Nội dung nghiên cứu 1/ Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm thực vật học, nông sinh học, đặc điểm ra hoa, kết quả của cây đậu núi trồng ở 4 thời vụ trong năm.. Nhằm cung c
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG
ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC, GIÁ TRỊ SỬ DỤNG VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG CỦA CÂY ĐẬU NÚI
(PLUKENETIA VOLUBILIS L.) NHẬP NỘI
TRONG ĐIỀU KIỆN GIA LÂM HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Trâm
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hồng
Trang 3và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô trong bộ môn Di truyền và Chọn giống cây trồng – Khoa Nông học– Học viện Nông nghiệp Việt Nam cùng các anh chị em trong phòng nghiên cứu và phát triển lúa lai - Viện nghiên cứu và phát triển giống cây trồng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, học tập Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, các bạn sinh viên đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên báo cáo của tôi còn nhiều thiếu sót, tôi kính mong được sự góp ý của các thầy cô và đồng nghiệp để báo cáo được hoàn chỉnh hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Hồng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
Thesis abstract xii
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích – yêu cầu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
Phần 2 Tổng quan tài liệu 4
2.1 Tình hình nghiên cứu đậu núi trên thế giới 4
2.1.1 Nguồn gốc và phân loại cây đậu núi 4
2.1.2 Đa dạng di truyền cây đậu núi 5
2.1.3 Những nghiên cứu về đặc điểm cây đậu núi 8
2.1.4 Nghiên cứu thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của đậu núi 9
2.1.5 Yêu cầu ngoại cảnh và kỹ thuật gieo trồng cây đậu núi 17
2.2 Một số kết quả nghiên cứu cây đậu núi ở Việt Nam 18
2.2.1 Khảo nghiệm sơ bộ 18
2.2.2 Nghiên cứu kỹ thuật gieo trồng đậu núi 19
2.2.3 Điều tra tình hình sâu bệnh 20
2.2.4 Đánh giá chất lượng hạt đậu núi trồng tại Việt Nam 20
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 22
3.1 Địa điểm nghiên cứu 22
Trang 53.2 Thời gian nghiên cứu 22
3.3 Vật liệu 22
3.4 Nội dung nghiên cứu 22
3.5 Phương pháp nghiên cứu 22
3.5.1 Bố trí thí nghiệm 22
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi 23
3.6 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 25
3.6.1 Ngâm ủ gieo hạt 25
3.6.2 Trồng ra ruộng sản xuất 25
3.7 Phương pháp xử lý số liệu 26
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 27
4.1 Đặc điểm thực vật học của cây đậu núi (Plukenetia volubilis L.) 27
4.2 Đặc điểm sinh trưởng của đậu núi ở giai đoạn vườn ươm 31
4.3 Sinh trưởng phát triển cây đậu núi ở vườn sản xuất 35
4.3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây ở các thời vụ 35
4.3.2 Động thái tăng đường kính thân chính 36
4.3.3 Động thái và đặc điểm phân cành 37
4.3.4 Động thái ra lá và tăng trưởng kích thước lá 38
4.4 Đánh giá năng suất hạt đậu núi ở giai đoạn đầu 39
4.4.1 Khối lượng tươi các bộ phận của cây đậu núi 7 tháng tuổi 39
4.4.2 Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt đậu núi 40
4.4.3 Nhận xét về khả năng thích ứng của cây đậu núi qua các thời vụ gieo tại Gia Lâm Hà Nội 42
4.5 Kết quả điều tra sâu và thiên địch trên cây đậu núi tại vườn trồng 46
4.5.1 Kết quả điều tra sâu gây hại trên cây đậu núi 46
4.5.2 Kết quả điều tra thành phần thiên địch trên cây đậu núi tại Gia Lâm Hà Nội vụ Xuân- Hè 2016 52
4.6 Chất lượng dinh dưỡng trong lá, hạt đậu núi và khả năng sử dụng 53
4.6.1 Xét nghiệm chất lượng dinh dưỡng và kim loại nặng trong lá 53
Trang 64.6.2 Chất lượng dinh dưỡng và khả năng sử dụng lá đậu núi 55
4.6.3 Đánh giá chất lượng hạt đậu núi thu tại Gia Lâm Hà Nội 60
Phần 5 Kết luận và đề nghị 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Đề nghị 69
Tài liệu tham khảo 70
Phụ lục 78
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
AFLP Amplified Fragments Length Polymorphism ALA Alpha- Linoleneic acid
EPA Eicosa Pentaenoic acid
FDA Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ
NEFA Acid béo không thay thế
WEO Triển vọng kinh tế thế giới (World Economic
Outlook
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 So sánh giá trị dinh dưỡng của dầu đậu núi (Sacha inchi) với một số
loại dầu thực vật khác 15
Bảng 4.1 Tỷ lệ nảy mầm của hạt giống đậu núi nhập nội 32
Bảng 4.2 Đánh giá chất lượng cây trong vườn ươm 35 ngày tuổi 34
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây ở các thời vụ 35
Bảng 4.4 Động thái tăng trưởng đường kính thân chính cây đậu núi 36
Bảng 4.5 Động thái phân cành cấp 1 và đặc điểm phân cành 37
Bảng 4.6 Động thái ra lá của cây đậu núi 38
Bảng 4.7 Động thái tăng trưởng kích thước phiến lá của cây đậu núi 38
Bảng 4.8 Khối lượng tươi các bộ phận của cây đậu núi 7 tháng tuổi 39
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến thời gian ra hoa, kết quả và số quả chín ở ngày đầu tiên 40
Bảng 4.10 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất hạt đậu núi qua các lần thu ở các thời vụ khác nhau 41
Bảng 4.11 a Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của cây đậu núi 43
Bảng 4.11b Ảnh hưởng của thời vụ gieo đến thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của cây đậu núi 45
Bảng 4.12 Kết quả điều tra thành phần sâu, nhện gây hại cây đậu núi và các bộ phận bị hại trên cây 48
Bảng 4.13 Kết quả điều tra thành phần sâu, nhện đỏ gây hại cây đậu núi và mức độ phổ biến qua các tháng trong năm 2016 tại Gia Lâm, Hà Nội 48
Bảng 4.14 Mật độ sâu đục quả và tỷ lệ quả bị hại trên vườn đậu núi gieo mùa Hè và mùa Đông 2015 tại Gia Lâm, Hà Nội 51
Bảng 4.15 Thành phần thiên địch trên trên cây đậu núi tại Gia Lâm, Hà Nội vụ Xuân-Hè 2016 52
Bảng 4.16 Kết quả phân tích chất lượng dinh dưỡng và kim loại nặng trong lá đậu núi 54
Bảng 4.17a So sánh các chỉ tiêu của rau đậu núi và rau ngót Việt Nam 55
Bảng 4.17b So sánh kết quả đánh giá cảm quan giữa rau ngót và rau đậu núi 56
Bảng 4.18a So sánh kết quả phân tích lá đậu núi già khô và rau chùm ngây khô 57
Bảng 4.18b Kết quả đánh giá cảm quan các loại trà đậu núi 58
Trang 9Bảng 4.18c Kết quả xét nghiệm sản phẩm trà đậu núi - Trà Sacha inchi 59
Bảng 4.19 Đặc điểm hạt đậu núi thu lần 1 tại Gia Lâm, Hà Nội 60
Bảng 4.20 Ảnh hưởng của thời vụ đến tỷ lệ nhân và tỷ lệ dầu của hạt đậu núi 61
Bảng 4.21 So sánh tỷ lệ dầu ép được của đậu núi với 1 số loại hạt lấy dầu 61
Bảng 4.22a Kết quả phân tích hàm lượng axit béo trong dầu đậu núi thu tại Hà Nội so với công bố ở nước ngoài 64
Bảng 4.22b Hàm lượng dinh dưỡng ở hạt đậu núi và một số loại hạt khác 65
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Hạt đã ngâm 36h sau đó ủ 32
Hình 4.2 Hạt vào bầu sau 10 ngày 33
Hình 4.3 Sau vào bầu 35 ngày cây con được đem ra trồng Khi trồng cây có chiều cao trung bình từ 17cm – 20cm số lá có từ 7 – 8 lá đường kính thân trung bình là 0,4cm 33
Hình 4.4 Ảnh cây con trong giai đoạn vườn ươm 34
Hình 4.5 Sâu đục quả (Archips sp.) 49
Hình 4.6 Sâu róm hại lá (Euproctis pseudoconspersa ) 49
Hình 4.7 Sâu đục thân (Conogethes punctiferalis Guenee) 49
Hình 4.8 Sâu khoang (Spodoptera litura) 49
Hình 4.9 Sâu đục quả 50
Hình 4.10 Trà sacha inchi 58
Hình 4.11 Dầu đậu núi,Dầu đậu tương ,Dầu vừng đen, Dầu vừng vàng
Dầu lạc, Dầu hướng dương 62
Trang 11TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Thị Bích Hồng
Tên Luận văn: Đánh giá đặc điểm nông sinh học, giá trị sử dụng và khả năng thích
ứng của cây Đậu núi (Plukenetia Volubilis L.) nhập nội trong điều kiện Gia Lâm –
Phương pháp nghiên cứu:
Thí nghiệm được bố trí 4 thời vụ, mỗi thời vụ cách nhau 3 tháng:
- Thời vụ 1: (mùa Xuân) gieo 1/2/ 2015, trồng 7/3/2015
- Thời vụ 2: (mùa Hè) gieo 1/5/ 2015, trồng 5/6/2015
- Thời vụ 3: (mùa Thu) gieo 1/8/2015, trồng 5/9/2015
- Thời vụ 3: (mùa Đông) gieo 1/11/ 2015, trồng 5/12/2015
Bố trí mỗi thời vụ trên 1 ô, nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại trồng 20 cây trên 1 luống, chiều rộng luống 2m, khoảng cách cây 1,5m, tương ứng với mật độ là 3.333 cây/ha
Nội dung nghiên cứu
1/ Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm thực vật học, nông sinh học, đặc điểm ra hoa, kết quả của cây đậu núi trồng ở 4 thời vụ trong năm
2/ Điều tra các loại côn trùng gây hại, thiên địch và bệnh trên vườn đậu núi 3/ Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất cá thể, năng suất thực thu trong thời gian thực hiện đề tài
4/ Phân tích chất lượng dinh dưỡng, độc tố, tìm hiểu khả năng sử dụng sản phẩm thu từ lá cây đậu núi ở thời kỳ thực hiện đề tài
5/ Phân tích tỷ lệ dầu, thành phần dầu của hạt đậu núi trồng tại Gia Lâm Hà Nội
ở đợt thu đầu tiên
Kết quả nghiên cứu:
Sau 18 tháng theo dõi đánh giá, chúng tôi cho rằng có thể gieo trồng và phát triển cây đậu núi thành cây đa dụng ở nước ta vì những lý do sau:
Trang 121 Về đặc điểm thực vật học
