ thuộc nhiều vào dạng đạm bón, tính chất đất đai và mùa vụ
Liều lượng đạm bón không chỉ phụ thuộc vào giống mà còn phụ thuộc vào điều kiện đất đai Trên đất phù sa sông Hồng phân đạm có hiệu lực cao nhưng với trình độ kỹ thuật canh tác hiện nay cũng chỉ nên bón 120 kg N/ha, là mức đạm bón có thể đạt năng suất 5,0-5,5 tấn/ha/vụ Với mức bón 80 kg N/ha/vụ có thể đạt năng suất 5 tấn/ha/vụ, nhưng không ổn định được độ phì của đất (Nguyễn Như Hà và cs., 2000) Trên đất phù sa sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên – Huế, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt tăng theo lượng đạm bón còn số bông/m2 và năng suất thực thu đạt cao nhất ở công thức 100 kg N/ha Theo phương trình hồi quy năng suất lúa bắt đầu giảm ở công thức bón 120 kg N/ha Theo phương trình hồi quy năng suất lúa bắt đầu giảm ở công thức bón 120 kg N/ha (Trần Danh Đức, 2003) Trên đất bạc màu, năng suất đạt cao nhất khi bón 120 kg N/ha trên
Trang 31nền 90-135 P2O5 + 80 K2O, khi bón lượng đạm cao hơn thì năng suất giảm (Trần Thúc Sơn, 1996) Kết quả nghiên cứu của Chu Văn Hách và cs., (2006) tại Viện nghiên cứu Lúa đồng bằng sông Cửu Long cho thấy, mỗi mùa vụ lúa yêu cầu lượng đạm bón khác nhau Chiều cao cây và thời gian sinh trưởng của các giống lúa tương quan thuận với lượng đạm đầu tư, trong đó vụ Hè thu tăng thấp hơn vụ Đông xuân Số bông/m2 đạt cao nhất ở mức bón 60 kg N/ha trong vụ Hè thu và
120 kg N/ha trong vụ Đông xuân Số hạt chắc/bông đạt cao nhất ở mức 60 kg N/ha trong vụ Hè thu và 80 kg N/ha trong vụ Đông xuân, tỷ lệ hạt lép tăng theo lượng đạm bón Năng suất lúa đạt cao nhất ở mức bón 60 kg N/ha trong vụ Hè thu và 80 kg N/ha trong vụ Đông xuân
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ trồng đến ưu thế lai về hiệu suất sử dụng đạm của lúa lai F1, theo Phạm Văn Cường và cs (2007), khi tăng lượng đạm bón từ 0-120 N/ha thì hiệu suất bón đạm của VL20 cao nhất ở mức bón 120kg N/ha Trong đó vụ xuân đạt 11,8 kg thóc/1kg N, vụ mùa đạt 3,6 kg thóc/1kg N
Như vậy, phân đạm có vai trò quan trọng trong quá trình thâm canh lúa Phân đạm cây lúa cần nhiều trong giai đoạn đầu là để mở rộng diện tích quang hợp và khả năng đẻ nhánh của cây lúa Tuy nhiên, hiệu suất quang hợp và tỷ lệ nhánh hữu hiệu chỉ tăng được đến một giới hạn nhất định sau đó có chiều hướng giảm dần, nếu thiếu đạm cây sẽ phát triển kém, năng suất thấp, nếu thừa đạm dễ lốp đổ, sâu bệnh cũng làm giảm năng suất lúa nghiêm trọng Nhu cầu sử dụng phân đạm của cây lúa phụ thuộc vào đặc tính của từng giống, phụ thuộc vào điều kiện sinh thái khác nhau Chính vì vậy việc nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và tìm ra liều lượng đạm phù hợp là rất cần thiết
Trang 32PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Đề tài được tiến hành trong vụ Mùa năm 2015 và vụ Xuân năm 2016 tại huyện Gia Bình – Tỉnh Bắc Ninh
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu từ tháng 6/2015-6/2016
3.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phân bón
- Phân đạm Urê (46%N)
- Phân Kali clorua (60%K2O)
- Phân Super Lân Lâm Thao (17% P2O5)
3.3.2 Giống (Vinaseed, 2015)
- Giống lúa thuần Q5
+ Nguồn gốc: Là giống lúa thuần nhập từ Trung Quốc từ năm 1993
