1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân dựa trên kết quả phân tích đất đến sinh trưởng, phát triển và năng suất chè tại yên thế bắc giang

103 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa học đất trồng giống chè LDP1 .... Ảnh hưởng của liều lượng bón N,

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

PHẠM THỊ QUẾ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC BÓN PHÂN DỰA TRÊN KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐẤT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CHÈ TẠI YÊN THẾ – BẮC GIANG

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đình Vinh

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Quế

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, động viên của bạn bè, đồng nghiệp

và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Nguyễn Đình Vinh đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Cây Công nghiệp và Cây thuốc khoa Nông Học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam

đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Yên Thế, cán bộ công chức UBND xã Xuân Lương và đặc biệt

là HTX Thân Trường Bản Ven đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Phạm Thị Quế

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn II Mục lục III Danh muc chữ viết tắt VI Danh mục bảng VII Danh mục đồ thị, hình ảnh IX Trích yếu luận văn X Thesis abstract XII Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 3

1.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

1.4.1 Những đóng góp mới 3

1.4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2 Tổng quan tài liệu 5

2.1 Cơ sở khoa học của viêc bón phân cho cây chè Ý nghĩa của việc phân tích đất để xây dựng quy trình bón phân hợp lý cho cây chè 5

2.2 Vai trò các nguyên tố dinh dưỡng đối với cây chè 6

2.3 Tình hình nghiên cứu phân bón cho cây chè trên thế giới và Việt Nam 8

2.3.1 Những nghiên cứu về sử dụng phân bón cho chè trên thế giới 8

2.3.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho chè trong nước 13

2.4 Tình hình sản xuất chè, sử dụng phân bón cho chè và khả năng phát triển cây chè tại huyện Yên Thế 18

2.4.1 Tình hình sản xuất chè tại huyện Yên Thế 18

2.4.2 Tình hình sử dụng các loại phân bón, phương pháp bón phân của các hộ dân tại vùng chè thí nghiệm 20

2.4.3 Khả năng phát triển cây chè tại huyện Yên Thế 20

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 22

Trang 5

3.1 Địa điểm nghiên cứu 22

3.2 Thời gian nghiên cứu 22

3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 22

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 22

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu: 23

3.4 Nội dung nghiên cứu 23

3.5 Phương pháp nghiên cứu 23

3.5.1 Các chỉ tiêu hóa học đất của vùng chè Yên Thế- Bắc Giang 23

3.5.2 Các công thức thí nghiệm 23

3.5.3 Thiết kế thí nghiệm .25

3.5.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định 26

3.5.5 Quy trình nghiên cứu 30

3.5.6 Phương pháp xử lý số liệu 30

Phần 4 Kết quả và thảo luận 31

4.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa học đất trồng giống chè LDP1 31

4.1.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số chỉ tiêu sinh trưởng thân cành giống chè LDP1 31

4.1.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng lá giống chè LDP1 33

4.1.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến số đợt sinh trưởng giống chè LDP1 35

4.1.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống chè LDP1 36

4.1.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số sâu hại chính trên giống chè LDP1 38

4.1.6 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến thành phần cơ giới búp chè giống LDP1 41

4.1.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến phẩm cấp nguyên liệu búp giống chè LDP1 43

4.1.8 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến thành phần hóa học đất sau thí nghiệm trồng giống chè LDP1 45

Trang 6

4.1.9 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân trên giống chè LDP1 47

4.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa học đất trồng giống chè Trung du xanh 50

4.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng thân cành giống chè Trung du xanh 50

4.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng lá giống chè Trung du xanh 52

4.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến số đợt sinh trưởng giống chè Trung du xanh 53

4.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống chè Trung du xanh 54

4.2.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số loại sâu hại chính trên giống chè Trung du xanh 57

4.2.6 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến thành phần cơ giới búp chè giống Trung du xanh 60

4.2.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến phẩm cấp nguyên liệu chè Trung du xanh 61

4.2.8 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến thành phần hóa học đất sau thí nghiệm trên giống chè Trung du xanh 64

4.2.9 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón cho giống chè Trung du xanh 65

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 68

5.1 Kết luận 68

5.2 Kiến nghị 69

Tài liệu tham khảo 70

Trang 7

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất chè của huyện Yên Thế giai đoạn 2011-2015 19 Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất tại điểm thí nghiệm 28 Bảng 3.2 Phân loại phẩm cấp búp chè 28 Bảng 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số chỉ tiêu sinh

trưởng thân cành giống chè LDP1 32 Bảng 4.2: Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng lá giống chè

LDP1 34 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến số đợt sinh trưởng của

giống chè LDP1 35 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số yếu tố cấu thành

năng suất và năng suất chè LDP1 36 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số loại sâu hại chính

trên giống chè LDP1 39 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến thành phần cơ giới búp

giống chè LDP1 42 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến phẩm cấp nguyên liệu

chè giống LDP1 44 Bảng 4.8 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến thành phần hóa học đất

sau thí nghiệm trên giống chè LDP1 46 Bảng 4.9 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân cho giống chè LDP1 49 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng thân cành

giống chè Trung du xanh 50 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến sinh trưởng lá giống chè

Trung du xanh 52 Bảng 4.12 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến số đợt sinh trưởng của

giống chè Trung du xanh 54 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến các yếu tố cấu thành

năng suất giống Trung du xanh 55 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số loại sâu bệnh hại

chính trên giống chè Trung du xanh 57

Trang 9

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến thành phần cơ giới búp

giống chè Trung du xanh 61 Bảng 4.16 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến phẩm cấp nguyên liệu

chè Trung du xanh 62 Bảng 4.17 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến thành phần hóa học đất

sau thí nghiệm trên giống chè Trung du xanh 65 Bảng 4.18 Hiệu qủa kinh tế của các công thức bón phân tại điểm thí nghiệm

trên giống chè Trung du xanh 67

Trang 10

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH ẢNH

Hình 4.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến năng suất chè LDP1 37 Hình 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số loại sâu hại chính

trên giống chè LDP1 40 Hình 4.3 Ảnh hưởng của lượng phân bón N, P, K đến năng suất của giống chè

Trung du xanh 56 Hình 4.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón N, P, K đến một số loại sâu bệnh hại

chính trên giống chè Trung du xanh 58

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Phạm Thị Quế

Tên Luận văn: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân dựa trên kết quả

phân tích đất đến sinh trưởng, phát triển và năng suất chè tại Yên Thế - Bắc Giang”

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60.62.01.10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu của Luận văn:

+ Xác định công thức bón phân hợp lí cho giống chè LDP1 và Trung du xanh tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao

Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng:

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức bón phân dựa trên kết quả phân tích đất

đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa tính của mẫu đất thí nghiệm trồng giống chè LDP1 trồng bằng cành 8 năm tuổi

Trang 12

Ghi chú: Công thức 2 dựa vào kết quả phân tích mẫu đất 2 (đất trồng giống chè Trung du xanh 8 năm tuổi), tính cân bằng dinh dưỡng khoáng đa lượng để bón cho cây chè

Các kết quả, phát hiện chính và kết luận:

1 Các công thức bón phân dựa trên kết quả phân tích đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa học của đất của giống chè LDP1 cụ thể như sau:

- Công thức 2 - công thức dựa vào kết quả phân tích đất, tính cân bằng dinh dưỡng khoáng đa lượng để bón cho cây chè (20 tấn phân chuồng +210 N+ 80 P2O5 +

91 K 2 O) có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng thân cành, lá; hạn chế sâu hại chính trên cây chè; góp phần tăng năng suất cây chè, nâng cao phẩm cấp nguyên liệu búp và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Cụ thể làm cho các chỉ tiêu sinh trưởng thân cành và diện tích lá (chiều cao cây: 70,03 cm, chiều rộng tán: 100,23 cm, diện tích lá: 19,37 cm2/lá) đều đạt cao nhất và cao hơn so với đối chứng; năng suất búp đạt cao nhất đạt 14,1 tấn/ha, lợi nhuận cao nhất đạt 96.425.000 đồng/ha/năm

Đối với chỉ tiêu thành phần hóa học đất sau thí nghiệm có sự chênh lệch so với trước thí nghiệm Tuy nhiên chênh lệch về các chỉ tiêu là không lớn Trong đó công thức 2 có các chỉ tiêu hóa học thay đổi theo hướng có ảnh hưởng tốt đối với sinh trưởng chè (hàm lượng chất hữu cơ, N, K tăng)

2 Các công thức bón phân dựa trên kết quả phân tích đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa học của đất của giống chè Trung du xanh cụ thể như sau:

Công thức 2 - công thức dựa vào kết quả phân tích đất, tính cân bằng dinh

dưỡng khoáng đa lượng để bón cho cây chè (20 tấn phân chuồng +175N + 85 P 2 O 5 + 85

K2O) cho các chỉ tiêu về sinh trưởng lá, phát triển, năng suất và cho lợi nhuận cao nhất

cụ thể như sau: Diện tích lá 19,37 cm 2 /lá, năng suất đạt 12,6 tấn/ha, lợi nhuận cao nhất với số tiền 42.820.000 đồng/ha/năm

Đối với chỉ tiêu thành phần hóa học đất sau thí nghiệm công thức 2 có các chỉ tiêu hóa học sau thí nghiệm cao nhất và đều cao hơn so với đối chứng Cụ thể hàm lượng đạm tổng số và lân tổng số đều tăng 0,01%, kali tổng số tăng tăng 1,03%.có sự chênh lệch so với trước thí nghiệm

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Student: Pham Thi Que

Title of the thesis: Evaluating effects of fertilization patterns determined through soil

analysis on growth, development and yield of tea (Camellia sinensis) based in Yen The,

Bac Giang

Major: Crop Science Code: 60.62.01.10

Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

CT1: 20 tonnes of manure + 138.9 kg N + 144 kg P 2 O + 60 kg K 2 O (Control) CT2: 20 tonnes of manure + 210 kg N + 80 kg P 2 O + 91 kg K 2 O

CT3: 20 tonnes of manure + 189 kg N + 71.5 kg P2O + 82 kg K2O (reducing 10% of the fertilizer amount of the CT2 treatment)

CT4: 20 tonnes of manure + 231 kg N + 87.2 kg P 2 O + 100 kg K 2 O (increasing 10% of the fertilizer amount of the CT2 treatment)

(Note: Fertilizer amount of the CT2 treatment was determined through analysis results of the soil samples and balanced nutrient requirements of the tea tree.)