- Đậu núi là cây lâu năm, thân leo bán gỗ, bộ rễ chùm phát triển theo chiều rộng ở tầng đất mặt Lá hình trái tim có răng cưa Hoa lưỡng tính đồng chu, trục hoa dài 15-20cm, đính 100-250 hoa đực nhỏ màu trắng, mỗi hoa có 23 bao phấn, 8 hạt phấn/1 bao, hạt phấn hình tam giác Hoa cái mọc sau ở gốc chùm hoa, mỗi chùm có 2 hoa cái, vòi nhụy dài, đầu nhụy phân thành 4-7 thùy tương ứng với 4-7 khoang hạt trong quả Quả hình ngôi sao, màu xanh lá cây chứa hạt hình tròn dẹt, vỏ cứng màu nâu đen, bên trong có nhân màu trắng ngà Nhân gồm 2 mảnh nội nhũ gắn vào nhau ở 1 đầu bởi phôi
2 Về sinh trưởng, phát triển và sâu bệnh
Đậu núi là cây trồng lâu năm, do mới lần đầu được trồng tại Gia Lâm – Hà Nội, mới thu được năng suất lần đầu nên chưa có năng suất ổn định vì vậy chưa đủ số liệu để tính toán chỉ số ổn định và thích nghi, chỉ mới đánh giá khả năng thích ứng của Đậu núi tại Hà nội thông qua khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng nhiễm sâu bệnh và năng suất của cây Đậu núi như sau:
- Cây Đậu núi trồng tại Gia Lâm Hà nội cho thấy sinh trưởng phát triển tốt, có thể trồng quanh năm (4 vụ xuân, hè, thu, đông)
- Thời gian từ trồng đến khi ra hoa từ 103 – 113 ngày, từ trồng đến thu hoạch quả lần đầu là 242-260 ngày tùy thời điểm gieo hạt, mỗi năm có thể thu 2 đợt chính vào tháng 5 tháng 6 và tháng 12 tháng Giêng, các tháng khác quả ra rải rác
- Trong thời gian triển khai đề tài có phát hiện sâu đục thân, sâu khoang, sâu róm
ăn lá, sâu đục quả và nhện đỏ trích hút nhựa, trong đó sâu róm và sâu đục quả gây hại nặng hơn, đồng thời cũng tìm được một số loài thiên địch, có thể khai thác, tạo thế cân bằng trong vườn trồng đậu núi
3 Năng suất của Đậu núi qua các thời vụ
- Năng suất thực thu ở vụ Hè cao nhất đạt 15,0 tạ/ha, vụ Đông đạt 9,3 tạ/ha và vụ Xuân đạt 9,5 tạ/ha, vụ Thu chưa cho năng suất (do điều kiện khách quan) nhưng tiềm năng cho năng suất cao vì số quả đậu /cây lần đầu tiên đạt cao nhất 18 quả/ cây, thấp nhất vụ xuân đạt 8,78 quả/cây
4 Những giá trị đặc biệt của cây Đậu núi
- Là cây lấy dầu do đó lượng dầu trong hạt chiếm rất cao từ 35 – 60% dầu trong
đó các thành phần trong dầu chứa nhiều chất xơ, iốt, các vitamin A, E Đặc biệt rất giàu omega trong đó omega 3 cao (48%), omega-6 (33,5%) và omega 9 (9%) Hàm lượng protein chiếm 27-33% trong hạt, khiến cho đậu núi được mệnh danh là "siêu thực phẩm” của loài người
- Ngoài ra Đậu núi còn được sử dụng ngọn và lá non làm rau dinh dưỡng, lá già dùng làm trà túi lọc bổ xung canxi và các chất chống oxy hóa cho cơ thể con người khi
sử dụng trà
Trang 13THESIS ABSTRACT Master candidate: Nguyen Thi Bich Hong
Thesis title: “Evaluate agronomical characteristics, usage and acclaimation of Sacha
inchi plant (Plukenetia Volubilis L.) in Gialam-Hanoi”
Major: Crop Science Code: 60.62.01.10
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:
Determine agronomical, biological characteristics, growth and development, pest and disease resistance, yield, quality and usage of Sacha inchi plant in Gialam - Hanoi
Materials and Methods:
The experiments were conducted in four planting seasons, plants were grown in the same plot in each season, with 3 replications, 20 plants for each replication, one replication was a furrow with the width of 2m, planting distance was 1.5m that equivalent to the density of 3.333 plants/ha
- Season 1 (spring season): sowing time: 1/2/ 2015, planting time: 7/3/ 2015
- Season 2 (summer season): sowing time: 1/5/ 2015, planting time: 5/6/2015
- Season 3 (autumn season): sowing time: 1/8/2015, planting time: 5/9/2015
- Season 4 (winter season): sowing time: 1/11/ 2015, planting time: 5/12/2015
Research content:
1/ Evaluating growth and development, biological, agronomical characteristics of Sacha inchi plant in 4 planting seasons
2/ Survey of pest, diseases and natural enemy in Sacha inchi
3/ Evaluating yield components, individual yield, and yield of Sacha inchi
4/ Determining nutrient content, toxicity and the usage of plant parts of Sacha inchi 5/ Determining oil components of Sacha inchi in Gialam- Hanoi
Main findings and conclusions:
After 18 months of observation and evaluation, the results showed that sacha inchi plant can be grown and developed into a kind of multi-uses in Vietnam for the following reasons:
1 Characteristics of botany
- Mountain Pass are perennials, vines sell timber, the root cluster developed by
Trang 14the width in the topsoil Heart-shaped leaves with serrated Dong chu bisexual flowers, 15-20cm long floral axis, 100-250 attached little white male flowers, each flower has 23 anthers, the pollen 8/1 bag, triangular pollen Original female flowers in inflorescences grow after each beam has two female flowers, taps long pistil, the stigma divided into lobes corresponding 4-7 4-7 seeds in the fruit compartment Star shaped fruit, green nuts contain flat round, dark brown hard shell, stuffed with ivory Staff consists of 2 pieces
of endosperm fitted together in one started by the embryo
2 In terms of growth, development and disease
Mountain bean crop is perennial, is grown as the first time in Gia Lam - Hanoi, new initial productivity gain should not yield stable so not enough data to calculate the stability index and the likes Comfort, just evaluate the adaptability of the mountain pass
in Hanoi through the growth, development, disease susceptibility and productivity of mountain peas as follows:
- Mountain Pea plant in Gia Lam, Hanoi showed good growth and development, can be grown throughout the year (4 for spring, summer, autumn and winter)
- The time from planting to flowering from 103-113 days from planting to harvest is 242-260 days initial results depends sowing time, every year can collect two major waves in May and June 5th December January, the month scattered results
- During the implementation of the project have discovered borers, cutworms, caterpillars eat the leaves, and spider red bollworm extract sap, which bollworm caterpillars and heavier damage, as well as trying some predators, can exploit and create balance in mountain bean plantations
3 Beans productivity through seasonal mountain
- Productivity actually collected at the Summer highest 15.0 quintal / ha, winter crop at 9.3 kg / ha and spring to 9.5 kg / ha, yielding Autumn yet (due to objective conditions ) but the potential for high yields because of pod / plant for the first time reached the highest 18 fruits / tree, the lowest reached 8.78 spring fruit / tree
4 The special value of peas mountains
- As oil trees in the county so that oil accounts for a very high between 35 - 60% of the oil in which the oil component in the fiber, iodine, vitamins A and E Especially rich in omega 3 omega including high (48%), omega-6 (33.5%) and omega 9 (9%) Accounting for 27-33% protein content in the seeds, making the mountain pass was dubbed the
"super food" of mankind
- In addition Mountain Pass can also be used as vegetable tops and nutritious young leaves, old leaves tea bags used calcium supplements and antioxidants for human body when using tea
Trang 15PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây đậu núi (Plukenetia volubilis L.) xuất xứ từ rừng mưa nhiệt đới
Amazon, là cây thân leo bán gỗ, trồng 1 lần cho thu hoạch tới 15-20 năm Một số nhà nghiên cứu tại Pêru cho rằng năng suất hạt đậu núi năm đầu thấp (0,7-1 tấn/ha), năm thứ 2 tăng lên 2-3 tấn/ha, từ năm thứ 3 năng suất ổn định hơn (3-4 tấn/ha), những vườn có chế độ dinh dưỡng cao, tưới tiêu nước hợp lý có thể thu
trên 4 tấn từ 5-10 năm liên tục (Hufstader, Chris, 2009) Theo Guillén et al
(2003) thì hạt đậu núi có hàm lượng dầu cao (35-60%), thành phần dầu gồm các axit béo không bão hòa, chất xơ, iốt, các vitamin A, vitamin E và các chất chống oxy hóa tự nhiên có lợi cho sức khỏe Nghiên cứu này còn cho rằng giá trị tinh
dầu của hạt đậu núi rất tốt vì hàm lượng omega-3 cao (48%), omega-6 (33,5%)
và omega 9 (9%) Hàm lượng protein chiếm 27-33% trong hạt, khiến cho đậu núi được mệnh danh là "siêu thực phẩm” của loài người Việc chế biến ra các sản phẩm cao cấp (viên nang ω 3-6-9, bột protein, kẹo sôcola sacha inchi, trà sacha inchi, kem dưỡng da dưỡng tóc) từ hạt cây đậu núi mang lợi ích cao cho sức khỏe
đã được khẳng định bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới: (Bondioli et al., 2006; Hamaker et al., 1992; Follegatti-Romero et al., 2009; Gutiérrez et al., 2011; Maurer et al 2012)
Việt Nam là nước nông nghiệp nhiệt đới, sản phẩm nông nghiệp đa dạng nhưng chưa cân đối, chúng ta thừa gạo, cà phê, cao su, hạt tiêu để xuất khẩu nhưng lại thiếu ngô để chăn nuôi, bông để làm sợi vải, và đặc biệt rất thiếu các loại hạt (đậu tương, lạc vừng, hướng dương, cải dầu ) để chế biến dầu thực vật Đậu tương là cây lấy dầu được trồng phổ biến trong nước và có diện tích lớn nhất thì báo cáo của Cục xúc tiến thương mại, Bộ Công thương năm 2014 về “ngành hàng đậu tương” chỉ rõ: “hàng năm, nước ta phải nhập khẩu 700-740 ngàn tấn dầu đậu tương tinh luyện cho ngành chế biến thực phẩm giầu protein, nhập 1,35-1,45 triệu tấn hạt đậu tương cho các nhà máy sản xuất dầu ăn tiêu thụ trong nước
