HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ GIANG ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG ĐẬU XANH TRONG ĐIỀU KIỆN GIA LÂM, HÀ NỘI Chuyên ngành: Khoa h
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ GIANG
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN
VÀ NĂNG SUẤT MỘT SỐ DÒNG, GIỐNG ĐẬU XANH
TRONG ĐIỀU KIỆN GIA LÂM, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Tuấn
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp thực hiện, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Tuấn Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn tốt nghiệp này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Giang
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô trong khoa Nông học, đặc biệt là các thầy cô trong Bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt đề tài
Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Giang
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Trích yếu luận văn vii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích, yêu cầu 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Nguồn gốc và phân loại đậu xanh 3
2.1.1 Nguồn gốc đậu xanh 3
2.1.2 Phân loại đậu xanh 4
2.2 Yêu cầu ngoại cảnh đối với cây đậu xanh 4
2.2.1 Yêu cầu về điều kiện khí hậu 4
2.2.2 Yêu cầu về đất đai 5
2.2.3 Yêu cầu về dinh dưỡng 6
2.3 Giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế của cây đậu xanh 8
2.3.1 Giá trị dinh dưỡng của đậu xanh 8
2.4 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới và Việt Nam 11
2.4.1 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới 11
2.4.2 Tình hình sản xuất đậu xanh ở Việt Nam 15
2.5 Tình hình nghiên cứu chọn tạo đậu xanh trên thế giới và Việt Nam 17
2.5.1 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống đậu xanh trên thế giới 17
Trang 52.5.2 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống đậu xanh ở Việt Nam 19
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 23
3.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
3.2 Vật liệu nghiên cứu 23
3.3 Nội dung nghiên cứu 24
3.4 Phương pháp nghiên cứu 24
3.4.1 Bố trí thí nghiệm 24
3.4.2 Quy trình kĩ thuật 25
3.4.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 29
4.1 Đặc điểm hình thái các dòng, giống đậu xanh 29
4.1.1 Đặc điểm thân, cành đậu xanh 29
4.1.2 Đặc điểm hoa, quả và hạt đậu xanh 29
4.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của các dòng, giống đậu xanh trong vụ xuân và vụ hè thu năm 2016 32
4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao của một số dòng, giống đậu xanh trong vụ xuân và vụ hè thu năm 2016 35
4.4 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của các dòng, giống đậu xanh trong vụ xuân và vụ hè thu năm 2016 38
4.5 Khả năng hình thành nốt sần của các dòng, giống đậu xanh 43
4.6 Một số chỉ tiêu sinh trưởng phát triển các dòng, giống đậu xanh 46
4.7 Mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ, tính tách vỏ quả 50
4.8 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống đậu xanh trong vụ xuân và vụ hè thu năm 2016 54
4.9 Năng suất của các dòng, giống đậu xanh thí nghiệm 58
Phần 5 Kết luận và đề nghị 61
5.1 Kết luận 61
5.2 Đề nghị 61
Tài liệu tham khảo 62
Phụ lục 67
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa Tiếng Việt
AVRCD Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau châu á CCCC : Chiều cao cuối cùng
m1000 : Khối lượng 1000 hạt
NN & PTNN : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của đậu xanh 8
Bảng 2.2 Axit amin trong bột đậu xanh và tiêu chuẩn của FAO/WHO 9
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh trên thế giới và một số nước qua các năm 2008 – 2011 14
Bảng 2.4 Diện tích và năng suất đậu xanh ở Việt Nam 15
Bảng 3.1 Các dòng, giống đậu xanh nghiên cứu 23
Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái một số dòng, giống đậu xanh nhập nội 31
Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các dòng, giống đậu xanh ở vụ Xuân và Hè Thu năm 2016 34
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các dòng, giống đậu xanh thí nghiệm ở vụ Xuân năm 2016 (cm) 36
Bảng 4.4 Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của các dòng, giống đậu xanh thí nghiệm ở vụ Hè Thu (cm) 37
Bảng 4.5 Diện tích lá của các dòng, giống đậu xanh thí nghiệm (m2 lá) 41
Bảng 4.6 Chỉ số diện tích lá của các dòng, giống đậu xanh thí nghiệm (m2 lá/m2 đất) 42
Bảng 4.7 Số lượng và khối lượng nốt sần của các dòng, giống đậu xanh trong vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2016 44
Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu sinh trưởng của các dòng, giống đậu xanh trong vụ Xuân và Hè Thu năm 2016 48
Bảng 4.9 Mức độ nhiễm sâu, bệnh hại và khả năng chống đổ, tính tách vỏ quả của các dòng, giống đậu xanh trong vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2016 53
Bảng 4.10 Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống đậu xanh trong vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2016 57
Bảng 4.11 Năng suất của các dòng, giống đậu xanh trong vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2016 60
Trang 8TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Giang
Tên Luận văn: Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất một số dòng, giống đậu xanh trong điều kiện Gia Lâm, Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu bao gồm 19 dòng, giống đậu xanh có nguồn gốc khác nhau, được nhập nội theo con đường không chính thức Giống ĐX11 sử dụng làm đối chứng Các thí nghiệm nghiên cứu được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCB) với 3 lần nhắc lại
Các số liệu, kết quả thí nghiệm được xử lý bằng phần mềm Excel 2007, chương trình IRRISTAT 5.0 và chương trình phân tích độ ổn định Nguyễn Đình Hiền (Ver 3.0 Nguyen Dinh Hien 1996)
Kết quả nghiên cứu chính và kết luận
Các dòng, giống đậu xanh nhập nội sinh trưởng phát triển tốt ở hai vụ trồng, có thời gian sinh trưởng từ 64 -79 ngày trong vụ Xuân và từ 62 - 73 ngày ở vụ Hè Thu Chiều cao cây đạt từ 66,2 – 93,4 cm (vụ Xuân) và từ 67 - 94,6 cm (vụ Hè Thu) Số đốt/thân chính, số lá/thân chính và sô cành cấp 1 của các dòng, giống không có sự khác biệt ở hai vụ trồng và đạt 11,7 - 13,2 đốt; 7,8 - 9,8 lá; 0,3 – 2,1 cành (vụ Xuân); và 10,7
- 14,6 đốt; 7,3 - 9,4 lá; 0,7 – 2 cành (vụ Hè Thu) Trong điều kiện tự nhiên tại Gia Lâm,
Hà Nội các dòng giống đậu xanh nhiễm nhẹ sâu cuốn lá, sâu đục quả, bệnh đốm nâu và bệnh lở cổ rễ ở cả hai vụ trồng, có khả năng chống đổ khá tốt và không bị tách vỏ quả Các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống ít có sự khác biệt ở hai vụ trồng Số quả/cây; số hạt/quả của các dòng, giống ở vụ Xuân đạt 8,7 – 15 quả/cây; 8,7 – 11,2 hạt/quả, với khối lượng 1000 hạt đạt 45,7 – 65,3g; năng suất cá thể của cá dòng, giống đạt từ 5,32 – 9,96g và có năng suất thực thu đạt 10,4 – 14,7 tạ/ha Ở vụ Hè Thu đạt 8,8 – 16 quả/cây; 9,7 – 11,3 hạt/quả, với m1000 hạt từ 48 – 64g; các dòng, giống đậu xanh có năng suất cá thể đạt từ 4,58 – 9,76g và có năng suất thực thu đạt 7,3 – 16,8 tạ/ha
Trang 9Từ các đánh giá về đặc điểm nông sinh học, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở hai vụ trồng đã xác định được 3 dòng có khả năng sinh trưởng phát triển tốt cho năng suất cao và phù hợp trồng trong vụ Xuân ở đồng bằng sông Hồng là MT3; MT13 và dòng ĐX902 Các dòng MT1; MT3; MT9; MT13 và ĐX902 có khả năng sinh trưởng phát triển tốt, được xem là các dòng triển vọng trong vụ hè
Trang 10THESIS ABSTRACT
Author : Nguyen Thi Giang
Thesis title: Evaluation of growth ability and yield of some green bean genus and
species under conditions of Gia Lam – Ha Noi
Major: Crop Science Code: 60.62.01.10