+ Evaluating effects of fertilization treatments on growth, yield and quality and soil chemical properties of Trung du xanh tea cultival (which was obtained from seeds

Trang 14

(Note: Fertilizer amount of the CT2 treatment was determined through analysis results of the soil samples and balanced nutrient requirements of the tea tree)

Main findings and conclusions

- Evaluating effects of fertilization treatments on soil chemical properties and growth, yield and quality of the tea bud variety LPD1

The CT2 treatment, of which the fertilizer amount was determined based on analysis results of the soil sample and balanced nutrient requirements of the tea tree (20 tonnes of manure + 210 kg N + 80 kg P2O + 91 kg K2O), had positive influences on the vegetative growth (shoots and leaves) of the tree, reducing rate of pest and disease infection, contributing to the highest the bud yield and quality in the experiment Particularly, the trees in the CT2 treatment produced an average height of 70.03 cm, canopy diameter of 100.23 cm, leaf area: 19.37 cm2/leaf that were the highest values and higher than those of the control treatment; the highest bud yield reached 14.1 tons/ha with the profit of VND 96.425.000 /ha/year

There were changes in soil chemical properties before and after the experiment; however the difference was small Soil samples of the treatment CT2 showed beneficial chemical changes to the tea growth (i.e increase in the contents of N, K and organic matters )

- Evaluating effects of fertilization treatments on soil chemical properties and growth, yield and quality of the tea bud variety Trung du xanh

Tea trees in the CT2 treatment of which the fertilizer amount was determined based on analysis results of the soil samples and balanced nutrient requirements of the tea tree (20 tonnes of manure + 175 kg N + 85 kg P 2 O + 85 kg K 2 O) produced the highest growth and development parameters, yield and profit Particularly, the leaf area reached 19.37 cm 2 /leaf; yield 12.6 tonnes/ha and profit VND 42.820.000 /ha/year

To chemical soil properties, the CT2 treatment obtained the highest parameters and higher than those of the control, with an increase of 0.01% in total soil N and P contents, 1.03% of K content in comparison to those of the soil before the experiment

Trang 15

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày có

nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á, châu Phi Cây chè có lịch

sử từ rất lâu đời, kể từ khi con người phát hiện, sử dụng, truyền bá và phát triển đến nay đã có gần 5000 năm Ngày nay, khi khoa học kĩ thuật phát triển thì cây chè được trồng ở hơn 60 nước trên Thế Giới, trong đó có Việt Nam (Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Kim Phong, 1997)

Chè có giá trị về kinh tế, văn hóa và dinh dưỡng Hầu hết các bộ phận của cây chè như búp, lá, nụ hoa, không những là nguyên liệu chính dùng để chế biến các loại sản phẩm trà uống giải khát, thanh nhiệt mà còn có nhiều tác dụng như là một vị thuốc trong y học Nước chè có tác dụng bổ dưỡng, chống được lạnh, làm giảm sự mệt mỏi của cơ bắp và hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não, làm cho tinh thần minh mẫn Sở thích thưởng trà từ lâu đã trở thành thú vui thanh tao, quý phái và là nét đẹp văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc trên Thế giới Thói quen uống trà ngày càng phổ biến ở nhiều lứa tuổi và nhiều quốc gia trên thế giới (Đặng Hạnh Khôi, 1993)

Ngoài vai trò là thức uống có giá trị dinh dưỡng và dược liệu, việc trồng chè còn có khả năng khai thác tốt tiềm năng đất đai, bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là nông nghiệp nông thôn miền núi (Phùng Văn Chấn, 1999)

Việt Nam là một trong những nước có điều kiện ưu thế về địa lý thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè Sản xuất chè trong nhiều năm qua

đã đáp ứng được nhu cầu nhân dân và là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng mang ngoại tệ về cho đất nước Cây chè là cây trồng giữ vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập đáng kể cho nông dân

ở vùng trung du, miền núi, vùng sâu, vùng xa của đất nước và góp phần bảo vệ môi trường, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc Vì vậy, việc phát triển sản xuất chè

là một hướng đi quan trọng nhằm thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp

và kinh tế nông thôn của nước ta Việt Nam được xem là một trong những quê hương của cây chè và sản phẩm chè từ lâu đã trở thành một ngành kinh tế quan

Trang 16

Theo Hiệp hội Chè Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 125.000 ha đất trồng chè Trong đó, diện tích chè đang cho thu hoạch là 113.000 ha, năng suất bình quân đạt 8 tấn búp tươi/1ha Trong năm 2014, Việt Nam có khoảng 500 cơ sở sản xuất chế biến chè, với tổng công suất trên 500.000 tấn chè khô/năm Trong số 180.000 tấn chè khô của năm 2014, Việt Nam xuất khẩu được 130.000 tấn, kim ngạch đạt 230 triệu USD; sản lượng chè nội tiêu vào khoảng 33.000 tấn, doanh thu 2.300 tỷ đồng Với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu trên, Việt Nam tiếp tục đứng ở vị trí thứ 5 trên thế giới sau Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya và Srilanka Yên Thế là một trong bốn huyện miền núi cao của tỉnh Bắc Giang nằm tiếp giáp với vùng chè đặc sản Thái Nguyên, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp Theo kết quả nghiên cứu xây dựng bản đồ nông hóa, thổ nhưỡng huyện Yên Thế năm 2015 của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa cho thấy nhóm đất chủ yếu của huyện là vàng đỏ với tổng diện tích 14.331,2 ha chiếm 58,49% Đây là nhóm đất đặc thù của huyện Yên Thế, cây trồng chính trên nhóm đất này bao gồm cây

ăn quả, cây dược liệu và cây lâm nghiệp Trong đó, cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế và cây chủ lực của huyện Yên Thế là cây chè Năm 2015 huyện Yên Thế

có tổng diện tích trồng chè là 429 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh 402 ha và diện tích chè trong thời kỳ kiến thiết cơ bản là 23 ha, năng suất chè đang cho thu hoạch là 9,0-10,5 tấn/ha/năm Các giống chè ở đây chủ yếu là chè Trung du xanh chiếm khoảng 55% và giống LDP1, LDP2 chiếm khoảng 40% (Chi cục thống kê huyện Yên Thế, 2015)

Tuy nhiên, năng suất và chất lượng của những giống chè này còn thấp, chưa

ổn định và chưa tương xứng với tiềm năng của huyện nhưng giá trị thu nhập từ cây chè cao Vì vậy huyện Yên Thế đã xác định cây chè là một trong những cây trồng chủ lực đối với kinh tế của huyện Để cây chè phát triển thuận lợi, tương xứng với tiềm năng lợi thế của địa phương một trong những yếu tố quan trọng là nghiên cứu loại phân bón và liều lượng bón phân phù hợp cho từng giống cụ thể Việc sử dụng phân bón cân đối là tiền đề duy trì năng suất cao, phát huy được tiềm năng của giống đem lại chất lượng chè thành phẩm có chất lượng cao Ngoài ra, bón phân cân đối còn hiệu chỉnh sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng của cây mà đất thiếu, duy trì, cải thiện độ phì của đất Bón phân khoáng cho chè kết hợp cả 3 yếu tố N, P, K là cần thiết, song liều lượng bao nhiêu là hợp lý cũng phụ thuộc vào điều kiện đất đai, thời tiết khí hậu của từng vùng Không có một công thức bón phân cân đối chung cho mọi cây trồng và mọi vùng đất Xuất phát

Trang 17

từ những yêu cầu thực tế trên dưới sự hướng dẫn của T.S Nguyễn Đình Vinh,

chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân dựa trên kết quả phân tích đất đến sinh trưởng, phát triển và năng suất chè tại Yên Thế - Bắc Giang”

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Đánh giá được ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa học đất sau thí nghiệm trên giống chè LDP1

Đánh giá được ảnh hưởng của các công thức bón phân đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa học đất sau thí nghiệm trên giống giống Trung du xanh

Từ các kết quả nghiên cứu để xác định công thức bón phân hợp lí cho giống chè LDP1 và Trung du xanh tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao Các kết quả thu được góp phần làm cơ sở xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân hợp lý cho các giống chè này tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân dựa trên kết quả phân tích đất đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu và thành phần hóa học đất của hai giống chè Trung du xanh và giống chè LDP1; xác định ảnh hưởng của các công thức bón phân đến một số thành phần hóa học trong đất sau thí nghiệm tại Yên Thế- Bắc Gang

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Những đóng góp mới

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêm những tài liệu khoa học về

kỹ thuật bón phân cho hai giống chè LDP1 và giống chè Trung du xanh để đạt

năng suất cao, chất lượng tốt, đồng thời là tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu

và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất

1.4.2 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa để xác định liều lượng bón N,

P, K hợp lý cho giống chè LDP1 và giống chè Trung du xanh trên các loại đất cụ thể của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Trang 18

Ngoài ra đề tài cũng góp phần củng cố cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ

canh tác đất dốc bền vững, bảo vệ đất canh tác, góp phần bảo vệ môi trường 1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn

Các kết quả thu được góp phần hoàn thiện quy trình kĩ thuật bón phân hợp

lý cho giống chè LDP1 và Trung du xanh trồng ở huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Bón phân hợp lý sẽ góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè nguyên liệu phục vụ sản xuất chè xanh, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng chè