và xuất khẩu, nhập 3,1-3,2 triệu tấn khô dầu đậu tương để chế biến thức ăn chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ” Cũng theo báo cáo này, năm 2013 diện tích trồng đậu tương là 117,8 ngàn hecta, sản lượng 168,4 ngàn tấn, năm 2014 -2015 diện
Trang 16tích tăng lên 120-130 ngàn hecta, sản lượng tương ứng là 176,7 và 192,4 ngàn tấn Qui hoạch tái cơ cấu các ngành hàng nông sản đến năm 2020, xác định diện tích đậu tương là 350 ngàn hecta, sản lượng 700 ngàn tấn, vẫn thấp rất xa so với nhu cầu trong nước (Cục xúc tiến thương mai, 2014) Các loại cây lấy dầu khác như lạc vừng có sản lượng thấp hơn đậu tương rất nhiều.Vì vậy, tìm một loại cây mới có thể bổ sung vào cơ cấu cây lấy dầu để giảm bớt gánh nặng nhập khẩu ngành hàng này là hướng nghiên cứu lâu dài nhưng vô cùng cấp thiết của ngành trồng trọt Cây đậu núi có thể là một lựa chọn tiềm năng vì các lợi thế sau: Là cây lấy dầu lâu năm, có năng suất khá, chất lượng cao, xuất xứ từ vùng rừng mưa nhiệt đới nên có khả năng thích ứng với điều kiện nhiệt đới ẩm ở nước ta Đậu núi đã được trồng khảo nghiệm ở một số địa phương (Hà Nội, Hòa Bình, Sơn La, Thái Bình, Ninh Bình, Đăk Lăk) từ năm 2013, tuy nhiên vì là cây lâu năm nên đến nay vẫn chưa có một báo cáo khoa học nào đánh giá đầy đủ về cây đậu núi ở Việt Nam Nhằm cung cấp một số thông tin khoa học cần thiết giúp cho việc đánh giá khách quan trước khi tuyển chọn cây trồng mới này bổ sung vào cơ cấu
cây lấy dầu tại Việt Nam, chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu: “Đánh giá đặc
điểm nông sinh học, giá trị sử dụng và khả năng thích ứng của cây Đậu núi (Plukenetia volubilis L.) nhập nội trong điều kiện Gia Lâm – Hà Nội”
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Xác định được đặc điểm nông sinh học, đặc điểm thực vật học, khả năng sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh, năng suất, chất lượng dinh dưỡng, giá trị sử dụng và khả năng thích ứng của cây đậu núi trồng tại Gia Lâm – Hà Nội
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá đặc điểm thực vật học của cây Đậu núi tại Gia Lâm – Hà Nội
- Đánh giá đặc điểm sinh trưởng, phát triển, tình hình sâu bệnh của cây
Đậu núi (Plukenetia Volubilis L.) trong điều kiện khí hậu, đất đai tại Gia Lâm –
Trang 171.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu đặc điểm thực vật học, đặc điểm nông sinh học, điều tra sâu bệnh gây hại, năng suất, chất lượng dinh dưỡng và giá trị sử dụng của ngọn, lá và hạt cây Đậu núi tại Gia Lâm Hà Nội trong 18 tháng (từ tháng 2 năm 2015 đến tháng 8 năm 2016)
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp những tài liệu khoa học có hệ thống về đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm ra hoa, kết quả, tình hình sâu bệnh gây hại, năng suất, chất lượng dinh dưỡng và giá trị
sử dụng các sản phẩm thu từ cây Đậu núi làm căn cứ khoa học để tuyển chọn bổ sung thêm cây lấy dầu mới có năng suất khá, chất lượng dinh dưỡng cao này vào Việt Nam
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu về cây lấy dầu nói chung và cây Đậu núi nói riêng tại Việt Nam
1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những mô tả đầy đủ về đặc điểm thực vật học, đặc điểm sinh học của quá trình ra hoa đực hoa cái, thụ phấn, thụ tinh, đậu quả, tích lũy vật chất vào hạt , tình hình xuất hiện sâu bệnh hại và thiên địch, năng suất hạt, năng suất dầu, chất lượng rau, lá làm trà, chất lượng dầu mà đề tài công bố là những thông tin hữu ích cần thiết giúp người trồng cây đậu núi chủ động bố trí sản xuất nhằm thu được năng suất, chất lượng cao và có phương án khai thác giá trị của các sản phẩm thu từ cây đậu núi
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẬU NÚI TRÊN THẾ GIỚI
2.1.1 Nguồn gốc và phân loại cây đậu núi
Cây Plukenetia volubilis L Có nhiều tên địa phương khác nhau như: Sacha
inchi, Inca inchi, Inca nut, Sacha peanut, Moutain peanut tạm dịch là đậu
núi Cây đậu núi thuộc bộ thực vật hạt kín hai lá mầm Malpighiales ; họ: thầu dầu Euphorbiaceae , họ phụ: Acalyphoideae, nhánh: Plukenetieae, nhánh phụ: Plukenetiinae, chi: Plukenetia, loài: Plukenetia volubilis, tên khoa học: Plukenetia volubilis L (Hamaker et al., 1992; Gutiérrez et al., 2011; Maurer et al., 2012)
Nguồn gốc xuất xứ của cây đậu núi hoang dại từ rừng mưa Amazon, vùng nhiệt đới Nam Mỹ (trên lãnh thổ Suriname, Venezuela, Bolivia, Ecuador, Peru, Tây bắc Brazil) và một số hoang đảo thuộc vùng Caribbean Cây đậu núi được các dân tộc bản xứ Pêru trồng từ nhiều thế kỷ trước Pêru là một trong mười quốc gia có nhiều vùng khí hậu, nhiều hệ sinh thái khác nhau và có đa dạng sinh học giầu nhất thế giới Rừng Amazonia là một trong những trung tâm quan trọng nhất của thế giới về đa dạng sinh học Rất nhiều cây trồng nông nghiệp mà nhân loại đang sử dụng làm lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh có nguồn gốc xuất
xứ từ vùng rừng Amazonia như: Ngô, sắn, dứa, bông, cao su, cà phê, ca cao,
quinoa, maca…(Blanka Krivankova, et al., 2007) Gần đây, người ta quan tâm
đến một loại cây mà người da đỏ (người Inca) thuần hóa từ cây rừng đã cung cấp nguồn thức ăn hoang dại trên 3.000 năm nay, loại cây cho dầu này đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu dầu thực vật, hiện nay đang được gieo trồng khá rộng ở Trung và Nam châu Mỹ, Tây Nam Florida (nước Mỹ) và vươn tới tận Đông nam châu Á (Trung Quốc, Thái Lan) Nhiều nghiên cứu đã xác nhận giá trị
cao về nhiều mặt của nó, đó là cây Plukenetia volubilis L (Dawn Berkelaar, et
al., 2015; Krivankova., 2007) Đậu núi là cây lâu năm, họ thầu dầu, nguồn gốc
phát sinh chủ yếu ở vùng có độ cao 200-1500m trên mức nước biển thuộc rừng
mưa nhiệt đới Amazon (Gutiérrez et al., 2011; Maurer et al., 2012) Một nghiên
cứu khác cho rằng đây là loài cây trồng đặc sản của rừng mưa nhiệt đới Amazonia ở Peru, nơi mà đậu núi đã được trồng bởi người bản địa trong nhiều
Trang 19thế kỷ, cây thích ứng rộng từ vùng khí hậu nóng ẩm, đất chua ven sông hồ lên
đến độ cao 1.700 mét so với mực nước biển (Dawn Berkelaar, et al., 2015) Năm
1993 nhà thực vật học Gillespie tìm thêm được 2 loài Plukenetia mới và đã xác
định xuất xứ địa lý của 2 loài này ở Madagasca (Gillespie , 1993, 2007), hạt của các loài này đều cho hàm lượng dầu cao từ 41-54%, protein từ 25-27%
(Gutiérrez et al., 2011; Hamaker et al.,1992) Cây đậu núi thuộc loại thực vật hạt
kín hai lá mầm, thân bán gỗ dạng dây leo Đến nay người ta đã tìm được 19 loài khác nhau có nguồn gốc từ vùng rừng rậm Amazon phân bố từ Bolivia tới Mexico mà phổ biến nhất là ở Peru (có 12 loài), còn lại là ở Ecuador, Colombia
và các nơi khác (Hamaker et al., 1992)
2.1.2 Đa dạng di truyền cây đậu núi
Các nhà khoa học cho rằng: việc phát triển những công cụ phân tích di truyền phân tử có thể đánh giá một cách chi tiết nguồn gốc tiến hóa của bộ gen cây trồng cũng như mức độ biến đổi trong tiến hóa ở một nhóm thực vật nhất
định (Ganga et al., 2004) vì vậy người ta đã sử dụng chỉ thị phân tử AFLP để
đánh giá đa dạng di truyền giữa các mẫu giống trong ngân hàng gen đậu núi lưu giữ tại Peru (Krivankova, 2012)
Phương pháp chỉ thị phân tử phát hiện tính đa hình trong trình tự DNA đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về đa dạng di truyền Giữa các chỉ thị này, chỉ thị kỹ thuật đa hình độ dài đoạn phân cắt chọn lọc (AFLP) có thể phát hiện một số lượng lớn các locus đa hình và được tái sản xuất, nhanh chóng và
đáng tin cậy (Kardolus et al.,1998) Kỹ thuật này có thể được sử dụng cho bất kỳ
loài thực vật nào và đã được áp dụng trong các nghiên cứu, ví dụ như, chanh dây
vàng (Passiflora edulis f Flavicarpa) bởi Ganga et al (2004) và cây cọ (Mauritia flexuosa L.) bởi (Gomes et al., 2011) Theo Haroldo Silva Rodrigues et
al (2013) phân tích cụm được dựa trên khoảng cách di truyền đã cho thấy mối
quan hệ giữa mức độ tương đồng và nguồn gốc của các mẫu giống, mức độ phù hợp nhất nằm trong khoảng 0.75*, theo ước tính dựa trên các chỉ số Mojema Cây di truyền phả hệ đã chỉ ra rằng các cấu trúc sinh thể trong ngân hàng giống đậu núi, nơi mẫu giống được thu thập từ trong kho bảo tồn quốc gia hầu như giống nhau khi so sánh với các mẫu giống thu thập từ trang trại ở “Nova Jerusalem” bởi vì hầu hết các mẫu giống từ kho bảo tồn quốc gia là tập trung ở nhóm A và từ vùng Nova Jerusalem hình thành nên các nhóm riêng biệt Điều này cho thấy các mẫu giống trong nước có nền di truyền hẹp hơn so với các
Trang 20nhóm khác Mẫu được thu thập và quan sát từ nhóm A bao gồm 22 mẫu giống nhưng trong đó chỉ có 1 mẫu được chọn từ nông trại “Nova Jerusalem”, nhóm B bao gồm 3 mẫu giống thu thập từ “Nova Jerusalem”, nhóm C gồm 5 mẫu giống thu thập từ “Nova Jerusalem” và 1 mẫu từ trong kho bảo tồn quốc gia, nhóm D chứa 2 mẫu giống từ Embrapa và nhóm E có 1 mẫu giống từ “Nova Jerusalem”và
1 từ Embrapa, trong khi đó mẫu giống A1U28 và A2U20 tạo thành các nhóm F
và G, tương ứng (Haroldo Silva Rodrigues, et al., 2013)