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
Evaluating some imported green bean species to find the kind of green beans which have good growth capability and high productivity, serving practical production and breeding activities in accordance with the conditions in the Red river delta provinces
Materials and Methods
Study materials include 19 green bean species which had different origins and were imported by unofficial way DX11 used as check sample
The experiments were arranged in randomized complete block design (RCB) with 3 replicates
The data and test results are processed by the Excel 2007 software, IRRISTAT 5.0 program and analysis stability program of Nguyen Dinh Hien (Ver 3.0 Nguyen Dinh Hien 1996)
Key research results and conclusions
The imported green bean species grew and developed well in two planting seasons The growth time was from 64 to 79 days in Spring season and from 62 to 73 days in the Summer-Autumn season Plant height reaches from 66.2 cm to 93.4 cm (Spring season) and from 67 cm to 94.6 cm (Summer-Autumn season) The number of internode/tree-trunk, the number of leaves/tree-trunk and the number of branch at the level 1 of these species had no difference in two planting seasons and reached 11.7 to 13.2 tree-trunks; 7.8 to 9.8 leaves; 0.3 to 2.1 branchs (Spring season); and from 10.7 to 14.6 tree-trunks; 7.3 to 9.4 leaves; 0.7 to 2 branches (summer-autumn season) In natural condition in Gia Lam, Hanoi, the green bean species were infected lightly
by leaf folder, bollworm disease, brown spot disease and collar rot disease in both planting season However, they could resist collapse and split pods
The yield components of the species had few differences in two planting seasons Number of fruits/tree, number of gains/fruit of the species reached 8.7 to 15
Trang 11fruits/tree and 8.7 to 11.2 gains/fruit in Spring season, with the mass of 1000 gains reached 45.7-65,3g Individual productivity of the species were from 5.32 - 9,96g and the actual yield reached 10.4 to 14.7 kg/ha In the Summer-Autumn season reached 8.8
to 16 fruits/tree; 9.7 to 11.3 grains/fruit, with the mass of 1000 grains was 48 – 64g; the individual productivity of green bean species achieved from 4.58 - 9,76g and the actual yield reached 7.3 to 16.8 kg/ha
From the assessment of biological characteristics, the components of productivity and yield in the two seasons identified three species having capability of further growth and development with high yield, suitable for planting in Spring in the Red river delta are MT3; MT13 and DX902 MT1; MT3; MT9; MT13 and DX902 have capability to growth and development which are considered as desirable species in Summer season
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đậu xanh hay đỗ xanh (Vigna radiata (L.) là cây thực phẩm họ đậu giàu
protein Do có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng chịu hạn và thích ứng môi trường tốt, hiện nay, đậu xanh là một trong những cây trồng tiềm năng được nhiều nước lựa chọn để nghiên cứu phát triển trong các chương trình ứng biến với thay đổi khí hậu toàn cầu Tuy không được trồng với diện tích lớn như đậu tương nhưng đối với một số quốc gia thuộc miền Nam và Đông Nam châu Á, đậu xanh đóng một vai trò quan trọng Hiện nay đậu xanh là cây đậu đỗ quan trọng số
1 của Thái Lan, là cây quan trọng số 2 của Sri Lanca, là cây quan trọng số 3 của
Ấn Độ, Myanma, Bangladesh, Indonesia Đậu xanh cũng được trồng nhiều ở Australia, Trung Quốc, Iran, Kenya, Hàn Quốc, Malaxia, Peru, Hoa Kỳ, các nước vùng Trung Đông Ở Việt Nam, đậu xanh là cây trồng có ý nghĩa quan trọng trong hệ thống nông nghiệp, có thể được trồng xen canh, gối vụ và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ nghèo và sản xuất nhỏ, đặc biệt đối với các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (Phạm Văn Thiều, 2009)
Hạt đậu xanh chứa nhiều chất dinh dưỡng như protein (21-24%), lipit 4%), đường bột (57-58%), 4-5% các chất khác và rất nhiều vitamin như vitamin
(1-E, B1, B2, B3, B6, C, tiền vitamin A, vitamin K, acid folic; và các khoáng tố gồm Ca, Mg, K, Na, Zn, Fe, Cu, … là nguồn năng lượng cần thiết cho cuộc sống con người Vì thế từ lâu con người đã biết chế biến nhiều thực phẩm từ hạt đậu xanh như giá đỗ, kẹo, bánh, xôi, chè, cháo (Trần Văn Lài, 1993) Trong đông, tây y đậu xanh có công dụng thanh nhiệt, mát gan, điều hòa ngũ tạng, bổ nguyên khí, giải được nhiều thứ độc, có thể làm sạch mát nước tiểu, chữa lở loét, làm sáng mắt, thích hợp với các bệnh nhân say nắng, miệng khát, người nóng, thấp nhiệt, ung nhọt, viêm tuyến má, đậu mùa, nhìn mọi vật không rõ…
Ở nước ta, cây đậu xanh được trồng rải rác ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước (Theo Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn) Cây đậu xanh được xác định là cây trồng thay thế phù hợp cho các cây trồng khác trong vụ Hè
vì sự thích ứng với thời tiết và tiềm năng kinh tế cao Tuy nhiên, các nghiên cứu
về đậu xanh ở nước ta còn hạn chế, năng suất đậu xanh còn thấp do chủ yếu sử dụng các giống địa phương và biện pháp kỹ thuật truyền thống chưa đem lại hiệu quả Vì vậy, việc tăng cường nghiên cứu để chọn tạo ra các giống có khả năng
Trang 13sinh trưởng phát triển tốt, năng suất cao để đáp ứng nhu cầu sản xuất thực tiễn cũng như tìm kiếm vật liệu khởi đầu cho công tác chọn tạo giống là việc làm rất cần thiết và đáng quan tâm hiện nay
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất một số dòng, giống đậu xanh trong điều kiện Gia Lâm, Hà Nội” nhằm góp đa dạng bộ giống đậu xanh ở nước ta, đồng
thời xác định vật liệu phục vụ công tác chọn tạo giống đậu xanh mới có năng suất
1.2.2 Yêu cầu
Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại và năng suất của một số dòng, giống đậu xanh nhập nội trong điều kiện vụ Xuân năm 2016 tại Gia Lâm - Hà Nội
Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại và năng suất của một số dòng, giống đậu xanh nhập nội trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2016 tại Gia Lâm - Hà Nội
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sự sinh trưởng, phát triển, mức độ nhiễm sâu bệnh hại và năng suất của 19 dòng, giống đậu xanh nhập nội trong điều kiện
vụ Xuân và vụ Hè Thu năm 2016 trên địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI ĐẬU XANH
2.1.1 Nguồn gốc đậu xanh
Cây đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và được phân bố rộng rãi ở các nước châu Á Bằng chứng khảo cổ đã phát hiện vết tích cây đậu xanh được trồng ở nhiều vùng của Ấn Độ gồm phía đông của khu vực nền văn minh cổ Harappan ở Punjab và Haryana có niên đại khoảng 4500 năm, và ở bang Karnataka phía Nam
Ấn Độ có niên đại hơn 4000 năm Các bằng chứng khảo cổ cũng đã kết luận cây đậu xanh được trồng rộng rãi ở Ấn Độ cách nay khoảng 3.500-3.000 năm
Bằng chứng khảo cổ tại khu vực Thampee và Ghost Cave ở Maehong son (Thái Lan) cho thấy đậu xanh đã có lịch sử trồng trọt khá lâu đời ở châu Á Đến năm 1970, những nghiên cứu về loại cây này mới được bắt đầu
Tổ tiên của cây đậu xanh là Phân loài Vigna radiata var sublobata mọc
hoang dại ở Mông Cổ Quốc gia này đã thuần hóa loài cây đậu xanh từ lâu đời Cây đậu xanh đặc tính thích ứng rộng, chịu hạn khá và có thể thích nghi với các vùng có điều kiện khắc nghiệt Ở châu Á cây đậu xanh được trồng nhiều
ở các quốc gia như: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Lào, Philippines, Malaysia và Indonesia Sau này cây đậu xanh còn được trồng ở Trung Phi, các vùng khô và nóng ở Nam Âu, phía Đông Bắc châu Úc, Nam Mỹ và miền Nam Hoa Kỳ
Ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa đủ cơ sở để xác định nguồn gốc và thời gian đậu xanh được gieo trồng và sử dụng ở nước ta Tuy nhiên, qua các hoạt động văn hóa của nhân dân ta đã thấy đậu xanh được trồng ở nước ta từ lâu đời Điều đó, được chứng minh qua các món ăn truyền thống của người Việt Nam như trong nhân bánh, đồ xôi có sự tham gia của đậu xanh, ngoài ra đậu xanh còn được dùng làm thuốc chữa bệnh Theo Lê Quý Đôn viết trong "Vân đài loại ngữ", ông cho rằng cây đậu xanh được trồng ở nước ta từ lâu đời, ngoài mục đích làm thực phẩm, làm thuốc còn có ý nghĩa quan trọng trong cải tạo đất, chống xói mòn và dùng làm phân xanh có giá trị cao (Trần Đình Long và Lê Khả Tường, 1998)
Trang 152.1.2 Phân loại đậu xanh
Chi Đậu (Vigna) là một chi thực vật thuộc Phân họ Đậu Tên Latin của chi
này được đặt theo tên của Domenico Vigna, nhà thực vật học người Ý ở thế kỉ 17
Cây đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) thuộc ngành Magnoliopyta, lớp
Magnoliopsida bộ Fabales, họ đậu (Fabaceae), chi Vigna Chi Vigna là một
trong những chi lớn của họ đậu, bao gồm 7 chi phụ là: Vigna, Haydonia,
Plectropic, Macrohynchus, Ceratotropic, Lasionspron, Sigmoidotrotopis Đậu
xanh theo quan điểm lấy hạt bao gồm các loại thuộc hai chi phụ là Vigna và
Ceratotropic Chi phụ Ceratotropic còn được gọi là nhóm đậu châu Á mang
những đặc điểm điển hình thể hiện ở mức độ cao nhất cho Vigna Năm 1970, Vercourt đã công bố 5 trong số 16 loài của Ceratotropic đã được thuần hoá là: Đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek), Đậu gạo (Vigna Umbellata (thumb), đậu
adzukia (Vigna anguilaris (Willd), đậu ván (Vigna aconiti folia (Jacq)), Vigna trilobata (L) Wildzek
2.2 YÊU CẦU NGOẠI CẢNH ĐỐI VỚI CÂY ĐẬU XANH
2.2.1 Yêu cầu về điều kiện khí hậu
a Yêu cầu nhiệt độ
Đậu xanh là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới của vùng Trung Á, nên khả năng thích ứng với nhiệt độ dao động trong phạm vi rộng từ 16-36oC Tuy nhiên, khả năng sinh trưởng tốt nhất trong phạm vi nhiệt độ từ 22-27oC và kém nhất ở khoảng nhiệt độ từ 33-36oC Thời kỳ mọc mầm và cây con thường dễ nhạy cảm với nhiệt độ Hạt sẽ nảy mầm tốt trong phạm vi từ 22-27oC, nhiệt độ dưới 15oC thì tỷ lệ nảy mầm cũng như tốc độ phát triển của cây con giảm đi đáng kể
Tốc độ sinh trưởng và khả năng tích luỹ chất khô tăng mạnh ở nhiệt độ
từ 24-25oC Quá trình phát triển của đậu xanh chịu sự tác động của nhiệt độ trong sự tương tác với chế độ chiếu sáng và độ ẩm đất Trong điều kiện ngày ngắn, nhiệt độ trong phạm vi 22-27oC, sự nở hoa diễn ra sớm do đó thời gian sinh trưởng (TGST) được rút ngắn và ngược lại
Nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng của đậu xanh trong điều kiện tự nhiên còn cho thấy nhiệt độ thường tương tác với chế độ chiếu sáng Khi đó nhiệt độ đóng vai trò như một hợp phần trong tổng thể các yếu tố để cùng tác động Trong điều kiện ngày dài, tương tác giữa chúng
Trang 16thường kéo dài thời gian sinh trưởng Đồng thời trong điều kiện ngày ngắn, nếu gặp nhiệt độ ấm thời gian sinh trưởng diễn ra nhanh hơn (Trần Thị Trường và cs., 2005)
b Yêu cầu ánh sáng
Các thời kỳ sinh trưởng phát triển của đậu xanh nhìn chung mẫn cảm với chế độ chiếu sáng Hầu hết các giống đậu xanh đều mẫn cảm với phản ứng số lượng (phản ứng với ngày ngắn)
Trong điều kiện ngày ngắn phản ứng của các giống khác nhau khó phân biệt
do không có sự thay đổi lớn về số ngày giữa các giống Trong điều kiện ngày dài tạo nên sự kích thích đối với quá trình nở hoa, làm cho trên cùng một cây có thể tồn tại cả nụ, hoa, quả xanh và quả chín Kết quả là ảnh hưởng tới các giai đoạn sinh thực, đó là sự kéo dài thời gian nở hoa và làm chậm quá trình chín của quả
Sự nhạy cảm với độ dài ngày là kết quả của tương tác giữa giống và thời gian gieo trồng, làm thay đổi cấu trúc hình thái, kiểu hình cây và thường chỉ gặp ở vùng cận nhiệt đới (Trần Đình Long và Lê Khả Tường, 1998)
c Yêu cầu độ ẩm
Đậu xanh là cây trồng chịu hạn khá, song muốn nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế thì phải tưới nước cho đậu xanh, đặc biệt với những giống thâm canh Ở hầu hết các thời kỳ sinh trưởng của đậu xanh cần độ ẩm 80% Thời kỳ khủng hoảng nước là giai đoạn ra nụ, hoa, quả Giai đoạn cây con chỉ cần tưới độ ẩm <60%, còn giai đoạn ra hoa không để độ ẩm <80% (Trần Thị Trường và cs., 2005)
2.2.2 Yêu cầu về đất đai
Cây đậu xanh có thể sinh trưởng và phát triển trên đất nghèo dinh dưỡng, lớp đất mặt nông Điều đó được giải thích bởi tính chịu hạn, chịu mặn, chịu kiềm của cây đậu xanh Tuy nhiên, để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế, đậu xanh cần được trồng trên loại đất màu mỡ, chủ động tưới tiêu, những loại đất thích hợp với trồng đậu xanh là đất cát pha, đất thịt nhẹ, có tầng đất mặt sâu trên 50cm, , giữ nước và thoát nước tốt
Đậu xanh thích hợp nhất với môi trường pH đạt giá trị trung tính (6-7,5)
là phù hợp nhất Nếu pH<5 khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu giảm và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình dinh dưỡng đạm, khả năng tích luỹ chất khô của cây Do đó việc cung cấp (Ca) cho đất để điều chỉnh pH là rất quan trọng
Trang 17trong sản xuất thâm canh tăng năng suất đậu xanh (Trần Đình Long và Lê Khả Tường, 1998)
Đặc tính của đất là đặc điểm quan trong liên quan đến khả năng hình thành nốt sần của đậu xanh, những nền đất tốt như đất cát pha, đất thịt nhẹ, giàu chất dinh dưỡng và có độ pH trung tính, có khả năng giữ nước và thoát nước tốt thì khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu tăng và do đó lượng đạm và khả năng tích lũy chất khô của đậu xanh tăng, và do đó tăng năng suất cây trồng
2.2.3 Yêu cầu về dinh dưỡng
a Yêu cầu về đạm
Lượng đạm đậu xanh hấp thu khá lớn, để tạo thành 1 tấn hạt, đậu xanh cần 40-42kg N Đậu xanh hấp thu đạm nhiều nhất ở giai đoạn ra hoa, hình thành quả Đạm chiếm tỷ lệ khá lớn trong thân lá đậu xanh
Nốt sần trên rễ đậu xanh hình thành khá sớm nếu điều kiện thuận lợi sau
1 tuần chúng có thể hình thành Tuy nhiên, hoạt động khử Acetylen chỉ có ý nghĩa từ 15-25 ngày sau trồng Do đó, ở giai đoạn đầu khi cây còn nhỏ cần bón đạm cho cây (Trần Đình Long và Lê Khả Tường, 1998)
Nitơ là một trong các thành phần quan trọng của axit amin để cấu tạo nên Protein trong hạt đậu xanh Nitơ cấu tạo nên các cơ quan từ các axit Nucleic,
là thành phần không thể thiếu được của diệp lục Thiếu Nitơ làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất diệp lục, làm đảo lộn quá trình trao đổi chất Nếu thiếu nghiêm trọng cây còi cọc, lá vàng nhanh, cây mềm yếu, rễ kém phát triển do đó khả năng tích luỹ chất khô giảm, các yếu tố cấu thành năng suất giảm và năng suất hạt giảm đáng kể
Từ năm 2011-2012, ở Iran đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc phun Urê
và phân bón hữu cơ sinh học (Nitroxin, Amino acid, Green hum, Biocrop L-
45, Nutriman N24 và Mas Raiz, phân chuồng) đối với sinh trưởng của đậu xanh trong điều kiện nhà lưới Kết quả cho thấy, phun urê và phân chuồng làm tăng chiều cao cây, diện tích lá, khối lượng chất khô của thân và rễ, chiều dài của rễ và thân, khối lượng và số rễ Trong khi đó, Green hum và Amino acid làm tăng số chồi, số lá và nốt sần Tuy nhiên, Nutriman N24 và urê lại làm
giảm số nốt sần của bộ rễ (Khalilzadeh et al., 2012)
b Yêu cầu về lân
Tuỳ theo mức độ thiếu lân mà cây đậu xanh có những phản ứng khác nhau Trong trường hợp thiếu nặng lá có màu tím, đỏ, cuống lá ngắn, các lá
Trang 18chét thu nhỏ lại Khi gặp rét hoặc ngập úng rễ cây không lấy được lân, khi thời tiết ấm áp, đất tơi xốp cây có thể tự phục hồi nhanh chóng
Lượng lân cần để tạo ra 1 tấn hạt đậu xanh từ 3-5kg Tuy nhiên, một số cây đậu đỗ khả năng hút lân chậm và hiệu quả hút lân thấp nên người sản xuất phải bón một lượng lân khá lớn, có thể bón tới 100kg P2O5/ha (Vũ Tiến Bình