Sử dụng phân bón hợp lý để bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng được nâng cao vì họ mua đúng sản phẩm họ mong muốn về chất lượng và độ an toàn thực phẩm Hơn nữa, bón phân hợp lý làm tăng hàm lượng dinh dưỡng trong đất, đảm bảo tăng và ổn định năng suất chè, bảo vệ được tài nguyên đất và nước, góp

phần xây dựng nền sản xuất nông nghiệp bền vững

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC BÓN PHÂN CHO CÂY CHÈ Ý NGHĨA CỦA VIỆC PHÂN TÍCH ĐẤT ĐỂ XÂY DỰNG QUY TRÌNH BÓN PHÂN HỢP LÝ CHO CÂY CHÈ

Cây trồng nói chung đều hút dinh dưỡng từ đất để sinh trưởng và phát triển Ngoài các bộ phận thu hoạch ra, trong các sản phẩm phụ cũng chứa đựng các chất dinh dưỡng mà cây lấy từ đất Sau mỗi vụ thu hoạch, cây trồng lại để lại cho đất một lượng lớn các phụ phẩm hữu cơ Thông qua các quá trình chuyển hoá vật chất trong đất mà các sản phẩm này trở thành nguồn dinh dưỡng đáng kể cho cây trồng vụ sau

Cây chè có khả năng hấp thụ dinh dưỡng liên tục trong suốt quá trình sống của cây kể cả trong thời kỳ tạm ngừng sinh trường, vì vậy cần phải cung cấp đầy

đủ chất dinh dưỡng để cây sinh trường tốt cho năng suất và chất lượng tốt

Trên cây chè có hai quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực song song tồn tại Đây là hai quá trình mâu thuẫn và tranh chấp dinh dưỡng với nhau Vì vậy muốn cho chè có sản lượng búp cao thì phải sử dụng phân bón hợp lý để hạn chế sinh trưởng sinh thực và cho cây chè hái búp, hoặc hạn chế sinh trưởng dinh dưỡng cho cây chè thu hoạch quả giống

Đối tượng cho thu hoạch trên cây chè là lá, búp non mỗi năm cho thu hoạch

từ 50 - 100 tạ búp/ha hoặc hơn nữa Các nhà nghiên cứu đã phân tích hàm lượng

N, P, K trong búp và lá chè N: 3,4%-4,9%; P: 0,4%-0,9%; K: 1,3%-1,7% Theo kết quả nghiên cứu ở Trung Quốc cho biết: Muốn đạt sản lượng chè cao 7.500 kg/ha thì cây chè đã lấy đi trong đất một nguồn dinh dưỡng N: 37 kg/ha; P2O5: 75 kg/ha; K2O: 112-150 kg/ha Như vậy cây chè đã lấy đi của đất một nguồn dinh dưỡng lớn, ngoài ra đất còn bị rửa trôi xói mòn tiêu hao một nguồn dinh dưỡng nữa Vì vậy cần phải bổ sung lượng phân bón thích hợp và đầy đủ cho cây chè (Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Kim Phong, 1997)

Theo tác giả Vũ Cao Thái (1996) việc sử dụng phân bón cân đối là tiền đề duy trì năng suất cao và tiết kiệm phân bón Sử dụng phân bón không cân đối có thể dẫn tới thoái hóa đất và suy giảm sức sản xuất của đất Mục tiêu của sử dụng phân bón cân đối là tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, hiệu chỉnh sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng của cây trồng mà đất thiếu, duy trì, cải thiện độ phì

Trang 20

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng, hầu hết các tác giả chú trọng đến các loại phân đa lượng như N, P, K còn các loại phân trung và

vi lượng như S, Zn, Mn, Mg, Bo, Al các kết quả nghiên cứu còn hạn chế

Nhận thức được lợi thế so sánh của địa phương và giá trị của cây chè, trong những năm qua huyện Yên Thế đã có nhiều chủ trương, chính sách, đề án để phát triển vùng sản xuất chè nguyên liệu trong đó chú trọng đầu tư về giống, kỹ thuật, vốn và các chính sách đầu tư hạ tầng Trong các giải pháp thực hiện thì bieenh pháp bón phân cho cây chè là một trong những yếu tố quan trọng quyết định năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh sau này Vì vậy lựa chọn được những công thức bón phân phù hợp sẽ tạo tiền đề cho cây chè có năng suất

cao, chất lượng tốt và đáp ứng được yêu cầu của thị trường

2.2 VAI TRÒ CÁC NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG ĐỐI VỚI CÂY CHÈ

Sử dụng phân khoáng cho cây trồng nói chung và cây chè nói riêng là vô cùng phong phú

Mục đích của việc bón phân là nhằm bảo đảm dinh dưỡng cân đối cho cây trồng và không để các chất dự trữ trong đất giảm xuống dưới mức cây cần Trên nguyên tắc duy trì độ phì sẵn có trong đất dễ dàng và đỡ tốn kém hơn là khôi phục độ phì của đất do hậu quả của việc bón phân không hợp lý trong thời gian dài

Bón phân khoáng quá mức, mất cân đối ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của cây, sâu bệnh phát sinh phát triển nhiều, năng suất chất lượng giảm Đồng thời với các vùng trồng chè chủ yếu là đồi dốc việc sử dụng các phân khoáng như: Ure, Kali clorua,… Với phương pháp bón trên bề mặt thì rất dễ bị rửa trôi, hiệu quả sử dụng phân thấp, gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước

Qua kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy lượng phân bón cho chè là rất khác nhau Xu hướng sử dụng phân bón cho chè chủ yếu vẫn là 3 nguyên tố đa lượng chính N, P, K Một số nơi còn quan tâm tới 2 nguyên tố bán

đa lượng là Mg và S Dạng phân bón cho chè thường là phân phối hợp theo một

số tỷ lệ nhất định, phù hợp điều kiện đất đai và năng suất búp chè của từng vùng nhằm tăng hiệu suất sử dụng của từng loại phân bón Đồng thời bón phân cân đối giúp tăng hiệu quả sử dụng phân bón, phần nào có ảnh hưởng tốt phẩm chất chè

Trang 21

Đối với cây chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, không những cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng hoạt động của các vi sinh vật trong đất, Nhưng thực trạng hiện nay việc sử dụng phân hữu cơ cho chè còn gặp nhiều khó khăn, do phải cạnh tranh nguồn hữu cơ với các cây trồng khác, đồi chè thường xa nhà, cây chè vào giai đoạn kinh doanh đã khép tán nên việc vận chuyển và bón phân thường gặp khó khăn Những giải pháp để tăng cường hữu

cơ cho chè là làm phân tự chế bằng cách đào hố ủ ngay tại vườn chè, trồng cây xanh, cây họ đậu để lấy thân lá ép xanh cho chè, ép xanh cành, lá già sau khi đốn chè, ngoài ra việc bón phân cho chè phải được chú ý ngay từ khi bón lót trước khi trồng

Cây chè cần rất nhiều chất dinh dưỡng, mỗi chất có vai trò quan trọng nhất định với sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng chè Các kết quả nghiên cứu cho thấy chất dinh dưỡng được hoàn trả cho đất thấp hơn nhiều so với lượng chất dinh dưỡng mà nông sản và sản phẩm phụ đã lấy đi và không cân đối giữa tỷ

lệ N: P2O5: K2O Để đảm bảo cho một nền nông nghiệp bền vững phải tăng sử dụng phân bón trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa phân vô cơ và hữu cơ, sử dụng hợp lý với điều kiện hiện nay

* Tác dụng của một số nguyên tố chính (Nguyễn Ngọc Kính, 1979)

- Đạm (N): Trong chè tập trung ở các bộ phận còn non như: Búp và lá non,

N tham gia vào sự hình thành các axit amin và protein Bón đủ N lá chè có màu xanh quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng tốt cho nhiều búp, búp to Thiếu N chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp Nếu quá nhiều N thì hàm lượng tanin và cafein giảm, hàm lượng ancolit tăng, chè có vị đắng Nguồn cung cấp N cho đất

là do quá trình khoáng hóa chất hữu cơ và mùn trong đất, do hoạt động cố định đạm của các loại vi sinh vật đặc biệt là do con người bón vào đất…

- Lân (P2O5): Trong búp non của chè có 1,5% P2O5 Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích lũy năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm, có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp

- Kali (K2O): Kali trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân cành

và các bộ phận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất cho cây, làm tăng hoạt động của các men, làm tăng tích lũy gluxit và axit amin, tăng

Trang 22

khả năng giữ nước của tế bào, tăng năng suất, chất lượng chè, làm tăng khả năng chống chịu cho chè Hàm lượng K2O trong đất phụ thuốc vào đá mẹ, điều kiện phong hóa đá và hình thành đất, chế độ canh tác và bón phân

- Magiê (Mg): cấu tạo diệp lục tố, enzym chuyển hóa hydratcacbon và axit nucleic Thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân và đường trong cây, giúp cây cứng chắc và phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè thành phẩm Thiếu Magiê cây xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, giảm năng suất

- Kẽm (Zn): là thành phần của men metallo-enzymes-carbonic-anhydrase, anxohol dehydrogenase, quan trọng trong tổng hợp axit indol acetic, axit nucleic

và protein, tăng khả năng sử dụng lân và đạm của cây Thúc đẩy sinh trưởng, phát triển, tăng năng suất và chất lượng chè Thiếu kẽm: cây lùn, còi cọc, lá chuyển dần bạc trắng, giảm số lượng búp

- Bo (B): cần cho sự phân chia tế bào, tổng hợp protein, lignin trong cây, tăng khả năng thấm ở màng tế bào và vận chuyển hydrat carbon Tăng độ dẻo của búp, giảm rụng lá, tăng năng suất và chất lượng chè