Mặt khác thì sự xuất hiện của mẫu giống A2U19 trong nhóm A và sự hiện diện của các mẫu giống trong nước trong nhóm mẫu thu thập từ vùng “Nova Jerusalem” cho thấy mức độ tương đồng di truyền không phụ thuộc vào nguồn gốc của chúng Để tạo ra một quần thể phân ly đa dạng từ các mẫu giống nghiên cứu trong mục tiêu sử dụng làm bố mẹ để lai tạo giống mới, tác giả đề xuất các vật liệu có khả năng kết hợp theo các cặp/tổ hợp như sau: A2U20/A1M14, A2U20/A2M06, A2U20/A1M11, A2U20/A2U15, A2M08/A1U29, A2U20/A2M10, A2U01/A1U28, A2U20/A2M05, A2U20/A1U29, và A2U10/A1U28 Những tổ hợp lai trên cho thấy khoảng cách lớn nhất giữa các cặp qua ước tính theo hệ số Jaccard Mẫu giống A2U20 có khác biệt cao nhất và không được tập trung ở cấp độ thích hợp nhất, làm cho nó trở thành mẫu tiềm năng để sử dụng cho chương trình lai tạo giống sử dụng ngân hàng
gen mẫu giống đậu núi (Haroldo Silva Rodrigues et al., 2013)
Nhiều nghiên cứu tạo giống đã chỉ ra cách xác định bố mẹ với sự phân
ly di truyền cao (Ganga et al., 2004; Costa et al., 2006) Lai giống sẽ tạo ra
sự phân ly ở các thế hệ con cháu, tạo cơ hội làm tăng xác suất của các kiểu gen vượt trội Như vậy, các mô tả về giống khởi đầu là điều cần thiết cho quá trình tạo giống, đảm bảo các thông tin sẵn có đầy đủ về các mẫu giống của một ngân hàng và tạo thuận lợi cho việc lựa chọn các gen tiềm năng Các nguồn này cũng có thể sử dụng để loại bỏ sự trùng lặp và ngăn ngừa tổn thất tài nguyên di truyền, đó là nền tảng cho sự thành công của quá trình nhân giống và sản xuất giống cây trồng nông nghiệp
Theo Haroldo Silva Rodrigues et al (2013) các kết quả tư liệu hóa nguồn
gen của ngân hàng giống đậu núi của Embrapa Amazonia Ocidental, đã cung cấp các thông tin hữu ích giúp ích cho quá trình nhân giống và chọn tạo giống mới Cho đến nay không có ghi chép nào định lượng được các biến dị di truyền của các mẫu giống bằng cách sử dụng công cụ chỉ thị AFLP đã tạo ra được một số
Trang 21lượng lớn các chỉ thị và đảm bảo độ tin cậy cao Trong các nghiên cứu thử nghiệm các chỉ thị SSR được lựa chọn ngẫu nhiên từ quần thể đậu núi tự nhiên từ các nơi lân cận trong thành phố Pucallpa ở Peru, trung bình cứ 16 nhóm đa hình được sử dụng làm các cặp mồi đã được thu thập Tác giả kết luận rằng tỷ lệ của các nhóm đa hình trong quần thể nghiên cứu là khá cao và rằng các chỉ thị này mang lại nhiều thông tin giúp ước lượng các tham số di truyền của loài này sẽ
giúp ích cho các nghiên cứu trong tương lai (Krivankova et al., 2012)
Các chỉ thị AFLP có hiệu quả trong việc đánh giá đa dạng di truyền bằng cách phát hiện và đánh giá đa dạng di truyền trong 37 mẫu giống từ ngân hàng giống đậu núi của Embrapa Amazônia Ocidental, một biểu đồ hiển thị các cấu trúc địa lý của các mẫu giống, theo nguồn gốc của chúng Các kết quả trên có lợi cho quá trình tạo giống trong tương lai của loài này, hỗ trợ trong việc lựa chọn bố mẹ tiềm năng cho quá trình tạo giống (Haroldo Silva
Rodrigues, et al., 2013) Các mẫu giống đậu núi trong ngân hàng giống của
Embrapa Amazônia Ocidental có sự đa dạng và có thể được khai thác trong quá trình chọn tạo giống mới Nhận thấy được sự đa dạng giữa các mẫu giống của ngân hàng giống đậu núi cũng như một cấu trúc theo vị trí của mối liên kết Năm 2013, Haroldo S.R đã sử dụng 37 mẫu giống đậu núi của ngân hàng gen Embrapa Amazonia Ocidental tại vùng Manaus-AM (vĩ độ 308’S, kinh độ
59052’W) trong đó 25 mẫu thu thập tại các quốc gia vùng Amazonas năm 1992,
12 mẫu tại nông trại “Nova Jerusalém” thuộc Careiro Castanho-AM năm 2012 (vĩ độ 3031S, kinh độ 59049W) Kết quả nghiên cứu đã phân chia 37 mẫu giống thành 7 nhóm (A, B, C, D, E, F, G) có giá trị khác biệt di truyền từ 0,7-0,79 Nghiên cứu còn cho thấy các mẫu giống đậu núi của ngân hàng gen Embrapa Amazonia Ocidental có khác biệt di truyền rõ nên có thể sử dụng trong các chương trình chọn giống Sự khác biệt di truyền giữa các mẫu giống đậu núi trong ngân hàng gen cũng như cấu trúc địa lý phụ thuộc vào địa phương thu thập đầu tiên (Haroldo Silva Rodrigues,et al., 2013)
Nhằm đánh giá nguồn gen phục vụ công tác chọn tạo giống mới năng suất
cao, hàm lượng dầu cao (Fuchs et al., 2013; Horn et al., 2011; Pedersen et a.l, 2000; Todt et al., 2006) đã sử dụng phương pháp đánh giá nhanh để xác định
hàm lượng dầu tới hạn trong hạt đậu núi ở các giai đoạn phát triển khác nhau Các kết quả nghiên cứu này phát hiện được sự khác biệt di truyền của các giống trên cơ sở đó chọn bố mẹ có những tính trạng khác biệt để lai tạo giống mới mang những tính trạng mong muốn
Trang 22Theo Haroldo Silva Rodrigues et al (2013) đa dạng di truyền xảy ra nhiều ở
vùng Amazon và được phát hiện bởi con người từ rất lâu trước khi phát hiện ra Châu Mỹ Tuy nhiện, phần lớn các loài được tìm thấy trong quần xã sinh vật này được bắt đầu từ một phần hoặc hoàn toàn vẫn chưa được các nhà khoa học biết đến Vì vậy đòi hỏi phải nghiên cứu để hiểu rõ hơn về quần thể của chúng và khả
năng sử dụng của loài này Đậu núi thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae), là cây
leo thân gỗ có nguồn gốc từ vùng Amazon, dầu chiết xuất từ hạt có những công dụng rất hấp dẫn, với tiềm năng to lớn sử dụng làm dược phẩm, dinh dưỡng và
mỹ phẩm (Haroldo Silva Rodrigues et al., 2013)
2.1.3 Những nghiên cứu về đặc điểm cây đậu núi
2.1.3.1 Đặc điểm thực vật học
- Bộ rễ: Theo công bố của Yang et al (2014) thì rễ đậu núi phát triển tốt
theo chiều rộng trên bề mặt đất nên có thể giữ cho cây không bị đổ ngã và chịu hạn ở mức độ nhất định vì không có rễ cọc ăn sâu
- Thân đậu núi thuộc loại bán gỗ, bò leo, cao từ 3-5m hoặc hơn nữa, khả năng phân cành rất tốt, mỗi nách lá đều có thể phân hóa chồi để phát triển thành cành Lá hình trái tim, bản lá dài 10-15cm, rộng 6-10 cm tùy vị trí, mép lá có
viền răng cưa, cuống lá dài 6-8cm (Cai et al., 2012) Đậu núi là cây thân leo bán
gỗ, lá hình tim viền răng cưa, hoa tự chùm, đơn tính đồng chu, hoa đực nhỏ màu trắng, xuất hiện trước kết thành chùm Hai hoa cái xuất hiện sau ở gốc chùm hoa đực, vòi nhụy hình ống, vươn dài 2-2,5cm đầu nhụy phân thành 4-7 thùy màu trắng, quay ngang không hướng về hoa đực nên khó hứng phấn từ hoa đực cùng chùm Là cây leo, thân lá phát triển mạnh trong mùa mưa nên cần làm dàn với
cọc chắc chắn tránh đổ (Taylor et al., 1972)
- Hoa: Đậu núi bắt đầu ra nụ sau khi gieo hạt 5 tháng, từ khi ra nụ đến bắt đầu nở hoa khoảng 20-25 ngày, trên cây lúc nào cũng có nụ, có hoa nở, có quá trình thụ phấn thụ tinh, đậu quả và quả chín đan xen nhau Hai hoa cái mọc từ gốc chùm hoa, hoa đực nhiều, nhỏ, màu trắng kết thành cụm Hoa đực có 5 cánh,
23 bao phấn, mỗi bao phấn chia thành 4 thùy, trong 1 thùy có 8 hạt phấn
(Hamaker et al., 1992; Hector Noriega et al., 2010; Taylor et al., 1972)
- Quả và hạt: Quả có từ 4-7 hạt, mỗi hạt nằm trong 1 thùy (Cai et al.,
2011) Hạt đậu núi hình ôvan, dài 15-20mm, rộng 7-8mm chứa 2 mảnh gắn với nhau ở 1 đầu, khi ngâm nước sẽ xảy ra quá trình chuyển hóa sinh hóa trong hạt,
Trang 23nội nhũ trương lên, các tế bào phôi phát triển biến thành thân mầm, rễ mầm, lá mầm Hạt to, dinh dưỡng dự trữ nhiều nên cây con to khỏe, thân mầm dài 6-
10cm, lá mầm to dầy (Guillén et al., 2003)
2.1.3.2 Đặc điểm sinh trưởng và tích lũy của quả
Hamaker et al (1992) cho rằng cây đậu núi sinh trưởng thân lá mạnh, cần
làm giàn chắc chắn để chúng bò leo, chiều cao giàn không quá 3m để có thể chui vào hái quả Cách thu hái thủ công phải chi phí nhiều lao động nên không thể mở rộng diện tích sản xuất được Trong mùa mưa, cây ra nhiều cành, nhiều lá và hoa hơn hẳn mùa khô, chọn địa điểm trồng để tránh gió bão làm đổ giàn, khi giàn đổ
cây không chết nhưng không vào thu hoạch quả được (Guillén et al., 2003) Longjian Niu et al (2014) nghiên cứu trên cây đậu núi 1 năm tuổi trồng tại
vườn thực vật nhiệt đới Xishuangbanna, thành phố Menglun tỉnh Vân Nam ở độ cao 580m trên mực nước biển Khi hoa cái nở, tiến hành bao cách ly, lấy phấn hoa đực thụ cho hoa cái và ghi ngày thụ phấn Từ ngày thứ 15 sau thụ phấn cứ 5 ngày 1 lần thu mẫu mỗi mẫu thu 5 quả để đánh giá trữ lượng dầu Quả đậu núi từ khi thụ phấn đến chín kéo dài 145 ngày, kích thước quả và hạt ổn định sau thụ phấn 40 ngày Từ ngày thứ 40 đến khi chín không thay đổi kích thước hạt nhưng
có thay đổi ít về kích thước quả Tại thời điểm 115 ngày sau thụ phấn thì màu vỏ chuyển từ xanh sang vàng nâu và vỏ hạt chuyển đen dần, sau thụ phấn 145 ngày quả và hạt chuyển nâu sẫm Khối lượng tươi của hạt giảm từ 1,75gam xuống còn 1,47gam, khối lượng khô tăng dần trong thời kỳ tích lũy hạt Có thể chia quá trình phát triển hạt đậu núi thành 3 giai đoạn chính: giai đoạn 1 (S1) tăng kích thước và khối lượng tươi (trước 40 ngày sau thụ phấn); Giai đoạn 2 (S2) tăng tích lũy chất khô (40-115 ngày sau thụ phấn); Giai đoạn 3 (S3): giảm khối lượng tươi, giảm nhẹ khối lượng khô (sau thụ phấn 115 ngày đến khi hạt chín hoàn toàn) (Greenwood and Bewley, 1982)
2.1.4 Nghiên cứu thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của đậu núi
2.1.4.1 Thành phần hóa học của hạt đậu núi