+ Đặc điểm sinh học:
Thời gian sinh trưởng vụ xuân 135-140 ngày; vụ mùa 110-115 ngày
Chiều cao cây 90-100cm, phiến lá đứng, góc lá hẹp, gọn khóm, khả năng đẻ nhánh khá Cứng cây, lá gọn, dạng hình thâm canh Khối lượng 1000 hạt 25-26 gam
Năng suất trung bình 55- 60 tạ/ha, thâm canh có thể đạt 70 tạ/ha
Chịu rét khá, chịu chua khá, chống đổ
Nhiễm nhẹ một số sâu bệnh hại chính (khô vằn, đạo ôn )
- Giống lúa Thiên Ưu 8
+ Nguồn gốc: Là giống lúa thuần chất lượng cao, tiềm năng năng suất cao
do Công ty Cổ phần Giống cây trồng Trung ương chọn tạo
+ Đặc điểm sinh học:
Thời gian sinh trưởngvụ Xuân 125-130 ngày; vụ Mùa 100-105 ngày
Chiều cao cây 100-110 cm, phiến lá phẳng đứng, gọn khóm, màu xanh đậm, đẻ nhánh tập trung
Trang 33Năng suất trung bình 70 – 75 tạ/ha, thâm canh đạt 85- 90 tạ/ha Hạt thon, dài, mỏ cong, màu vàng sáng, khối lượng 1000 hạt 20-21 gram, chất lượng gạo tốt, cơm trắng, bóng, mềm, vị đậm
Là giống cảm ôn, nên gieo cấy được cả hai vụ
Khả năng chống đổ khá, chống chịu khá với một số sâu bệnh hại chính (đạo
ôn, khô vằn, bạc lá…), phạm vi thích ứng rộng
Cả hai giống lúa trên đang được sử dụng rộng rãi trên đất huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Ảnh hưởng lượng phân đạm đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Thiên Ưu 8 và Q5 trong vụ hai vụ: vụ mùa năm 2015 và vụ xuân năm 2016, tại huyện Gia Bình, Bắc Ninh
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
+ N1: 60 kg N/ha (tương đương 4,7 kg Ure /sào Bắc Bộ)
+ N2: 80 kg N/ha (tương đương 6,3 kg Ure /sào Bắc Bộ)
+ N3: 100 kg N/ha (tương đương 7,8 kg Ure /sào Bắc Bộ)
+ N4: 120 kg N/ha (tương đương 9,4 kg Ure /sào Bắc Bộ)
- Yếu tố phụ (giống):
+ G1: Q5 (giống năng suất cao)
+ G2: Thiên Ưu 8 (giống chất lượng cao)
Trang 34Sơ đồ thí nghiệm được bố trí như sau:
* Cấy: khi mạ được 3-4 lá, cấy 2 dảnh/khóm với mật độ 40 khóm/m2
* Thời gian gieo mạ và cấy:
Vụ trồng Thời gian gieo, cấy Tuổi mạ Phương thức làm mạ
Vụ Mùa 2015 Ngày gieo: 25/06/2015 20 Mạ dược
Ngày cấy: 15/07/2015
Vụ Xuân 2016 Ngày gieo: 31/01/2016 30 Mạ dược
Ngày cấy: 01/03/2016
Trang 35* Chăm sóc:
- Đất cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại, nước tưới các biện pháp chăm sóc khác đồng đều giữa các ô thí nghiệm
- Làm mạ theo phương pháp mạ dược
3.6 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI
3.6.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển
Theo dõi 10 cây theo 5 điểm đường chéo, tiến hành theo dõi hàng tuần các chỉ tiêu sau:
- Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng
+ Ngày gieo mạ, phương pháp gieo mạ (dược);
+ Ngày cấy (ngày);
+ Từ cấy đến kết thúc đẻ nhánh (ngày): tính từ khi cấy đến khi ngừng đẻ nhánh hoàn toàn;
+ Thời gian từ khi kết thúc đẻ nhánh đến trỗ (ngày);
+ Thời gian chín (ngày): Thời gian từ khi kết thúc trỗ đến khi 85% số hạt trên bông chín;
+ Thời gian sinh trưởng (ngày): Tính số ngày từ khi gieo đến khi 85% số hạt trên bông chín
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây: Đo chiều cao cây theo phương pháp mút lá, 7 ngày theo dõi 1 lần sau cấy 15 ngày
- Động thái đẻ nhánh: đếm số nhánh/ khóm lúa, 7 ngày theo dõi 1 lần sau cấy 15 ngày
- Chiều cao cây cuối cùng