- Molypđen (Mo): là thành phần của men nitrogenase, cần cho vi khuẩn Rhizobium cố định đạm, tăng hiệu suất sử dụng đạm, năng suất và chất

lượng chè

2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÂN BÓN CHO CÂY CHÈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.3.1 Những nghiên cứu về sử dụng phân bón cho chè trên thế giới

2.3.1.1 Những kết quả nghiên cứu về sử dụng phân hữu cơ cho chè

Cây chè bình thường sinh trưởng yêu cầu có một môi trường sinh thái tốt, cung cấp các chất dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng nhất

để có được năng suất cao và chất lượng chè, bón phân là một biện pháp kỹ thuật cần thiết

Quan hệ giữa đất đến năng suất, chất lượng chè rất phức tạp Chất lượng chè do nhiều yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp Điều kiện dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, chất lượng chè, do vậy ngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có trong đất, thì việc bón phân cho chè là một biện pháp có hiệu quả

Trang 23

Đối với cây chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, ngoài việc cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây chè mà nó còn cải thiện lý tính của đất

Từ năm 1992 – 1997, Quỹ Kellogg đã tài trợ thử nghiệm phân bón hữu cơ

được bổ sung thêm một số loài vi sinh vật có ích thuộc 2 chi: Bacillus, Pseudomonas có khả năng phân giải lân tại 2 vùng trồng chè trọng điểm của

Srilanka và nhận thấy rằng năng suất chè tăng 9– 14% so với đối chứng có bón phân hữu cơ và tăng 17% so với đối chứng không sử dụng 2 loại phân bón này

Tác giả Zhang et al (2000) cho rằng bón phân hữu cơ kết hợp với phân vô

cơ có thể thúc đẩy cây chè sinh trưởng nhanh, tăng khả năng sản xuất và chất lượng chè Ô long và tỷ lệ bón kết hợp tốt nhất là 3N: 1P: 3K: 3 phân hữu cơ hoặc 2N: 2P: 2K: 3 phân hữu cơ Hiệu quả của N, P, K và phân hữu cơ ở các giai đoạn sinh trưởng của cây chè là khác nhau trong đó K là nguyên tố chủ yếu làm tăng đường kính của cây chè con N giữ vai trò quan trọng nhất đến năng suất của cây chè kinh doanh, sau đó đến K

Tác giả Xu et al (2006) cho rằng khi sử dụng phân bón chuyên dùng và

phân hữu cơ sinh học có hiệu quả thúc đẩy tăng số lượng chồi nảy mầm của cây chè, số lá non mới và khối lượng 100g/búp, nâng cao sản lượng chè So với sử dụng 45% phân bón phức hợp vô cơ, sử dụng phân gà, phân bón chuyên dùng cây chè sản lượng đã tăng lần lượt là 8,4% và 20,3%; còn sử dụng phân hữu cơ sinh học sản lượng đã tăng lần lượt là 1,7% và 12,8%, đặc biệt hàm lượng nội chất trong lá chè nhiều và chất lượng chè chế biến tốt hơn

Ở Đài Loan, biện pháp kỹ thuật canh tác cho cây chè, người ta chú ý đến bón phân hữu cơ +1.000 – 1.500 kg đậu tương + 500 - 1.000 kg bột cá/ha cho sản xuất nguyên liệu chè Ô long

Sự giảm độ phì của đất là do sự khai thác đất và xói mòn đất kết hợp với việc cung cấp không đầy đủ chất hữu cơ và không thực hành bảo vệ tài nguyên đất Ước lượng có khoảng 30cm đất mặt bị mất đi từ vùng đất dốc đến cuối thể

kỉ 20 từ khi chè bắt đầu được trồng tương đương với 40 tấn/ha/năm Để đất trồng chè bền vững trong một thời gian dài thì phải có kế hoạch quản lí, bảo vệ đất dốc Nguồn Carbon hữu cơ trong đất có thể được cải thiện trong suốt quá trình bón phân hữu cơ Điều đó chứng tỏ rằng sử dụng phân hữu cơ không chỉ có khả năng

cải tạo đất mà còn có khả năng nâng cao năng suất và chất lượng chè

Trang 24

2.3.1.2 Những kết quả nghiên cứu về sử dụng phân khoáng cho chè

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của các nguyên

tố dinh dưỡng cho cây chè và kỹ thuật bón phân

Ở Trung Quốc, nếu thu hoạch 7,5 tấn búp/ha, cần phải cung cấp N: 37,5

kg, P2O5: 75kg và K2O: 112 - 150 kg Nghiên cứu vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng tham gia vào quá trình sinh trưởng cây chè đã được các tác giả

Bonheure et al (1992) công bố 5 nguyên tố chiếm tỷ lệ lớn: đạm (N) từ 1,69 –

5,95%; lân (P) từ 0,09 – 0,61%; kali (K) từ 0,02 – 2,64%; canxi (Ca) từ 0,06 – 2,42%; magie (Mg) từ 0,07 – 1,40%; các nguyên tố khác chiếm số lượng ít từ 8 – 3.700 ppm và sắp xếp theo thứ tự giảm dần là lưu huỳnh (S), clo (Cl), nhôm (Al), mangan (Mn), natri (Na), kẽm (Zn), đồng (Cu), Bo (B) và sắt (Fe)

(Bonheure et al., 1992)

Ở Ấn Độ, cứ 100 kg chè thương phẩm có chứa 4 kg N; 1,15 kg P2O5; 2,4 kg

K2O; 0,42 kg MgO; 0,8 kg CaO; 100g Al; 6g Cl; 8g Na Ngoài ra, cây còn cần một lượng lớn dinh dưỡng cho việc hình thành bộ lá trên cây chè, cho số lá rụng, cho việc hình thành thân cành và rễ Chính vì vậy, để hình thành nên 100 kg chè thương phẩm cây cần tổng số dinh dưỡng cho tất cả các bộ phân trên là: 16,9 kg N; 5,68 kg P2O5; 8,8 kg K2O; 2,92 kg MgO; 6,7 kg CaO; 871g Al và 74g Na Ngoài ra cây còn cần một lượng các nguyên tố vi lượng như 38g Zn; 26g B; 38g Cu; 241 g Fe và 479 g

Theo nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng công thức khi bón bổ sung phân magie sulphat và kali sulphat có hiệu quả tốt nhất đối với sinh trưởng của cây chè so với công thức chỉ sử dụng phân nitơ, phôt pho, vì vậy đã thúc đẩy sinh trưởng cây chè, tăng số lượng lá, tỷ lệ này tăng lần lượt là 6,23% và 11,1%; tỷ lệ diện tích lá chè tăng 11,17%; mật độ búp, khối lượng búp 100gram tăng lần lượt

là 28,88% và 21,43%; năng suất búp chè tươi tăng 14,27%

Tác giả Qamar et al (2011) khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến

sinh trưởng và phát triển của cây chè trưởng thành đã cắt tỉa tán bằng và tán mâm xôi, cho thấy công thức đối chứng (không bón phân), N, P, K :125-125-75, 187.5-125-75, 225-125-75, 312.5-125-75 và 375-125-75 kg/ha Tất cả P và K đã được áp dụng cùng một mức bón, trong khi N ở dưới dạng của amoni sulfat Kết quả cho thấy cắt tỉa tán bằng là có ý nghĩa và tốt nhất Phân đạm ở mức 375 kg

đã làm năng suất lá tươi tăng đáng kể (từ 6.796 đến 8.797 kg/ha), năng suất chè

Trang 25

(từ 1.352 đến 1.760 kg/ha) và chiều dài búp (từ 35 đến 71 cm) cao hơn so với đối chứng Trong trường hợp kết hợp 375 kg N với cắt tỉa tán bằng thì năng suất lá tươi là cao nhất (9.286,66 kg/ha) và năng suất chè đen (1.875 kg/ha) với chiều dài búp 70.33 cm so với cắt tỉa tán mâm xôi (giá trị lần lượt là 8.307,33 kg lá tươi, 1.661,33 kg chè đen và chiều dài búp là 72,33 cm)

Phân bón là nền tảng vật chất cơ bản của việc nâng cao năng suất và chất lượng chè Bón phân có tác dụng quan trọng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Mặt khác, bón phân có tương quan mật thiết với sản lượng và chất lượng chè, phân đạm nâng cao sản lượng, có hiệu quả nâng cao hàm lượng caffeine và hàm lượng axit amin Trong khi phối hợp lân, kali, đã nâng cao hàm lượng tea polyphenol, caffeine và protein, vừa có khả năng thúc đẩy nâng cao chất lượng lá chè, cải thiện chất lượng chè

Tác giả Saharia and Bezbaruah (1984) đưa ra kỹ thuật bón phân chủ yếu dựa vào sản lượng thu hoạch chè hàng năm: vùng Bắc Ấn Độ bón phân cho chè con theo tỷ lệ bón N, P, K là 10:5:10 và mức bón theo cây là 15, 25, 40 và 70 (g/cây) tương đương với các tuổi 1, 2, 3 và 4; còn bón phân cho chè kinh doanh theo tỷ lệ bón N, P, K là 10:2:4 hoặc 12:4:8 và mức bón 100 – 200 kg N/ha tùy thuộc vào đất, tuổi và sản lượng chè; vùng Nam Ấn Độ bón phân cho chè con theo tỷ lệ bón N, P, K 1:2:2 và mức bón 90 kg N/ha; còn bón phân cho chè kinh doanh dựa vào sản lượng để bón, họ chia ra 3 mức sản lượng dưới 2.000, từ 2.000 – 3.000 và trên 3.000 (kg khô/ha) tương ứng các mức bón là 10, 5, 4 (kg N/100kg chè), hàng năm có phun sun phát kẽm 11 kg/ha lên lá