Mặc dù cây đậu núi đã được trồng trọt và sử dụng khá lâu nhưng người ta hiểu biết rất ít về thành phần dinh dưỡng và các chất hóa học trong hạt Guillén (2003) đã đánh giá chất lượng hạt đậu núi và xác định là cây cho dầu với hàm lượng cao từ 35-60%, thành phần dầu có nhiều acid béo không no So với một số nghiên cứu khác thì hàm lượng dầu đậu núi trong nghiên cứu của ông cao hơn
Trang 24hẳn (Bondioli and Della Bella, 2006) công bố là 34,42%, nhưng lại thấp hơn so
với kết quả của (Hamaker et al., 1992; Follegatti-Romero et al., 2009) là khoảng
54% Sự chênh lệch này có thể giải thích do những nghiên cứu này thực hiện trên các giống hoặc loài phụ khác nhau, cây được trồng tại vùng địa lý có điều kiện thời tiết khác nhau, thời điểm thu hạt khác nhau hoặc phương pháp ép dầu khác
nhau (Gutiérrez et al., 2011) Dầu đậu núi ép tươi có màu vàng nhạt được dùng
để đánh giá chất lượng dinh dưỡng, kết quả đánh giá được công bố rằng: thành phần acid béo rất cao, alpha-liolenic (ω-3) là 54% và lioleic (ω-6) là 34%
(Maurer et al., 2012) Hàm lượng acid oleic thấp (9,1%), palmitic: 4,4% và stearic: 2,4% được công bố bởi Gutiérrez el al (2011) Những kết quả phân tích trên phù hợp với công bố của các nghiên cứu của Follegatti-Romero et al., 2009; Fanali et al., 2011) Tuy nhiên, (Hamaker et al., 1992 and Guillén et al., 2003)
công bố kết quả phân tích hàm lượng alpha-linolenic (ω-3) là 45,2% và và lioleic (ω-6) là 47,4% Với hàm lượng alpha-linolenic acid cao như vậy, cây đậu núi sẽ cung cấp nguồn acid béo không thay thế rất quan trọng bổ sung thêm dinh dưỡng
cho thực phẩm (Guitiérrez et al., 2011)
Hạt đậu núi có hàm lượng protein cao (27%), trong đó giầu cystein,
tyrosin, threonine và tryptophan (Maurer et al., 2012) Hàm lượng các chất này
tương đương với các loại hạt: Vừng (25%), Hướng dương (24%), lạc (23%
(Guitierrez et al., 2011) Dầu đậu núi chứa nhiều axít béo thiết yếu đặc biệt là
omega-3 có tác dụng tăng sức khỏe cho tim mạch, trị viêm khớp, ung thư, nhiễm khuẩn Khô dầu sau khi ép còn khá nhiều chất dinh dưỡng nên có thể làm bột và gọi là: “bột protein”, trong thành phần protein đậu núi có đầy đủ các loại amino
acid cần cho người lớn (Guillén et al., 2003)
Kết quả xét nghiệm thành phần các chất khoáng trong hạt đậu núi trồng tại miền Nam Colombia năm 2011 xác định rằng trong hạt đậu núi (độ ẩm 3,3 %) có hàm lượng chất béo là 42%, protein 24,7%, Ash 4% và hydratcacbon 30,9%, trong 1 kg hạt đậu núi chứa nhiều chất khoáng quan trọng, bao gồm: 5563,5mg kali, 3210mg mage, 2406 mg canxi, 103,5 mg sắt, 49 mg kẽm, 15,4mg lưu huỳnh
và 12,9mg cooper (Gutiérrez et al., 2011)
Hàm lượng protein ở hạt đậu núi từ 24 – 33%, ngoài ra, hạt đậu núi còn chứa một số loại khoáng chất: kali (5.563,5 ppm), magiê (3210 ppm) và canxi (2406 ppm), các Vitamin A, E, acid amin và các chất chống oxy hóa tự nhiên giúp tăng khả năng miễn dịch của cơ thể Hàm lượng dầu đậu núi còn chứa
Trang 25Cholesterol tự do tốt (HCL) giúp làm giảm Cholesterol xấu (LCL) trong máu khi
sử dụng (Nascimento et al., 2013; Owen et al., 2005)
2.1.4.2 Nghiên cứu giá trị sử dụng của hạt đậu núi
Để đánh giá độ an toàn khi làm thực phẩm của dầu đậu núi, người ta đã tổ chức 2 nhóm người lớn mỗi nhóm 30 người có sức khỏe tương đương nhau 1 nhóm ăn dầu đậu núi (giầu omega-3), 1 nhóm ăn dầu hướng dương (giầu omega-6), mỗi ngày ăn 10-15ml dầu/người trong 4 tháng liên tiếp Những người ăn tự báo cáo đánh giá hàng ngày về sự chấp nhận, sự an toàn (thông qua tác dụng phụ lên gan, thận) Kết quả cho thấy nhóm ăn dầu đậu núi ở tuần đầu chấp nhận thấp (37,5%), từ tuần thứ 6 trở đi chấp nhận tăng lên 81,25-93,75% không phân biệt giới tính, tác dụng phụ ở cả 2 nhóm giảm rõ rệt theo thời gian ăn Sau 4 tháng tiến hành xét nghiệm máu ở cả 2 nhóm đều cho kết quả hàm lượng cholecterol có hại (LDL) trong huyết thanh và huyết áp động mạch giảm rõ với độ tin P<0,05; Riêng nhóm ăn dầu đậu núi hàm lượng cholesterol có lợi (HDL) trong máu tăng
ở tháng thứ 4 nên được đánh giá là dầu an toàn và tốt cho người sử dụng (Gonzales and Gonzales, 2014)
Đánh giá tác dụng của dầu đậu núi đối với nhóm bệnh nhân bị rối loạn mỡ máu được thực hiện như sau: Các bác sỹ chọn 24 bệnh nhân rối loạn mỡ máu ở
độ tuổi từ 35-75, đo hàm lượng cholesterol tổng số (TC), cholesterol tốt HDL, triglycerides (Tg), gluco (G), axít béo không thay thế (NEFA) và Insulin (I) trong máu của từng người, sau đó chọn nhẫu nhiên người ăn dầu đậu núi thường xuyên 5ml và 10 ml/ngày trong 4 tháng liên tục Cuối tháng thứ 4 kiểm tra thấy giá trị
TC và NEFA giảm và HDL tăng ở cả 2 nhóm ăn 5 và 10ml Riêng nhóm ăn 10ml thì tăng hàm lượng Insulin trong máu, như vậy ăn dầu đậu núi có lợi cho bệnh nhân rối loạn mỡ máu (Garmendia, 2013)
Rocio Jackelyn Carrion Rabanal (2014) ở đại học Washington đã nghiên cứu hoạt tính sinh học của dầu đậu núi và dầu Quinoa lên các tế bào bị tổn thương ở tĩnh mạch và xác nhận dầu đậu núi có khả năng làm lành màng tế bào và chống viêm nhiễm
Nghiên cứu thành phần hóa sinh của dầu ép từ hạt đậu núi, Cisineros et al
(2014) nhận xét dầu đậu núi có tính ổn định cao về hàm lượng và chất lượng
trong quá trình bảo quản không dùng phụ gia Hamaker et al (1992) công bố dầu
đậu núi chứa tới 93% axít béo không no, trong đó 45,2% là α-linolenic acid
Trang 26(omega-3), 36,8% là linolenic acid (omega-6) là những axít béo không thay thế
mà cơ thể người không thể tự tổng hợp được nên bắt buộc phải hấp thu từ bên
ngoài (Follegatti- Romero et al., 2009) Những axít béo này thuộc nhóm cần bổ
sung thường xuyên giúp điều hòa áp suất máu, nhịp tim, tạo màng tế bào.Dầu đậu núi có hàm lượng polyunsaturated (PUFAs) có tên là alpha-linoleneic acid (ALA, C18:3, omega-3) từ 47-51% và linoleic acid (LA, c18:6, omega-6) từ 34-
37% (Fanali et al., 2011 and Guillén et al., 2003) Các chất này được xác định có
giá trị dược liệu cao và có lợi cho sức khỏe do ngăn cản được một số bệnh như viêm khớp, ung thư, động mạch vành, tiểu đường, cao huyết áp, rối loạn thần kinh (ADHD), viêm da (Gogus and Smith, 2010; Hanssen and Schmitz Hubsch, 2011) Dầu đậu núi có tiềm năng ứng dụng cao trong công nghệ thực phẩm và
dược phẩm (Chirinos et al., 2013), ngoài ra còn dùng cho chăn nuôi và làm xăng sinh học (Zaccheria et al., 2009, 2012 and Zuleta et al., 2012)
Theo Bindi Shah (2016) thì axít béo chưa no omega-3 giữ vai trò quan trọng đối với mọi tế bào cơ thể, nó tạo ra màng tế bào, duy trì chức năng thần kinh, làm giảm nguy cơ tử vong sớm, bảo vệ hiệu quả các hoạt động thần kinh, tăng cường trí nhớ, cải thiện sức khỏe tim mạch Theo tổng kết của tạp chí “Đời sống” đến nay đã có khoảng 20.000 công bố về lợi ích của omega-3 đối với đời sống con người ở các mặt thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm Omega-3 trước nay được đánh giá có hàm lượng cao chủ yếu trong các loại cá da trơn, cá hồi, cá thu, thịt gia cầm Trong dầu thực vật omega-3 có ở lạc, hướng dương, oliu , theo những nghiên cứu mới nhất thì trong dầu đậu núi hàm lượng acid béo không thay thế omega-3 (45-53%) và omega-6 (34-39%) đặc biệt cao, omega-9 thấp (6-10%,
là loại axit béo có thể thay thế) Hai loại axit béo không thay thế có trong đậu núi quan trọng nhất là omega-3 và omega-6 vì khi được hấp thu vào trong cơ thể người, Omega-3 có thể chuyển hóa thành DHA, rồi thành EPA, omega-6 cũng tương tự như vậy Theo một nghiên cứu khác về tỷ lệ hai loại này nếu như sử dụng omega-3 cao hơn 4 lần omega-6 là lý tưởng nhất cho sức khỏe Trong dầu đậu núi còn chứa 27% protein mà thành phần của nó có tryptophan, một loại protein giúp
não sản xuất ra serotonin, chất gây an thần chống mất ngủ (Novello et al., 2010)
Trong 1 gam protein đậu núi có 28mg tryptophan, nhiều hơn 8 lần so với các nguồn hạt thực vật nổi tiếng nhất đã biết Tryptophan là một amino acid tiền thân của serotonin, có tác dụng giảm căng thẳng thần kinh Khoảng 20% serotonin trong cơ thể muôi hệ thần kinh trung tâm Quan hệ giữa amino acid này với
Trang 27serotonin giúp điều hòa giấc ngủ đặc biệt đối với phụ nữ sau sinh, mà khả năng
tổng hợp serotonin chỉ bằng 1/2 so với nam giới (Bindi Shah, 2016) Sun Warrior (2014) cho rằng hạt đậu núi là thực phẩm cao cấp vì có hàm
lượng protein cao, dầu có nhiều omega-3-6-9, alpha tocopherol, vitamin E,
carotenoid (vitamin A) và chất sơ Dầu đậu núi có giá trị tương đương như dầu
oliu, nhưng nhiều dinh dưỡng hơn do có hàm lượng protein và omega-3 cao hơn
hẳn Tác giả đã kể ra 10 lợi ích của dầu đậu núi như sau:
1/ Cholesterol trong cơ thể người có 2 loại: Loại có lợi là cholesterol
HDL, trong đậu núi có rất nhiều; Loại có hại là cholesterol LDL trong dầu đậu
núi có rất ít
2/ Protein đậu núi giầu tryptophan là tiền chất serotonin mà serotonin lại
là hoocmon kích thích cảm giác nhẹ nhàng êm ái giúp giảm căng thẳng thần
kinh, tránh strees Omega-3 còn chống viêm não, chống đau đầu
3/ Ăn dầu đậu núi giúp cơ thể giảm cân vì nồng độ serotonin tăng sẽ giúp
điều chỉnh sự thèm ăn, hạn chế ăn vặt nên giảm cân
4/Tăng sức khỏe não: não rất cần chất béo, chất béo trong dầu đậu núi
chưa bão hòa nên dễ hấp thu giúp bồi bổ sức khỏe não, chống viêm, chống trầm
cảm hạn chế phản ứng quá mức với các cơn đau