và cs., 2014)
c Yêu cầu về Kali
Trong cây, kali tồn tại dưới dạng muối vô cơ hoà tan và muối của axit hữu cơ trong tế bào Bộ phận non hoạt động sinh lý mạnh thường chứa nhiều kali Kali dễ dàng vận chuyển từ bộ phận già đến bộ phận non của cây
Kali tham gia vào các hoạt động của các enzim và là chất điều chỉnh xúc tác, làm tăng cường mô cơ giới, tăng tính chống đổ của cây Thiếu kali quá trình tổng hợp đường đơn và tinh bột, vận chuyển gluxít, khử nitrat, tổng hợp prôtêin và phân chia tế bào không thực hiện được Trong cây trồng kali được huy động nhiều vào thời kỳ bắt đầu ra hoa, quả (R1) Thiếu kali ở giai đoạn này làm tăng tỷ lệ rụng hoa, quả, giảm số quả/cây và khối lượng 1.000 hạt (Vũ Quang Sáng và cs., 2015)
d Yêu cầu về các yếu tố trung và vi lượng
Canxi cần cho sự phát triển ban đầu của rễ Thiếu canxi rễ chuyển sang màu nâu rồi dần dần suy yếu khả năng hút chất dinh dưỡng Trong đất trồng đậu xanh hàm lượng canxi có thể lớn gấp 10 lần kali Vùng nhiệt đới ẩm thường có hàm lượng canxi dễ tiêu thấp, do đó bón vôi đã trở thành tập quán
từ lâu đời
Magiê là thành phần quan trọng của diệp lục và có vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất đậu xanh Thiếu Mg có thể làm suy giảm năng suất đậu xanh đến 14%
Lưu huỳnh là thành phần của nhiều loại axít amin quan trọng trong cây, lưu huỳnh có mặt trong thành phần prôtêin của đậu xanh Thiếu lưu huỳnh, sự sinh trưởng của cây bị cản trở, lá có biểu hiện vàng nhạt, cây chậm phát triển
Molipđen rất cần thiết cho hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần Thiếu Mo hoạt động cố định đạm bị giảm sút nên cây có biểu hiện thiếu đạm (Vũ Tiến Bình và cs., 2014)
Trang 19đóng vai trò quan trọng đối với năng suất cây đậu xanh Cây đậu xanh có thể hấp thu các chất này từ đất đủ cho quá trình sinh trưởng phát triển của cây, do
đó ít phải bổ sung các loại vi lượng này
2.3 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ GIÁ TRỊ KINH TẾ CỦA CÂY ĐẬU XANH 2.3.1 Giá trị dinh dưỡng của đậu xanh
Cây đậu xanh là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đứng hàng thứ ba sau đậu tương và lạc Đậu xanh là một trong bốn cây đậu đỗ thực phẩm giàu hyđratcacbon, protein và các loại vitamin khác (Calloway, 1994; Gopalan, 1989) Hạt đậu xanh là nguồn thực phẩm giàu đạm (khoảng 24 – 28 %), ngoài ra, còn có lipid khoảng 1,3 %, glucid 60,2 % và các chất khoáng như Ca, Fe, Na, K, P…
cùng nhiều loại vitamin hoà tan trong nước như vitamin B1, B2, C
Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của đậu xanh Thành phần
dinh dưỡng Trong 100 g hạt đậu xanh khô Trong 100 g giá đậu xanh tươi
Trang 20Protein đậu xanh chứa đầy đủ các axit amin không thay thế và tương đối trùng hợp với tiêu chuẩn dinh dưỡng dành cho trẻ em do tổ chức Nông - lương và
y tế thế giới đưa ra (Khatik et al., 2007) Protein đậu xanh chứa đầy đủ các axit
amin không thể thay thế và là nguồn protein thực vật dễ tiêu hóa Bằng kết quả nghiên cứu chế biến, các nhà khoa học thuộc trường đại học Kasetsart (Thái Lan) cho rằng đậu xanh có thể chế biến thành các hỗn hợp thực phẩm giàu protein có giá trị dinh dưỡng cao với giá thành hạ nhất Sự kết hợp của bột đậu xanh với bột gạo, bột mì, vừng và các gia vị khác có thể tạo thành các món ăn cao cấp thay cho các sản phẩm chế biến từ sản phẩm chăn nuôi Vì vậy thực phẩm chế biến từ đậu xanh có giá trị kinh tế cao đối với sức khỏe con người (Đỗ Tất Lợi, 1991)
Bảng 2.2 Axit amin trong bột đậu xanh và tiêu chuẩn của FAO/WHO
Nguồn: (Khatik et al., 2007; FAO, 2007)
Hạt đậu xanh được dùng để chế biến ra nhiều loại thực phẩm ngon, bổ, hấp dẫn như các loại bột dinh dưỡng, các loại bánh, chè, xôi đỗ và một số đồ uống…
Lá non và ngọn của cây đậu xanh có thể được dùng để làm rau, muối dưa Thân
lá xanh của cây đậu xanh dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, còn thân lá già đem phơi khô, nghiền nhỏ làm bột dự trữ cho gia súc (Phạm Văn Thiều, 1999)
Trồng đậu xanh không những chỉ cung cấp thức ăn bổ dưỡng cho con người
mà còn được sử dụng làm thuốc Đậu xanh vị ngọt, hơi tanh, tính hàn, không độc, bổ nguyên khí, thanh nhiệt mát gan, giải được trăm thứ độc, có thể làm sạch mát nước tiểu, chữa lở loét, làm sáng mắt, nhuận họng, hạ huyết áp, mát buồng mật, bổ dạ dày, hết đi tả, thích hợp với các bệnh nhân say nắng, miệng khát,
Trang 21người nóng, thấp nhiệt, ung nhọt, viêm tuyến má, đậu mùa, nhìn mọi vật không
rõ Đậu xanh là loại thức ăn nhiều kali, ít natri Người thường xuyên ăn đậu xanh
và chế phẩm của nó huyết áp của họ sẽ thấp Trong đậu xanh còn có thành phần
hạ huyết mỡ hữu hiệu, nó còn giúp cho cơ thể phòng chống chứng xơ cứng động mạch và bệnh cao huyết áp, đồng thời có công hiệu bảo vệ gan và giải độc (Đỗ Tất Lợi, 1991)
Hiện nay đậu xanh đang là nguồn nguyên liệu quan trọng trong ngành công nghiệp sản xuất bánh kẹo, với hàm lượng chất dinh dưỡng cao đậu xanh được khai thác tối đa hiệu quả sử dụng, từ hạt đậu xanh có thể chế biến thành các món
ăn, thức uống như sữa đậu xanh, sữa chua đậu xanh, kem đậu xanh, tổ yến đường phèn đậu xanh, miến đậu xanh và bánh đậu xanh còn được xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài và được đánh giá cao về chất lượng như bánh đậu xanh suất khẩu sang Myanma với hàm lượng chất dinh dưỡng cao Do vậy hiệu quả sử sụng của đậu xanh đã và đang phát triển mạnh
2.3.2 Giá trị kinh tế của đậu xanh
Cây đậu xanh không chỉ là nguồn cung cấp dinh dưỡng quan trọng đối với đời sống con người mà còn có một giá trị vô cùng quan trọng khác về mặt sinh học, đó là khả năng cố định đạm cung cấp cho cây nhờ loài vi khuẩn sống cộng
sinh Rhirobium virgna ở bộ rễ
Lượng đạm mà hệ rễ của đậu xanh cố định được phụ thuộc vào môi trường đất, tương đương 30 - 60kg N/ha (Poehlman, 1991) Nghiên cứu của Whistler and Hymowitz (1979) cho thấy lượng đạm cố định này là 30kgN/ha, trong khi Agboola and Fayemi (1972) dựa trên thí nghiệm trong chậu vại đã xác định lượng đạm này là 63 kg N/ha Nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng cho rằng
lượng đạm mà đậu xanh cố định được dao động từ 58 - 107 kg N/ha/năm (Firth et
al., 1973; Lawn et al., 1985) Do vậy đất sau khi trồng đậu xanh thì thành phần
lý, hoá tính được cải thiện rõ rệt nhờ lượng đạm tăng lên, khu hệ vi sinh vật hiếu khí được tăng cường rất có lợi cho các cây trồng sau, nhất là đối với các loại cây trồng có nhu cầu cao về đạm dễ tiêu
Bên cạnh đó, đậu xanh là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn (55 - 85 ngày), thích ứng với nhiều loại đất và kiểu khí hậu khác nhau Đậu xanh có thể trồng nhiều vụ trong năm (trừ mùa đông lạnh) nên có thể tham gia vào nhiều công thức luân canh cây trồng (trồng chuyên canh, trồng xen, trồng gối vụ) góp
Trang 22phần nâng cao giá trị sử dụng đất (Đường Hồng Dật và cs., 2006) Trong hệ thống luân canh gối vụ, đậu xanh được trồng chủ yếu với vai trò như là một cây trồng phụ Sử dụng đậu xanh trong hệ thống luân canh gối vụ mang lại những lợi
ích sau: (1) Diện tích đất được sử dụng triệt để giữa các chu kỳ sinh trưởng của cây trồng chính (Bohuah, 1984; Singh, 1980); (2) Nhu cầu sử dụng lao động
được phân bố đều trong năm, tạo công việc làm cho người dân (Bohuah, 1984);
(3) Tăng thêm sản lượng hạt đậu xanh giàu protein (Rao and Rana, 1980); (4)
Lượng đạm trong đất được cải thiện và cây trồng sau cho năng suất cao hơn (Reddy, 1986)