Theo Lin et al (1991), bón phân thúc đẩy sự sinh trưởng, tăng năng suất và

cải thiện chất lượng nguyên liệu chè búp tươi Hàm lượng axit amin, polyphenol, catechin, đường tổng số có trong nguyên liệu chè búp tươi thích hợp, chất lượng chè Ôlong thành phẩm tốt nhất đạt được khi cung cấp các loại phân đạm, lân, kali,…với liều lượng hợp lý Hiệu quả của việc bón kali đến chất lượng sản phẩm chè Ôlong rõ hơn so với bón đạm và lân Do vậy, việc bón tăng tỷ lệ phân kali trong hỗn hợp phân bón đạm – lân - kali cho vườn chè sản xuất nguyên liệu chế biến chè Ôlong là việc làm quan trọng Theo Su and Li (2005) cho rằng sử dụng phân kali thì năng suất chè tăng từ 8,3 – 16,7% so với không sử dụng phân kali, đồng thời cải thiện chất lượng chè và tăng khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh

Trang 26

Nhiều kết quả nghiên cứu ở Nhật Bản, Ấn Độ, Srilanka đều cho rằng bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều hoặc bón đơn độc đều làm giảm chất lượng chè (đặc biệt là đối với nguyên liệu dùng để chế biến chè đen) Những công trình nghiên cứu của Liên Xô (cũ) cho thấy liều lượng đạm 300 kg/ha thì hàm lượng tanin, caffeine và chất hòa tan trong búp chè đều cao, có lợi cho chất lượng, song nếu vượt quá giới hạn trên thì chất lượng chè giảm Khi bón nhiều đạm hàm lượng protein ở trong lá tăng lên Protein kết hợp với tanin tạo thành các hợp chất không tan vì thế hàm lựợng tanin trong chè bị giảm đi Mặt khác, khi bón nhiều đạm hàm lượng ancaloit trong chè tăng lên làm cho chè có vị đắng (Đỗ Văn Ngọc và Trịnh Văn Loan, 2008)

Mặt khác, các nghiên cứu về ảnh hưởng của các mức đạm (N) khác nhau đối với năng suất và chất lượng chè cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Theo nhiều tác giả nghiên cứu cho thấy các mức N khác nhau ảnh hưởng rõ đến năng suất và chất lượng chè, một tỷ lệ N hợp lý sẽ nâng cao được năng suất và cải thiện được chất lượng Năng suất chè sẽ không tăng khi sử dụng tỷ lệ N trên 360 kg/ha Ở cùng một nền đất giống nhau, khi sử dụng N đầu tiên năng suất chè tăng, sau đó giảm, giữa năng suất và N có mối quan hệ parabol Khi đánh giá về chất lượng cho thấy mức N thích hợp có thể cải thiện hàm lượng axit amin tự do, caffeine, nước

và chlorophyll trong lá chè, trong khí hàm lượng polyphenol giảm dần

Nhật Bản, trước đây mức bón phân cho chè cũng tương tự như nhiều nước trên thế giới Nhưng ngày nay do áp dụng cơ khí hóa và tự động hóa trong khâu thu hoạch, vì vậy họ đã khuyến cáo mức bón rất cao, đối với chè có sản lượng 18 tấn búp/ha mức bón N, P, K là 800, 210 và 360 (kg/ha)

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến chỉ tiêu sinh hóa chất lượng

búp chè Tác giả Zheng et al (2012) cho rằng sự thiếu hụt P đã làm giảm chất

lượng điểm thử nếm và hóa sinh của chè xanh Khi phân tích lá chè và đất trồng chè ở Liên Xô (cũ) cho thấy: Ở cây chè thiếu lân, hàm lượng lân (P2O5) trong lá

là 0,27 - 0,28%, trong búp là 0,5 - 0,75% Cây chè đủ dinh dưỡng hàm lượng lân tương ứng là 0,33 - 0,39% và 0,82 - 0,86% Nếu trong đất hàm lượng P2O5 là 30 – 32 mg/100g thì đất thiếu nhiều lân

Nhiều kết quả nghiên cứu cho rằng khi bón bổ sung kali và magie, năng suất chè búp tươi tăng đáng kể, tỷ lệ tăng đạt 9-38% sau 2 năm thử nghiệm Hàm lượng axit amin tự do và cafein trong nguyên liệu chè tươi cũng tăng Hàm lượng

Trang 27

polyphenol trong nguyên liệu búp thu từ vườn chè bón kali tăng nhưng trong nguyên liệu búp thu từ vườn chè bón magie giảm rõ ràng Tỷ lệ polyphenol/axit amin tự do trong nguyên liệu lấy từ vườn chè bón cả kali và magie đều giảm, điều này có lợi cho chất lượng chè thành phẩm Một số hợp chất thơm quan trọng (nerolidol…) đều tăng Điều này cho thấy, việc bón bổ sung kali và magie có tác dụng cải thiện đặc tính hương thơm của sản phẩm chè Chất lượng sản phẩm chè thương phẩm có mối tương quan chặt chẽ với hàm lượng magie trong nguyên liệu búp Bón bổ sung kali và magie sẽ là một biện pháp nông học có hiệu quả, thúc đẩy khả năng sinh trưởng trong kiện đất thiếu kali và magie dễ tiêu

Sử dụng hàm lượng phân bón magie, kali và lưu huỳnh ở khu vực trồng chè khi kiểm tra (đánh giá) thành phần hương thơm trong sản phẩm chè như nerolidol, ethyl alcohol, vinyl cool, linalool trong đó, hàm lượng nerolidol tăng rất nhiều ở công thức sử dụng phân kali, magie, cao hơn so với đối chứng 23%, nerolidol là vật chất hóa học quan trọng của hương chè Ôlong, ảnh hưởng có tính quyết định đối với hình thành hương; Hàm lượng nerolidol cao, thì chè Ôlong

tuyệt hảo

2.3.2 Tình hình nghiên cứu phân bón cho chè trong nước

2.3.2.1.Những nghiên cứu trong nước về phân hữu cơ cho chè

Các giống chè khác nhau cần lượng phân bón khác nhau, đất có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau thì chế độ phân bón cũng khác nhau

Hiện nay, đất trồng chè của Việt Nam rất nghèo chất hữu cơ, đất chua, hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P, K tổng số và dễ tiêu đều rất nghèo Muốn canh tác chè có hiệu quả cần phải thâm canh ngay từ khi bắt đầu trồng chè Phân hữu

cơ không thể thiếu khi thâm canh chè Bón phân sao cho có hiệu quả là vấn đề cần quan tâm, vừa không thiếu dinh dưỡng, không lãng phí khi đất bị rửa trôi xói mòn Khi bón cùng một lượng phân nhưng ở thời điểm bón khác nhau chắc chắn hiệu quả sử dụng phân bón của mỗi giống chè sẽ khác nhau vì nhu cầu dinh dưỡng của từng giống là khác nhau

Năm 1966 – 1969, Viện nghiên cứu chè Phú Hộ đã nghiên cứu cho thấy phân hữu cơ (phân ủ, cành lá chè đốn) đều có hiệu lực tăng năng suất chè đáng

kể và cải thiện hóa lý tính đất trồng chè rõ rệt Cành lá chè đốn tốt hơn cây phân xanh trồng xen giữa hàng chè

Trang 28

Lê Tất Khương (1997), nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng chè vụ đông xuân ở Bắc Thái, cho rằng: sản lượng chè ở các công thức có tủ bằng các chất hữu cơ có sẵn (rơm rạ, bồm, cẫng chè…) kết hợp với tưới nước đã tăng đến 110%

Theo tác giả Lê Văn Đức (1997), đất trồng chè ở Việt Nam phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Hiện nay đất trồng chè của Việt Nam rất nghèo chất hữu cơ, đất chua, hàm lượng các chất dinh dưỡng N, P, K tổng số và rễ tiêu đều rất nghèo Muốn canh tác chè có hiệu quả cần phải thâm canh ngay từ khi bắt đầu trồng chè, bón phân hữu cơ là yêu cầu không thể thiếu khi thâm canh

Nguyễn Thị Ngọc Bình và Nguyễn Văn Toàn (2007) khi nghiên cứu thử nghiệm phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho cây chè cho thấy các công thức bón phân hữu cơ vi sinh đều làm tăng mật độ búp và tăng chất lượng cảm quan chè thành phẩm

Nguyễn Thị Ngọc Bình và cs (2009) khi nghiên cứu sử dụng vật liệu hữu

cơ che phủ cho một số loại hình chè Trung Quốc nhập nội cho thấy sử dụng vật liệu che phủ đã làm giảm lượng xói mòn đất đáng kể, hạn chế tối đa sự suy giảm

độ phì đất từ đó làm tăng năng suất cũng như chất lượng chè

Theo báo cáo kết quả khảo nghiệm phân bón N, P, K hữu cơ thế hệ mới (Grow-A02, Grow - Mix) và phân bón sinh học Bồ Đề 688 trên giống chè Phúc Vân Tiên, kết quả cho thấy: Phân bón Grow-A02, Grow – Mix kết hợp với phân sinh học Bồ Đề 688 đã góp phần làm tăng mật độ búp, trọng lượng búp, từ đó làm tăng năng suất chè so với đối chứng từ 20,0 – 24,5% Thành phần sinh hóa trong búp chè được cải thiện, hàm lượng tannin và chất hòa tan giảm so với đối chứng, còn hàm lượng axit amin, catechin và đường tổng số tăng hơn so với đối chứng Kết quả đánh giá cảm quan đối với chè xanh đạt loại khá

Hoàng Thị Lệ Thu và cs (2013) cho rằng bón phân và đốn có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất và chất lượng nguyên liệu chế biến chè Ô long Bón 15 tấn phân chuồng + 5 tấn phân gà/ha/năm, đốn cao cách mặt đất 55 cm, cho chất lượng nguyên liệu và sản phẩm chè Ô long đạt cao nhất