5/Tăng sức khỏe tim:cải thiện lưu thông máu, hạ huyết áp, thông tim
mạch
6/ Chống tiểu đường : Omega-3 giúp giảm lượng đường trong máu, giảm
sức đề kháng insulin ở người bị tiểu đường type2, làm giảm chất béo trung tính
thường xuất hiện ở người tiểu đường
7/ Làm chắc sương: Omega-3 giúp cơ thể hấp thu canxi, nâng cao mật độ
sương, ngăn chặn loãng sương và các suy thoái sương khớp
8/ Cải thiện thị lực: Các vitamin E, vitamin A và omega trong hạt đậu núi
giúp cải thiện thị lực, duy trì sức khỏe mắt
9/ Chống viêm khớp xương: Dầu đậu núi có khả năng chống viêm khớp
dạng thấp có thể kết hợp với gừng sẽ tốt hơn
10/ Dưỡng da và tóc: omega-3 giúp mái tóc khỏe, làn da mịn và ẩm, hạn
chế hydrat hóa, chống tác dụng của ánh nắng mặt trời (Sun Warrior, 2014)
Trang 28Phụ nữ Pêru thường trộn dầu đậu núi với flour để làm kem dưỡng da, dầu này còn dùng để trộn với nhiều món ăn đã nấu chín hoặc rau tươi sống, trộn
salat (Guillen et al., 2003)
Dầu đậu núi (Sacha inchi) là sự pha trộn độc đáo của các thành phần tự nhiên quý hiếm là omega3-6-9, chất chống oxy hóa vitamin A, E cùng nhiều dưỡng chất tinh túy khác như protein, chất xơ và một số loại axit amin thiết yếu
khác (Liu et al., 2014) Nếu so sánh với dầu Argan (một loại dầu thực vật quí) thì
hàm lượng omega 3 có trong dầu đậu núi nhiều hơn gấp 40 lần Dầu đậu núi được xem là nguồn bổ sung dinh dưỡng cao cấp rất tốt cho sức khỏe con người Đây là một loại dầu tinh khiết hoàn toàn tự nhiên với thành phần giàu axit béo tự nhiên, đặc biệt là hàm lượng omega 3 hiện tại đang đứng đầu so với các loại dầu khác Nhờ đó, dầu đậu núi giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của hệ thống tim mạch, ngăn ngừa rối loạn nhịp tim, làm giảm nguy cơn đau tim và giúp giảm các
bệnh lý về tim mạch (Cai et al., 2011 and Liu et al., 2014)
Các axit béo thiết yếu có vai trò quan trọng đối với hệ thống thần kinh trung ương (não và tủy sống), làm chậm quá trình thoái hóa thần kinh và chứng bệnh thoái hóa điểm vàng liên quan đến vấn đề tuổi tác và duy trì sức khỏe cho
đôi mắt (Gacia-Hemández et al., 2013)
Sử dụng dầu đậu núi giúp cải thiện sự lưu thông máu và huyết áp, giảm cholesterol xấu (LDL) và tăng cholesterol tố (HDL) Hơn nữa, Omega 3 trong đậu núi còn kiểm soát lượng đường trong máu và giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2 Hạt đậu núi có chứa tryptophan giúp giảm căng thẳng, tránh được các vấn đề liên quan đến stress Đối với phụ nữ có thai và trẻ nhỏ, dầu đậu cúi có tác dụng làm giảm nguy cơ cao huyết áp liên quan đến quá trình mang thai
(Gacia-Hemández et al., 2013; Nascimento et al., 2013)
Omega 3 rất cần thiết cho sự phát triển hệ thần kinh của thai nhi, đặc biệt
là cho sự phát triển của các mô thần kinh trong giai đoạn ba tháng đầu của thai
kỳ Dầu Sachi còn giúp cải thiện sự phát triển trí não và vận động của trẻ sơ sinh nhẹ cân, cải thiện sự phát triển não bộ và thị giác của trẻ em (Gacia-Hemández
et al., 2013; Nascimento et al., 2013)
Dầu đậu núi có giá trị vượt trội so với các loại dầu thực vật khác vì thành phần các acid béo thiết yếu: Omega 3 chiếm 48 – 54%, omega 6: 36 – 38%, omega 9: 7 – 9% Tỷ lệ omega 3 và omega 6 ở đậu núi đạt 1,4/1 được đánh giá là tỷ lệ “ lý
Trang 29tưởng” cho sức khỏe Tỷ lệ hàm lượng ω3/ω6 của dầu đậu núi kể trên không thể tìm được ở bất kỳ loại dầu thực vật nào hiện có Thậm chí, nếu so sánh với hàm lượng omega 3 và omega 6 ở cá Hồi thì dầu đậu núi còn vượt trội hơn hẳn ở tỷ lệ này Hơn nữa đây là dầu thực vật nên không tanh như dầu cá và không chứa các chất bảo quản
hoặc những tạp chất có hại từ biển (Nascimento et al., 2013)
Bảng 2.1 So sánh giá trị dinh dưỡng của dầu đậu núi (Sacha inchi) với một
số loại dầu thực vật khác
Đơn vị: % so với khối lượng hạt khô
Chất dinh dưỡng Sacha
Inchi Oliu
Dầu Nành
Dầu hạt lanh
Hướng dương Ngô
2.1.4.3 Giá trị thượng mai của các sản phẩm đậu núi
Do chứa hàm lượng dinh dưỡng quý nên dầu đậu núi đã nhận được nhiều giải thưởng quốc tế: Huy chương vàng tại cuộc thi quốc tế “Oils of the World” WEO Paris năm 2004 và 2006; Đứng trong top 2 tại hội chợ thực phẩm thế giới:
“Profesional Fairs about Foods”: SIAL của Pháp năm 2004; Đạt giải “Top innovation anuga 2005”; Đứng đầu giải thưởng “International Trends and Innovations Directory” năm 2006
Tháng 6/2007, dầu đậu núi nhận Huy chương vàng Médaille d'or "Oils of the world" tại cuộc thi AVPA về thực phẩm hàng hóa
Ngày 23/9/2014 dầu đậu núi được đóng dấu chấp thuận của Cơ quan Quản
lý Thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) về thành phần dinh dưỡng và mức
độ an toàn
Sản phẩm từ đậu núi được rất nhiều người nổi tiếng trên thế giới ưa chuộng và sử dụng Theo chuyên gia dinh dưỡng Nekki Baker chia sẻ trong bài
Trang 30viết về siêu thực phẩm trên báo Daily Mail (UK) thì dầu đậu núi là một trong những loại thực phẩm giàu axit béo omega 3 nhất trên thế giới Hạt đậu núi cũng chứa nhiều protein, chất xơ và chất chống oxi hóa
Tác dụng của dầu đậu núi trong việc làm đẹp da, tóc và móng chân tay đã góp phần làm nên thương hiệu "vàng lỏng" của sản phẩm này Dầu đậu núi là một thành phần không thể thiếu trong các sản phẩm làm đẹp, chăm sóc, phục hồi
da và tóc, nó giúp tái tạo và duy trì làn da khỏe mạnh, chống lại các tế bào lão hóa Đặc biệt, dầu đậu núi nguyên chất giúp phục hồi làn da bị hư tổn, xóa mờ các nếp nhăn, cải thiện độ đàn hồi và dưỡng ẩm sâu cho da Với lượng chất béo chiếm tới hơn 90% trong thành phần, dầu đậu núi là một loại kem dưỡng ẩm và giữ ẩm cho tóc, ngăn ngừa tóc khô, gãy và chẻ ngọn Dầu đậu núi được sử dụng
để dưỡng tóc hằng ngày sẽ bảo vệ tóc khỏi những hư tổn gây ra bởi môi trường, hóa chất và nhiệt độ, phục hồi mái tóc bị khô xơ, giúp tóc chắc khỏe, bóng mượt
và vào nếp hơn (Krivankova, 2007; Nascimento et al., 2013)
Dầu đậu núi tự nhiên nguyên chất 100%, là một trong những loại giàu dưỡng chất omega 3 thực vật, phong phú các axid béo thiết yếu (EFA), phong phú của các chất chống oxy hóa tự nhiên Vitamin A và vitamin E (Cathy Won
2016, Liu et al., 2014)
Do những giá trị dinh dưỡng vượt trội đó mà giá bán dầu đậu núi trên thế giới hiện nay rất đắt Tham khảo trang bán hàng trực tuyến (Amazon) cho thấy: Dầu đậu núi đóng chai 237ml bổ sung dinh dưỡng có giá 1,4 triệu đồng Dầu đậu núi đóng chai 30ml dưỡng da, tóc có giá 370.000 đồng Tại thị trường Mỹ, dầu đậu núi chai 250 ml có giá 700.000 - 800.000 VNĐ Một gói hạt đậu núi 125
gram bán trên US mart có giá 387.000 VNĐ (Market Brif for Sacha inchi, 2012)
Nhà nghiên cứu dầu thực vật Cathy Wong N.D đã đánh giá rất cao giá trị của dầu đậu núi, ông viết rất hay rằng: “Đậu núi mang trong mình cả một câu chuyện lịch sử, nó được các tộc người Secoyas, Amueshas, Cashibos trồng, chiết suất và sử dụng từ hàng ngàn năm trước như một loại thực phẩm truyền thống Thời gian và sự trân quý đã điểm tô thêm cho đậu núi một sắc màu huyền thoại, dần dần, nó trở thành tinh chất đầy mê hoặc và quý giá, được nâng tầm lên như một liều thuốc chữa bệnh Những thổ dân Nam Mỹ đã ăn hạt nướng của đậu núi
và dùng dầu chiết xuất để xoa bóp cơ thể, làm dịu những cơn đau ở các khớp, cơ bắp và coi đó như một nguồn sức mạnh của lòng quả cảm” Đậu núi nói chung và
Trang 31dầu của nó nói riêng hiện diện trong đời sống, trong dòng chảy lịch sử như một sản phẩm mang tính văn hóa sâu sắc So với dầu oliu (có mùi tương tự như mùi
bơ, vị hơi đắng), dầu đậu núi có mùi nhẹ, không đắng, nên rất dễ kết hợp cùng các loại thực phẩm và gia vị khác Dầu đậu núi có thể làm tăng hương vị của thực phẩm, có khả năng “nâng cánh” cho các loại thực phẩm, mỹ phẩm tỏa các mùi hương khác nhau So với dầu oliu, một thời từng được coi là loại thực phẩm quý tộc của châu Âu, dầu đậu núi tỏ ra vượt trội không chỉ ở hàm lượng các chất mà còn ở yếu tố cảm quan Xét về mọi mặt, dầu đậu núi xếp trên dầu oliu, vượt lên trên tất cả, nó tự tạo ra cho mình một vị thế độc tôn, một ông “vua” của các ông
“vua dầu” Các nhà ẩm thực tìm thấy ở dầu đậu núi điểm thú vị rất riêng, mà trên hết, đó là sự tinh khiết, cao hơn một bậc, nó là sự tinh khiết từ một loài cây huyền thoại đã tồn tại lâu đời trong văn hóa người Inca” (Cathy Wong, 2016)
2.1.5 Yêu cầu ngoại cảnh và kỹ thuật gieo trồng cây đậu núi
2.1.5.1 Yêu cầu ngoại cảnh
Nghiên cứu của Dawn Berkelaar et al (2015) cho nhận xét rằng đậu núi
sinh trưởng phát triển tốt nhất ở vùng có khí hậu ấm, độ cao thấp và đất chua Tuy nhiên cây vẫn có thể mọc được ở độ cao lên tới 1700m trên mực nước biển
Yang et al (2014) thông báo đậu núi trồng vào mùa mưa tốt hơn các thời
điểm khác Hạt thu xong phơi khô có thể ngâm ngay không cần xử lý ngủ nghỉ, ủ
ở nhiệt độ 25-350C trong vài ngày, đạt tỷ lệ nẩy mầm tới 93%, sau khi làm sạch
cỏ nên gieo thẳng mầm hạt ở độ sâu 2-3cm Rosa and Quijada (2013) cho rằng hạt thu rồi gieo ngay tốt hơn hạt mua ở chợ không rõ nguồn gốc và thời gian bảo quản Hạt mua ở chợ luôn có tỷ lệ nẩy mầm thấp, cây mọc chậm và yếu hơn, khi gieo đất phải ẩm để cây mọc nhanh
2.1.5.2 Yêu cầu về kỹ thuật