Theo tác giả Nguyễn Thanh Phương và Nguyễn Danh (2010) cho biết, đậu xanh có thể trồng xen với sắn, mía, ngô, lạc, cây ăn quả…Trồng đậu xanh xen với sắn cho thu nhập gấp 2,88 lần và lượng đất bị xói mòn trong quá trình canh tác giảm 26,29 % so với trồng sắn thuần Trồng xen canh đậu xanh với mía, đậu chiều, bạc hà, cây ăn quả… năng suất đậu xanh có thể đạt 0,7 - 1,0 tấn/ha mà không làm suy giảm năng suất cây trồng chính (Shanmugasundaram, 2004) Chính vì vậy, bố trí trồng đậu xanh trong cơ cấu luân, xen canh vừa có tác dụng cải tạo đất vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao và rất phù hợp với xu hướng sử dụng đất hiện nay
Cây đậu xanh ngày càng được quan tâm và phát triển ở Việt Nam cũng như toàn thế giới do giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao Nước ta gần đây cơ bản đã giải quyết xong vấn đề lương thực, nhưng vấn đề dinh dưỡng protein vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải có hướng giải quyết đúng đắn bằng con đường protein thực vật mà trước hết là phát triển cây họ đậu, trong
đó có đậu xanh
2.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT ĐẬU XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.4.1 Tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới
Cây đậu xanh đã được trồng ở nhiều quốc gia, đặc biệt là châu Á Hàng năm trên thế giới có ít nhất 23 nước trồng đậu xanh (Suresh Chandrababu and Anne Hallam, 1988) Về diện tích gieo trồng, đậu xanh được gieo trồng trên thế giới khoảng 1 triệu ha, sản lượng hàng năm ước đạt 6,8 triệu tấn, trên 58 nước khác nhau Trong đó nước có diện tích gieo trồng đậu xanh lớn nhất là Trung Quốc (0,22 triệu ha) kế đến là Ấn Độ (0,15 triệu ha) tiếp theo là các nước như Nhật Bản, Philippin
Trang 23Ấn Độ có diện tích trồng đậu xanh lớn nhất thế giới song năng suất đậu xanh rất thấp Diện tích trồng đậu xanh của Ấn Độ tăng từ 3.016.800 ha lên 3.728.000 ha, và năng suất tăng từ 316 kg/ha lên 408 kg/ha trong giai đoạn từ
1998 - 2008 (Khatik et al., 2007; Subramanyam et al., 2009; Chadha, 2010)
Năm 1980, diện tích đậu xanh ở Bangladesh chỉ là 15 nghìn ha, sản lượng
7 nghìn tấn, năng suất trung bình đạt 467 kg/ha Nhưng đến năm 2000, diện tích đậu xanh đã tăng lên 55 nghìn ha, sản lượng đạt 36 nghìn tấn, năng suất bình
quân là 654 kg/ha (Weinberger et al., 2006)
Sản lượng đậu xanh của Pakistan tăng từ 31.800 tấn năm 1980 lên 177.700 tấn vào năm 2007 Cũng trong thời gian này diện tích trồng đậu xanh tăng từ 67.000ha lên 247.400ha (Anonymous, 2008)
Năm 1984, diện tích đậu xanh ở Trung Quốc là 547 nghìn ha, sản lượng đạt 500 nghìn tấn, năng suất bình quân 915 kg/ha Đến năm 2000 thì diện tích gieo trồng đậu xanh là gần 772 nghìn ha, sản lượng đạt 891 nghìn tấn, năng suất bình quân đạt 1.154 kg/ha Như vậy, từ năm 1986 - 2000, sản lượng đậu xanh của Trung Quốc tăng bình quân 2,4%/năm, năng suất tăng 1,7% năm và diện tích
tăng 0,7% (Subramanyam et al., 2009) Tuy vậy, không phải nước nào diện tích
và sản lượng đậu xanh cũng tăng lên Diện tích và sản lượng đậu xanh ở Srilanca giảm từ 13.490 ha và 12.240 tấn năm 1998 xuống còn 3.250 ha và 2.790 tấn vào năm 2000 (Anonymous, 2009)
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á (AVRDC) đã thu thập tập đoàn giống đậu xanh lớn nhất thế giới với hơn 5000 mẫu giống, trong đó có giống cho năng suất 18 - 25 tạ/ha và thâm canh có thể đạt gần 40 tạ/ha Mặt khác, giá trị sinh học của đậu xanh rất quan trọng Lin (1996) cho rằng phân đạm mà cây đậu xanh hấp thụ và giữ lại được là 40,66 % nên có tác dụng rất tốt trong cải tạo, bồi dưỡng đất, vì sau khi trồng đậu xanh đất được tơi xốp và tăng được một lượng đạm khoảng 30 - 70 kg/ha Tuy nhiên, năng suất của cây đậu xanh rất thấp, khoảng 6 - 8 tạ/ha vì chưa được đầu tư đúng mức nên gần đây nhiều nước đã chọn được giống cho năng suất bình quân 10 - 12 tạ/ha với các ưu điểm là hạt to, màu đẹp, thời gian sinh trưởng ngắn, chín tập trung, chống chịu một số sâu bệnh hại chính
Pakistan, Bangladesh và Ấn Độ là những nước có diện tích gieo trồng cũng như sản lượng đậu xanh lớn Năng suất đậu đạt cao là 15,5 tạ/ha ở Ethiopia, đây
Trang 24là quốc gia có nhiều đầu tư vào ngành trồng trọt, là một yếu tố hết sức quan trọng, ảnh hưởng lớn đến năng suất của đậu xanh So với những năm cuối của thế
kỷ 20, năng suất đậu xanh có sự tăng lên đáng kể, đạt từ 10 – 12 tạ/ha trở lên (bảng 2.3)
Ngày nay, các nhà chọn giống đang nghiên cứu tạo ra giống đậu xanh
có thể cải thiện năng suất và tính kháng bệnh Ấn Độ có 22 trung tâm ở khắp cả nước nghiên cứu về cây đậu xanh Thái Lan cũng có nhiều trung tâm và các viện, trường tham gia nghiên cứu về cây trồng này Đậu xanh đứng thứ 3 trong các cây
họ đậu và đứng đầu trong các cây thuộc chi Vigna về diện tích và sản lượng, diện
tích đậu xanh trên thế giới khoảng 3,4 – 3,6 triệu ha với sản lượng 1,4 – 1,8 triệu tấn Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng, nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược nghiên cứu và phát triển đậu xanh một cách độc lập với chương trình nghiên cứu phát triển các cây đậu đỗ khác, từ đó diện tích trồng, năng suất và sản lượng đậu xanh cũng không ngừng được tăng lên
Trang 25Bảng 2.3 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu xanh trên thế giới
và một số nước qua các năm 2008 – 2011
Trang 262.4.2 Tình hình sản xuất đậu xanh ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đậu xanh đã được trồng lâu đời, khắp nơi trong cả nước, là một trong những cây trồng truyền thống với nhiều mục đích: lấy hạt, cải tạo đất, chống xói mòn, làm phân xanh … Nhưng hiện nay, diện tích gieo trồng còn manh mún, rải rác từ Nam ra Bắc, từ các tỉnh đồng bằng đến trung du và miền núi Cây đậu xanh chưa được xem là cây trồng chính, chỉ được trồng xen canh, gối vụ, nhằm tận dụng đất, tăng thêm thu nhập nên diện tích và năng suất đậu xanh tại Việt Nam chưa cao
Diện tích sản xuất đậu xanh của Việt Nam qua 4 năm 2012 và 2015 biến động từ 88.180 – 98.200 ha, diện tích sản xuất đậu xanh năm 2015 giảm so với năm 2012 là 7.250 ha Năng suất đậu xanh bình quân của Việt Nam qua 4 năm biến động từ 1.026 – 1.098 kg/ha Năng suất đậu xanh bình quân của cả nước có
xu hướng tăng dần qua các năm và năng suất đạt cao nhất năm 2015 là 1.098 kg/ha
Diện tích sản xuất đậu xanh ở Việt Nam được phát triển ở 7 vùng sinh thái trên cả nước (Bảng 2.4) Diện tích sản xuất đậu xanh giữa các vùng trong năm 2015 biến động từ 4.880 – 25.120 ha trong đó có 3 vùng có diện tích sản xuất đậu xanh lớn là Tây Nguyên, Bắc trung bộ và Duyên hải Nam trung bộ có diện tích lần lượt là 25.120 ha; 18.470 ha; 18.090 ha.
Bảng 2.4 Diện tích và năng suất đậu xanh ở Việt Nam
2012 2013 2014 2015 * 2012 2013 2014 2015 *
ĐB sông Hồng 4,10 4,80 4,51 4,88 1.463 1.458 1.452 1.511 Trung du và miền núi
Trang 27Năng suất đậu xanh bình quân ở các vùng sinh thái lại có sự chênh lệch khá lớn Năng suất đậu xanh biến động giữa các vùng năm 2012 từ 837 – 1.506 kg/ha; năm 2015 biến động từ 861 – 1.719 kg/ha Năng suất đậu xanh bình quân đạt cao nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng Sông hồng lần lượt
là 1.719 kg/ha và 1.511kg/ha (2015)
Năng suất đậu xanh bình quân đạt thấp nhất là Tây Nguyên và Bắc Trung bộ, năm 2015 năng suất đậu xanh ở Bắc Trung bộ là 938 kg/ha thấp hơn năng suất bình quân của cả nước là 160 kg/ha Tây Nguyên năng suất đậu xanh đạt 861 kg/ha và thấp hơn năng suất bình quân của cả nước là 236 kg/ha Năng suất đậu xanh của cả nước nói chung và vùng Bắc Trung bộ nói riêng qua các năm có xu hướng tăng dần đó chính là sự áp dụng các giống đậu xanh mới và các biện pháp kỹ thuật canh tác mới vào sản xuất
Hiện nay, ở một số tỉnh miền Trung của nước ta như Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Phú Yên, Đắc Lắc… đậu xanh đang là nguồn thu nhập đáng kể với nông dân Gần đây nhiều giống đậu xanh mới được đưa ra sản xuất, nhu cầu thâm canh cải tạo đất ngày càng cao, đậu xanh đã và đang được phát triển rộng trong các cơ cấu cây trồng của nhiều tỉnh trên địa bàn cả nước