Tác giả Trần Thị Tuyết Thu (2014) trong điều kiện sản xuất chè ở Phú Hộ

để duy trì và cải thiện chất hữu cơ trong đất nên sử dụng tế guột ở mức 25 tấn/ha

và chu kỳ lặp lại sau 3 năm được xem là hợp lý nhất Trong trường hợp sử dụng

cành lá chè đốn nên áp dụng ở mức 15 tấn/ha với chu kỳ bón bổ sung hàng năm

Trang 29

2.3.2.2 Những nghiên cứu trong nước về phân khoáng cho chè

Năm 1969-1979 với sự giúp đỡ của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, trại thí nghiệm chè Phú Hộ đã tiến hành làm thí nghiệm bón phân N, P, K cho chè Kết quả được tác giả Đỗ Ngọc Quý và Nguyễn Văn Toàn (2009) cho biết: Bón N và nhất là bón kali có tác dụng rất rõ đến việc làm tăng năng suất chè Bón lân năng suất ít chênh lệch so với đối chứng, bón kali tăng pHKCl của đất

Theo Phạm Kiến Nghiệp (1984) nghiên cứu mức bón phân đạm trên 2 giống chè Shan TB11 và TB14 ở vùng chè Bảo Lộc – Lâm Đồng đã kết luận với lượng bón đạm đơn độc với lượng cao (từ 100 – 400 kg N/ha) cho thấy: Lượng đạm bón tăng dẫn tới năng suất tăng theo, nhưng hiệu quả sử dụng 1kg N lại giảm và mức bón 400 kg N/ha hiệu quả giảm 33% so mức bón 100 kg N/ha Theo tác giả Vũ Cao Thái (1996), việc sử dụng phân bón cân đối là tiền đề duy trì năng suất cao và tiết kiệm phân bón Sử dụng phân bón không cân đối có thể dẫn tới thoái hóa đất và suy giảm sức sản xuất của đất Mục tiêu của sử dụng phân bón cân đối là tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, hiệu chỉnh sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng của cây trồng mà đất thiếu, duy trì, cải thiện độ phì nhiêu của đất

Cây chè là cây thu hoạch búp lá do đó trong sản xuất hiện nay vẫn áp dụng cách tính lượng bón N cho chè theo tấn búp thu hoạch Khi bón lượng đạm tăng dần từ 20N đến 40N/tấn sản phẩm, năng suất chè tăng ở mức có ý nghĩa; khi bón ở mức 35N đến 40N/tấn sản phẩm, lượng đạm càng tăng, tốc độ tăng năng suất giảm dần Bón 35N/tấn sản phẩm với tỷ lệ N:P:K = 3:1:1 trên chè (sản xuất kinh doanh) ở mức trên 10 tấn/ha là thích hợp Khi thay thế 80% đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ cho chất lượng chè chế biến cao nhất, điểm thử nếm cảm quan đạt 16,37 điểm, nhất là hương thơm và vị của chè được cải thiện Bón N:P:K:Mg tỷ lệ 3:1:1:0,3 trên nền phân ủ, tăng mật độ búp, giảm tỷ lệ búp

mù xòe và năng suất chè tăng 15,93% so với đối chứng (Đ/C) Như vậy, bón phân N, P, K tỷ lệ 3:1:1 (35 kg N/tấn sản phẩm), kết hợp với Mg và thay thế một phần đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ, có ảnh hưởng tốt đến năng suất và chất lượng chè (Đỗ Văn Ngọc, 2006)

Canh tác chè ở nước ta trong thời gian qua do sử dụng lượng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học với mật độ quá lớn và trong thời gian quá dài, đặc biệt là

Trang 30

thoái, tăng nguy cơ dư lượng chất độc hại trong sản phẩm, khiến chất lượng chè giảm mạnh Không chỉ vậy, đất đai vùng chè từ đó cũng bị suy kiệt dinh dưỡng,

độ chua và bạc màu tăng cao ảnh hưởng lâu dài đến quy hoạch vùng sản xuất chè

an toàn Mặt khác, bón phân khoáng cân đối và bổ sung phân hữu cơ đều làm tăng sản lượng chè Nhưng liều lượng N, P, K thích hợp cho nương chè còn phụ thuộc vào tính chất lý hóa của đất, tuổi chè và yếu tố tác động các các yếu tố sinh thái (Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006)

Tác giả Đinh Thị Ngọ (1996) khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân khoáng đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng chè giống PH1, TH3, TRI-777 cho thấy: các nguyên tố N, P, K có tác dụng tăng sinh khối có thể xếp thứ tự như sau: N>P>K Tỷ lệ phối hợp N:P:K = 2:2:1 chè cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế nhất Cũng theo Đinh Thị Ngọ (2009), cho rằng khi bón phân N, P, K phối hợp cho chè Shan vùng thấp với tỷ lệ 3:1:2 và 3:1:1 cho năng suất cao Nguyên liệu chế biến chè đen tỷ lệ phối hợp 2:1:2 và 3:2:1 cho chất lượng cao Nguyên liệu chế biến chè xanh tỷ lệ phối hợp 2:1:2 và 3:1:2

Nguyễn Xuân Cường (2010) nghiên cứu lượng bón N + P2O5 + K2O = 300

kg, được phối hợp N, P, K theo 4 tỷ lệ: 2:1:1; 3:1:1; 3:1:2; 3:2:1, cho hai giống chè Shan Chất Tiền và Phúc Vân Tiên 4 tuổi cho thấy: Tỷ lệ phối hợp 3:1:2 cho

số búp trên cây, năng suất cao nhất và sản phẩm chè xanh cho chất lượng chè xanh ngon hơn (giống Shan Chất Tiền đạt 15,55 điểm, giống Phúc Vân Tiên đạt 17,74 điểm) Với sản phẩm chè đen bón phân theo tỷ lệ 3:2:1 cho chất lượng chè ngon hơn (đều đạt điểm cao, 17,55 điểm trên giống Shan Chất Tiền, 16,82 điểm trên giống Phúc Vân Tiên), trong đó điểm về hương và vị cao hơn các tỷ lệ phối hợp khác

Ở Việt Nam vấn đề sử dụng phân khoáng cho chè còn gặp nhiều khó khăn, phần lớn đất trồng chè rất nghèo dinh dưỡng, địa hình đa dạng và phức tạp, khả năng đầu tư phân bón cho chè còn hạn chế Kỹ thuật bón phân cho chè của nông dân ở Việt Nam biến động rất lớn Có một khoảng cách rất xa từ sự khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn so với thực tế bón phân cho chè của dân Lượng đạm khuyến cáo bón cho chè chỉ dưới 200kg N/ha/năm, trong khi thực tế nông dân thâm canh có thể bón đến 400 – 500 kg N/ha/năm, có khi lên đến cả 1000 kg N/ha/năm và đạt năng suất rất cao (15 – 20 tấn chè búp/ha, tương đương 3-4 tấn chè thương phẩm) Phân kali được khuyến cáo bón rất cao nhưng nông dân lại bón rất thấp vì sợ chè ra nhiều quả

Trang 31

Thông thường, cây trồng sau mỗi vụ thu hoạch hút đi từ đất tới 20 nguyên

tố hóa học, nhưng trong các hướng dẫn khuyến nông hiện nay chủ yếu khuyến cáo người dân bón cân đối 3 loại dinh dưỡng đa lượng là N (đạm), P (lân) và K (kali) mà rất ít khi đề cập tới các yếu tố trung lượng và vi lượng vô cùng quan trọng khác như: Mg (magiê), Si (silic), Zn (kẽm), Fe (sắt), Cu (đồng)…Đặc biệt, địa hình canh tác cây chè chủ yếu là đồi núi dốc nên các khoáng chất hay bị rửa trôi vào mùa mưa và bị khoáng hóa vào mùa khô nên đất ngày càng nghèo dinh dưỡng do ít bổ sung phân chuồng, chất hữu cơ…

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng, hầu hết các tác giả chú trọng đến các loại phân đa lượng như N, P, K còn các loại phân trung lượng (Ca, Mg, S), kết quả nghiên cứu còn hạn chế

Tác giả Hà Thị Thanh Đoàn (2008) khi nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4

đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của hai giống chè Shan Chất Tiền và LDP1, kết quả cho thấy khi bón N, P, K kết hợp với bón bổ sung 50 kg MgSO4/ha đối với giống chè Shan Chất Tiền (giai đoạn kiến thiết cơ bản) và giống chè LDP1 (giai đoạn sản xuất kinh doanh) đều làm tăng năng suất và chất lượng chè

Đối với đất trồng chè, một số nguyên tố như Cu, B, Mo, Zn, Mn ở tầng mặt thấp hơn tầng dưới chứng tỏ có xu thể suy giảm các nguyên tố này, cần chú ý bổ sung các dinh dưỡng này để duy trì độ phì nhiêu đất và nâng cao khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây chè

Như vậy, Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến, mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp Nhu cầu phân bón đối với cây chè phụ thuộc nhiều vào độ tuổi cây và năng suất thu hái hàng năm Chè có khả năng hấp thu dinh dưỡng liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển Bón phân hợp lý góp phần tăng thu nhập cho nông dân, tạo điều kiện cải thiện đời sống và làm giàu cho nông dân Các công trình nghiên cứu về phân bón và đất trồng chè đã tập trung vào hướng nâng cao hàm lượng dinh dưỡng cho đất, bổ sung các nguyên tố chính cần thiết cho cây chè N, P, K

Với mục tiêu bón phân cân đối và tỷ lệ thích hợp cho cây chè theo hướng nâng cao năng suất nhưng không làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguyên liệu chè và giảm chi phí phân bón cho 1 tấn sản phẩm (chè búp) Một yếu tố quan

Trang 32

Nghiên cứu về phân bón cho chè ở Việt Nam chưa có cho một giống chè cụ thể do đó cần tăng cường hơn nữa sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về vấn đề

sử dụng phân bón cho chè để áp dụng vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao 2.4 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHÈ, SỬ DỤNG PHÂN BÓN CHO CHÈ VÀ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN CÂY CHÈ TẠI HUYỆN YÊN THẾ