* Các chỉ tiêu sinh lý: ở các thời kỳ sinh trưởng của cây lúa, lấy ngẫu nhiên mỗi ô 10 khóm/ ô thí nghiệm
- Chỉ số diện tích lá LAI (m2 lá/m2 đất) ở thời kỳ: đẻ nhánh rộ, trỗ và chín sáp được xác định bằng phương pháp cân nhanh
Chọn ngẫu nhiên mỗi ô 5 khóm phân bố đều trong ô Tính diện tích lá/ khóm bằng phương pháp cân nhanh: Cắt tất cả các lá/khóm, cắt lá xếp sát liền nhau trong 1 ô rộng 1 dm2; cân khối lượng 1 dm2 lá (P1), cân khối lượng toàn bộ lá/khóm (P2)
Trang 36LAI = P2 x Số khóm/m
2 đất P1 x 100 Trong đó: P1 là khối lượng 1dm2 lá xanh
P2 là khối lượng lá xanh toàn khóm
100 là hệ số quy đổi từ đơn vị dm2 sang m2
- Tích lũy chất khô (g/m2 đất) ở ba thời kỳ: đẻ nhánh rộ, trỗ và chín sáp được xác định bằng phương pháp sấy khô: lấy mẫu, rửa sạch, tách các bộ phận thân, lá, bông, sau đó sấy khô ở 80oC đến khối lượng không không đổi, cân trọng lượng và xác định giá trị trung bình
3.6.2 Các chỉ tiêu năng suất
Mỗi ô lấy 10 khóm, theo dõi các chỉ tiêu sau:
- Số bông/khóm: Đếm tổng số bông hữu hiệu trên cây (chỉ tính những bông
có 10 hạt trở lên), sau đó lấy giá trị trung bình Số bông/khóm chia làm 3 lớp: bông to, bông trung bình và bông nhỏ; lấy ngẫu nhiên 3 bông to, 4 bông trung bình, 3 bông nhỏ để đo đếm các chỉ tiêu
- Số bông/m2:
- Số hạt/ bông: Đếm số hạt có trên bông
- Số hạt chắc/bông: Đếm số hạt chắc có trên bông
- Tỷ lệ hạt chắc (%) = Số hạt chắc x 100/tổng số hạt
- Khối lượng 1.000 hạt (gam): Phơi khô đến độ ẩm 13%, cân 2 lần, mỗi lần 500 hạt Nếu sai số giữa các lần cân không quá 5% thì cộng 2 lần cân rồi chia cho 2 tính được khối lượng 500 hạt Đem kết quả nhân 2 để tính khối lượng 1.000 hạt
- Năng suất sinh vật học (NSSVH) (tấn/ha) = Khối lượng rơm rạ khô + khối lượng hạt khô, mỗi ô lấy 10 khóm không kể rễ, sấy khô đến khối lượng không đổi
- Hệ số kinh tế (HSKT) (%) =
Khối lượng hạt khô
x 100 Khối lượng rơm rạ khô +
Khối lượng hạt khô
Trang 37- Năng suất thực thu (NSTT): Sau khi gặt 5m2 ở giữa ô, tuốt, phơi khô đến
độ ẩm 13% thì cân toàn bộ khối lượng hạt chắc thu được quy ra tạ/ha
- Hiệu quả kinh tế (HQKT): là lợi nhuận thu được từ việc bán sản phẩm trừ
đi chi phí đầu tư
HQKT = Tổng thu nhập – Tổng chi phí Trong đó: Tổng thu nhập/ha = Sản lượng x Giá bán
Tổng chi phí/ha: chi phí đầu tư giống, phân bón, thuốc BVTV…
3.6.3 Theo dõi sâu bệnh
Theo dõi sâu, bệnh hại chính trên các ô thí nghiệm, sau đó phân cấp cho điểm theo thang điểm của Viện lúa quốc tế (IRRI, 1996):
* Các chỉ tiêu về sâu hại:
- Sâu đục thân (Scripophaga incertulas)
Theo dõi tỷ lệ dảnh chết ở 10 khóm điều tra trong thời kỳ giai đoạn đẻ nhánh, thời kỳ làm đòng và bông bạc ở giai đoạn vào chắc đến chín
Đánh giá theo thang điểm:
Điểm 0: Không bị hại
Điểm 1:1-10% số dảnh hoặc bông bị hại
Điểm 3:11-20% số dảnh hoặc bông bị hại
Điểm 5:21-30% số dảnh hoặc bông bị hại
Điểm 7:31-50% số dảnh hoặc bông bị hại
Điểm 9:51-100% số dảnh hoặc bông bị hại
- Sâu cuốn lá (Cnaphallocrocis medinalis)
Tính tỷ lệ % cây bị sâu ăn phân xanh của lá bị cuốn thành ống ở thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng áp dụng theo thang điểm sau:
Điểm 0: Không có cây bị hại
Điểm 1: 1-10% số cây bị hại
Điểm 3: 11-20% số cây bị hại
Điểm 5: 21-30% số cây bị hại