Ở ĐB sông Cửu Long diện tích trồng đậu xanh năm 2015 là 7,76 nghìn
ha, diện tích trồng đứng thứ 2 sau diện tích trồng đậu xanh ở vùng ĐB sông Hồng là 4,88 nghìn ha tuy nhiên năng suất đậu xanh ở vùng ĐB sông Cửu Long cao nhất so với năng suất của các vùng trong cả nước Nguyên nhân đạt được năng suất cao là do tận dung được điều kiện thuận lợi về nguồn dinh dưỡng phù
sa của sông Cửu Long, cộng với điều kiện nhiệt độ phù hợp và các biện pháp kỹ thuật tác động phù hợp với cây đậu xanh
Khu vực Bắc Trung bộ diện tích trồng đậu xanh năm 2015 là 18,47 nghìn
ha, có diện tích lớn thứ 2 trong cả nước Mặc dù diện tích có giảm nhẹ so với năm 2012 nhưng năng suất không hề giảm mà năng suất lại tăng nhẹ Mặc dù diện tích lớn thứ 2 so với các vùng trong cả nước nhưng năng suất không cao sơ với các vùng trong cả nước Nguyên nhân là khu vực này nông dân sử dụng đất nghèo dinh dưỡng, cộng với điều kiện nhiệt độ không phù hợp Do vậy cần chú trong quan tâm và đầu tư áp dụng khoa học công nghệ và công tác giống trồng cây đậu xanh ở khu vực này
Nhìn chung diện tích trồng đậu xanh của Việt Nam giảm do nhu cầu sử
Trang 28dụng đất của con người vào các mục đích khác tăng, đất được sử dụng cho các mục đich chăn nuôi, cho các công trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do vậy tổng sản lượng đậu xanh sản xuất ở Việt Nam tăng chậm Sản xuất đậu xanh ở Việt Nam hiện nay khoảng 99 ngìn tấn đậu xanh mỗi năm Không đủ để cung cấp cho nhu cầu chế biến đậu xanh trong nước, do vậy Việt Nam đang nhập khẩu đậu xanh và giống đậu xanh từ nước ngoài về với chất lượng cao hơn Do đậu xanh của Việt Nam được trồng dải dác nên chất lượng không đồng đều
Sản xuất đậu đỗ nói chung và cây đậu xanh nói riêng ngày càng có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nước ta So với một số cây trồng khác trong cùng điều kiện thì cây đậu đỗ đạt hiệu quả cao hơn, dễ tiêu thụ hơn Chính vì lẽ đó, cần chú trọng đến việc phát triển cây đậu xanh nhằm mở rộng diện tích góp phần tăng sản lượng, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nước nhà
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CHỌN TẠO ĐẬU XANH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.5.1 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống đậu xanh trên thế giới
Hiện nay, cây đậu xanh được quan tâm nghiên cứu ở nhiều quốc gia trên thế giới Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau màu châu Á (AVRDC) và các trung tâm vùng như Trung tâm vùng châu Á (Bangkok, Thái Lan), Trung tâm vùng châu Phi (Arusha, Tanzania), Trung tâm vùng Nam Á (Hyderabad, Ấn Độ) có sự nghiên cứu khá toàn diện về cây đậu xanh Bộ sưu tập nguồn gen của AVRDC là phong phú nhất với 6.379 mẫu giống (AVRDC, 2012) Phần lớn nguồn gen đậu xanh của AVRDC được thu thập từ 41 nước trên thế giới và Ấn
Độ là nước đóng góp chủ yếu
Trong những năm qua, AVRDC đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc phát triển các dòng giống đậu xanh mới Con đường tạo giống đậu xanh chủ yếu là lai hữu tính và đột biến Từ 1973 - 1986 ở đây đã tiến hành lai 4.437 tổ hợp lai Các dòng tốt nhất được chuyển giao cho các nhà chọn giống trên khắp thế giới
Từ nguồn vật liệu của AVRDC, 112 giống đậu xanh mới được phát triển mở rộng ở
27 nước trên thế giới (Norihico Tomooka, 1991) Ước tính diện tích trồng đậu xanh giống mới là 600.000 ha ở Trung Quốc, 200.000 ha ở Pakistan và Thái Lan, gần 1 triệu ha ở Myanmar, 500.000 ha ở Ấn Độ, 70.000 ha ở Băngladesh (Shanmugasundaram, 2007)
Trang 29Kết quả nghiên cứu và đánh giá nguồn gen đậu xanh đáng chú ý nhất trong thời gian gần đây đã được thực hiện bởi sự hợp tác giữa các Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Nhiệt đới (Nhật Bản), Trung tâm Nghiên cứu Cây trồng Chinat (Thái Lan), Viện Tài nguyên Cây trồng Quốc gia Nhật Bản và AVRDC Trong chương trình nghiên cứu này có 497 mẫu đã được sử dụng cho việc đánh giá kiểu sinh trưởng, 651 mẫu cho việc đánh giá đặc điểm hạt và 590 mẫu cho việc đánh giá sự đa dạng protein Hầu hết các mẫu giống này đều được cung cấp bởi các ngân hàng gen của AVRDC, trường đại học Tokyo (Nhật Bản)
và Viện Tài nguyên Cây trồng Quốc gia Nhật Bản (Norihico Tomooka, 1991)
Ấn Độ là nước có diện tích sản xuất đậu xanh lớn nhất thế giới, chiếm trên
70 % diện tích toàn cầu (Nguyễn Huy Hoàng, 2011) Giống đậu xanh đầu tiên ở nước này là Mung type 1 được đề xuất trồng phổ biến vào năm 1936 Một chương trình chọn tạo giống đáng chú ý được thiết lập vào những năm 60 của thế kỷ 20 tại Trường Đại học Nông nghiệp Punjab, Ludhiana Chương trình này đã cho ra đời rất nhiều giống đậu xanh với các mục tiêu khác nhau như: có loại hình sinh trưởng trung bình, cây khoẻ mập, phát triển nhanh chống chịu tốt với điều kiện khó khăn
và có tiềm năng năng suất cao, ổn định, hàm lượng protein cao; ngắn ngày phục vụ sản xuất trong nước Ấn Độ Đến năm 1991, thì số lượng giống được phóng thích
ra sản xuất ở nước này đã lên tới con số 40 (Poehlman, 1991)
Các nhà Khoa học Trung Quốc đã thu thập và lưu giữ 4.936 mẫu giống đậu xanh từ các vùng trong cả nước, 60 % các mẫu giống này đã được tiến hành phân tích thành phần dinh dưỡng, đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại, khả năng chống chịu điều kiện thời tiết bất thuận Hơn 200 dòng, giống đậu xanh
từ AVRDC được nghiên cứu đánh giá tại Trung Quốc (Zhang huijie, 2003) Thái Lan là nước gặt hái được nhiều thành công trong công tác chọn tạo giống đậu xanh Các dòng, giống đậu xanh triển vọng của AVRDC tiếp tục được nghiên cứu đánh giá ở Thái Lan Nhiều giống đậu xanh mới có nguồn gốc từ AVRDC cho năng suất cao hơn giống địa phương đến 37 %, kháng bệnh phấn trắng, cứng cây, chống đổ tốt…được đưa ra sản xuất như KPS1, KPS2, Chai Nat
36, Chai Nat 60, PSU1… Ngày nay những giống này đã phủ kín hầu hết diện tích trồng đậu xanh của Thái Lan (Subramanyam, 2010)
Ở Philippines, nghiên cứu cải tiến giống đậu xanh bắt đầu từ trước năm
1916 Từ năm 1956, chương trình chọn tạo giống đậu xanh được giao cho Cục Trồng trọt, theo các phương pháp khác nhau: Phục tráng các giống đậu xanh địa
Trang 30phương Glossy green S-1, Glabrous Green, Dull Green 28-1, Dull Green 28-1; Lai hữu tính đã tạo ra được các giống MG50-10A, MD15-2, Glabrous No.3 và MY-17 Những giống đậu xanh được tạo ra từ đây là những giống có năng suất cao, chất lượng tốt, đã trở thành những gen quý cho AVRDC và những nước khác (Catipon, 1986) Chương trình chọn tạo giống đậu xanh ở Trường Đại học Philippine Los Banos đã tạo ra các giống CES55 và CES87 và một loạt giống
mang tên Pagasa (Catedral and Latican, 1978; Lawn et al., 1985) Những giống
này có các đặc điểm quý là chín sớm, năng suất cao và chất lượng tốt Giống Pagasa - 3 có khả năng chống bệnh đốm lá tốt và miễn dịch đối với bệnh khảm virus Còn giống Pagasa -5 có khả năng chống bệnh đốm lá rất tốt và chống chịu khá đối với bệnh phấn trắng Các giống này được AVRDC sử dụng làm nguồn gen tạo giống chống bệnh (Pascua, 1988)
Các nước khác như Indonesia, Trung Quốc, Australia, Mỹ, Pakistan, Kenya cũng có những chương trình chọn tạo giống đậu xanh của riêng mình và
đã đưa ra hàng loạt giống với nhiều đặc điểm quý, phù hợp với điều kiện sinh thái của đất nước (Poehlman, 1991)
2.5.2 Tình hình nghiên cứu về chọn tạo giống đậu xanh ở Việt Nam
Đánh giá đa dạng nguồn gen đậu xanh đang bảo tồn tại ngân hàng gen cây trồng Quốc gia Tập đoàn đậu xanh địa phương hiện có tại Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia với 226 mẫu giống đang lưu giữ tại Trung tâm tài Nguyên thực vật, trong đó 172 mẫu giống được mô tả đánh giá trong các năm 2003, 2004,