2.4.1 Tình hình sản xuất chè tại huyện Yên Thế

Huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang có điều kiện tự nhiên khí hậu phù hợp với khả năng sinh trưởng và phát triển một số cây công nghiệp dài ngày trong đó có cây chè Trong những năm qua cây chè đã chứng minh được vai trò của mình trong việc xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giầu cho người sản xuất nơi đây bởi những đặc tính vốn có: trồng 1 lần cho thu hoạch 30 – 40 năm; sau trồng 20 tháng bắt đầu cho thu hoạch; sau trồng từ 3 – 5 năm độ khép tán lên đến 85 – 90%; cho thu hoạch thường xuyên ổn định (thu hoạch từ tháng 3 đến tháng 11); tạo công ăn việc làm liên tục cho người lao động, thu nhập từ cây chè chắc chắn,

ổn định Ngoài ra, huyện Yên Thế là vùng phát triển chăn nuôi gà bán trang trại lớn nhất cả nước nên giải quyết được nguồn phân bón hữu cơ tại chỗ, giảm ô nhiễm môi trường hỗ trợ chăn phát triển chăn nuôi trang trại

Cây chè ở huyện Yên Thế được trồng từ những năm 1980, các nương chè hầu hết được trồng bằng các giống gieo bằng hạt, năng suất thấp, chất lượng không cao, khó chế biến chè đặc sản, công nghệ chế biến lạc hậu, sản phẩm sau chế biến không phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng (đặc biệt với nhu cầu ngày càng cao về chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm cho của thị trường trong và ngoài nước), đầu tư thiếu chiều sâu nên hiệu quả kinh tế từ cây chè ở đây chưa cao Người dân Yên Thế sản xuất chè nhưng chưa nắm vững về các quy trình kỹ thuật trồng trọt, kỹ thuật thâm canh sản xuất chè an toàn, chất lượng cao mà chỉ sản xuất theo kinh nghiệm là chính Công nghệ chế biến chè ở Yên Thế theo phương pháp truyền thống, chất lượng chè thành phẩm không cao Do sản xuất chè tại Yên Thế phát triển không đồng bộ từ khâu trồng, chăm sóc, thu hái, áp dụng công nghệ chế biến phù hợp với của thị trường… Chưa có sự kết hợp hài giữa người sản xuất, chính sách hỗ trợ của nhà nước, các nhà khoa học và các nhà kinh doanh Do nhiều nguyên nhân khác nhau mà các nương chè tại huyện Yên Thế suy thoái, năng suất, chất lượng không đảm bảo, hiệu quả kinh tế từ sản xuất chè chưa cao

Trang 33

Bảng 2.1 Tình hình sản xuất chè của huyện Yên Thế giai đoạn 2011-2015

Năm

Diện tích (ha)

Năng suất búp tươi (tạ/ha)

Sản lượng búp tươi (tấn)

Tổng diện tích

chè hiện có

Diện tích chè kinh doanh

ở xã vùng cao Xuân Lương được chuyển đổi từ phương pháp trồng truyền thống sang áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật Hiện toàn huyện đã khôi phục và trồng mới được gần 500 ha, thu nhập bình quân đạt 80 triệu đồng/ha/năm

Thực hiện chương trình nâng cao chất lượng sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa của huyện Yên Thế giai đoạn 2010-2015, UBND huyện đã xây dựng và ban hành đề án hỗ trợ phát triển vùng chè sản xuất nguyên liệu giai đoạn 2011-2015; tổ chức thực hiện có hiệu quả dự án “ Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng

mô hình nhân giống vô tính, trồng thâm canh và cải tạo nương chè già cỗi bằng một số giống chè mới và chế biến chè an toàn tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang” Các sản phẩm chè tại Yên Thế được người tiêu dùng biết đến như Chè xanh Bản Ven, Trà sạch Thảo Xuyên, Trà xanh Yên Thế

Bên cạnh những kết quả đạt được trong sản xuất chè thời gian qua vẫn còn một số khó khăn, hạn chế đó là: Diện tích trồng chè hạt Trung du từ những năm

1980 còn chiếm tỷ lệ cao; Việc áp dụng các quy trình kỹ thuật thâm canh, chăm sóc, chế biến chưa đồng bộ; chất lượng chưa đồng đều do khâu chế biến chủ yếu

do các hộ tự làm…

Trang 34

2.4.2 Tình hình sử dụng các loại phân bón, phương pháp bón phân của các

hộ dân tại vùng chè thí nghiệm

Bón phân là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng, hiệu quả và thu nhập của người sản xuất Vì vậy phân bón là một yếu tố đầu tư rất được quan tâm và thường chiếm một tỷ lệ đáng

kể trong tổng chi phí sản xuất của người trồng trọt Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều phân hay bón phân thế nào cũng đem lại hiệu quả mà việc bón phân không hợp lý có thể ảnh hưởng xấu đến năng suất, chất lượng, khả năng bị sâu bệnh hại cây trồng và còn là nguyên nhân gây ảnh hưởng xấu tới môi trường…

Bón phân như thế nào nhằm đạt năng suất cây trồng cao, phẩm chất tốt và quan trọng hơn đạt lợi nhuận cao nhất cho trồng trọt mà không làm cho đất bị suy thoái và ảnh hưởng xấu tới môi trường thì ta cần xây dựng một quy trình bón phân phù hợp với cây trồng trong điều kiện cụ thể Quy trình bón phân hợp lý cho cây trồng là toàn bộ những quy định về loại phân, dạng phân bón, lượng phân bón, thời kỳ bón phân, phương pháp bón phân phù hợp với đặc điểm của cây trồng, đất trồng, khí hậu thời tiết và các vấn đề khác liên quan đến cây trồng

được bón phân

Qua khảo sát thực tế cho thấy, người dân bón phân không cân đối chủ yếu bón đạm, không bón hoặc bón rất ít phân hữu cơ kết hợp với phân lân và phân Kali, cây chè sinh trưởng kém dần Ngoài ra chè thường xuyên được bón phân vãi trên mặt đất, kết hợp khi làm cỏ kéo đất từ gốc ra ngoài làm trơ cổ rễ, làm cho

hệ rễ chè ăn nông, gặp điều kiện khô hạn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh

trưởng của cây chè

2.4.3 Khả năng phát triển cây chè tại huyện Yên Thế

Mặc dù diện tích chè trên địa bàn huyện so với cây ăn quả và cây lâm

nghiệp thì không lớn, nhưng nó mang lại hiệu quả kinh tế cao, giải quyết công ăn việc làm tại chỗ, tận dụng được lợi thế của huyện Yên Thế Vì vậy khả năng diện tích chè sẽ ngày càng được mở rộng, phấn đấu đến năm 2020 nâng diện tích chè toàn huyện lên khoảng 700 ha

Diện tích đất chưa sử dụng (97,4 ha) và diện tích đất có thể phát triển sản xuất chè (đất lâm nghiệp trên 14,6 ha ) trên địa bàn huyên còn rất lớn,

do vậy phát triển sản xuất chè sẽ khai thác được tiềm năng về tài nguyên đất đai của huyện

Trang 35

Yên Thế là huyện miền núi nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng núi Đông Bắc với đồng bằng Bắc bộ, thời tiết của Yên Thế mang đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa, hàng năm ít chịu ảnh hưởng của bão lớn Nhiệt độ trung bình hàng năm 21,01oC, lượng mưa trung bình năm 134,95 mm và ẩm độ 81,97% là những điều kiện khí hậu thuận lợi cho cây chè sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao (Cục thống kê tỉnh Bắc Giang 2015)

Trang 36

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Thí nghiệm được tiến hành tại xã Xuân Lương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

Xuân Lương là xã vùng cao nằm ở phía Tây Bắc của huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang Xã có 14 bản, dân số 6.693 khẩu với tổng diện tích đất tự nhiên là 2.520,72 ha (Trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp là 1.176,97 ha và đất lâm nghiệp 961,50 ha) Cây chè trồng tại nhiều xã trong huyện với diện tích là 429

ha, trong đó nhiều nhất tại Xuân Lương 260 ha (chiếm 60,6%) Thí nghiệm tiến hành trên nhóm đất vàng đỏ, đây là nhóm đất đặc thù của huyện Yên Thế Độ dốc các đồi trồng chè xã Xuân Lương từ 0-200 Chè LDP1 trồng ở khu vực đồi bát úp với độ dốc nhỏ 0-3o, chè Trung du xanh trồng ở đồi có độ dốc nhỏ 0-6o

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 7/2015 đến hết tháng 6/2016

3.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thí nghiệm được thực hiện trên giống chè LDP1 (8 năm tuổi), trồng bằng cành và giống Trung du xanh trồng bằng hạt (8 năm tuổi) tại xã Xuân Lương – Yên Thế - Bắc Giang

* Giống chè LDP1: Là giống chè do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm

nghiệp Miền núi phía Bắc chọn tạo ra từ tổ hợp lai giữa cây mẹ Bạch Đại Trà (Trung Quốc) và cây bố PH1 (Ấn Độ) có năng suất cao, chọn lọc theo phương pháp chọn dòng vô tính

Đặc điểm: Giống chè LDP1 có diện tích lá to trung bình 18 – 24 cm2, lá có màu xanh sáng, hình ô van thời gian sinh trưởng búp sớm và kết thúc sinh trưởng chậm

Sinh trưởng khoẻ, tán rộng, phân cành sớm Búp màu xanh, khối lượng búp (1 tôm + 2 lá) 0,35- 0,50 gam khả năng chống chịu điều kiện bất lợi tốt Năng suất tiềm năng đạt 25 – 30 tấn/ha/năm

Trang 37

Thành phần các hợp chất: Tanin 32,8-35,7%; chất hoà tan 41,6-2,9%; Cafechin tổng số (mg/100gam) 139,32