Tại Vân Nam Trung Quốc đã triển khai thí nghiệm mật độ với 5 công thức khác nhau: từ 1.600-10.000 cây/ha, kết quả đánh giá cho thấy lượng dầu cao nhất
thu được ở mật độ 4.444 cây/ha (khoảng cách 1,5m x 1,5m) (Gong et al., 2013)
Cũng tại Trung Quốc, người ta đã làm thí nghiệm phân bón và công bố khi trồng cần bón lót phân chuồng theo gốc So sánh năng suất giữa các lô được bón phân với liều lượng khác nhau cho thấy năng suất dầu tăng từ 1.340 kg/ha lên 2.486 kg/ha tương ứng với lượng phân chuồng bón tăng từ 501-899 kg/ha và lượng NPK tăng từ 0-200 kg/ha Kết quả này chứng tỏ đậu núi phản ứng tốt với
Trang 32phân bón (Yang et al., 2014) Cây đậu núi sinh trưởng phát triển tốt trên nhiều
vùng thổ nhưỡng khác nhau, tuy nhiên sinh trưởng phát triển tốt nhất và cho năng suất cao khi trồng trên đất giầu dinh dưỡng, đất bãi bồi ven sông không bị ngập úng, cũng có thể sinh trưởng trên vùng đất đồi núi nhưng có điều kiện tưới nước
đầy đủ (Gong et al., 2013; Yang et al., 2014) Đậu núi là cây lâu năm, sau khi
gieo trên 100 ngày mới ra hoa kết quả lứa đầu vì vậy năng suất hạt đậu núi năm đầu thấp có thể đạt 0,7-1 tấn/ha, năm thứ 2 có thể thu 2-3 tấn/ha và từ năm thứ 3 năng suất ổn định từ 3,5-4 tấn/ha, những vườn có chế độ dinh dưỡng cao có thể thu trên 4 tấn từ 5-10 năm liên tục (Hufstader and Chris, 2009)
2.2 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÂY ĐẬU NÚI Ở VIỆT NAM 2.2.1 Khảo nghiệm sơ bộ
Thông báo của Nguyễn Thị Trâm (2015) cho biết: năm 2012, một cán bộ công tác ở nước ngoài đem một số hạt đậu núi về trồng thử tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam Kết quả theo dõi nhận thấy đậu núi là cây thân leo bán gỗ, lá hình trái tim viền răng cưa, giống lá trầu không, hoa tự chùm, đơn tính, hoa đực nhỏ màu trắng, hai hoa cái xuất hiện sau ở gốc chùm hoa đực, vòi nhụy hình ống, vươn dài 2-2,5cm đầu nhụy phân thành 4-7 thùy màu trắng ngà, quay ngang không hướng về hoa đực Quả hình ngôi sao màu xanh, khi chín chuyển màu nâu đen, có 4-7 thùy mỗi thùy chứa 1 hạt hình ovan màu nâu xám, khối lượng 100 hạt
từ 50-105 gam Cây có lá xanh quanh năm không rụng theo mùa, bộ rễ ăn nông lan rộng trên lớp đất mặt, là cây trồng cạn ưa ẩm nên cần nước tưới
Trung tâm Khảo kiểm nghiện giống và sản phẩm cây trồng Quốc gia bắt đầu trồng khảo nghiệm đậu núi (gọi tên là cây Sachi) vào tháng 11 năm 2013 tại
2 vùng sinh thái khác nhau: Vùng đồng bằng trồng tại khu thí nghiệm đồng ruộng (đất phù sa sông Hồng) của Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Vùng bán sơn địa (đất sỏi đá ong) tại xã Đông Sơn, Tam Điệp, Ninh Bình Khi cây 1 năm tuổi được đánh giá như sau: Tại Hà Nôi sau khi gieo 82 ngày cây ra hoa, sau 190 ngày cho thu hoạch lần đầu, lượng thu 9 quả/cây, lần 2 (sau 25 ngày) thu 12 quả/cây và lần 3 (sau lần 2 là 25 ngày) thu 13 quả/cây Tại Ninh Bình, cây ra hoa sau gieo 85 ngày, thu hoạch quả lần đầu sau gieo 202 ngày, thu lần đầu được 8 quả/cây, lần 2 được 12 quả/cây (sau lần đầu 25 ngày) (Trung tâm KKN giống và sản phẩm cây trồng Quốc gia, 2015)
Đinh Trường Sơn, Khoa Công nghệ sinh học, Học viện NNVN báo cáo
Trang 33kết quả khảo nghiệm cây đậu núi (gọi tên là Sachi) tại 5 vùng sinh thái khác nhau: Chiềng Cơi-Sơn La; Lương Sơn-Hoà Bình, Học viện Nông nghiệp Việt Nam-Hà Nội, Tam Điệp-Ninh Bình và EaTu-Buôn Ma Thuột-Đắc Lắc nhận xét rằng cây đậu núi có thể sinh trưởng phát triển trong phổ nhiệt độ biến động rộng từ 10-36oC, thậm chí rộng hơn từ 7-480C, điều kiện thuận lợi nhất cho cây sinh trưởng là nhiệt độ 25oC, độ ẩm 78%, lượng mưa 850-1500mm/năm (Đinh Trường Sơn, 2015)
Theo chuyên gia nông nghiệp Nguyễn Lân Hùng, đậu núi là cây nhiệt đới rất phù hợp với Việt Nam Những cây quý như sâm, mắc ca đòi hỏi khí hậu lạnh nhưng với đậu núi thì khác, có thể sống tốt ở nhiệt độ từ 7- 48 độ C, có khả năng mọc trên mọi loại đất, trừ đất trũng Sản phẩm có giá trị cao, được thị trường cao cấp lựa chọn Cây này có hoa quanh năm, lúc nào cũng ra hoa, quả nên tháng nào cũng có thể thu hoạch Cây dễ trồng, phương thức trồng đa dạng, từ trồng thuần, thâm canh, xen canh, quảng canh… rất thuận lợi cho người nông dân (Nguyễn Lân Hùng, 2015)
2.2.2 Nghiên cứu kỹ thuật gieo trồng đậu núi
Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống và sản phầm cây trồng Quốc gia đã trồng cây và bón phân tại 2 điểm khảo nghiệm (Hà Nội và Ninh Bình) như sau: Hạt được gieo vào bầu, chăm sóc trong vườn ươm Chuẩn bị đất trồng và bón phân chuồng 8-10 tấn/ha, phân supe lân 0,4-0,5 tấn/ha, phân hữu cơ vi sinh 3-4 tấn/ha, vôi bột 0,08-0,09 tấn/ha, phân được trộn với đất bột rồi đưa xuống hố trước khi trồng 10-15 ngày Sau khi trồng mỗi tháng bón 0,5 kg phân chuồng hoai mục+phân hữu cơ vi sinh+ phân (ủ compost) cho một cây Sau 1 năm theo dõi cây mọc tốt, không có biểu hiện thiếu dinh dưỡng và không bị sâu bệnh gây
hại (Trung tâm KKN giống và sản phẩm cây trồng Quốc gia, 2015)
Đinh Trường Sơn (2015) báo cáo rằng:Thời vụ trồng đậu núi tốt nhất tại miền Bắc là gieo tháng 2, 3 hoặc tháng 7-10, tại miền Trung: gieo tháng 2, 3 và tại miền Nam: gieo mùa mưa (tháng 6-8) Thí nghiệm mật độ khoảng cách được bố trí 4 công thức: (CT1)1.111 cây/ha (3m x 3m), (CT2) 2.500 cây/ha (2m x 2m), (CT3) 3.333 cây/ha (2m x 1,5m), (CT4) 4.444 cây/ha (1,5m x 1,5m), kết quả đánh giá cho rằng mật độ 3.333 cây/ha (2m x 1,5m) là phù hợp trong điều kiện Việt Nam Lượng phân bón và kỹ thuật bón phân được đề xuất là: Bón lót phân hữu cơ vi sinh 0,5-1 kg/cây, vôi bột 50 gram/cây, phân lân 0,1-0,2 kg/cây; Bón thúc: Bổ sung
Trang 34phân hữu cơ vi sinh, phân ủ compost, phân chuồng ủ hoai mục cho cây 1-2 lần/tháng với lượng 0,2-2,5 kg/cây Tác giả đã thử nghiệm 3 phương thức nhân giống: Nhân bằng hạt, nhân bằng giâm cành và nhân in vitro đồng thời đã giới thiệu các bước thực hiện quy trình nhân giống in vitro (Đinh Trường Sơn, 2015)
2.2.3 Điều tra tình hình sâu bệnh
Điều tra côn trùng gây hại cây đậu núi, Lê Đình Sơn phát hiện được 5 loài côn trùng chính trong đó gây hại nguy hiểm là sâu đục quả và sâu róm, các loài này có mật độ cao trong tháng 5, tháng 6 còn các tháng khác mật độ thấp, nhìn chung là cây mới nhập nội nên các loài côn trùng gây hại không đáng kể trên vườn đậu núi 9 tháng tuổi và 15 tháng tuổi Bên cạnh đó tác giả cũng tìm thấy 8 loài thiên địch trong vườn đậu núi Nếu chăm sóc tốt và tìm cách khai thác các loài thiên địch này có thể chúng hỗ trợ việc phòng trừ sâu thay vì dùng hóa chất độc hại (Lê Đình Sơn, 2016) Quan sát sâu bệnh trong vườn ươm cây giống phát hiện thấy bệnh lở cổ rễ gây héo rũ cây con từ 3,5-5% số cây, các bệnh khác và sâu chưa xuất hiện ở vườn ươm (Nguyễn Thị Trâm và cs., 2016).Trung tâm Khảo kiểm nghiệm Giống, sản phẩm cây trồng Quốc gia theo dõi tại 2 điểm Hà Nội và Ninh Bình cho rằng: Các loại bệnh nguy hiểm như thán thư chưa thấy, héo rũ chưa thấy, tuyến trùng chưa thấy mà chỉ nhiễm sâu đục thân với tỷ lệ mắc khoảng 1%
2.2.4 Đánh giá chất lượng hạt đậu núi trồng tại Việt Nam
Phân tích chất lượng hạt đậu núi thu tại vườn khảo nghiệm tại Hà Nội và Ninh Bình được thực hiện tại Viện Công nghiệp thực phẩm cho thấy: hàm lượng dầu cao (47,2% so với khối lượng nhân) Xét nghiệm thành phần axit béo trong dầu thu được: A Oleic (C18:1): 7,76%; A Linoleic (C18:2): 36,99% và A Linolenic (C18:3): 49,16% Từ kết quả này Trung tâm cho rằng cần tiếp tục khảo nghiệm trên nhiều vùng và nhiều loại đất khác nữa để có thể quyết định nên hay không phát triển cây này tại Việt Nam (Trung tâm KKN giống và sản phẩm cây trồng Quốc gia, 2015) Kết quả đánh giá của Nguyễn Thị Trâm và cs.(2016) cho nhận xét: Hạt thu lứa đầu tại Gia Lâm Hà Nội có tỷ lệ nẩy mầm 55%, thấp hơn các hạt chứa dầu khác như đậu tương, lạc Tách bỏ lớp vỏ cứng rồi ép dầu thu được tỷ lệ dầu cao, đạt 50% so với khối lượng nhân (nghĩa là 25% so với khối lượng hạt), thành phần các axít béo trong dầu duy trì xấp xỉ như công bố của tài liệu nước ngoài, một số axít béo không no có hàm lượng giảm là: omega-3 giảm
Trang 352,9%, omega-9 giảm 7,65%, trái lại omega-6 lại tăng 7,39% Vì vậy muốn phát triển cây đậu núi thành cây lấy dầu cao cấp ở nước ta cần nghiên cứu chọn tạo giống khắc phục được yếu tố hạn chế năng suất, thích ứng với điều kiện thời tiết
và chế độ canh tác của Việt Nam, đồng thời nghiên cứu xác định vùng có điều kiện thích hợp cho năng suất cao, chất lượng tốt (Nguyễn Thị Trâm và cs., 2016) GS.TS Nguyễn Quang Thạch (Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đánh giá đậu núi là cây dành cho nước nghèo, cho người nghèo vì thu hái thủ công, nhiều lần trong năm nên không công nghiệp hóa được, không hợp với các nước phát triển Khi đưa cây này vào sản xuất cần nghiên cứu để điều chỉnh dần dần về kỹ thuật cho phù hợp hơn Một số công bố khác của các nhà nghiên cứu Việt Nam cho rằng cây đậu núi có giá trị cao trong nhiều ngành kinh tế như: Nông nghiệp làm cây lấy dầu; Lâm nghiệp làm cây che phủ đất; Công nghiệp làm sản phẩm: dầu ăn, chế biến bột protein, chế biến thực phẩm chức năng, thuốc, các loại vitamin; Mỹ phẩm: làm kem dưỡng da, dầu chải tóc…(Nguyễn Quang Thạch, 2015; Luân Quỳnh, 2015)