2005 Các mẫu giống có sự biến động khá rõ về các đặc điểm hình thái nông sinh học Tập đoàn có sự đa dạng di truyền cao về kiểu hình Có 3 giống đậu xanh có tiềm năng phục hồi là các giống có số đăng ký 4461; 6492; 6694 cần được làm thí nghiệm so sánh giống và khảo nghiệm thêm để xác định giống tốt giới thiệu
ra sản xuất (Bùi Phương Mỹ Dung và cs., 2006)
Tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn
2001-2005 đã tiến hành đánh giá 2.024 lượt mẫu giống trong đó có 150 mẫu giống địa phương Kết quả đã xác định được 09 mẫu giống đạt năng suất từ 1.800-2.200 kg/ha, thời gian sinh trưởng 70-75 ngày là: đậu xanh Quảng Bạ, mỡ Hải Dương, VC6193B, Chianat 72, Chianat 56, Chianat 36, SEL8, MN19, VC3890 Đặc biệt
là các giống Chianat 72, Chainat 36 có nguồn gốc từ Thái Lan có thể sử dụng trực tiếp để nghiên cứu hoàn thiện các biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp và
mở rộng sản xuất (Trần Đình Long và Nguyễn Thị Chinh, 2005)
Trang 31Tại Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam, từ năm 1991, Viện đã tiến hành thu thập và khảo sát tập đoàn 88 mẫu giống qua các vụ: Đông Xuân, Hè, Thu và Thu Đông Trong giai đoạn từ 1992-1994 tại Trung tâm Hưng Lộc, Trung tâm Trâu sữa và Đồng cỏ Sông Bé đã tuyển chọn và giới thiệu những giống đậu xanh triển vọng năng suất cao và thích ứng với điều kiện vùng Đông Nam bộ (Bùi Việt Nữ., 1995)
Giống đậu xanh NTB02 được chọn lọc từ dòng phân ly NTB01, có thời gian sinh trưởng 85-90 ngày, nhiễm nhẹ với các bệnh héo rũ, phấn trắng, đốm nâu, giống chịu hạn và chống đổ tốt Năng suất thực thu đạt 2.200-2.500kg/ha cao hơn đối chứng HL89-E3 và NTB01 từ 350 – 390 kg/ha vượt đối chứng từ 17,0-19,6% năng suất (Nguyễn Trung Bình và cs., 2014)
Để xác định giống đậu xanh thích hợp trong vụ thu đông, tác giả Lê Khả Tường đã khảo sát và đánh giá 108 mẫu giống đậu xanh về các đặc điểm hình thái của lá, quả, hạt, khả năng phân cành, khả năng chống chịu sâu bệnh hại, thời gian sinh trưởng và tiềm năng năng suất Qua đó tác giả đã chọn tạo được 4 dòng lai có triển vọng là T135, V123, T17, T18 (Lê Khả Tường, 2000)
Tác giả Nguyễn Ngọc Quất và cs (2014) đã tuyển chọn và khảo nghiệm giống đậu xanh ĐX14 ở các tỉnh Phía bắc, giống đậu xanh ĐX14 có thời gian sinh trưởng trong vụ hè từ 73 – 75 ngày Năng suất thực thu trung bình ở các điểm khảo nghiệm đạt 1.883 – 1.960 kg/ha vượt đối chứng đậu tằm từ 75 – 86% năng suất Đậu xanh ĐX14 chín tập trung rất thuận lợi cho thu hoạch và chống
đổ tốt, nhiễm nhẹ bệnh đốm nâu
Một số giống nhập nội được nghiên cứu và đưa vào sản xuất như ĐX044, HL89-E3, G87-1, VX87-E2, V87-13, ĐX92-1, V87-41, HL115 Hầu hết các giống nhập nội có nguồn gốc từ AVRDC, số ít khác được nhập từ
Ấn Độ, Philippin (Lê Xuân Đính., 1991) Giống đậu xanh mới được giới thiệu vào sản xuất gần đây nhất là ĐX11 được nhập nội từ Thái Lan (Nguyễn Văn
Trang 32Năm 2009 Cục Trồng trọt, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công bố 17 giống đậu xanh được công nhận từ 1988-2007 Trong đó có 6 giống lai tạo chọn lọc trong nước là HL42-8; HL33-6; VN99-1; VN99-3; T135; V123 Còn lại là 11 giống được nhập nội và đánh giá chọn lọc (Cục Trồng trọt, 2009)
Giống đậu xanh VN93-1 do Viện Nghiên cứu Ngô chọn tạo đã kết hợp được những đặc tính tốt của dòng mẹ ĐX044 (chống đổ tốt, năng suất cao) với giống địa phương Mốc Trung Châu có phẩm chất tốt (Đào Quang Vinh
và cs., 1994)
Đánh giá năng suất và phẩm chất của 5 giống đậu xanh trồng thử ơnghiệm tại Thái Nguyên trong vụ xuân và vụ hè Năng suất của các giống đậu xanh dao động từ 685 – 1.023 kg/ha (vụ hè) và 756 –1.004 kg/ha (vụ xuân), xác định sơ bộ chọn được 3 giống đậu xanh triển vọng là V123, ĐX01
và VC4053B Hàm lượng lipit của các giống dao động từ 1,35 – 1,72% (Lương Thị Thúy Vân và cs., 2005)
Nghiên cứu chọn tạo giống đậu tương, đậu xanh và biện pháp kỹ thuật trong hệ thống canh tác với cây ngô giai đoạn 2006-2008 đã chọn tạo được hai giống đậu xanh ĐXVN4 và ĐXVN5 có nhiều ưu điểm như tiềm năng năng suất cao, chống chịu sâu bệnh khá (Nguyễn Thị Thanh., 2009)
Nghiên cứu đa dạng di truyền của đậu xanh bằng phương pháp RAPD Marker Thông qua dữ liệu marker RAPD với 9 mồi được sử dụng 25 giống đậu xanh và được phân thành 3 nhóm chính Trong đó nhóm B đem lai tạo với nhóm
A và nhóm C có thể cho ưu thế lai Không có sự tương quan giữa 2 phương pháp phân nhóm dựa trên dữ liệu hình thái và dữ liệu marker RAPD Những tính trạng nghiên cứu thì có ít liên quan đến sự khác biệt di truyền Phương pháp phân nhóm dựa trên marker RAPD thì tương đối chính xác hơn kiểu hình Dựa vào marker phân từ có thể đánh giá gián tiếp sự hiện diện hay không hiện diện của gen chọn lọc nhờ marker mà không bị ảnh hưởng của môi trường (Nguyễn Thanh Quy vàNguyễn Thị Lang, 2007)
Tạ Minh Sơn và cs (2006) đã nghiên cứu chọn lọc thành công giống đậu xanh NTB01 Đây là giống có hạt xanh mỡ thích hợp với thị hiếu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu Giống NTB01 có thời gian sinh trưởng 78 ngày trong
vụ Đông Xuân và 72 ngày trong vụ Hè Thu Năng suất cao dao động từ 2.360 kg/ha tuỳ thuộc thời vụ và mức độ thâm canh Giống NTB01 cho năng
Trang 331.730-suất cao hơn so với giống đối chứng HL89-E3 trong vụ Đông Xuân 17,4% và vụ
Hè Thu là 13,8%
Kết quả khảo nghiệm 12 giống đậu xanh vụ hè 2012 tại Gia Lai cho thấy: Các giống đậu xanh có thời gian sinh trưởng trung bình từ 60-64 ngày Năng suất thực thu biến động từ 820 – 1.280 kg/ha, giống đậu xanh HL251 đạt năng suất thực thu cao nhất 2.280 kg/ha vượt đối chứng (cao sản) 20,4% năng suất (Nguyễn Thị Thanh Duyên và cs., 2012)
Nghiên cứu về khả năng thích ứng của một số giống đậu xanh trên đất cát biển huyện Hậu Lộc tỉnh Thanh Hoá kết quả thu được cho thấy: đất cát ven biển tuy nghèo dinh dưỡng nhưng thích hợp với đặc tính sinh lý của cây đậu xanh Các giống đậu xanh đều trồng được trên đất này Bước đầu xác định được một số giống cho năng suất cao như T135, V123, KP11, trong đó giống T135 cho năng suất cao nhất 2.230 kg/ha trong điều kiện thí nghiệm (Đồng Văn Đại, 1997) Kết quả khảo nghiệm giống đậu xanh tại Đồng bằng sông Cửu Long, giống đậu xanh cho năng suất cao nhất trong cả 2 vụ Đông Xuân và Xuân Hè là giống OMX1; OMX2 và OMX8 Giống thích nghi và ổn định cả 2 vụ Đông Xuân và Xuân Hè là giống OMX2, giống này cũng có hàm lượng protein cao nhất 24,5 – 26,5% (Trần Thị Ánh Nguyệt và Nguyễn Thị Lang, 2006)
Trang 34PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian: Thí nghiệm tiến hành trong vụ Xuân và Hè Thu năm 2016
- Địa điểm: Khu thí nghiệm đồng ruộng – Khoa Nông học – Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
3.2 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
* Giống đậu xanh: Gồm 16 dòng, 2 giống đậu xanh và 1 đối chứng có
nguồn gốc khác nhau được nhập nội theo con đường không chính thức Các dòng, giống này đã được chọn lọc ở Việt Nam qua 8 mùa vụ, tại Bộ môn Di truyển – Chọn giống cây trồng, khoa Nông học, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam Giống ĐX11 sử dụng làm đối chứng, ĐX11 là một trong những giống mà nông dân khu vực Đồng Bằng Sông Hồng đang trồng (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Các dòng, giống đậu xanh nghiên cứu STT Kí hiệu Tên dòng, giống Nguồn gốc
1 G1 Giống ĐX11 (đ/c) Viện cây lương thực và cây thực phẩm
2 G2 Dòng MT1 Thái Lan (Chọn lọc từ năm 2012)
3 G3 Dòng MT2 Thái Lan (Chọn lọc từ năm 2012)
5 G5 Dòng MT4 Thái Lan (Chọn lọc từ năm 2012)
6 G6 Dòng MT5 Thái Lan (Chọn lọc từ năm 2012)
7 G7 Dòng MT6 Thái Lan (Chọn lọc từ năm 2012)
8 G8 Giống Chainat 60 Philippin (Chọn lọc từ năm 2012)