Là nguyên liệu thích hợp cho chế biến chè đen và chè xanh Yêu cầu trồng

với mật độ cao, hái san chật và đốn tạo hình sớm

* Giống chè Trung du xanh

Nguồn gốc: Đó là các giống địa phương hỗn hợp, lai tạp, không đồng đều, nhiều biến dị được trồng ở vùng Trung du Bắc bộ (Phú Thọ), giống chè này có tên là Trung du xanh

Đặc điểm: Thân gỗ nhỏ, lá to trung bình, dài 12-14 cm, rộng 5-7 cm, khối lượng búp: nhỏ đến trung bình (0,70-0,78 gram) Năng suất chè 10-25 tuổi được thâm canh cho năng suất 5-6 tấn búp/ha; Chè trồng trên đất xấu, kém thâm canh năng suất chỉ đạt 2,5-3 tấn búp/ha, chất lượng khá Chế biến chè đen, chè xanh đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, tanin trên 26,3% Chất hoà tan 51,4%, cánh chè nhỏ, dễ xoăn Chống chịu hạn khá, chịu đất xấu vùng Trung du Bị rầy xanh, nhện đỏ, bọ trĩ phá hoại nặng

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu:

- Phân đạm: Urê Hà Bắc 46%N

- Phân KCl: Kali MOP 60% K2O

- Phân super lân Lâm Thao 16, 67% P2O5

- Phân chuồng hoai mục 3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức bón phân dựa trên kết quả phân tích đất đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa tính của mẫu đất thí nghiệm trồng giống chè LDP1 trồng bằng cành giâm 8 năm tuổi

Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức bón phân dựa trên kết quả phân tích đất đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệu búp và thành phần hóa tính của mẫu đất thí nghiệm trồng giống Trung du xanh 8 năm tuổi

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Các chỉ tiêu hóa học đất của cùng chè Yên Thế- Bắc Giang

Mẫu đất được lấy ở tầng độ sâu: 0- 40 cm, lấy hai lần: lần 1 trước khi làm thí nghiệm và lần hai sau kết thúc thí nghiệm

Trang 38

Bảng 3.1 Kết quả phân tích đất tại điểm thí nghiệm

TT Chỉ tiêu

phân tích Phương pháp thử Đơn vị tính

Kết quả Mẫu 1 (TN1)

Mẫu 2 (TN2)

3 Canxi trao đổi TCVN 8569:2010 me/100gđ 2,06 2,02

4 Magiê trao đổi TCVN 8569:2010 me/100gđ 0,40 0,60

5 Cacbon hữu cơ tổng số TCVN 8941:2011 % 2,92 3,40

11 Dung tích hấp thu/đất TCVN 8568:2010 me/100gđ 9,12 14,08

Nguồn: Phiếu kết quả thử nghiệm tại Phòng phân tích trung tâm,

Viện Thổ nhưỡng Nông hóa

Trang 39

Thí nghiệm 2: Các công thức bón phân cho vườn trồng chè Trung du xanh tại bản Ven – xã Xuân Lương (mẫu đất 2)

* Liều lượng phân bón cho 01 ha:

Trang 40

3.5.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định

3.5.4.1 Chỉ tiêu về sinh trưởng

* Chọn cây đại diện theo phương pháp ngẫu nhiên Mỗi công thức chọn 05 cây (có đánh dấu) với 3 lần nhắc lại là 15 cây

* Thời gian đo:

Đối với chỉ tiêu: Chiều rộng tán, chiều cao cây Theo dõi 2 lần/năm trước khi tiến hành thí nghiệm (tháng 6/2015 và tháng 12/2015) và khi kết thúc thí nghiệm (tháng 2/2016 và tháng 6/2016)

Đối với chỉ tiêu: chiều dài lá, chiều rộng lá thì đo 1 lần/năm (tháng 8/2015

Chiều dài lá (cm): Đo từ đỉnh lá đến gốc lá sát với cuống theo chiều dài của gân chính, đo ngẫu nhiên 30 lá, mỗi công thức tiến hành ít nhất 3 lần đo, chiều dài lá của 1 công thức là trung bình của 3 lần đo nhắc lại

Chiều rộng lá (cm): Đo phần rộng nhất của phiến lá Mỗi ô lấy 5 cây Đo ngẫu nhiên 30 lá, mỗi công thức tiến hành ít nhất 3 lần đo, chiều rộng lá của 1 công thức là trung bình của của 3 lần đo nhắc lại

Diện tích lá (cm2/lá): Diện tích lá = Chiều dài x Chiều rộng x K K là hệ số điều chỉnh 0,7 với lá bầu và 0,68 với lá thuôn Diện tích lá trung bình của 1 công thức là trung bình của 3 lần đo nhắc lại

Số ngày hoàn thành đợt sinh trưởng tự nhiên: Cố định cành chè trên cây chè sinh trưởng tự nhiên (không thu hái búp), theo dõi số ngày hoàn thành đợt sinh trưởng tự nhiên trong một lứa

3.5.4.2 Các chỉ tiêu về năng suất và yếu tố cấu thành năng suất

* Các chỉ tiêu về năng suất

Ngày đăng: 20/11/2018, 14:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chi cục Thống kê huyện Yên Thế - In- Phát hành (2015). Niên giám thống kê huyện Yên Thế 2015. Yên Thế, tháng 1 năm 2016 Khác
2. Cục Thống kê tỉnh Bắc Giang- In- Phát hành (2015). Niên giám thống kê tỉnh Bắc Giang 2015. Bắc Giang, tháng 3 năm 2016 Khác
3. Đặng Đình Thành (2011). Nghiên cứu liều lượng bón phân N, P, K trên cơ sở phân tích đất cho giống chè LDP1 tuổi 7 tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Luận văn Thạc sĩ. Đại học Nông nghiệp 1 Khác
5. Đinh Thị Ngọ (1996). Nghiên cứu ảnh hưởng của phân xanh phân khoáng đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng chè trên đất đỏ vàng Phú Hộ - Vĩnh Phúc. Luận án Tiến sỹ Khoa học nông nghiệp. Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Khác
7. Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Văn Toàn (2009). Về hệ thống nguồn nước và sức chứa cây chè. Kết quả nghiên cứu chuyển giao công nghệ giai đoạn 2006-2009.Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc. NXB nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội. tr. 29-30 Khác
8. Đỗ Văn Ngọc (2006). Nghiên cứu các giải pháp khoa học công nghệ và thị trường để nâng cao chất lượng chè xuất khẩu. Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2001 – 2005. Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc. NXB nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Khác
9. Đỗ Văn Ngọc, Trịnh Văn Loan (2008). Các biến đổi hóa sinh trong quá trình chế biến và bảo quản chè. NXB Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Khác
10. Hà Thị Thanh Đoàn (2008). Nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của hai giống chè Shan Chất Tiền và LDP1 tại Phú Thọ.Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp. Đại học Nông lâm Thái Nguyên Khác
11. Hoàng Thị Lệ Thu, Nguyễn Đình Vinh Đỗ Văn Ngọc (2013). Ảnh hưởng của phân bón và đốn đến năng suất, chất lượng, nguyên liệu chế biến chè Oolong tại Phú Thọ. Tạp chí Khoa học và Phát triển. 11(4). Tr. 429-500 Khác
12. Lê Tất Khương (1997). Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng phát triển một số giống chè mới và biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng chè vụ Đông - Xuân ở Bắc Thái. Luận án Phó tiến sĩ khoa học nông nghiệp. Viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Khác
13. Lê Văn Đức (1997). Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, đất đai đến hoạt động của bộ lá và năng suất chè Trung du Phú Thọ. Luận án PTS Khoa học Nông nghiệp. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Khác
14. Lê Văn Đức và Đỗ Văn Ngọc (2004). Ứng dụng công nghệ mới xây dựng mô hình khai thác, phát triển và chế biến chè Shan vùng cao tại xã Thượng Sơn – huyện Vị Xuyên – tỉnh Hà Giang. Báo cáo tổng kết dự án thuộc Chương trình nông thôn miền núi. Hội đồng Khoa học tỉnh Hà Giang Khác
16. Nguyễn Thị Ngọc Bình, Hà Đình Tuấn và Lê Quốc Doanh (2009). Nghiên cứu một số vật liệu hữu cơ che phủ cho một số loại hình chè Trung Quốc nhập nội.Kết quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ giai đoạn 2006 – 2009. Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc. NXB nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Khác
17. Nguyễn Thị Ngọc Bình và Nguyễn Văn Toàn (2007). Hiệu quả sử dụng phân lân hữu cơ sinh học sông Gianh trong sản xuất chè an toàn.Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam số 4, tr. 96 -100 Khác
18. Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo (2006). Quản lý cây chè tổng hợp. NXB Nông nghiệp, Hà Nội Khác
19. Nguyễn Xuân Cường (2010). Nghiên cứu tỷ lệ bón phân phối hợp N, P, K cho giống chè Phúc Vân Tiên và Shan Chất Tiền tuổi 4 tại Phú Hộ - Phú Thọ. Luận văn Thạc sỹ nông nghiệp. Đại học Nông nghiệp 1 Khác
20. Phạm Kiến Nghiệp (1984). Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và chất lượng nguyên liệu vùng Bảo Lộc – Lâm Đồng. Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp.10. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. tr. 29-31 Khác
21. Phạm Văn Quân (2011). Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất, chất lượng chè ở tỉnh Thái Nguyên. Luận văn thạc sĩ. Đại học Nông lâm Thái Nguyên Khác
22. Phùng Văn Chấn (1999). Xu hướng phát triển thị trường chè các tỉnh miền núi phía Bắc. Viện KTNN, Bộ Nông nghiệp & PTNT Khác
23. Trần Thị Tuyết Thu (2014). Nghiên cứu biện pháp nâng cao khả năng tích lũy chất hữu cơ trong đất trồng chè ở Phú Hộ, tỉnh Phú Thọ. Luận văn Tiến sỹ Khoa học môi trường. Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w