Điểm 7: 31-60% số cây bị hại
Trang 38Điểm 9: 61-100% số cây bị hại
Rầy nâu (Nilaparvata lugens)
Theo dõi cây chuyển màu vàng ở từng bộ phân hay toàn bộ cây, đánh giá theo thang điểm:
Điểm 0: Không bị hại
Điểm 1: Hơi biến vàng trên một số cây
Điểm 3: Lá biến vàng ở một số bộ phận nhưng chưa bị cháy rầy
Điểm 5: Những lá vàng rõ, cây lùn hoặc héo, 10-25% số cây bị cháy rầy, các cây còn lại bị lùn nặng
Điểm 7: Trên một nửa số cây bị héo hoặc cháy rầy, số cây còn lại bị lùn nghiêm trọng
Điểm 9: Tất cả các cây bị chết
* Các chỉ tiêu theo dõi về bệnh hại
- Bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae):
+ Đối với đạo ôn trên lá, theo dõi mức độ nhiễm bệnh, đánh giá tỷ lệ % vết bệnh và tính theo thang điểm:
Điểm 0: Không thấy có vết bệnh
Điểm 1: Phát hiện các vết bệnh màu nâu, hình kim châm ở giữa, chưa xuất hiện vùng sản sinh bào tử
Điểm 2: Xuất hiện vết bệnh nhỏ tròn hoặc hơi dài, đường kính 1-2mm, có viền nâu rõ rệt, hầu hết các lá dưới đều có vết bệnh
Điểm 3: Hình dạng vết bệnh như ở 2 điểm trên nhưng vết bệnh đã xuất hiện đáng kể ở các lá trên
Điểm 4: Vết bệnh điển hình cho các giống nhiễm, vết bệnh dài 3mm hoặc dài hơn diện tích vết bệnh ở lá dưới chiếm tới 4% diện tích lá bị bệnh
Điểm 5: Vết bệnh điển hình chiếm từ 4-10% diện tích lá bị bệnh
Điểm 6: Vết bệnh điển hình chiếm từ 11-25% diện tích lá bị bệnh
Điểm 7: Vết bệnh điển hình chiếm từ 26-50% diện tích lá bị bệnh
Điểm 8: Vết bệnh điển hình chiếm từ 51-75% diện tích lá bị bệnh
Điểm 9: Vết bệnh điển hình chiếm trên 75% diện tích lá bị bệnh
Trang 39+ Đối với bệnh đạo ôn cổ bông tiến hành đánh giá theo thang điểm:
Điểm 0: Không thấy có vết bệnh hoặc chỉ có vết bệnh trên vài cuống bông Điểm 1: Thấy xuất hiện vết bệnh có trên 1 vài bông hoặc gié cấp 2
Điểm 3: Xuất hiện vết bệnh trên một vài gié cấp 1 hoặc phần giữa của trục bông
Điểm 5: Vết bệnh bao quanh một phần gốc bông hoặc phần thân rạ ở phía dưới trục bông
Điểm 7: Vết bệnh bao quanh toàn bộ cổ bông hoặc ở phần trục gần cổ bông,
có hơn 30% hạt chắc
Điểm 9: Vết bệnh bao quanh cổ bông hoặc phần thân rạ cao nhất hoặc trục gần gốc bông, số hạt chắc thấp hơn 30%
- Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani):
Quan sát độ cao tương đối của vết bệnh trên lá hoặc bẹ lá :
Điểm 0: Không có triệu chứng
Điểm 1: Vết bệnh thấp hơn 20% chiều cao cây
Điểm 3: Vết bệnh từ 20 - 30% chiều cao cây
Điểm 5: Vết bệnh từ 31 - 45% chiều cao cây
Điểm 7: Vết bệnh từ 46 - 65% chiều cao cây
Điểm 9: Vết bệnh > 65% chiều cao cây
- Bệnh bạc lá (Xanthomonas campestris pv Oryzae ) : Quan sát diện tích vết bệnh trên lá từ giai đoạn lúa làm đòng cho đến giai đoạn vào chắc và cho điểm theo thang điểm 0, 1, 3, 5, 7, 9:
Trang 403.7 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu thí nghiệm thu được trong quá trình thí nghiệm được tổng hợp và xử
lý thống kê theo phương pháp phân tích phương sai (ANOVA) và bằng các chương trình Excel 2010, chương trình IRRISTAT 5.0
- Tính giá trị trung bình: X =
n Xi
- Tính hệ số biến động: CV(%) =
X
S
x100
Trong đó: n là số mẫu quan sát
X là giá trị trung bình của số mẫu quan sát
S2 là phương sai mẫu
Xi là giá trị thực của tính trạng quan sát ở tính trạng thứ i