9 G9 Giống Chainat36 Philippin (Chọn lọc từ năm 2012)
10 G10 Dòng MT7 Thái Lan (Chọn lọc từ năm 2012)
11 G11 Dòng MT8 Thái Lan (Chọn lọc từ năm 2012)
Trang 35* Phân bón:
- Phân hữu cơ vi sinh sông Gianh
- Phân đạm Ure (46%N)
- Phân Supe Lân (16,5% P2O5)
- Phân Kaliclorua (60% K2O)
3.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học, khả năng sinh trưởng, phát triển một số dòng, giống đậu xanh nhập nội trong vụ Xuân và Hè Thu năm 2016 tại Gia Lâm,
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 36Cách bón: Bón lót toàn bộ phân hữu cơ + phân lân Sau khi bón lót, lấp
một lớp đất nhẹ phủ kín phân rồi mới gieo hạt để tránh hạt tiếp xúc với phân làm giảm sức nảy mầm Gieo đảm bảo 2 cây/hốc Gieo rải hàng
+ Bón thúc 1 lần khi cây có từ 2 đến 3 lá thật: toàn bộ lượng đạm + 1/2 lượng kali
+ Bón thúc 2 lần khi cây có từ 5 đến 6 lá thật: 1/2 lượng kali còn lại
- Chăm sóc: Tiến hành làm cỏ, vun xới:
Lần 1: Xới nhẹ, tỉa định cây kết hợp với bón thúc khi cây có từ 2 đến 3
lá thật
Lần 2: Xới sâu, vun cao khi cây có từ 5 đến 6 lá thật
+ Tưới nước: Giữ độ ẩm đất thường xuyên khoảng 70 - 75% độ ẩm tối
3.4.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Theo dõi và đánh giá theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống đậu xanh (QCVN 01 - 62: 2011/BNNPTNT)
a Đặc điểm hình thái
- Dạng cây (xác định khi ra hoa): đứng; nửa đứng; ngang;
- Kiểu sinh trưởng (xác định khi ra hoa, quả và chín): hữu hạn; vô hạn;
- Màu sắc thân mầm (giai đoạn cây con): màu tím; màu xanh;
Trang 37- Màu hoa (khi ra hoa): Vàng nhạt; Vàng; màu khác;
- Dạng hạt (xác định khi hạt khô sau thu hoạch): tròn; ovan; hình trụ; dạng khác;
- Vỏ hạt (xác định khi hạt khô sau thu hoạch): sáng bóng; mốc;
- Màu sắc hạt khi chín (xác định khi hạt khô sau thu hoạch): vàng; xanh vàng; xanh nhạt; Xanh sẫm; màu khác
b Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng
- Thời gian gieo đến mọc (ngày): xác định khi có 50 % cây trên ô mọc có
Không tập trung: Hoa nở kéo dài > 30 ngày
Trung bình: Hoa nở kéo dài 16 – 30 ngày
Tập trung: Hoa nở dưới 15 ngày
- Thời gian sinh trưởng: Tính từ ngày gieo đến ngày thu hoạch đợt cuối
c Các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển
- Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm): đo từ đốt lá mầm đến đỉnh
sinh trưởng của cây, đo định kỳ 7 ngày/lần
- Chiều cao cây cuối cùng: Đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng
ngọn Đo khi chuẩn bị thu hoạch đo tại đốt trên lá mầm, đo tại 5 điểm/ô, mỗi điểm đo 2 cây đại diện Đo cùng với đo chiều cao thân chính
- Số đốt trên thân chính (đốt), theo dõi 10 cây/ô
- Số lá trên thân chính (lá): Đếm số lá mọc từ thân chính của 10 cây
Trang 38- Chỉ số diện tích lá (LAI): m 2 lá / m 2 đất
LAI = số cây/1m2 đất x diện tích lá của một cây
- Nốt sần (nốt): đếm tổng số nốt sần và cân khối lượng nốt sần ở 3 thời kỳ
bắt đầu ra hoa, hoa nở rộ và quả mẩy, mỗi ô lấy 5 cây đại diện (cũng là cây đại diện để đo chỉ số diện tích lá) để xác định Tính trung bình
d Các chỉ tiêu về khả năng chống chịu
+ Mức độ nhiễm sâu hại:
- Sâu cuốn lá (Lamprosema indicata): theo dõi trước thu hoạch, tính tỷ lệ
% Điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc
Tỷ lệ lá bị hại (%) = Số lá bị cuốn/tổng số lá điều tra
- Sâu đục quả (Eitiella zinekenella): theo dõi trước thu hoạch, tính tỷ lệ %
Điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc
Tỷ lệ quả bị hại (%) = Số quả bị hại/tổng số quả điều tra
- Sâu ăn lá: theo dõi như sâu cuốn lá
hại)
Nặng (> 25 % - 50 % diện tích lá bị hại) Rất nặng (> 50 % diện tích lá bị hại)
Điều tra ít nhất
10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc
15 ngày
bệnh)
Nhiễm nặng (51 – 75 % số cây có vết bệnh) Nhiễm rất nặng (> 76 % số cây có vết
bệnh)
Tỷ lệ cây bị bệnh = Số cây
bị bệnh/tổng số cây điều tra Điều tra toàn bộ các cây trên ô
Trang 39+ Tính chống đổ và tính tách vỏ quả
Tính tách quả Quả và
hạt chín
Không có quả tách vỏ Thấp (<25% quả tách vỏ)
Trung bình (25% đến 50% quả tách vỏ)
Cao (51% đến 75% quả tách vỏ)
Rất cao (>75% quả tách vỏ)
Điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc
Tính chống
đổ
Sau khi gặp điều kiện bất thuận
Không đổ (Hầu hết các cây đều đứng
thẳng)
Nhẹ (<25% số cây bị đổ rạp) Trung bình (25%-50% số cây bị đổ rạp,
các cây khác nghiêng ≥ 45%)
Nặng (51-75% số cây bị đổ rạp) Rất nặng (>75% số cây bị đổ rạp)
Điều tra các cây trên
ô
d Các yếu tố cấu thành năng suất
- Số quả/cây: Đếm tổng số quả trên 10 cây mẫu/ô, tính trung bình 1 cây
- Số hạt/quả: Đếm tổng số hạt trên quả của 10 cây mẫu/ô, tính trung bình
1 quả
- Khối lượng 1000 hạt: Cân 3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt ở độ ẩm hạt 12 %
- Năng suất cá thể (g/cây): khối lượng hạt trung bình của 10 cây mẫu = số hạt trung bình/cây × M1000/103 (cũng tính theo các lần thu hoạch và cộng lại)
- Năng suất hạt thu hoạch lần 1: Thu riêng hạt khô sạch của từng ô, gồm
cả khối lượng hạt của 10 cây mẫu, độ ẩm hạt ở 12 %
- Năng suất hạt thu hoạch lần sau: Thu riêng hạt khô sạch của từng ô, gồm cả khối lượng hạt của 10 cây mẫu ,độ ẩm hạt ở 12 %
- Năng suất thực thu (tạ/ha): Tính năng suất toàn ô (độ ẩm hạt 12 %) và quy ra năng suất trên 1 ha, lấy 2 chữ số sau dấu phẩy Năng suất thực thu (tạ/ha)
= Năng suất ô thí nghiệm/5 m2 × 10.000 × 10-5
- Năng suất lý thuyết (tạ/ha) = NSCT (g/cây) × mật độ × 10.000 × 10-5
3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Số liệu được xử lý bằng phương pháp phân tích phương sai ANOVA (phần mềm IRRISTAT 5.0) và Excel 2010
Trang 40PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CÁC DÒNG, GIỐNG ĐẬU XANH
Đặc điểm hình thái của cây là chỉ tiêu quan trọng để phân biệt các dòng, giống Những đặc điểm này bao gồm các đặc điểm về: thân lá, hoa, quả và hạt Biết được các đặc điểm hình thái đặc biệt (màu sắc thân mầm, màu sắc hoa, màu hạt…) sẽ giúp các nhà chọn giống dễ dàng hơn trong việc nhận dạng, đặc biệt là giúp cho các nhà chọn tạo giống dựa vào đó để tiến hành lai tạo ra các dòng/giống mới Kết quả đánh giá các đặc điểm hình thái của các dòng, giống đậu xanh trong vụ Xuân năm 2016 được trình bày ở bảng 4.1
4.1.1 Đặc điểm thân, cành đậu xanh
Thân đậu xanh thuộc loại thân thảo, mọc thẳng đứng hoặc hơi nghiêng, thân yếu có lớp lông mịn màu nâu sáng Màu sắc trên thân non của cây không có
sự tương quan chặt chẽ với màu sắc của hoa như đậu tương, ở đậu xanh hai tính trạng này độc lập với nhau Thân mầm có hai màu xanh và tím Thân được cấu tạo từ nhiều đốt, số lượng các đốt phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền Chiều dài các đốt phụ thuộc nhiều vào thời kì sinh thưởng, điều kiện ngoại cảnh và chăm sóc Những dòng có đốt dài trung bình, to là những dòng khả năng chống đổ tốt Qua bảng số liệu 4.1 cho thấy, tất cả các dòng, giống trong thí nghiệm đều
có dạng thân đứng (ngoại trừ dòng MT10 – dạng thân bán đứng) với kiểu sinh trưởng hữu hạn (ngoại trừ dòng MT4 – sinh trưởng bán hữu hạn)
Về màu sắc thân mầm: ở đậu xanh màu sắc thân mầm có 2 nhóm là nhóm
có thân mầm màu xanh và nhóm có thân mầm màu tím Trong thí nghiệm, có 4 dòng có thân mầm màu tím gồm: MT6; MT10; MT12 và MT13 Các dòng, giống còn lại có thân mầm màu xanh, trong đó có giống đối chứng ĐX11
4.1.2 Đặc điểm hoa, quả và hạt đậu xanh
a Đặc điểm hoa đậu xanh
Hoa là một trong những bộ phận quan trọng của cây, thực hiện chức năng sinh sản Hoa đậu xanh là hoa lưỡng tính, cánh tràng màu xanh tím, cánh hoa vàng Hoa đậu xanh mọc thành chùm ở nách lá Cuống hoa tự tương đối dài, có thể đạt 5-10 cm, vì vậy quả dễ thu hoạch Màu sắc hoa đậu xanh khác với đậu tương (gồm hai màu tím và trắng), ở đậu xanh chỉ có dạng hoa màu vàng ở tất cả