Tóm lại, những tài liệu nghiên cứu của các tác giả nước ngoài xác nhận đậu núi là loại thực vật hạt kín, họ thầu dầu, xuất xứ ở rừng mưa nhiệt đới Amazon, đã tìm được 19 loài tại các nước Nam Mỹ Là cây lâu năm, trồng 1 lần cho thu hoạch nhiều năm nhưng thời gian được thu lứa đầu sớm (sau trồng 8-9 tháng), cách thu hái thủ công nên chi phí lao động cao Cây có khả năng thích ứng rộng trên nhiều vùng có khí hậu nhiệt đới, yêu cầu đất đai không khắt khe từ đất chua phèn ven sông hồ đến vùng đất giầu dinh dưỡng, từ độ cao 200m đến 1700m trên mực nước biển Là cây lấy dầu có hàm lượng và chất lượng dầu cao, trong dầu chứa nhiều chất dinh dưỡng thiết yếu như omega-3, omega-6, omega-
9, protein, axit amin, vi tamin A, vitamin E, các chất khoáng (kali, can xi, mage, sắt, iod…) hơn các loại dầu thực vật khác Các nghiên cứu đã đánh giá tác dụng của dầu đậu núi đối với sức khỏe, vẻ đẹp của người sử dụng đồng thời cũng nghiên cứu lâm sàng cho một số loại bệnh rối loạn mỡ máu, bệnh tim mạch v.v Những nghiên cứu và công bố tại Việt nam cho thấy đậu núi sinh trưởng phát triển tốt, cho thu hoạch khá, ít sâu bệnh, chất lượng dinh dưỡng cao nên có thể tiếp tục gieo trồng, đánh giá và tuyển chọn giống thích ứng cho Việt Nam
Trang 36PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Thí nghiệm được thực hiện tại khu cánh đồng Việt Trung (cũ) thuộc quản
lý của Viện nghiên cứu và phát triển giống cây trồng – Học viện nông nghiệp Việt Nam
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Thời gian nghiên cứu từ tháng 2/2015 đến tháng 8/2016
3.3 VẬT LIỆU
- Hạt giống Đậu núi (Plukenetia Volubilis L.) nhập nội (nguồn từ Thái
Lan) và hạt thu đợt đầu trong thời vụ 1
- Các vật tư, hóa chất thí nghiệm phục vụ đề tài nghiên cứu
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1/ Đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển, đặc điểm thực vật học, nông sinh học, đặc điểm ra hoa, kết quả của cây đậu núi trồng ở 4 thời vụ trong năm 2/ Điều tra các loại côn trùng gây hại, thiên địch và bệnh trên vườn đậu núi
3/ Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất cá thể, năng suất thực thu trong thời gian thực hiện đề tài
4/ Phân tích chất lượng dinh dưỡng, độc tố, tìm hiểu khả năng sử dụng sản phẩm thu từ lá cây đậu núi ở thời kỳ thực hiện đề tài
5/ Phân tích thành phần dầu của hạt đậu núi trồng tại Gia Lâm Hà Nội
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Bố trí thí nghiệm
Đậu núi là cây lâu năm, dạng thân bán gỗ, bò leo nên yêu cầu phải trồng thưa, đất thí nghiệm cần rộng Do điều kiện thiếu đất không thể bố trí các ô thí nghiệm trên cùng một khoảnh nên chúng tôi phải bố trí riêng mỗi thời vụ trồng trên 1 ô, nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại trồng 20 cây trên 1 luống, chiều rộng luống 2m, khoảng cách cây 1,5m, tương ứng với mật độ là 3.333 cây/ha Thí nghiệm bố trí 4 thời vụ cách nhau 3 tháng:
Trang 37- Thời vụ 1: (mùa Xuân) gieo 1/2/ 2015, trồng 7/3/2015;
- Thời vụ 2: (mùa Hè) gieo 1/5/ 2015, trồng 5/6/2015;
- Thời vụ 3: (mùa Thu) gieo 1/8/2015, trồng 5/9/2015;
- Thời vụ 3: (mùa Đông) gieo 1/11/ 2015, trồng 5/12/2015
3.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi
3.5.2.1 Thời kỳ vườn ươm
- Theo dõi quá trình ngâm ủ, nẩy mầm của hạt
- Theo dõi quá trình ra lá mầm, lá thật, thân mầm, chiều cao cây, số lá, sâu bệnh gây hại cây trong vườn ươm, phương pháp theo dõi bằng ghi nhận xét và chụp ảnh
3.5.2.2 Thời kỳ sinh trưởng ở vườn trồng
a/ Quan sát, mô tả:
Mô tả đặc điểm thực vật học các bộ phận của cây đậu núi: rễ, thân, lá, hoa đực hoa cái (chùm hoa, cánh hoa, bao phấn, hạt phấn, nhụy…), quả, hạt, nhân, phương pháp theo dõi bằng ghi nhận xét và chụp ảnh
b/ Các chỉ tiêu sinh trưởng:
+ Động thái ra lá: đánh dấu lá và đếm 7 ngày 1 lần từ khi xuất hiện lá mầm đến khi cây bắt đầu ra hoa và hình thành quả
+ Động thái tăng trưởng chiều cao, đo 7 ngày1 lần đến khi cây bắt đầu phân cành, ra hoa và hình thành quả
+ Động thái tăng trưởng đường kính thân, đo 7 ngày 1 lần tại điểm cách mặt đất 10cm đến khi ra hoa đậu quả
+ Động thái tăng trưởng chiều dài chiều rộng lá, đo 7 ngày 1 lần chiều dài, chiều rộng lá, đến khi số liệu không thay đổi (đo là thứ 25 từ gốc lên)
+ Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng phát triển: từ trồng đến phân cành cấp 1, cấp 2, ra hoa đực, hoa cái, đậu quả, thu hoạch, theo dõi ghi chép khi xuất hiện
c/ Điều tra côn trùng gây hại, thiên địch và bệnh:
Điều tra ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của cây theo Quy chuẩn kỹ
thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (QCVN 38: 2010/ BNNPTNT) ở các thời vụ bao gồm:
Trang 3801 Điều tra, thu thập thành phần sâu, nhện đỏ gây hại
- Điều tra thiên địch ở cây đậu núi
- Điều tra bệnh xuất hiện ở các bộ phận cây (thân, lá, quả…) ở vườn ươm
và vườn trồng
3.5.2.3 Thời kỳ thu hoạch và sau thu hoạch
a/ Các chỉ tiêu về năng suất
Khi quả chín thu mẫu theo phương pháp 5 điểm, cụ thể như sau: bỏ 2 cây đầu hàng thu cây thứ 3, sau đó cách 3 cây thu 1 cây, hái hết quả chín cho vào túi riêng, phơi khô
+ Đếm số quả/cây, thu ở từng lần
+ Số hạt/quả
+ Cân khối lượng hạt/cây
+ Khối lượng 100 hạt khô
+ Năng suất từng lần thu và số lần thu/năm
- Thu xong mẫu rồi mới thu hỗn hợp quả chín cả ô thí nghiệm, cân khối lượng quả tươi, phơi khô đến độ ẩm 12%, tách vỏ quả, vỏ hạt, cân khối lượng hạt, nhân khô toàn ô
b/ Các chỉ tiêu về chất lượng:
* Phân tích hàm lượng các chất dinh dưỡng và kim loại nặng ở lá non, ngọn non làm rau, lá già khô làm trà do Phòng thí nghiệm hóa sinh thực phẩm, Viện dinh dưỡng, Bộ y tế thực hiện theo các phương pháp cụ thể của từng chỉ tiêu như sau:
+ Phân tích hàm lượng protein: AOAC 991.20
+ Phân tích hàm lượng lipit: AOAC 991.36
+ Phân tích hàm lượng tro tổng số: AOAC 930.30
+ Phân tích hàm lượng vitamin C: PPN.1H022a
+ Phân tích hàm lượng vitamin B1: PPN.1H006a
+ Phân tích hàm lượng vitamin B6: PPN.1H035
+ Phân tích tiền vitaminA (beta carotene) PPN.1H040
+ Phân tích hàm lượng canxi: AOAC.921.01,
+ Phân tích hàm lượng sắt: AOAC 999.10
+ Phân tích hàm lượng kẽm: AOAC 995.11
+ Phân tích hàm lượng phosphor: AOAC 995.11
+ Phân tích hàm lượng polyphenol: PPN.2H013a
Trang 39- Đánh giá cảm quan rau luộc, rau nấu canh (nhóm người ăn thử, nhận xét, cho điểm, lấy điểm trung bình cộng)
- Đánh giá cảm quan chất lượng lá già làm chè (nhóm người uống thử, nhận xét, cho điểm, lấy điểm trung bình cộng)
* Phân tích thành phần dầu của hạt đậu núi thu đợt 1
- Ep dầu: sử dụng máy ép dầu ăn gia đình loại nhỏ, chạy bằng điện, nhắc lại 3 lần, mỗi lần ép 0,5 kg nhân, lấy giá trị trung bình
- Phân tích thành phần và hàm lượng axit béo trong dầu tại 2 phòng thí nghiệm: Phòng Hóa sinh thực phẩm, Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế và Phòng hóa sinh, Viện Hóa học các hợp chất tự nhiên, Viện Hàn lâm Khoa học công nghệ Việt Nam.Thành phần và hàm lượng axit béo xác định theo phương pháp ISO/FDIS 5509:1997 (International Organisation for Standardisation/Final draft) lấy 100mg dầu béo hòa tan trong 1ml heptan sau đó chuyển hóa thành dạng methyl ester để phân tích trên máy sắc ký khí Lấy 100mg dầu béo mỗi loại hòa tan trong 1ml heptan, bổ sung 50µl NaOCH3/CH3OH lắc kỹ trong 1 phút Thêm
100 µl H2O, ly tâm chế độ 5000V/phút, bổ sung 50µl HCL Phần dịch dưới được làm khan bởi Na2SO4 và phân tích trên máy sắc ký khí với cột mao quản chuyên dụng Máy sắc ký khí hãng Hewlett Packard instrument Model 5890 Series II, CP-Sil 88 (cột mao quản chuyên dụng CP-Sil 88,100m/0.25mm/0.25µm với hệ chuẩn C16:0, C18:0) Chương trình nhiệt độ: nhiệt độ 155:220oC(1.5oC/min), tốc độ: 10oC/phút, 260oC/5 phút; Split: 1:50; ịnjectior 250oC, detector 250oC, khí mang 36cm/s hydrogen, detector gas: 30ml/min hydrogen 300ml/min không khí
và 30ml/min nitrogen, bơm mẫu tự động với thể tích 0,9 µl (phổ và điều kiện phân tích máy GC-MS kèm theo)
3.6 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC
3.6.1 Ngâm ủ gieo hạt
Hạt được ngâm 36 giờ trong nước sạch, ủ trong cát đến nẩy mầm, gieo vào bầu, kích thước bầu 12cm x 15cm, giá thể trong bầu là hỗn hợp: 6 phần đất bột + 2 phần trấu hun + 2 phần phân chuồng mục Bầu xếp trong nhà lưới, tưới giữ ẩm thường xuyên
3.6.2 Trồng ra ruộng sản xuất
- Khi cây được 35 ngày tuổi, có 7-8 lá thật đem trồng tại cánh đồng số 3, Học viện Nông nghiệp Việt Nam Đất trồng là phù sa cổ sông Hồng, không được
Trang 40bồi hàng năm, vụ trước trồng lúa, đào rãnh lên luống, trồng thành hàng, khoảng cách 2m x1,5m
- Phân bón:
+ Bón lót mỗi gốc 1 kg phân hữu cơ vi sinh + 0,5 kg NPK (13:10:2) + Bón thúc 3 lần/năm: Lần 1 bón lúc cây bắt đầu ra hoa, hình thành quả; Lần 2 bón sau lần đầu 3 tháng; Lần 3 bón sau khi thu hoạch, thúc cho cây đâm lứa chồi mới, lượng phân thúc: 5kg phân chuồng mục + 0,2kg phân lân cho 1 cây/1 lần bón
+ Cắt tỉa: Cây cao 150-200 cm tiến hành cắt bỏ những ngọn dài nhỏ không
ra hoa, cành tăm không ra quả
3.7 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU
Kết quả thí nghiệm được xử lý bằng chương trình IRRISTAT ver.5.0